Thực trạng này đòi hỏi cần nhìn lại bản thể của nghi lễ Phật giáo; mặt khác, cần đặt nó trong tương quan với đời sống xã hội đương đại, nơi mà con người mỗi ngày phải đối diện với những
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC THÀNH (Thích An Nhiên)
NGHI LỄ CẦU AN, CẦU SIÊU TRONG PHẬT GIÁO Ở MIỀN TRUNG
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC THÀNH (Thích An Nhiên)
NGHI LỄ CẦU AN, CẦU SIÊU TRONG PHẬT GIÁO Ở MIỀN TRUNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Ngọc Thành, người thực hiện luận văn này
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác Những trích dẫn cần thiết trong luận văn và các tài liệu tham khảo được tôi chú thích rõ ràng và trung thực
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Thành
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là thành quả của quá trình học tập, nghiên cứu của học viên tại Khoa Tôn giáo học - Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Học viện Khoa học xã hội, nhà trường đã tạo những điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tôi học tập và nghiên cứu tại đây
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo, những người phụ trách khoa Tôn giáo học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Quỳnh Phương, người đã tận tâm hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm, truyền đạt kiến thức và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, xây dựng đề tài, giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin kính lời cảm ơn đến ân sư Hòa thượng tiến sĩ Thích Đồng Bổn, tất cả huynh đệ pháp lữ đồng tu đã gắn bó và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn mẹ, gia đình em trai và những người thân yêu đã tạo điều kiện để tôi yên tâm học tập trong suốt thời gian qua
Xin cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Ngọc Thành
Trang 51.2 Sự hình thành và đặc điểm của nghi lễ Phật giáo 15 1.3 Vai trò cầu an, cầu siêu trong Phật giáo 22
Chương 2: THỰC HÀNH NGHI LỄ CẦU AN, CẦU SIÊU TRONG
PHẬT GIÁO TẠI THỪA THIÊN - HUẾ HIỆN NAY 28 2.1 Bối cảnh địa bàn nghiên cứu nghi lễ cầu an, cầu siêu tại
2.2 Tình hình nghi lễ cầu an, cầu siêu ở Thừa Thiên - Huế 31 2.3 Tiến trình cơ bản của nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghi lễ được hình thành rất sớm trong đời sống văn hóa của nhân loại Các nhà nghiên cứu xác định các nghi lễ xã hội được khởi đầu từ thời đại đồ
đá mới (upper paleotic); và còn được trình bày trong các sách Chu Lễ (Thiên Thu Quan, Tư Nghi), Công Dương truyện (Thiên Hy Công nhị niên), Hán Thư (Chu Bột truyện),… qua đó thể hiện nghi lễ đã có lịch sử hình thành lâu đời với sự phát triển đa dạng và phong phú trong các nền văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau [50]
Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Việt Nam trên hai ngàn năm Ngay từ buổi đầu, Phật giáo (sau khi bản địa hóa) được tiếp nhận và trở thành một tư tưởng chủ đạo trong nền văn hóa dân tộc Trải qua thăng trầm lịch sử, Phật giáo vẫn đồng hành cùng vận mệnh nước nhà, trong công cuộc chống ngoại xâm cũng như sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi, đánh bạt âm mưu xâm lăng và nô dịch về văn hóa của thế lực phương Bắc trong nhiều giai đoạn
Với đặc trưng là một đất nước đa văn hóa, tộc người và tôn giáo, mỗi vùng miền đều có những nét văn hóa truyền thống đặc trưng Do đó, khi vào
Việt Nam, Phật giáo thể hiện rõ tinh thần “tùy duyên bất biến” (Tùy theo
nhân duyên nhưng không thay đổi bản thể của Phật giáo) kết hợp hài hòa giữa đạo pháp và dân tộc, tinh tuyển những yếu tố văn hóa truyền thống và nhu cầu tâm linh của con người nhằm phục vụ cho cộng đồng Phật giáo và cộng đồng
xã hội
Các nghi lễ Phật giáo tạo ra những dưỡng chất nuôi dưỡng tâm linh các tín đồ, đồng thời tạo nên mạch sống luân lưu giữa đạo và đời trong khung tổng thể hài hòa của Phật giáo Phật giáo Trung Bộ - một bộ phận của Phật
Trang 7nghi lễ, điển hình như nghi lễ cầu an, cầu siêu - bước gạch nối thông thương
để bình an lòng người Các nghi lễ cầu an, cầu siêu gắn kết cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng xã hội, cá nhân với thế giới Thiêng, từ đó tương quan tương duyên với nhau, hình thành các nghi lễ mang sắc thái riêng biệt
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội và đi kèm với nó là những rủi ro, bất an hiện hữu thì dường như có sự gia tăng các hoạt động cầu an, cầu siêu trong đời sống Sự thông dụng của các nghi lễ này cho thấy những nhu cầu của xã hội hiện đại, việc thương mại hoá và những dạng thức biến dạng của nghi lễ đang diễn ra Thực trạng này đòi hỏi cần nhìn lại bản thể của nghi
lễ Phật giáo; mặt khác, cần đặt nó trong tương quan với đời sống xã hội đương đại, nơi mà con người mỗi ngày phải đối diện với những bất an, rủi ro trong đời sống gây ra bởi những nguyên nhân khác nhau tệ nạn xã hội, bạo hành gia đình, bạo lực học đường, kinh tế thị trường, mê tín dị đoan…
Phật giáo Việt Nam gồm ba hệ phái đang tồn tại và phát triển: Nam tông, Khất sĩ và Bắc tông Mỗi hệ phái đều có hệ thống nghi lễ riêng biệt, mỗi vùng miền lại âm hưởng sắc thái văn hóa địa phương tạo nên tính đa dạng và phong phú trong nghi lễ Đối với nghi lễ cầu an, cầu siêu tại đất Huế, do nhu cầu tâm linh về cầu an, cầu siêu của tín đồ đang phát triển có chiều hướng tiêu cực, đồng thời số lượng người thực hành nghi lễ vận dụng nghi thức dần
“biến dạng”, chưa đúng với tinh thần Phật giáo Vì vậy, cần có những nghiên cứu chuyên sâu để giải quyết hai vấn đề như sau:
Thứ nhất, khái quát nét đặc trưng mang tính nhạc điệu cung đình trong nghi lễ cầu an, cầu siêu tại Thừa Thiên - Huế Thứ hai, minh định tinh thần
“hằng thuận chúng sanh” thông qua các nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật giáo, đồng thời để phát huy vai trò của nghi lễ này, cần thiết có sự định hướng
Trang 8Với những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “NGHI LỄ CẦU AN CẦU
SIÊU TRONG PHẬT GIÁO Ở MIỀN TRUNG HIỆN NAY” để làm đối
tượng nghiên cứu của luận văn này
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, trong nước và ngoài nước có nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu về nghi lễ Phật giáo rất đa dạng, phong phú Mỗi tác phẩm hàm chứa nội dung, mục đích khác nhau, những tất cả đều chuyển tải lời Phật dạy đến gần với chúng sanh:
Các tác phẩm về nghi lễ cầu an, cầu siêu
Thích Trí Quảng (2007), Nghi Thức Cầu An Cầu Siêu, Nxb Tôn Giáo,
Hà Nội [61] Tác phẩm tiếng Việt, dịch từ Kinh Hán Việt, nội dung ngắn gọn, chuyển tải ý nghĩa của Kinh một cách rõ ràng, văn phong hiện đại, giúp cho tín đồ thực hành dễ dàng cho các khóa lễ cầu an, cầu siêu
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2007), Nghi thức Cầu An - Cầu Siêu, Sám Hối - Cúng Ngọ, Nxb Tôn Giáo [54] Đây là nghi thức phổ cập cho Phật
giáo Việt Nam, nội dung tác phẩm sử dụng âm Hán Việt, mặc dù thông dụng tại các chùa nhưng hiệu quả tác động đến sự hiểu biết tín đồ rất hạn chế
Bên cạnh còn nhiều các nghi thức thuộc trong nhóm cầu an, cầu siêu
như: Thích Nhật Từ (soạn dịch, 2009), Nghi thức Đại Bi Thập Chú, Nxb Tôn giáo [100] Thích Nhật Từ (soạn dịch, 2014), Nghi thức trì chú Đại bi, Chú dược Sư và niệm Phật Di Đà, Nxb Phương Đông [104] Hai tác phẩm hướng
dẫn tín đồ có nhu cầu thực hành về mật chú với nhiều mục đích khác nhau, nhưng họ tin rằng nhờ oai lực của các Thần chú tín đồ được tiêu tai, giải nạn
và nhiều quan niệm mong cầu khác sẽ mau thành tựu
Trang 9Thích Nhật Từ (soạn dịch, 2010), Nghi thức Lễ Thành hôn, Nxb Tổng
hợp Tp HCM [101] Nghi thức này, được ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại, đây là cách thức hành lễ “hôn phối” cho tín đồ dưới sự chứng minh của Tam Bảo (Phật bảo - Pháp bảo - Tăng Bảo) và dưới sự tham dự của hai họ (câu dâu và chú rể) cùng các tín đồ khác Nội dung hướng dẫn nghi thức lễ bao gồm: nguyện hương, đảnh lễ Tam Bảo, tụng kinh chúc phúc, thứ đến là quý Thầy, Sư Cô gửi thông điệp lời Phật dạy về nghĩa vụ “làm vợ, làm chồng, làm con, làm cha, làm mẹ” đến hai tín đồ những trách nhiệm trong tương lai
Các tác phẩm về nghi lễ tổng hợp
Bên cạnh những tác phẩm chuyên về nghi thức cầu an, cầu siêu, nhiều tác phẩm được biên soạn tổng hợp, nội dung hàm chứa nhiều nghi thức khác nhau, với mục đích giúp cho tín đồ dễ dàng thực hành các khóa lễ trong ngày cho cả hai giới Xuất gia và Tại gia như:
Thích Thiện Thanh (soạn và dịch, 2015), Nghi thức tụng niệm hằng ngày của hai giới Xuất gia và Tại gia, Chùa Phật Tổ, 905 Orange Avenue
Long Beach, CA 90813 [99]
Thích Nhật Từ (soạn dịch, 2011), Nghi thức tụng niệm, Nxb Phương
Đông [102]
Thích Nguyên Tạng (Biện tập, 2002), Nghi thức Tụng Niệm, Tu Viện
Quảng Ðức, Fawkner, Melbourne, Úc Châu [68]
Ba tác phẩm trên, được tập hợp nhiều nghi thức khác nhau cho cả hai giới Xuất gia và Tại gia thực hành Mỗi tác phẩm tùy vào nhu cầu của tín đồ địa phương mà thiết kế nghi thức thích ứng, nhưng nhìn chung các phần căn bản như: Niệm hương, lễ Tam Bảo… Hồi hướng, Tam Tự quy đều giống nhau, nhưng văn phong soạn dịch khác nhau
Trang 10Thích Nhật Từ (biên soạn, 2014), Kinh cho người Phật tử tại gia, Nxb
Hồng Đức, tái bản lần 3 [103] Tác phẩm được chia ra thành 4 phần: Dẫn nhập, chánh Kinh, Sám nguyện và phụ lục Đặc biệt, phần chánh Kinh được chia thành năm chủ đề: Các Kinh về đạo đức; Các Kinh về gia đình, xã hội và chính trị; Các Kinh về Trí lý; Các Kinh về Thiền và chuyển hóa và Các Kinh
về Tịnh Độ (bao gồm nghi thức cầu an, cầu siêu)
Thích Phước Tiến (biên soạn, 2016), Nghi thức kinh tụng hằng ngày, (dành
cho người Phật tử tại gia), Nxb Phương Đông [98] Tác giả biên soạn những nghi thức thông dụng gồm nhiều Kinh hằng ngày cho tín đồ hành trì tại nhà, hoặc tại các chùa, như: cầu an, cầu siêu, sám hối… nội dung rõ ràng, dễ hiểu, văn phong giản dị, dễ tụng niệm, giúp cho Phật tử nắm bắt nghĩa lý tường tận
Thích Huyền Quang (soạn dịch giả, 2002), Pháp sự khoa nghi, Chùa
Quang Thiện Califonia, USA ấn hành [59]
Thích Giải Hòa (biên soạn, 2008), Pháp Sự Khoa Nghi 1 2 3 4 5 6, Tu
Viện Nguyên Thiều, Bình Định ấn hành [43]
Hai tác phẩm tập hợp nhiều khoa nghi nhất trong Phật giáo từ trước đến nay, nhưng không ngoài việc đáp ứng hai nhu cầu của tín đồ: Cầu cho người sống được bình an; nguyện cho người mất được siêu thoát Nội dung tác phẩm được biên soạn khá công phu cả âm Hán Việt và dịch tiếng Việt Các nghi thức được hướng dẫn một cách chi tiết cụ thể, với các bài tán, tụng, xướng, vịnh, cúng bái, cầu nguyện… đồng thời kết hợp các loại pháp khí như: tang (đẩu), mõ, chuông, linh, khánh…
Tại nước ngoài, nhiều tác phẩm nghiên cứu về nghi lễ cầu an hoặc cầu siêu trong Phật giáo tại các quốc gia, khu vực trên thế giới Có thể đề cập đến
một số công trình nghiên cứu trong khu vực Châu Á như: Funerary rites and
Trang 11(của tác giả Phra Khru Anusaranasasanakiarti và Charles F Keyes); The Buddhist Dead: practices, discourses, representations (của tác giả Bryan J Cuevas và Jacqueline I Stone); Funeral Buddhism: a religion in crisis (của Nika Efanova); Buddhist funeral cultures of Southeast Asia and China (của
Paul Williams và Patrice Ladwig)
Nhìn chung, các nghiên cứu trên chưa đưa ra được một bức tranh tổng thể từ góc độ nghiên cứu khoa học về nghi lễ trong Phật giáo nói chung và nghi lễ cầu an, cầu siêu tại miền Trung nói riêng
Trong luận văn này, chúng tôi chọn nghiên cứu về nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật giáo tại miền Trung, cụ thể tập trung vào Thừa Thiên Huế - nơi được coi là cái nôi của Phật giáo Việt Nam với những đặc điểm tôn giáo, văn hóa, lịch sử đặc biệt tạo nên những nét văn hóa vùng miền ở nơi đây
Dựa trên những hướng tiếp cận nghiên cứu khác nhau, chúng tôi cố gắng đưa ra lý giải về vai trò và sự phục hồi của nghi lễ trong đời sống tôn giáo đương đại, thông qua nghiên cứu một dạng nghi lễ cụ thể của Phật giáo
là nghi lễ cầu an, cầu siêu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực hành nghi lễ cầu an và cầu siêu tại miền Trung (Thừa Thiên - Huế), từ đó, đặt ra một số vấn đề đối với nghi lễ Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về Phật giáo và nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật giáo
Trang 12- Phân tích việc thực hành nghi lễ cầu an và cầu siêu tại miền Trung (Thừa Thiên - Huế)
- Chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại và đề xuất phương hướng giải quyết
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hành nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật giáo
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Từ góc tiếp cận của Phật giáo, tìm hiểu nghi
lễ cầu an cầu siêu tại miền Trung Việt Nam (cụ thể là tỉnh Thừa Thiên - Huế)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Tôn giáo được xem là một thực thể xã hội tồn tại khách quan Vì thế, khi soi chiếu về khách thể trên nền tảng tôn giáo học, theo TS Nguyễn Quốc
Tuấn gọi là Lý thuyết thực thể tôn giáo [95], nghiên cứu về một thực thể xã
hội khách quan gồm ba cốt lõi: Niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo và cộng
đồng tôn giáo; với sự kết hợp sử dụng lý thuyết cấu trúc để tìm ra ý nghĩa của các nghi lễ cầu an, cầu siêu và lý thuyết chức năng để xác định được vai trò
Trang 135.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng đa dạng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Luận văn thu thập, phân tích
các tài liệu viết về nghi lễ Phật giáo
Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn một cách tự nhiên và ngẫu
nhiên những người thực hành và đã có kinh nghiệm, hiểu biết về thực hành nghi lễ trong Phật giáo để có những góc nhìn sát thực hơn về thực trạng nghi lễ Phật giáo tại Việt Nam Dựa trên phương pháp này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thực địa tại các điểm chùa trên địa bàn Huế: Chùa Từ Hiếu, Chùa Phước Duyên, Chùa Từ Đàm, Chùa Thuyền Tôn, Chùa Tây Thiên,… Trong những điểm này, chúng tôi vừa tham dự với tư cách là người thực hành nghi lễ, vừa quan sát và phỏng vấn một số Hòa thượng, Thượng tọa là những vị chuyên nghiên cứu và thực hành các nghi lễ Phật giáo tại Thừa Thiên - Huế
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu này góp phần đưa lại cái nhìn tổng thể về nghi lễ trong Phật giáo nói chung, cũng như có sự hiểu biết về nghi lễ cầu an, cầu siêu nói riêng Từ đó giúp tìm hiểu vai trò của nghi lễ Phật giáo trong đời sống vật chất và tâm linh, đặc biệt trong bối cảnh xã hội phát triển mạnh mẽ với nhiều thay đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần vào việc nâng cao nhận thức của các tín đồ Phật tử về
ý nghĩa cốt lõi của nghi lễ cầu an, cầu siêu nói riêng, Phật giáo nói chung
Trang 14Công trình cũng là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý văn hoá và những nhà nghiên cứu quan tâm đến Phật giáo nói chung, nghi lễ Phật giáo nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm ba phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận
Phần Nội dung gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật giáo Nội
dung chương này nhằm đưa ra cái nhìn tương đối hệ thống về những khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của nghi lễ cầu an và cầu siêu trong Phật giáo Việt Nam
Chương 2: Thực hành nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật giáo tại Huế hiện nay Chương này giới thiệu về những nội dung chính để thực hành nghi
lễ cầu an, cầu siêu; người thực hành trong Phật giáo
Chương 3: Nhận xét chung và một số vấn đề đặt ra Chương này nêu lên
những nhận xét chung, đề xuất về thực hành nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật giáo tại miền Trung (Thừa Thiên - Huế), đồng thời một số vấn đề về nghi lễ được đặt ra, nhằm mục đích lưu tâm và khuyến nghị để khắc phục hạn chế và phát huy thế mạnh vai trò của nghi lễ này trong đời sống xã hội hiện nay
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHI LỄ CẦU AN, CẦU SIÊU TRONG PHẬT GIÁO
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Nghi lễ Phật giáo là một hệ thống tổng thể các hoạt động tôn giáo, như nếp sống sinh hoạt của Tăng già; sự bố trí của tổ chức giáo hội; sự sắp xếp của một ngôi chùa; cách giao tiếp ứng xử giữa những người tương quan với nhau Các yếu tố này hết sức quan trọng vì rằng đây là huyết mạch để nuôi dưỡng mạng mạch của Phật giáo Nghi lễ Phật giáo có nội hàm phong phú, đa dạng Nội dung chuyển tải được ý nghĩa sâu sắc về giáo lý, hình thức cảm hóa được lòng người Vì thế, để có tầm nhìn tổng quan về nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật giáo, chúng tôi sẽ trình bày một số khái niệm căn bản có liên quan
1.1.1 Nghi lễ Phật giáo
Theo định nghĩa của Hòa thượng Giải Năng trong tác phẩm “Nghi lễ Phật giáo tán tụng” [57, tr.137] thì:
- Nghi thuộc về phần sự, là khuôn mẫu bề ngoài, thuộc phần hình
thức Nghi cũng có nghĩa là mẫu mực, là tiêu chuẩn đo lường; ngoài ra còn có
nghĩa là đồ cúng (vật cúng); Nghi thức (nội dung cúng)…
- Lễ thuộc về phần Lý, đây là cách bày tỏ ý cung kính của mình, lấy
hình thức và nội dung lễ cúng để nói lên niềm tôn kính bên trong Còn có nghĩa là phép tắt, khuông mẫu mà người xưa đã thực hiện thông qua các hình thức giao tế xã hội, ví dụ: các cử chỉ, ngôn ngữ trong giao tiếp, cách ứng xử trong cuộc sống đời thường; các hình thức cúng bái, tế lễ, cầu nguyện…
Như vậy, nghi lễ là cách thức bày tỏ tấm lòng, niềm tôn kính của mình đối với người khác được thể hiện dưới những hình thức khác nhau cần hội đủ
Trang 16vực hết sức quan trọng duy trì sự gắn kết với cộng đồng, được chia ra hai phần: Lý và sự Chính các nghi lễ, nghi thức sẽ xác lập được nét đặc thù của Phật giáo, đồng thời qua đó sẽ phát khởi niềm tin cho tín đồ mới, giữ vững niềm tin cho các tín đồ tạo nên vị thế vững mạnh cho Phật giáo
1.1.2 Cầu an
Cầu an còn được gọi là Kỳ an, là mong muốn có được đời sống an vui,
hạnh phúc, không bệnh tật, khổ não, ít rủi ro, bất trắc “An” ở mỗi con người
là thân an (khỏe mạnh, sống lâu, không bệnh tật, không tai nạn hay rủi ro ), tâm an (trạng thái tinh thần thanh thản, thoải mái, không lo âu phiền muộn, không sợ hãi, không khủng hoảng, không căng thẳng, không bức bối ), hoàn cảnh an (gia đình ấm no hạnh phúc, điều kiện sống tốt, hoàn cảnh sống tốt, các mối quan hệ tốt đẹp, gặp nhiều thuận lợi trong cuộc sống)
Trong vòng quay của đời người, có những năm rơi vào hạn nặng, sao xấu hoặc điều bất tường sẽ xảy đến Theo quan điểm nhân gian, đây là số phận được định trước bởi một đấng Tạo hóa hay một người nào đó bí mật Theo Phật giáo, mỗi người sinh ra không phải do Trời hay bất kỳ thần linh nào sắp đặt sẵn Không ai có thể ban phước hay giáng họa cho chúng ta, kể
cả Đức Phật Ngài khẳng định: “Không có một năng lực nào bên ngoài ta có thể tạo nên sự phát sinh và chấm dứt khổ đau, trái lại chỉ có con người là có khả năng nắm vững vận mệnh của mình, tốt hay xấu đều do chúng ta quyết định” [63, tr.65] Tư tưởng này như bản tuyên ngôn khẳng định con người
hoàn toàn tự chủ, tự mình định giá trị đạo đức, thể hiện được khả năng chuyển hóa thân tâm
Đối với nghi lễ cầu an trong Phật giáo, không mang ý nghĩa cầu xin đấng Quyền Năng ban cho sự bình an hay cho điều cứu rỗi, mà có nghĩa là
Trang 17mầu trong thế giới Thiêng, chuyển đến người thân với ước nguyện trợ giúp
cho họ được bình an
Đầu năm mọi người lên chùa lễ Phật, cúng sao, giải hạn, giải oan kết từ nhiều đời trước, mong được bình an cả năm Trong Phật giáo, không nhất thiết những năm có sao Thái bạch, sao La hầu, sao Kế đô mới cần cầu an; mà cầu an
ở đây là mong cầu một chữ “an” cho bản thân và gia đình, Đức Phật dạy:
“Mong rằng ta nhiếp phục lạc và bất lạc, chớ không phải bất lạc nhiếp phục
ta Mong rằng ta sống luôn luôn nhiếp phục bất lạc được khởi lên!” [15, tr.57]
Mục đích của chư Phật ba đời là khai thị cho chúng sinh tin nhận lại Phật tâm của chính mình - đó mới là mùa xuân miên miễn, bình an miên miễn mà Phật Di lặc đã chứng được và dạy cho chúng sinh
1.1.3 Cầu siêu
Cầu siêu còn được gọi là Kỳ siêu, theo quan điểm nhân gian đây là
lễ tưởng nhớ về những người đã khuất thể hiện đạo lý nhớ ơn Cầu tức là cầu nguyện, siêu có nghĩa là thoát, nghi thức này là cầu nguyện hướng về ông bà, cha mẹ, cửu huyền thất tổ những người thân của mình đã khuất được giải thoát khỏi cảnh giới khổ đau, sinh về cảnh giới an lành, hoặc về Tịnh độ của đức Phật A Di Đà
Tinh thần cầu siêu của Phật giáo là sự gắn kết vô hình giữa hai cảnh giới âm và dương, người hiện còn dùng tâm lực cầu nguyện để truyền năng
lượng tỉnh thức: “Mong rằng những bà con huyết thống với ta, khi họ chết và mệnh chung, nghĩ (đến ta) với tâm hoan hỷ (và nhờ vậy) được quả báo lớn, lợi ích lớn!” [15, tr.57], để hỗ trợ cho người mất sinh tâm hỷ lạc, nhẹ nhàng
siêu thoát
Theo quan niệm Phật giáo, nghi lễ cầu siêu có hiệu quả cần có bốn
Trang 18- Lòng thanh tịnh và sự nhiệt tâm của người cầu nguyện (chư Tăng
và Đạo Tràng Phật tử) và lời khai thị của chư Tăng chỉ lối dẫn đường cho Hương Linh
- Niềm tin và lòng chí thành tha thiết của thân quyến phát nguyện hướng về điều lành tạo công đức lành (như cúng dường, bố thí phóng sanh, ăn chay niệm Phật), tất cả hồi hướng về cho hương linh
- Niềm khát khao vượt thoát khổ đau sanh tử của hương linh cảm ứng với sự thiết tha cầu khẩn của thân quyến
- Thần lực gia hộ của mười phương Tam Bảo
Tất cả các yếu tố đó tạo thành năng lực cảm ứng đạo giao, giúp cho hương linh chuyển hóa được những tâm hành tham ái, si mê, vượt thoát
vô minh, xa lìa phiền não, chứng nhập vô sanh pháp nhẫn
1.1.4 Các khái niệm liên quan
Nhân quả - nghiệp báo
Tư tưởng căn bản của Phật giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái Phật giáo
Luật nhân quả cần được quan sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh mới có thể gọi là luật nhân quả của Phật giáo Theo đó, một nhân đơn độc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng vai trò quả cho một nhân khác
Về giáo lý nghiệp báo (nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp quả) của Phật giáo, được con người tiếp nhận nhanh, trở thành nếp sống tín ngưỡng sáng tỏ đối với người Việt Nam Giáo lý này phù hợp với mọi người, bao gồm cả giới bình dân và giới trí thức Vì thế, giáo lý nghiệp báo luân hồi đã in đậm trong văn
Trang 19người biết soi sáng tâm trí mình vào lý nhân quả - nghiệp báo để có hành động tốt đẹp, đem lại hòa bình, an vui cho mọi người Ngay cả trẻ con, người trẻ tuổi cũng
biết được câu: “ác giả ác báo”, “chạy trời không khỏi nắng” để hiểu rằng nghiệp
nhân không phải là định nghiệp mà có thể thay đổi được Nếu họ biết tự sửa chữa,
tu tập, cải ác thành thiện thì những tai ương, biến cố sẽ được đẩy lùi Không nên than trời trách đất, mà nên tự cố gắng tu tỉnh để chuyển hóa dần ác nghiệp đó
Nguyễn Du đã chuyển tải nguồn giáo lý này trong truyện Kiều rằng:
“Có trời mà cũng có ta,
Tu là cội phúc, tình là dây oan” [Nguyễn Du, Truyện Kiều]
Nếu nắm vững được giáo lý nhân quả - nghiệp báo, chúng ta có thể chuyển nghiệp trong kiếp hiện tại Điểm đích của việc chuyển nghiệp, tái tạo cá nhân là hướng đến việc thay đổi hành nghiệp thiện và ác Trước tiên, từ ba nghiệp Thân, Khẩu và Ý của chính mỗi cá nhân Từ những hành nghiệp thiện, giảm bớt điều ác, dần dần chuyển hóa và tạo nên một cuộc sống yên vui cho hiện tại và mai sau
Chánh báu - y báu
Chánh báo và y báo là thuật ngữ chuyên môn của Phật giáo Chánh báo là chỉ chung cho các loài hữu tình chúng sanh, tiêu biểu là loài người Còn y báo là
chỗ nương tựa cho các loài hữu tình Chữ y là nương, báo là đáp lại - nghĩa là chỗ
để cho các loài hữu tình nương tựa mà sống Chánh báo là quả báo gốc hay là quả báo chủ yếu của nghiệp nhân đã tạo; còn y báo là quả báo nương nơi chánh mà có
(như nhà cửa, xe cộ, vườn tượt, cảnh vật xung quanh ) Chánh báo và y báo là chỉ cho con người và cảnh vật thuộc về con người
Quay về đời sống thực tại hàng ngày, giáo lý chánh báo và y báo được vận dụng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta Chẳng hạn như đối với việc dạy dỗ con cháu Có những gia đình Phật tử quan niệm phải làm sao có nhiều tiền của để
Trang 20chơi thì của cải khó bề bảo quản, sớm muộn rồi cũng tiêu tán Do đó, hiện giờ điều thiết thực hơn cả là dành sự yêu thương, quan tâm và dạy dỗ nếp sống trí đức cho con cháu, hướng cho con cháu trở thành người có đức, có tài để mai sau nên người Của cải có thể tiêu tán theo thời gian, hoàn cảnh; nhưng tài đức, trí tuệ thì còn lại với mỗi con người Lại có nhiều người phiến diện, chỉ lo cho con học giỏi trên lớp mà bỏ qua việc tu dưỡng, giáo dục đức hạnh cho con Đây là một khuyết điểm mà các bậc cha mẹ thường hay mắc phải Những người tài giỏi mà không có đạo đức trở thành tai họa cho xã hội Cho nên, cái tài cần có cái đức, cần sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường để giáo dưỡng đức hạnh của các con cháu, hướng con cháu trở thành người có ích cho xã hội
1.2 Sự hình thành và đặc điểm của nghi lễ Phật giáo
1.2.1 Vài nét về nghi lễ Phật giáo
Việt Nam với vị trí địa trí địa lý thuận lợi, nằm trong bán đảo Đông Dương giữa Ấn Độ và Trung Hoa cho nên Phật giáo du nhập vào nước ta một cách nhanh chóng Các tu sĩ Ấn Độ theo các thương thuyền vào Giao Châu và Phật giáo được biết đến qua các hoạt động sinh hoạt hằng ngày Theo Nguyễn
Lang trong Việt Nam Phật giáo Sử luận: “Đạo Phật đầu tiên do các thương gia
Ấn Độ đem đến, họ đọc ba điều quy y, giữ tam quy, giữ ngũ giới Họ tin ở thuyết nhân quả; vì vậy họ bố thí cúng dường, nhất là cúng dường y phục và chỗ cư ngụ cho Tăng sĩ Họ còn thờ phụng xá lợi Phật, đốt hương trầm, đọc thuộc một vài đoạn kinh nhân quả, kể chuyện tiền thân của Đức Phật” [49, tr.44]
Nội dung sinh hoạt của các tu sĩ ban đầu đơn giản, hình thức này phù hợp với tín ngưỡng văn hóa bản địa người Việt thời bấy giờ, các nghi thức dần hòa nhập vào nền văn hóa nước ta và trở thành các nghi lễ nhật dụng của Phật giáo Bên cạnh đó, do chịu ảnh hưởng phần nào của Trung Quốc, các nghi lễ của Phật
Trang 21tổ tiên và cầu nguyện trời đất, cúng ông địa, cúng ông thần tài Cho đến thời Lý
- Trần, Phật giáo được phát triển rực rỡ, tuy không có một văn bản nào khẳng định Phật giáo là Quốc giáo, nhưng trong lòng nhân dân, Phật giáo được xem như là Quốc giáo Các vị thiền sư nghiên cứu kinh Phật, dùng những lời Phật dạy để trị quốc an dân Từ đó, giáo lý Phật được phổ cập đến mọi người một cách đúng nghĩa, không còn xem vị trí của đức Phật là một vị thần linh, những nghi lễ của Khổng giáo được chuyển thể thành những nghi lễ của Phật giáo; những cách vái van cầu xin ngày xưa đã được nhịp nhàng, uyển chuyển theo nền văn hóa dân tộc thời bấy giờ Lần đầu tiên trong lịch sử, các vị thiền sư đời Lý - Trần tổ chức các giới đàn và các buổi pháp đàn, truyền giới thọ Tam quy ngũ giới cho Phật tử,
Ở các triều đại quân chủ của chế độ phong kiến Việt Nam, có hẳn một
bộ phận chuyên phụ trách về các lễ nghi của triều đình cũng như của các quốc
gia - đó chính là Bộ Lễ Theo Thượng tọa Thích Lệ Trang: “Bộ Lễ giữ việc lễ nghi, tế tự, khánh tiết, yến tiệc, trường học, áo mũ, ấn tín, phù hiệu, chương tấu, biểu văn, sứ thần cống nạp, các quan chầu mừng, tư thiên giám, thuốc thang, bói toán, tăng tục, đạo đức, giáo phường, đồng văn nhã nhạc” [88]
Nghi lễ Phật giáo là một phạm trù bao gồm nhiều lĩnh vực triết học, văn hóa, giáo lý Nghi lễ ở đây được nhìn nhận như một hình thái văn hóa thể hiện trong nếp sống từ gia đình đến xã hội, không đơn thuần là nghi lễ cúng bái trong các tự viện
Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài khéo léo dùng vô số phương tiện để
hóa độ chúng sanh trên tinh thần “tùy duyên bất biến” Chư Tổ tiếp nối
không ngừng, tùy thuận với tín ngưỡng tâm linh của quần chúng nhân dân
để ứng dụng vào việc tùy duyên giáo hóa Những giáo lý đó được chư
Trang 22thành lễ nhạc của Phật giáo Nền lễ nhạc của nghi lễ Phật giáo ngày xưa
đã phát triển đến một trình độ cao, được miêu tả trong các tài liệu xưa của chư Tổ để lại Các nghi lễ Phật giáo được định hình và phát triển, nổi bật
nhất là âm nhạc Phật giáo Giáo sư Lê Mạnh Thát nhấn mạnh: “Nền âm nhạc Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào một mặt đã ngăn chặn được sự lấn lướt của nền âm nhạc Trung Hoa do chính sách diệt chủng của kẻ thù áp đặt Mặt khác, nó tạo điều kiện cho nền âm nhạc Hùng Vương tiếp thu nền âm nhạc Ấn
Độ, để hóa thân thành nền âm nhạc Phật giáo Việt nam và lễ nhạc Phật giáo Việt Nam” [73, tr.241]
Bên cạnh Lễ nhạc Phật giáo, các nghi thức do nhu cầu tâm linh của
người dân bản xứ được hình thành, như cầu an, cầu siêu - hai nghi thức cần thiết trong cuộc sống thường nhật “Đạo Phật, ngoài kho tàng triết lý sâu sắc còn có âm nhạc, lễ nghi để thức tỉnh lòng người bỏ bến mê quay về bờ giác Dùng lễ nhạc để ca ngợi công đức chư Phật, chư Bồ tát, đồng thời còn là cách để diễn bày chân lý vô thường, vô ngã và giá trị tự giải thoát” [88]
Nghi lễ thể hiện tính văn hóa của Phật giáo và dân tộc, sự giao lưu tiếp biến và tương tác lẫn nhau của nền văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt Nam Điều này thể hiện ở kiến trúc chùa chiền, điêu khắc tranh tượng, lối sống đạo đức, nghi thức cúng bái… Đặc biệt, những giai điệu cổ điển của
âm nhạc truyền thống đã đi vào nghi lễ Phật giáo và trở thành nghi lễ truyền thống Nét nhạc cổ điển của Phật giáo Việt Nam tùy theo từng vùng miền, từng dân tộc mà thích ứng với vùng miền, dân tộc ấy, tạo nên nét văn hóa Phật giáo hòa quyện vào văn hóa dân tộc
1.2.2 Mục đích của nghi lễ Phật giáo
Trong Phật giáo, mọi pháp môn tu tập, mọi cách thức hành đạo đều là
Trang 23mình, hướng về nội tâm Các nghi lễ đều hướng đến niềm an lạc cho cả người sống lẫn người đã khuất Nghi lễ Phật giáo ở đây được nhìn nhận như một trong những pháp môn hành động, phương tiện truyền giáo để cảm hóa lòng người, tạo sự an lạc cho tự thân và tha nhân, đưa họ quay về chánh đạo và củng cố niềm tin với chánh pháp và Phật giáo Thiền sư Hương Hải dùng phương pháp tự tri làm phương châm tu tập:
“Phản văn tự kỷ mỗi thường quan Thẩm sát tư duy tử tế khan
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức Tương lai diện thượng đổ sư nhan” [105, tr.344]
Phải khéo biết mình đó là bổn phận không nhờ vào ai khác Khi chúng
ta chấp nhận thực tại của cuộc sống, sẽ có những đường hướng giải quyết thỏa đáng cho mọi vấn đề
Nghi lễ Phật giáo dùng hình tướng bên ngoài để chuyển hóa nội tâm
(“nghi tại tướng, lễ tại tâm”) Đàn tràng có trang nghiêm, lòng người mới
phát tâm thành kính Nội tâm có thanh tịnh, đàn tràng mới được thanh tịnh
Nghi lễ Phật giáo không phải chỉ có cúng tế, đám đình ma chay để mưu cầu lợi dưỡng hoặc kinh doanh kiếm sống; mà là phương tiện truyền đạo trong cuộc sống hàng ngày của con người Trước nỗi đau của cảnh sanh ly tử biệt, nghi lễ sẽ góp phần xoa dịu niềm đau thương, mất mát, đồng thời giác
`ngộ cho họ về lý vô thường để vượt thoát khổ đau
Nghi lễ là quy chuẩn về luân lý và đạo đức trong Phật giáo
Đối với các quy tắc luân lý và đạo đức trong Phật giáo, tất cả việc thực hành trong Phật giáo không mang tính bắt buộc mà chỉ là sự tự nguyện của từng cá nhân Phần thực hành các quy tắc cũng được phân định từng phần:
Trang 24phải tuân thủ Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, những quy định thiền môn tại bổn tự Phật tử tại gia tuân thủ những lời dạy như: Năm giới, Tám giới, Thập thiện giới, Bồ tát giới và một số nguyên tắc chung khi sinh hoạt cùng một nhóm cộng đồng cụ thể
Khi đã có niềm tin làm bệ đỡ thì thực hành là cách thức tạo ra lối sống thuần thiện Thiết lập được những sợi dây vô hình từ cá nhân kết nối với cộng đồng xã hội, từ đó tương tác lẫn nhau, hình thành nên xã hội tích cực Từ các nghi lễ tạo ra nếp sống đồng nhất hóa các hành vi cá nhân cấu thành một cộng đồng tôn giáo
Nghi lễ thể hiện nội dung giáo lý, triết học của Phật giáo
Cùng với dòng chảy thời gian, nghi lễ Phật giáo nói chung và nghi lễ cầu an, cầu siêu đã có những thay đổi để đảm bảo tính phù hợp, cập nhật từng thời kỳ nhất định, kể cả về hình thức và nội dung của nghi lễ Phật giáo Tất cả giáo lý của nhà Phật được hàm chứa trong Tam tạng Thánh điển Kinh, Luật và Luận, trong đó, kinh được chia thành mười hai phần giáo:
“Trường hàng, Trùng tụng tinh Cô khởi Thí dụ, Nhân duyên dữ Tự thuyết
Bổn sanh, Bổn sự, Vị tằng hữu Phương quảng, Luận nghị cập Ký biệt” [17, tr.177]
Mười hai phần giáo này chứa đựng tất cả giáo lý hành quả để Tăng
Ni ứng dụng trong sự hành trì tu tập Bên cạnh đó, triết lý của Phật giáo còn thể hiện trong đời sống thông qua những hành động thiết thực như việc hành trì giới luật, tu tập thiền định, tuân thủ thanh quy thiền môn, thời khóa tụng niệm, lễ Phật, sám hối… Tất cả những kết quả hành trì của Tăng Ni sẽ được thể hiện ở phong thái, đạo đức và lối sống của họ để
Trang 25Nghi lễ là một phương tiện hữu hiệu nhất trong hoằng pháp
Theo tinh thần tùy duyên hóa độ, chư Tổ ngày xưa khéo léo vận dụng giáo lý Phật đà mà lập ra những nghi lễ phù hợp với bản sắc dân tộc phổ biến trong từng bài kệ, câu kinh thông qua những giai điệu âm nhạc dân tộc một cách hài hòa để khai thị chúng sinh, ngộ nhập tri kiến Phật; đồng thời hình thành một bộ môn nghi lễ được áp dụng rộng rãi trong chốn thiền môn, giúp cho sự ứng phó đạo tràng được hài hòa và làm tăng thêm sự gắn bó giữa đạo và đời Chính vì thế, lời Phật, Bồ tát và chư vị tổ
sư đã lan rộng khắp mọi miền đất nước chứ không gói gọn trong phạm vi cửa thiền
Nghi lễ Phật giáo thể hiện sự tôn kính của mọi người đối với Tam Bảo và được coi là một phương tiện hữu hiệu nhất trong quá trình hoằng pháp Do đó, cần sử dụng nghi lễ để tuyên dương chánh pháp, tránh gây ngộ nhận cho người đời rằng nghi lễ Phật giáo là mê tín dị đoan; các nghi
lễ cần được thực thi đúng lúc, đúng nơi, đúng hoàn cảnh nhằm làm tăng thêm sự uy nghiêm trong nghi lễ Phật giáo
1.2.3 Nguyên tắc của nghi lễ trong Phật giáo
Nguyên tắc của nghi lễ trong Phật giáo là sự trang nghiêm - “Lễ trí kỳ nghiêm” Trong một buổi lễ dù lớn hay nhỏ mà thiếu đi sự trang nghiêm thì
không thành lễ Buổi lễ được trang nghiêm, cần tiến hành các bước sau:
Cử một người để sắp xếp, trang hoàng, bày biện, chuẩn bị các nghi tiết cần thiết trước khi hành lễ Trong nghi lễ nhỏ thường có vị công văn chịu trách nhiệm phần sắp đặt này Trong các đại trai đàn, ngoài công văn còn có các vị như vị Chiếu liệu Trai đàn lo phần trần thiết đàn tràng, vị Tri sự lo hướng dẫn chương trình hành lễ
Trang 26Vị trí hành lễ phải được dọn dẹp sạch sẽ, sắp xếp trang nghiêm Gia chủ cũng như những người tham dự khóa lễ phải ổn định đúng vị trí, giữ im lặng
và lắng lòng thanh tịnh Ban kinh sư đứng trang nghiêm hai hàng đối diện với nhau giữ ba nghiệp thanh tịnh trước khi sám chủ bước vào
Lễ niệm hương, nhằm tạo không khí trang nghiêm cho buổi lễ, vị chủ sám có thể mặc niệm niêm hương, hai hàng kinh sư chắp tay im lặng Trước không khí thanh tịnh đó khiến mọi người tự trang nghiêm cho chính mình
Trong các đại lễ, nghi lễ cung đón bằng chuông trống Bát nhã chỉ giành cho vị chứng minh tối cao, các đoàn khác được cung đón bằng khánh và khay lễ
Trong các lễ tang, trước bàn thờ vong có bốn chữ Nho “Tang trí kỳ ai”
nghĩa là điều chính yếu của lễ tang là sự đau buồn, thương tiếc - đó là nguyên tắc của lễ tang Do đó, khi đến dự lễ tang, ta cần phải biết cách ứng xử cho phù hợp (như: không mặc sắc phục màu mè, lòe loẹt mà chỉ mặc màu trắng hoặc đen; cho
dù có vui đến mấy cũng không được biểu lộ, chỉ tỏ thái độ đau buồn để phân ưu cùng tang quyến) Trái lại, khi đi dự lễ cưới, nguyên tắc của lễ cưới là vui mừng
- “Hôn trí kỳ hỷ”, nên thái độ đến dự lễ cưới cần vui vẻ, tay bắt mặt mừng
Như vậy, nghi lễ Phật giáo Việt Nam được hình thành theo một dòng chảy từ Bắc - Trung - Nam là sự dung hợp hài hòa giữa các dòng văn hóa trong quá trình tiếp biến, tạo thành một hệ thống nghi lễ đặc thù từng vùng miền khác nhau
Các nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật giáo là sự đáp ứng nhu cầu tâm linh cho con người nói chung, tín đồ Phật giáo nói riêng biểu hiện rõ tinh thần tùy duyên nhập thế tích cực của Phật giáo
Qua sự giác ngộ lời Phật dạy, sẽ thấy cuộc đời là chiêm bao và mộng huyễn, từ đó sẽ không bị nó trói buộc, khiến cho đau buồn; sẽ thấy được các pháp là vô thường, vô ngã; thấy một việc bất như ý dưới cái
Trang 27nhìn vô thường sẽ nhìn được những góc độ khác và trong mối tương quan của sự việc khác
Ví như, đau ốm, bệnh tật, già yếu hay cả cái chết là những lẽ đương nhiên trong cuộc sống Biết thân này như vậy thì sẽ không bị ảnh hưởng nặng nề trên cái thân đó Như vậy, để có được sức khỏe và an lạc, theo đạo Phật, cần hướng tới việc tu tập công đức, làm nhiều việc tốt, có chế
độ sinh hoạt thích hợp, lấy chánh niệm và sự tỉnh thức làm phương châm của cuộc sống
1.3 Vai trò cầu an, cầu siêu trong Phật giáo
1.3.1 Xây dựng niềm tin thực tại
Tinh thần tùy duyên và tính thiết thực của Phật Giáo không đóng khuôn trên triết lý văn tự, mà tận dụng mọi phương tiện thiện xảo để xây dựng niềm tin thực tại cho con người, thông qua nhiều phương thức Trong đó, cầu an, cầu siêu là một phương thức mang lại nhiều kết quả hữu hiệu nhất
Trên tinh thần Phật giáo, bản chất cốt lõi của nghi lễ cầu an, cầu siêu không chờ kết quả ở tương lai, không đợi sự ban ơn từ bên ngoài, cũng không phó thác vận mệnh của mình cho bất cứ một đối tượng nào, dù đó là ai Phật giáo không lấy “niềm tin mù quáng” làm mục đích cho sự hoằng pháp, Phật giáo lấy giác ngộ (sự hiểu biết) làm mục đích cứu cánh, nghi lễ cầu an, cầu
siêu hướng tới mục đích như vậy Điều này Đức Phật đã nói: “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta” và Ngài thể hiện rõ điều ấy với Kalamas như
sau:
“Chớ vội tin ai vì đó là truyền thống do nhiều thế hệ để lại
Chớ vội tin ai vì đó là tin đồn được nhiều người nói tới
Chớ vội tin ai vì được viết thành sách bởi một nhà hiền triết cổ xưa
Trang 28Chớ vội tin ai vì điều anh thích thú cho là tận tụy và nghĩ rằng đó là phải
do Thần hay nhân vật nào kỳ diệu truyền đạt lại… chỉ khi quan sát, phân tích thấy rằng đó là điều hợp lý đem lại tốt lành, có lợi ích cho bản thân và cho mọi người thì hãy chấp nhận theo điều đó và sống với điều đó” [13, tr.337-347]
Niềm tin trong Phật giáo được xây dựng trên hệ thống triết lý “Duyên sinh, nhân quả, nghiệp báo,…” và được thẩm định qua sự bình an trong nếp sống thường nhật Con người xây dựng và nhận thức rõ những nhân tố đúng chánh pháp để kết thành nhân cách tốt và loại bỏ những hành vi sai lệch, bất thiện làm thoái hóa nhân cách Như vậy, bất kỳ ai cũng có thể đem lại sự bình
an cho chính mình khi thực hành theo Phật dạy:
- Không làm bốn việc: Trộm cắp, sát sinh, tà hành, nói dối
- Không hành động vì bốn động cơ: Tham, sân, si, sợ hãi
- Không phung phí tài sản theo sáu cách: Rượu chè, cờ bạc, đam mê nữ sắc, kết bạn với kẻ xấu, la cà đình đám, kỷ viện, la cà đường phố phi thời
Qua đây, cho thấy sự bình an, hạnh phúc của con người, do chính con người làm chủ không nương nhờ ai khác Thể hiện tinh thần “tự lực” bằng niềm tin chính mình, Phật giáo không áp đặt niềm tin, tín điều mà tự do trong
ý thức, tự nguyện trong tu tập Mọi phương tiện trong Phật giáo hướng đến việc tự thực nghiệm giáo pháp vào thực tiễn cuộc sống, nếu đem đến sự an lạc thực sự trong tâm tư thì hãy tin Như vậy, giáo lý của Phật giáo là “đến để thấy”, “thấy để thực hành” chứ không phải “đến để tin”
Cho nên, không một Thượng đế nào ban cho hạnh phúc, cũng chẳng có Thần linh nào giáng họa, mà hành nghiệp của chính mình làm cho mình trở nên hạnh phúc hay khổ đau, chứ không hề tồn tại một ai ngoài ta có quyền năng ban phước hay giáng họa cho chính bản thân mình
Trang 29Sự phân định hạnh phúc hay khổ đau ở mỗi con người là kết quả của hành động thân, khẩu, ý chứ không phải là sự can thiệp của Thần linh hay đấng sáng tạo, bởi thiếu “niềm tin vào bản thân”, tâm trạng lo âu, sợ hãi vào
sự thưởng phạt của Thần linh làm con người mất phương hướng niềm tin trong cuộc sống Phần lớn, con người khổ là do không chấp nhận thực tại mà luôn nuối tiếc quá khứ, mơ tưởng tương lai, nên không có an lạc:
“Do mong việc sắp tới
Do than việc đã qua Nên kẻ nghi héo mòn Như lau xanh lìa cành” [15, tr.18]
Hoặc:
“Đừng tìm về quá khứ Đừng tưởng tới tương lai Quá khứ đã không còn Tương lai thì chưa tới Hãy quán chiếu sự sống Trong giờ phút hiện tại ” [18, tr.519]
Ngày nay, xã hội nhiều biến động, con người bị tha hóa theo những dục vọng, đa cầu đã dần đánh mất một phần bản chất người nên có những hành vi sai lệch làm cho tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, sự hỗn tạp về đời sống tâm linh khiến con người mất định hướng Vì thế, con người cần phải xây dựng “chánh tín” trong đời sống hiện tại, khi chánh tín được thiết lập,
mê tín không tồn tại, con người sẽ hiểu rõ đâu là nhân tốt đẹp đem đến sự an lạc, các nghi lễ cầu an, cầu siêu chỉ là hỗ trợ nguồn năng lượng tâm linh, xoa dịu nỗi khổ niềm đau - đây là ý nghĩa đích thực mà Phật giáo vận dụng
Trang 30phương tiện cầu an, cầu siêu để tín đồ có thể chạm đến sự bình an khi sống
và sự siêu thoát khi mất
1.3.2 Thiết lập hạnh phúc tương lai
Thông qua việc xây dựng niềm tin thực tại, không dừng tại đây, Phật giáo còn hướng dẫn con người thiết lập hạnh phúc ở tương lai Giá trị hạnh phúc không thể thẩm định, cân, đo, đong, đếm bằng tiền tài, danh vọng, địa
vị, sang hèn… mà nó chỉ hiện diện khi vắng mặt của khổ đau Đức Phật giới thiệu con đường vào hạnh phúc một cách thiện xảo, đáp ứng nhiều căn cơ khác nhau, bằng nỗ lực của chính mình khiến mọi người đều có thể tìm thấy
an lạc, hạnh phúc ngay trong hiện tại dẫn đến tương lai từ cấp độ tương đối đến tuyệt đối
Đức Phật muốn nhấn mạnh sự nỗ lực của tự thân tu tập là điều quan trọng, là điều kiện cần thiết để đi đến hạnh phúc tương lai thông qua nguồn
giáo lý thực tiễn Bát chánh đạo (Ariyo atthamgiko maggo) - Tám con đường
chân chánh: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh
mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định (sammàditthi, sammàsankappa, sammàvàca, samm kammata, sammààjiva, sammààyàma, sammà satti, sammà samàdhi) đưa đến an lạc trong hiện tại và đây cũng còn gọi là con đường Trung đạo (Majjhimà Patipadà) mà Đức Phật đã chứng đắc
nơi cội Bồ đề Do vậy, con người muốn có hạnh phúc an lạc, cần phải thấu rõ Bát chánh đạo bởi nó là nền tảng đưa con người đến với chân hạnh phúc Trong đó, Chánh kiến rất quan trọng - phương cách đầu tiên về “cách nhìn thấu đáo” trong cuộc sống Khi một tín đồ có nhu cầu về các buổi lễ thuộc nhóm cầu an hoặc cầu siêu, nếu là người biết vận dụng Chánh kiến vào cuộc sống sẽ biểu thị hai vấn đề:
Trang 31Thứ nhất, tín đồ phải nhìn xuyên thấu về hình thức của nghi lễ (cầu an,
cầu siêu) phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc không, thích hợp với văn hóa địa phương và ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân, gia đình và xã hội hay không
Thứ hai, phải tìm hiểu về ý nghĩa của buổi lễ thích hợp với chủ trương,
đường lối của Nhà nước không, đặc biệt là người thực hành nghi lễ đúng theo tinh thần Phật giáo không
Điển hình như lễ cầu siêu đám tang, gia chủ (tín đồ hoặc không phải tín đồ) thỉnh các quý Thầy, Sư cô (đối tượng thực hành) về để thực hành nghi lễ cầu siêu cho người thân quá cố Thông thường mọi nghi lễ đều do Thầy, Sư
cô sắp xếp, trong lúc tang gia bối rối, các Thầy, Sư cô yêu cầu điều gì gia chủ đều đáp ứng, (nhiều khóa lễ cúng không hợp lý, sắp sửa các vật cúng thái quá,
kể cả đưa ra giá cả cho các pháp sự) Nếu như gia chủ có trang bị “Chánh kiến”, mọi nghi lễ trong đám tang được yêu cầu từ người thực hành, gia chủ phải biết để quyết định lễ nào phù hợp với địa phương, đúng tinh thần Phật giáo để chấp nhận hoặc khước từ một cách khéo léo, tránh trường hợp bị lợi dụng, hoặc hướng dẫn theo hướng mê tín
Nếu hai điều này, tất cả tín đồ đều vận dụng một cách triệt để, sẽ có niềm tin chánh tín được xây dựng trên sự thấy biết đúng đắn thì mọi tư duy, hành động không rơi vào mê tín Mặc dù, có gặp bất kỳ những điều bất trắc trong cuộc sống, cần động lực hỗ trợ về mặt tinh thần (cầu an, cầu siêu), con người vẫn có hướng giải quyết một cách tích cực nhất, lập những đàn tràng cầu an, cầu siêu đúng theo tinh thần Phật giáo
Do vậy, con người muốn không rơi vào “tà kiến” cần trang bị “chánh kiến” - một trong tám nhánh Bát chánh đạo, giúp con người ổn định cuộc
Trang 32sống vật chất, thoát ra những khổ đau về thân tâm, thăng hoa đời sống tinh thần, đem đến cho con người niềm hỷ lạc
Trang 33Chương 2 THỰC HÀNH NGHI LỄ CẦU AN, CẦU SIÊU TRONG PHẬT GIÁO
TẠI HUẾ HIỆN NAY
2.1 Bối cảnh địa bàn nghiên cứu nghi lễ cầu an, cầu siêu tại Huế
2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm lịch sử và văn hóa
Phú Xuân - Huế là một vùng đất thuộc hai châu Ô, Rí của Chăm-pa, được sáp nhập vào Đại Việt qua việc hôn phối giữa Huyền Trân và Chế Mân,
để rồi từ đó, vùng đất này lại có cơ hội phát triển mạnh hơn, trở thành thủ phủ Đàng Trong của các chúa Nguyễn (1687-1775), kinh đô của triều Tây Sơn và kinh đô triều Nguyễn (1802-1945)
Cùng với sự xác lập vương triều, các chúa Nguyễn và sau này là các vua Nguyễn đã dùng Phật giáo làm lối sống “cư Nho mộ Thích” như một chiến lược nhân tâm để ổn định dân tình, xây dựng Phú Xuân - Huế thành một trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước
Sự phát triển của các triều đại phong kiến với Phú Xuân - Huế là kinh
đô đã để lại một kho tàng di sản đồ sộ về văn hóa vật chất lẫn phi vật chất như các đền đài, lăng tẩm, cung điện, chùa chiền hay các làn điệu dân ca, nhã nhạc cung đình, nghi lễ, lễ hội cho đến nay vẫn còn hiện hữu, chi phối nhất định đến các sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa của người dân Thừa Thiên - Huế
Đến nửa sau thế kỷ XX, đất nước có nhiều chuyển biến về chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng Phú Xuân - Huế mất đi vai trò trung tâm Lúc này, Phật giáo Thừa Thiên - Huế cũng có nhiều thay đổi bởi các yếu tố tác động từ bên ngoài và những xáo trộn, thay đổi từ bên trong
Tuy vậy, tinh thần Phật giáo vốn đã ăn sâu vào trong tiềm thức của người
Trang 34chấn hưng Phật giáo nhằm quy chuẩn hệ thống kinh sách, đời sống tăng sĩ, thờ tự loại bỏ và giảm thiểu những ảnh hưởng của Tam giáo trong chùa Huế
Đặc biệt, với sự ra đời của Hội An Nam Phật học cùng với các Khuôn hội Phật giáo, gia đình Phật tử làm cho Phật giáo Thừa Thiên - Huế hồi sinh với một diện mạo mới, phát triển rộng khắp bằng tinh thần nhập thế đa dạng, đưa giáo lý, tư tưởng giải thoát của Phật đến mọi tầng lớp mà nghi lễ, lễ hội là một điển hình đặc trưng [7, tr.40-45]
2.1.2 Đặc điểm Phật giáo Thừa Thiên - Huế
Lịch sử gần 300 năm của Thừa Thiên - Huế với tư cách thủ phủ của đất nước và được mệnh danh là "chiếc nôi của Phật giáo Việt Nam", điều này đã định hình nên những đặc điểm riêng biệt của Phật giáo Thừa Thiên - Huế trong mối tương quan tác động, chi phối lẫn nhau với văn hóa truyền thống Thừa Thiên - Huế, cụ thể như sau:
Tư tưởng thiền học của Phật giáo: Đây là tác nhân tạo nên tính điềm
tĩnh, trầm tư của người dân Thừa Thiên - Huế, nên khi tiếp nhận tư tưởng này
từ bên ngoài đều với tinh thần chọn lọc cao Điều này đã góp phần làm nên sắc màu tâm linh của Phật giáo Thừa Thiên - Huế trong suốt chiều dài phát triển Phật giáo trên vùng đất này
Tư tưởng Tịnh độ tông: Bên cạnh sự ảnh hưởng của Thiền tông thì Tịnh
độ tông cũng có tác động sâu sắc trong đời sống tâm linh người dân Thừa Thiên - Huế Mỗi gia đình ở đây đều có một không gian tâm linh chủ đạo trong ngôi nhà: bàn thờ Phật và gia tiên Sự quy ngưỡng Phật A Di Đà - thế giới Tịnh độ an vui, tịnh tĩnh được cụ thể hóa qua hành động, việc làm hay trong tiếng niệm Phật vãng sanh, thể hiện sự tiếp nhận giáo lý nhân thừa, từ bi của Phật giáo
Trang 35Tinh thần Mật tông: Tinh thần “Thiền - Tịnh - Mật” đồng tu là cầu nối
gắn kết trong mỗi ngôi chùa tại Thừa Thiên - Huế và cả trong sinh hoạt tín ngưỡng của họ Có thể hiểu, Mật tông là giáo lý đòi hỏi người thực hành phải
có một định lực cao sâu (thiền định, quán chú) để thực hành trong các nghi lễ, đọc các câu thần chú nhằm giúp cho người nghe có thể đi vào thiền định và tuệ quán Do đó, tinh thần Mật tông ảnh hưởng khá mạnh và là điểm nhấn của Phật giáo Thừa Thiên Huế trong việc thực hành các nghi lễ
Tinh thần giáo học “Duy tuệ thị nghiệp”: Tinh thần giáo học của Phật
giáo ảnh hưởng khá sâu trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đối với tầng lớp tu sĩ Phật giáo lại càng quan trọng hơn Nếu không có trí tuệ để nhận thức
và giải mã những vấn đề trong cuộc sống thì khó có thể tiếp nhận được những luận lý triết học giải thoát của Phật giáo Cho nên, “Duy tuệ thị nghiệp” chính
là cách thức thể hiện nội dung “Ngũ minh” một cách hợp lý và phù hợp với nhu cầu nhập thế của Phật giáo
Tinh thần Luật tạng: Luật tạng là kho tàng giới luật, quy định về những
điều nên làm và không nên làm, những quy tắc để phân định đúng - sai của một hành vi Chính tinh thần này đã làm cho Phật giáo Thừa Thiên - Huế vững vàng hơn trong nhận định và cách nhìn của mọi người khi mệnh danh cho Thừa Thiên Huế là “chiếc nôi của Phật giáo Việt Nam”, là nơi bảo lưu những truyền thống Phật giáo một cách khá đầy đủ và toàn diện, tạo nên nét khác biệt so với Phật giáo ở hai đầu đất nước [7, tr.156-159]
Với những đặc điểm nêu trên, Phật giáo Thừa Thiên Huế trong dòng chảy văn hóa Việt Nam vừa mang những cái chung, đồng thời cũng có những nét riêng tạo nên tính đặc thù của văn hóa Phật giáo Thừa Thiên Huế trong di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam
Trang 36Do đó, lễ hội, nghi lễ Phật giáo Thừa Thiên - Huế cũng thể hiện rõ hơn những yếu tố văn hóa truyền thống đậm nét, lan tỏa và ảnh hưởng sâu rộng trong mọi tầng lớp người dân
2.2 Tình hình nghi lễ cầu an, cầu siêu ở Thừa Thiên - Huế
Miền Trung là mảnh đất có khá nhiều dấu tích của chiến tranh, biến cố
về thiên tai, bão lũ, cộng với địa lý hiểm trở… tạo cho tâm thế của con người luôn bất an về bản thân, gia đình, xã hội, đắn đo về cuộc sống xung quanh, lo
âu về những người đã khuất… Vì thế, nhu cầu về các nghi lễ cầu an, cầu siêu trong Phật giáo như là gạch nối giúp cho đời sống con người được hài hòa giữa người sống và người mất, giữa đời sống hiện tại với môi trường xung quanh tạo cho người sống một cảm giác quân bình
Tại Thừa Thiên - Huế, chúng tôi khảo sát và đã tham dự nghi lễ tại một số chùa như: Chùa Vạn Phước (đường Điện Biên Phủ, Tp.Huế), Chùa Phước Duyên (phường Hương Long, Tp Huế), Chùa Từ Vân (đường Phan Bội Châu,
Tp Huế),…
Qua lăng kính tổng thể về hoạt động sinh hoạt Phật giáo tại miền Trung, nghi lễ cầu an, cầu siêu là bộ phận thiết yếu của lễ hội Phật giáo Thừa Thiên - Huế, thể hiện rõ giá trị văn hóa dung hợp giữa triết lý Phật giáo với nghệ thuật cung đình, văn hóa dân gian trên cơ sở niềm tin tâm linh của người
dân xứ Huế Vì thế, Nghi lễ Phật giáo Thừa Thiên - Huế “đóng vai trò như là gạch nối giữa dân nhạc và âm nhạc cung đình, Ca Huế cũng là một dòng âm nhạc làm phong phú thêm đời sống âm nhạc ở đất Thần Kinh Đặc điểm này
sẽ ảnh hưởng nhất định đến diện mạo của nhạc lễ Phật giáo Huế” [85, tr.59]
Sự tác động này đã tạo điều kiện cho nghi lễ Phật giáo Huế được tồn tại một cách hiệu quả nhất
Trang 372.2.1 Khái quát các loại hình nghi lễ cầu an, cầu siêu
Với những nhu cầu thực tế của con người về sự bình an, nghi lễ cầu an, cầu siêu cũng trở nên đa dạng và phong phú Trên căn bản, có thể chia ra thành hai loại hình, cầu an, cầu siêu thông thường và cầu an, cầu siêu trai đàn
Loại hình cầu an, cầu siêu thông thường: Lễ cầu an đầu năm, lễ cầu an
đảo bệnh, lễ cầu an giải nạn, lễ cầu an Hằng thuận, lễ an vị, Lễ cầu siêu cho người mất như: Lễ tang, lễ tuần thất, chung thất (49 ngày), một trăm ngày, giáp năm, mãn tang, lễ giỗ (húy kỵ),… được tổ chức tại tự viện hoặc tư gia, tín đồ tham dự đa dạng có khi là Phật tử nhưng cũng có những người không phải Phật tử, vì ước muốn được sự bình an, hoặc họ đang gặp sự cố trong công việc, tình cảm đến tham dự hoặc nhờ chùa thiết lập những lễ cầu an, cầu siêu trên
Loại hình cầu an, cầu siêu trai đàn: Trai đàn cầu an đầu năm, Trai đàn
lễ hội Quan Âm, Trai đàn Đà la ni, Trai đàn cầu siêu bạt độ hương linh, Trai đàn giải oan, Trai đàn Địa Tạng, Trai đàn Báo ân (Vu lan), được tổ chức trọng thể tại tự viện hoặc tư gia (thường được tổ chức tại chùa, có một số doanh nghiệp, tư gia có điều kiện về không gian, vật chất vẫn tổ chức được), tín đồ tham dự đa dạng
Các lễ cầu an, cầu siêu thông thường, đa phần tổ chức đơn giản về hình thức, số lượng Tăng Ni trong khuôn khổ chùa, được tổ chức trong một buổi hoặc hai buổi, nhiều nhất hai ngày: ngày đầu là lễ tiên thừa (vào đám), ngày sau là chánh tiến (ra đám) Các Trai đàn được tổ chức quy mô, trọng đại, cầu
kỳ về hình thức, số lượng Tăng ni tham dự đông, thỉnh Ban Kinh sư chuyên
về Nghi lễ chẩn đàn, có ban nhạc lễ, Trai đàn thường diễn ra ít nhất từ ba ngày đến bảy ngày
Trang 38Cách thực hành nghi lễ cũng tùy thuộc vào nội dung của lễ để tiến hành cho phù hợp, như các lễ cầu an, cầu siêu thông thường được xướng tụng các bài Kinh Phổ Môn, Kinh Dược Sư, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Địa Tạng, Kinh Lương Hoàng Sám, Kinh Thủy Sám, Kinh Di Đà, Kinh Vu Lan Báo Hiếu Phần nghi lễ đơn giản, không cần Ban nhạc lễ hòa tấu, hạn chế tán tụng rườm rà chỉ là một thời kinh đồng hòa diễn pháp âm với nhau, bất kỳ người tham gia nào cũng có thể tụng được
Các lễ cầu an, cầu siêu trai đàn được tiến hành theo các nghi thức đa dạng, hình thức cầu kỳ như lễ hội cung đình, các trai đàn được thiết kế theo từng ý nghĩa của nội dung Ví dụ, như Trai đàn cầu an Dược Sư Thất Châu cần thiết lập một pháp hội gồm 7 đàn tràng, mỗi đàn tràng là một vị Phật Dược Sư, 7 ngọn đèn cùng với hương, hoa, quả, phướng Nội dung lễ được trang trọng hóa bằng
sự kết hợp giữa lễ và nhạc đặc trưng, kết hợp nhuần nhuyễn với các khoa nghi khác để thực hiện bằng Ban Kinh sư chuyên về Nghi lễ
Đối với từng loại nghi lễ sẽ có sự sắp xếp trang trí, chuẩn bị về mặt hình thức và nội dung cho đúng lễ nghi trong từng pháp hội, hướng tới
việc “góp phần trong sự cấu thành muôn vàn nét đẹp hài hòa cho Phật giáo Việt Nam ngày càng sáng ngời rực rỡ hơn” [36] Ví dụ, một pháp hội
cầu siêu cho những chiến sĩ trận vong cần được tổ chức trong không gian tâm linh như ở chùa, tu viện, thiền viện hoặc nghĩa trang liệt sĩ và cần phải tuân thủ đúng nghi lễ Phật giáo; cần được chuẩn bị kỹ lưỡng từ khâu trần thiết, trang trí không gian, cách thức tổ chức, pháp khí, cung an chức
sự, hình thức phục sức…
Thông thường, hiện nay khi một tín đồ Phật giáo sắp qua đời, họ thường thỉnh Tăng Ni đến để hộ niệm Tuy nhiên, trong trường hợp không
Trang 39mời được Tăng Ni đến, thì phần lớn tín đồ không biết cách thức hộ niệm cho người thân của mình
Khi có người qua đời, công việc đầu tiên mà người thân chuẩn bị cho lễ tang là xem ngày giờ, thậm chí tuổi tác kỵ, hạp Công việc này nhiều nơi do chính Tăng Ni thực hiện Sau khi chuẩn bị các thủ tục và vật dụng cần thiết, Tăng Ni được thỉnh đến cử hành lễ nhập liệm Nhập liệm xong, một án thờ được thiết lập trước quan tài với tấm phủ nghi phía trước (hoặc thêm bức thờ tùy địa phương) có những dòng chữ Hán nói về
sự đau buồn và đạo hiếu, tình nghĩa vợ chồng… Ngoài ra, còn cần chuẩn
bị một lá triệu (còn gọi là minh tinh) và vàng mã Trong thiết trí, thì cần thiết lập bàn thờ Phật để tụng kinh cầu nguyện
Như vậy, về hình thức, lễ tang biểu hiện có sự ảnh hưởng của Phật giáo qua ba yếu tố: tượng Phật hay Bồ tát, sự hiện diện của chư Tăng Ni hay cư sĩ Phật tử và lời kinh Phật được tán tụng Trong đó, yếu tố sự hiện diện của chư Tăng Ni là yếu tố quan trọng nhất, biểu hiện sự ảnh hưởng của Phật giáo trong lễ tang Bên cạnh đó, sự hiện diện của chư Tăng Ni (hoặc cư sĩ Phật tử) cùng với sự hướng dẫn của họ sẽ giúp cho gia quyến được an ủi phần nào và qua đó tạo hình ảnh đẹp về Phật giáo Đây là nội dung “pháp sinh động” của Phật giáo được tuyên dương
2.2.2 Đối tượng thực hành nghi lễ cầu an, cầu siêu
2.2.2.1 Tín đồ Phật giáo
Tín đồ Phật giáo ở Huế có thể chia thành năm loại như sau:
Người tín đồ đến chùa cúng bái, cần an, cầu siêu, xem ngày tốt xấu, cúng sao, giải nạn, v.v
Trang 40Người tín đồ đến chùa cúng dường chư Tăng, nghe thuyết pháp giảng kinh để tìm hiểu Phật giáo Trong số đó, có cả những người có học thức nhưng thiếu cân nhắc, nghe giảng pháp có lý là tin ngay pháp ấy và tu tập, dễ sanh kiến chấp, tranh luận hơn thua
Người tín đồ đến chùa ít cúng dường chư Tăng, ít lễ Phật, ít cúng bái, chỉ chuyên nghe thuyết giảng kinh điển, học thuộc làu nghĩa lý và thỉnh nhiều loại kinh sách của các nhà học giả nghiên cứu, sưu tầm soạn ra, lấy đó làm tiêu chuẩn rồi tự kiến giải nghĩa lý ấy, theo quan điểm riêng của mình
Người tín đồ đến chùa quy y Tam Bảo và chỉ thích làm công quả, tham gia hộ niệm các nghi lễ và các công tác từ thiện xã hội Loại tín đồ này gọi là
tu phước
Người tín đồ đến chùa quy y Tam Bảo, thọ Bát quan trai giới, thọ thập thiện giới, thọ Bồ tát giới, thường thích thân cận hàng xuất gia trau dồi phẩm hạnh, tu trì công đức và hộ trì cho hàng xuất gia làm Phật sự Loại tín đồ này thường được gọi là cận sự nam, cận sự nữ có căn cơ càng cao thì càng làm tăng vẻ trang trọng cho nghi lễ, và ngược lại
2.2.2.2 Người thực hành nghi lễ
Mục đích chủ yếu của nghi lễ là tác động đến tâm thức của người nghe,
vì vậy người thực hành nghi lễ phải có đời sống nội tâm (tâm linh) cao Người
có đời sống tâm linh cao chừng nào thì hành trì nghi lễ hay chừng ấy Và chỉ hay khi người thực hành hòa mình vào các thứ nhạc khí và cất lên giọng điệu của mình để đánh vào tâm thức của người nghe Những điệu “tán”, “tụng” chỉ
có tác dụng thu hút mọi người khi người thực hành nghi lễ dồn hết tâm trí của mình vào việc hành lễ
Do đó, trong Phật giáo, người thực hành cần chú trọng định lực, chánh