1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập từ thực tiễn tỉnh nghệ an

77 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 869,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với đối tượng Viên chức, tuy trước đây phần lớn đều được gộp chung nghiên cứu cùng với đối tượng công chức nhưng từ khi được tách ra đứng một mình độc lập thì cũng được các nhà nghiê

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS HOÀNG THỊ NGÂN

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

ĐẶNG THỊ THANH HƯỜNG

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ 8

1.1 Đơn vị sự nghiệp công lập 8

1.2 Khái niệm viên chức 10

1.3 Khái niệm tuyển dụng viên chức 13

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc tuyển dụng viên chức 28

1.5 Kinh nghiệm tuyển dụng nhân lực tại khu vực ngoài công lập ở Việt Nam 31

Chương 2 THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI CÁC ĐƠN VỊ SƯ NGHIỆP CÔNG LẬP TÌNH NGHỆ AN 37

2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An 37

2.2 Các quy định về tuyển dụng viên chức 41

2.3 Đánh giá về tuyển dụng viên chức trên địa bàn tỉnh Nghệ An 45

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI TỈNH NGHỆ AN 54

3.1 Phương hướng 54

3.2 Giải pháp 56

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 5

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại ngày nay, con người được coi như là một tài nguyên, một nguồn lực quan trọng nhất Do vậy, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố chắc chắn nhất cho sự phồn vinh thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư vào con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề mà mỗi quốc gia đều phải quan tâm chăm sóc, bồi dưỡng, phát triển và tìm cách phát huy có hiệu quả trên con đường phát triển văn minh tiến bộ của mình

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là nguồn lực quan trọng, có vị trí rường cột trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan hành chính có vai trò quyết định đến sự phát triển của đất nước, là người trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi luật pháp, quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, tham mưu, hoạch định, tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra việc thực thi các đường lối chính sách Tuyển chọn nhân lực chuyên môn có chất lượng là công việc quan trọng mà mọi tổ chức đều phải chú trọng thực hiện bởi con người là nguồn lực quá giá nhất, quyết định sự tồn tại của một tổ chức Từ phạm vi quốc gia đến từng cơ quan, đơn vị của nhà nước hoặc các tổ chức sản xuất, kinh doanh đều phải xây dựng chiến lược, kế hoạch thu hút người tài về làm việc

Các đơn vị sự nghiệp công lập đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp những dịch vụ công thiết yếu cho xã hội trên hầu khắp các lĩnh vực như giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, thông tin, truyền thông… Với đặc thù của hoạt động cung cấp dịch vụ, các đơn vị này cần thiết phải sử dụng một lực lượng nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật, được đào tạo

Trang 6

nghiêm túc qua hệ thống trường lớp Thực tế, các đơn vị này đang nắm giữ một số lượng nhân lực có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm hơn

so với bất kỳ hệ thống cơ quan, đơn vị nào khác

Trong những năm qua, nhận thức được vị trí, vai trò của viên chức trong phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ nhân dân, Đảng và Nhà nước ta

đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ này, cụ thể Luật Viên chức và các văn bản dưới luật đã đáp ứng nhu cầu đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn Việc ban hành Luật Viên chức năm 2010 tạo cơ sở hành lang pháp lý vững chắc cho sự thay đổi tích cực trong pháp luật về viên chức và các đơn vị sự nghiệp công lập Với vấn

đề tuyển dụng viên chức, luật mới chỉ dừng lại ở những quy định cơ bản, nội dung cụ thể còn đang chờ những văn bản dưới luật, điều này tạo nhiều khó khăn trong việc áp dụng pháp luật và thực thi pháp luật

Việc nâng cao trình độ, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Nghệ An là tỉnh lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung Bộ, Nghệ

An có một thành phố trực thuộc, 3 thị xã và 17 huyện Nghệ An có vị trí địa lý thuận lợi trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội

Giai đoạn 2011- 2015, Nghệ An có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7.89%, năm 2015 thu nhập bình quân đầu người đạt 29 triệu đồng, tăng gấp

2 lần so với năm 2010, thu ngân sách dự kiến đạt hơn 10.000 tỷ đồng gấp 2,5 lần so với đầu nhiệm kỳ, tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 7,5 – 8% Đóng góp vào thành tích chung ấy có sự góp phần quan trọng của đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh Tuy nhiên, so với yêu cầu và tiềm năng phát

Trang 7

triển của thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở Nghệ An còn hạn chế

về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực, phẩm chất đạo đức và đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả sử dụng thấp, chưa phát huy tiềm năng, thế mạnh của tỉnh

Do vậy, để việc nâng cao chất lượng tuyển dụng viên chức thực sự mang lại hiệu quả, có tác động tích cực trong việc phục vụ người dân và góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển tỉnh Nghệ An, thì việc tuyển dụng viên chức và đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách ấy là một đòi hỏi khách quan, cần có sự đi sâu nghiên cứu bài bản và nghiêm túc

Đứng trước tình hình đó, cần có những nghiên cứu thực tế, khách quan

về các vấn đề có liên quan đến viên chức trong đó mảng tuyển dụng làm cơ

sở cho việc nâng cao chất lượng hiệu quả này Với lý do trên, tác giả lựa

chọn đề tài “ Tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập từ thực tiễn tỉnh Nghệ An”

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Tuyển chọn người vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập và các vấn đề xung quanh hoạt đông này là đề tài nghiên cứu của nhiều luận án, luận văn, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học Phần lớn các công trình đều tập trung nghiên cứu công tác tuyển dụng đối với đối tượng công chức, viên chức nói chung hoặc đi sâu nghiên cứu riêng về hoạt động tuyển dụng đối với từng đối tượng công chức, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập

Đối tượng Công chức là bộ phận nhân sự ra đời đầu tiên trong bộ máy nhà nước và được nhiều tác giả, giáo sư chuyên gia nghiên cứu về mọi khía cạnh Có thể kể đến những công trình nghiên cứu điển hình là:

Trang 8

Tác giả Hoàng Quốc Long, phó Vụ trưởng Vụ công vụ Công chức –

viên chức, Bộ Nội vụ (2010) “ Một số nội dung mới trong công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức” với nội dung giới thiệu một số nội

dung mới trong công tác tuyển dụng và quản lý công chức

Tác giả Lê Cẩm Hà “Một số nội dung trong tuyển dụng nhân lực của khu vực nhà nước” Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 9, trong đó đề cập đến

nội dung một số khâu trong công tác tuyển dụng nhân lực của khu nhà nước bao gồm: xác định nhu cầu, xác định tiêu chuẩn, người cần tuyển, thu hút ứng viên trong quá trình tuyển dụng và lựa chọn

Tác giả Đào Thị Thanh Thủy (2010), “ Một số kiến nghị về xây dựng

cơ chế tuyển dụng công chức theo mô hình công vụ việc làm ở nước ta”

Với nội dung xây dựng hệ thống bản mô tả công việc phù hợp với từng vị trí của từng cơ quan, tổ chức; Đổi mới nội dung và cách thức thi tuyển công chức, đổi mới cơ bản chế độ tiền lương đối với công chức theo từng

vị trí việc làm

Đối với đối tượng Viên chức, tuy trước đây phần lớn đều được gộp chung nghiên cứu cùng với đối tượng công chức nhưng từ khi được tách ra đứng một mình độc lập thì cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm với những công trình hay bài viết như:

Tác giả Phạm Hồng Thái - Trưởng khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà

Nội / Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 1/2009, “ Sự điều chỉnh của pháp luật

về viên chức” với việc phân tích những đặc điển cụ thể trong các văn bản

pháp luật cũng như tình hình thực tế tại các đơn vị sự nghiệp công lập để đưa ra nhưng kiến nghị điều chỉnh pháp luật trong vấn đề viên chức

Tác giả Vũ Khoan, Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ,“ Một số suy nghĩ về việc xây dựng Luật Viên chức”, tác giả chỉ ra những bất hợp lý

trong Luật Viên chức và đề xuất ý kiến sửa đổi

Trang 9

Tác giả Trần Anh Tuấn, “ Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 5 đã

tập trung các nội dung về yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý viên chức và đề xuất quan điểm, phương hướng đổi mới cơ chế quản lý viên chức, trong đó

đề cập nội dung về xác định chức danh nghề nghiệp cùng với vị trí việc làm để làm cơ sở tuyển dụng viên chức, đẩy mạnh phân cấp trong tuyển dụng và thực hiện ký hợp đồng làm việc thay cho quyết định tuyển dụng viện chức[2]

Tác giả Nguyễn Huy Hoàng, “ Tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta hiên nay” tác giả đã nếu rõ một số tình trạng

còn tồn tại trong việc tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập, những tác động cơ chế, chính sách tới thực tiễn hoạt động tuyển dụng

và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị về mặt cơ chế, chính sách đề cao chất lượng, hiệu quả việc tuyển dụng viên chức[8]

Tác giả Nguyễn Văn Tuyên “ Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Học viện Hành chính Quốc gia” đã nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống

cả về lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Học viện Hành chính quốc gia

Các bài viết, công trình khoa học đã tập trung nghiên cứu về viên chức tại nhiều khía cạnh theo sự thay đổi của pháp luật về đội ngũ này Với mong muốn nghiên cứu sâu về những vấn đề liên quan tới hoạt động tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập từ thực tiễn tỉnh Nghệ An nhất là trong hoàn cảnh cơ chế, pháp luật đối với đội ngũ viên chức và các đơn vị sự nghiệp công lập đang có những thay đổi, luận văn này hy vọng đóng góp nhất định trong hoạt động tuyển dụng viên chức trong các đơn vị

sự nghiệp công lập ở tỉnh Nghệ An

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng tuyển dụng Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập từ thực tiễn tỉnh Nghệ An hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyển dụng viên chức tại Nghệ An đáp ứng yêu cầu của thực tế đặt ra nhằm hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại tỉnh Nghệ An

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự

nghiệp công lập ở tỉnh Nghệ An

Phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào hoạt động tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập từ thực tiễn tỉnh Nghệ An, chủ yếu là các đơn vị sự nghiệp giáo dục và y tế

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác tuyển dụng viên chức

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp trong việc nghiên cứu các quy định của pháp luật, các đề tài nghiên cứu liên quan tới công tác quản lý nhà nước về viên chức, cơ chế quản lý, sử dụng viên chức các đơn vị sự nghiệp trong thực tiễn

- Phương pháp thống kê, để thống kê về số lượng người làm việc, chất lượng đội ngũ viên chức

- Phương pháp phân tích đánh giá để rút ra những giải pháp góp phần nâng cao công tác tuyển dụng viên chức tại tỉnh Nghệ An

Trang 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây về tuyển dụng viên chức, kết hợp khảo sát thực tiễn tại Nghệ An luận văn đã hệ thống một cách cơ bản về tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập tại tỉnh Nghệ An Kết quả nghiên cứu có thể là cơ sở tham khảo cho các nhà quản

lý xây dựng các văn bản quy định về công tác tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập

Luận văn nghiên cứu về tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập tại Nghệ An, đã đánh giá được thực trạng và đề ra các giải pháp hoàn thiện công tác tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập tỉnh Nghệ An

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn có 03 chương:

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ

1.1 Đơn vị sự nghiệp công lập

Đơn vị sự nghiệp công lập là bộ phận cấu thành cơ quan nhà nước và chịu sự quản lý nhà nước cả về tổ chức cũng như hoạt động Trước đây, không có sự phân biệt cơ chế quản lý giữa đơn vị sự nghiệp công lập với các cơ quan nhà nước, giữa người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập với trong cơ quan nhà nước

Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập vẫn chưa được ghi nhận trong văn bản pháp luật cho đến khi Quốc hội thông qua Luật Viên chức năm 2010 Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức quy định, đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước Cũng theo Luật Viên chức năm 2010, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị

Như vậy, đơn vị sự nghiệp công lập được nhận diện thông qua các yếu

tố sau đây: (i) Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; (ii) Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (iii) Có tư cách pháp nhân; (iv) Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; (v) Viên chức

là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị Trong đó, đặc trưng của đơn vị sự nghiệp để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức Các đơn vị sự nghiệp được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính

Trang 13

trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và là

bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức cơ quan nhà nước nhưng không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước như: Xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính… Các đơn vị sự nghiệp công lập bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch

sự theo quy định của pháp luật Đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và đề xuất số lượng nhân sự làm việc tại đơn vị mình, trình

cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm báo cáo cấp trên về tình hình sử dụng nhân sự Chịu trách nhiệm trước cấp trên về việc tuyển dụng nhân sự của mình

- Đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm

vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự Đối với đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc tuyển dụng nhân sự hoặc giao cho thủ trưởng đơn vị chiu trách nhiệm thực hiện việc tuyển dụng nhân sự

Trước đây, các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập đông đảo, hoạt động trên hầu khắp các lĩnh vực, độc quyền trong cung cấp dịch vụ

Trang 14

công Hiện nay, các đơn vị này vẫn có số lượng lớn chiếm ưu thế trong hoạt động so với các đơn vị khác Tính đến năm 2009, cả nước có 52.241 đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó hoạt động trong lĩnh vực giáo dục là 36.637 đơn vị, hoạt động lĩnh vực y tế là 7.151 đơn vi [5] Nhà nước đang

có thay đổi về quan điểm trong việc thành lập và hoạt động của các đơn vị này Đơn vị sự nghiệp công lập chỉ nên được thành lập ở những ngành nghề, lĩnh vực mà tư nhân chưa có khả năng đáp ứng hoặc cung cấp dịch

vụ cho đối tượng chính sách ở khu vực vùng sâu vùng xa Các dịch vụ mà

tư nhân đã có điều kiện cung cấp thì khuyến khích và tạo điều kiện cho họ hoạt động Điều này dẫn tới sự thay đổi trong pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức

Phần lớn lao động làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập được gọi là viên chức Tùy các đơn vị này hoạt động trên các lĩnh vực, các địa phương khác nhau nhưng đội ngũ viên chức đều được điều chỉnh chung bằng các văn bản quy phạm pháp luật, đều phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định, có những quyền lợi, nghĩa vụ giống nhau

1.2 Khái niệm viên chức

Thuật ngữ công chức, viên chức thường được hiểu một cách khái quát là những người được Nhà nước tuyển dụng, nhận một công vụ hoặc một nhiệm vụ nhất định, do Nhà nước trả lương và có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục vụ Nhà nước theo các quy định của pháp luật Tuy nhiên, phạm vi rộng hẹp khi xác định đối tượng là công chức hoặc là viên chức lại không giống nhau đối với các quốc gia khác nhau Sự khác nhau này phụ thuộc vào thể chế chính trị, cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước và ảnh hưởng của lịch sử, văn hóa mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật Cán

bộ, công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong

Trang 15

hoạt động quản lý, chúng ta chưa xác định rõ ràng cán bộ; công chức; viên chức Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp 1992 ( sửa đổi, bổ sung năm 2001) cho đến các luật khác ( ví dụ: Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân; Luật Bình đẳng giới; Luật Luật sư; Luật Chứng khoán; Luật Nhà ở xã hội; Luật trợ giúp pháp lý; Luật Phòng chống tham nhũng …) đều có những điều khoản quy định sử dụng nhiều lần các thuật ngữ công chức, viên chức

Đến năm 1998, Pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hành Tuy nhiên vẫn chưa phân biệt và giải quyết triệt để vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức, ai là viên chức Năm 2003, khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, Nhà nước đã thực hiện việc phân định biên chế hành chính với biên chế sự nghiệp Việc phân định này đã tạo cơ sở để đổi mới cơ chế quản lý đối với cán bộ công chức Nhưng đến thời điểm này, vấn đề làm rõ thuật ngữ công chức, viên chức cũng chưa được giải quyết

Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp mới gọi tắt cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước là viên chức Tuy nhiên cách gọi này vẫn không giải quyết được vấn đề làm

rõ thuật ngữ cán bộ, công chức, viên chức

Năm 2008 Luật cán bộ, công chức sửa đổi đã làm rõ hơn những tiêu chí xác định ai là công chức, ai là viên chức Điều này tạo cơ sở và căn cứ xác định rõ phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật và để đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ do Luật Viên chức 2010 điều chỉnh

Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng

Trang 16

lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Điều 2 Luật viên chức)

Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị

sự nghiệp công lập

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ thì viên chức được phân loại như sau:

- Phân loại theo vị trí việc làm:

Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức

và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý

Viên chức không được giữ chức vụ quản lý bao gồm những ngưởi chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn

vị sự nghiệp công lập

- Theo chức danh nghề nghiệp:

Viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau:

+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng 1

+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng 2

+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng 3

+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng 4 [17]

Qua định nghĩa trên, có thể nắm bắt được những đặc điểm cơ bản của Viên chức như sau: Mang quốc tịch Việt Nam, được ký kết hợp đồng làm việc theo vị trí việc làm tại đơn vị sự nghiệp công lập và hưởng lương từ nguồn thu của đơn vị

Trang 17

Viên chức là những người làm công việc thuần túy về chuyên môn như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, cung cấp thông tin… tại các đơn vị sự nghiệp công lập, không trực tiếp tham gia vào công tác quản lý nhà nước Hoạt động nghề nghiệp của viên chức nhằm thực hiện việc cung cấp nhưng dịch vụ công thiết yếu, cung cấp cho người dân các sản phẩm “ phi hiện vật” , dựa trên “ kỹ năng nghiệp vụ, mang tính nghề nghiệp cao” [2, tr.16] Với tính chất công việc như vậy, mọi hoạt động nghề nghiệp của viên chức đòi hỏi tính chuyên nghiệp, chính xác, như một chuyên gia Theo thống kê hiện nay có khoảng 1,6 triệu viên chức đang làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập Đây là lực lượng lao động đông đảo, góp phần vào việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội mà nhà nước đề ra Việc phân biệt rõ ràng đối tượng nào là viên chức tạo cơ

sở lý luận và cơ sở pháp lý cho các quy định liên quan tới tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

Với xu hướng hóa cung ứng các dịch vụ công trong những năm gần đây, nhiều đơn vị sự nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cũng từng bước tham gia vào hoạt động này Người lao động trong các đơn vị trên có những tiêu chuẩn và thực hiện hoạt động chuyên môn giống như viên chức

Có thể gọi những đối tượng này là “ viên chức tư” [18, tr8-12] Hiện nay, thuật ngữ “ viên chức tư” mới được sử dụng ở góc độ nghiên cứu khoa học chứ chưa được ghi nhận tại các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam

Do vậy, đối tượng “ viên chức tư” không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Viên chức

1.3 Khái niệm tuyển dụng viên chức

Tuyển dụng là việc tìm kiếm và lựa chọn đúng người để thỏa mãn các nhu cầu lao động và bổ sung cho lực lượng lao động hiện có trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị

Trang 18

Theo giáo trình “ Tổ chức nhân sự hành chính nhà nước” - Học viện

Hành chính quốc gia định nghĩa: “ Tuyển dụng là tuyển thêm người, hay bổ sung thêm người cho tổ chức, cũng được hiểu như đưa thêm người mới vào làm công việc chính thức cho tổ chức, tức là khâu đầu tiên cho giai đoạn hình thành nguồn nhân lực cho tổ chức”

Với Định nghĩa trên, với bất kỳ một tổ chức một cơ quan, đơn vị nào cũng có nhu cầu tuyển dụng và sử dụng lao động và mục đích của việc tuyển dụng đó chính xác nhu cầu thực tế, chỉ định các mục tiêu và phân tích công việc bao gồm những yếu tố riêng của tuyển dụng để lựa chọn ra trong tập hợp ứng cử viên một người có đủ kỹ năng, kiến thức và động cơ phù hợp nhất với những đòi hỏi của vị trí công việc đề ra Vì lý do đó mà ngày nay trong môi trường kinh tế xã hội cạnh tranh gay gắt thì việc tuyển dụng lao động được nâng tâm như một chiến lược mũi nhọn quyết định đến

sự thành bại của tổ chức [1,tr14-15]

Ngay trong định nghĩa Viên chức trong Luật Viên chức 2010 cũng đã khẳng định tầm quan trọng của việc tuyển dụng là khâu đầu tiên để hình thành đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập và trong Luật đưa ra một số nội dung cụ thể đối với tuyển dụng viên chức là “ Việc lựa chọn những người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập” (Khoản 4, Điều 3), theo đó, những yêu cầu cơ bản của việc tuyển dụng viên chức cần phải được đánh giá ba tiêu chuẩn: phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và khả năng làm việc Trong các đơn vị sự nghiệp công lập có rất nhiều công việc từ đơn giản đến phức tạp vì vậy việc tuyển dụng lao động cũng được phân loại và tuyển dụng cho phù hợp với từng loại công việc Đối với các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ như cung ứng dịch vụ công, vận hành các công việc mang tính chuyên môn thì phải được thực hiện bởi đội ngũ viên chức

Trang 19

Đối với các công việc mang tính chất thừa hành, giúp việc thì thực hiện tuyển dụng theo hợp đồng lao động 68/2000/NĐ-CP, hợp đồng vụ việc hoặc sử dụng dịch vụ cung ứng lao động từ các đơn vị khác

Công tác tuyển dụng viên chức là một nhiệm vụ rất quan trọng, cần xem xét và sàn lọc chất lượng một cách toàn diện để lựa chọn được những người có đủ năng lực, khả năng thực hiện công việc theo yêu cầu hiện tại

và có khả năng đáp ứng sự phát triển của tổ chức Việc tuyển dụng phải gắn với nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập

Vì vậy tuyển dụng viên chức có những nội dung cơ bản như sau:

*Nguyên tắc tuyển dụng viên chức

Tùy việc tuyển dụng nhân sự đối với đối với các đối tượng, ngành nghề, lĩnh vực khác nhau sẽ có những yêu cầu, điều kiện cụ thể khác nhau nhưng tất cả vẫn phải dựa trên một số nguyên tắc chung cơ bản để đảm bảo cho việc tuyển dụng đạt hiệu quả bao gồm 4 nguyên tắc như sau:

-Nguyên tắc thứ nhất, tuyển dụng theo nhu cầu thực tiễn: Nhu cầu này phải được phản ánh trong chiến lược và chính sách lao động của mỗi tổ chức, đơn vị Tùy theo nhu cầu thực tiễn của vị trí đang thiếu có cần thiết hay bức thiết để đưa ra nhu cầu tuyển dụng

-Nguyên tắc thứ hai, dân chủ và công bằng: Mọi người đều có quyền

và có điều kiện được bộc lộ phẩm chất, tài năng của mình trong các lĩnh vực mà mình đăng ký ứng tuyển Vì vậy với nhà tuyển dụng, việc công khai các yêu cầu, tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết để tất cả mọi người đều được bình đẳng tham gia ứng cử vào vị trí thích hợp Kiên quyết khắc phục tình trạng ô dù, ê kíp, bè phái, cục bộ từ phía nhà tuyển dụng Điều này vô cùng quan trọng vì đây thực sự là vấn nạn trong công tác tuyển dụng lao

Trang 20

động ở Việt Nam và nó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tuyển dụng cũng như sự phát triển lâu dài của tổ chức, đơn vị

- Nguyên tắc thứ ba, tuyển dụng tài năng qua thi tuyển: Đây là vấn đề khá quan trọng đối với nhà tuyển dụng Việc tuyển dụng qua thi tuyển cần được áp dụng rộng rãi vì mục đích của tuyển dụng là nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên về mọi mặt Nhà tuyển dụng cần tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nhiều người tham gia thi tuyển vào một vị trí Để làm được một việc đó thì cần phải tổ chức một hội đồng thi tuyển có thành phần phù hợp với việc tuyển chọn từng vị trí nhất định, có quy chế làm việc chặt chẽ, đảm bảo tính khách quan, trung thực và có quyền độc lập khi đánh giá

Ý kiến của hội đồng phải được tôn trọng

Kết hợp thi chuyên môn, sát hạch năng lực với việc đánh giá các phẩm chất đạo đức của người lao động Sau khi có thống nhất giữa kết quả thi tuyển về chuyên môn với việc đánh giá về phẩm chất đạo đức mới ra quyết định tuyển dụng hay bổ nhiệm

-Nguyên tắc cuối cùng là tuyển dụng phải có điều kiện, tiêu chuẩn rõ ràng: Nguyên tắc này nhằm tránh việc tùy tiện, chủ quan, cảm tính trọng quá trình nhận xét, đánh giá và quyết định tuyển dụng lao động Cùng với những thông tin tuyển dụng rõ ràng, chế độ thưởng phạt nghiêm minh cũng cần phải được công bố hết sức cụ thể trước khi tuyển dụng

Từ những nguyên tắc tuyển dụng cơ bản trên, mỗi tổ chức, đơn vị trong mỗi ngành nghề, lĩnh vực khác nhau đưa ra các tiêu chí cụ thể để tuyển dụng cho đơn vị mình nhưng không xa rời nguyên tắc để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả cho công tác tuyển dụng của mình

Từ những nguyên tắc chung ở trên trong tuyển dụng lao động thì Nhà nước cũng xác định cho việc tuyển dụng viên chức những nguyên tắc cụ thể như sau:

Trang 21

- Bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật: Đây là nguyên tắc tiên quyết cần phải đảm bảo trong bất cứ một hoạt động nào của nhà nước đặc biệt là trong lĩnh vực tuyển dụng Phải có

sự công khai, minh bạch, khách quan thì việc tuyển dụng mới thực sự thành công và đạt được mục đích ban đầu là tuyển dụng được những người tài, xứng đáng cả về trí thức lẫn đạo đức

- Bảo đảm tính cạnh tranh: vì xét cho cùng việc cạnh tranh trong thi tuyển hay xét tuyển của các ứng viên đều là để tìm ra được những ứng viên

ưu tú, xuất sắc đúng với mục đích của nhà tuyển dụng đề ra

- Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm: Với nguyên tắc này có thể hiểu là với việc xác định vị trí việc làm cụ thể để đưa

ra các điều kiện tuyển được đúng người, không phải là người thật cao siêu

về năng lực, hay thật đẹp về ngoại hình mà là người thực sự phù hợp với yêu cầu công việc cần tuyển dụng

- Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập bằng việc chủ tịch hội đồng tuyển dụng phải là người đứng đầu đơn vị sự nghiệp đối với các đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ hoặc người đứng đầu cơ quan có thầm quyền tuyển dụng viên chức đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ

- Ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số

*Điều kiện và thủ tục để tuyển dụng viên chức

Tương tự như tất cả những nhà tuyển dụng khác, để đăng ký vào vị trí công việc nhất định, người ứng viên phải có đủ những điều kiện bắt buộc do pháp luật yêu cầu cũng như điều kiện từ nhà tuyển dụng đề ra Các đơn vị sự nghiệp công lập cũng không nằm ngoài quy luật đó, việc tuyển dụng trong các đơn vị sự nghiệp hay nói cách khác việc tuyển dụng viên

Trang 22

chức cũng phải tuân theo những yêu cầu cụ thể được quy định theo Luật Viên chức 2010, Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/04/2012 về tuyển dụng, quản lý là sử dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập và các văn bản hướng dẫn thi hành nêu rõ như sau:

- Người đăng ký dự tuyển phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực theo yêu cầu của vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp

- Đơn vị sự nghiệp công lập được bổ sung các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm nhưng các quy định này không được trái với quy định của pháp luật và phải được cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập phê duyệt trước khi thực hiện

- Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam

- Từ đủ 18 tuổi trở lên Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật, đồng thời phải có sự đồng ý bằng văn bản của người có địa diện theo pháp luật

- Có đơn đăng ký dự tuyển

- Có lý lịch rõ ràng

- Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm

- Có đủ sức khỏe để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ

- Những người đăng ký vào dự tuyển việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao tuổi

dự tuyển có thể thấp hơn 18 tuổi nhưng phải đủ từ 15 tuổi trở lên và được

sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật

- Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức:

Trang 23

+ Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vị dân sự;

+ Đang bị truy cứu tránh nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng

Trước khi bắt đầu tuyển dụng, mỗi đơn vị sự nghiệp công lập cần phải nghiên cứu đầy đủ, chi tiết những điều kiện phù hợp cho mỗi vị trí công việc cần tuyển sao cho không trái với Luật mà vẫn tạo điều kiện thu hút nhiều ứng viên phù hợp Điều này chỉ có thể thực hiện được trên nguyên tắc các thủ tục phải thật chặt chẽ, công khai minh bạch

Thủ tục tuyển dụng về cơ bản tương đối đơn giản so với tuyển dụng công chức bởi được lựa chọn giữa hai hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển Phương thức xét tuyển viên chức tạo ra sự thông thoáng cho cả nhà tuyển dụng lẫn người dự tuyển Và việc xét tuyển cũng đơn giản hơn sơ với xét tuyển công chức, với các đơn vị sự nghiệp chỉ cần xét tuyển bằng cấp, bảng điểm học tập, kết quả phỏng vấn để đưa ra quyết định tuyển dụng Tuy nhiên lại khá phức tạp, kém linh hoạt so với các đơn vị, doanh nghiệp ngoài nhà nước Các nhà tuyển dụng ngoài khu vực nhà nước có thể tự đặt

ra tiêu chuẩn, và điều kiện cho những vị trí công việc mình cần sau đó xét tuyển, thi tuyển hay phỏng vấn tuyển dụng theo cách đơn giản, đỡ tốn kém

mà đem lại hiệu quả tốt nhất Tuy nhiên, việc so sánh chỉ là đánh giá mức

độ khác nhau, khó - dễ của các cách thức tuyển dụng chứ không phải để từ

đó áp dụng các hình thức với nhau vì đối với các cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập, việc thay nhà nước phục vụ những nhu cầu thiết yếu của nhân dân, xã hội thì việc lựa chọn, tuyển chọn với những thủ tục và hình thức tuyển dụng kỹ càng lực lượng viên chức là điều thật sự cần thiết Đội ngũ viên chức cần phải thật chuyên nghiệp thậm chí như những chuyên gia

Trang 24

trong lĩnh vực của mình thì mới có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu xã hội

Việc tuyển dụng phải tuân theo những bước đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo cho việc tuyển dụng diễn ra một cách công khai, minh bạch, đúng pháp luật để được hiệu quả cao nhất

*Nguồn tuyển dụng

Theo giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công, Nhà xuất bản đại học Kinh tế quốc dân [3, tr99-100] thì nguồn lực cho tuyển dụng được phân làm 2 loại đó là:

+ Các nguồn nhân lực từ bên trong tổ chức công

- Nguồn lực từ bên trong tổ chức công là những người đang làm việc cho tổ chức công đó, khi tổ chức công có nhu cầu tuyển dụng viên chức cho một số chức danh công việc còn trống thì các đối tượng này tự nguyện tham gia ứng cử

- Phương pháp tuyển dụng từ bên trong tổ chức: Tùy theo chức danh công việc cần tuyển, quy chế tuyển dụng và phân cấp quản lý, người đứng đầu tổ chức công thực hiện hướng dẫn của lãnh đạo cấp trên có thể lựa chọn một trong hai phương pháp tuyển dụng nhân lực phù hợp là: tuyển dụng theo kiểu hệ thống đóng và tuyển dụng theo kiểu hệ thống mở ( thông báo công khai)

+ Các nguồn lực từ bên ngoài tổ chức công

Nguồn lực bên ngoài tổ chức công là đa dạng và phong phú trên thị trường, có thể là người chưa từng làm việc, hoặc có thể có việc làm nhưng

dự tuyển với mong muốn có cơ hội việc làm tốt hơn và phù hợp với khả năng hơn

Phương pháp tuyển dụng đối với các đối tượng bên ngoài tổ chức công:

Trang 25

- Thông qua quảng cáo tuyển dụng nhân viên: thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, truyền thanh, các báo tạp chí, bảng thông báo, yết thị trước cơ quan, tổ chức công

- Thông qua các trung tâm tư vấn, dịch vụ tuyển dụng việc làm

- Tuyển mộ thông qua những người đang làm việc tại tổ chức công hoặc thông qua giới thiệu của chính quyền địa phương

- Kết hợp với các trường đại học để tìm kiếm ứng viên…

*Quy trình tuyển dụng viên chức

Hoạt động tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập thường tuân theo quy trình cụ thể như sau:

Bước 1 Xác định nhu cầu tuyển dụng

Căn cứ vào nhu cầu công việc trên thực tế, tình hình tài chính và chỉ tiêu biên chế được giao, các đơn vị, tổ chức xác định nhu cầu lao động cần tuyển Trên cơ sở đó xây dựng bản mô tả chi tiết vị trí công việc và đưa ra các yêu cầu, điều kiện đối với người thực hiện công việc làm căn cứ tuyển dụng

Phê duyệt chỉ tiêu biên chế: sau khi xây dựng được chỉ tiêu cho từng

vị trí việc làm thì đơn vị trình cấp trên phê duyệt chỉ tiêu biên chế trước khi xây dựng kế hoạch tổ chức tuyển dụng

Bước 2 Thành lập hội đồng tuyển dụng

Thứ nhất: Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập được giao thẩm

quyền tuyển dụng viên chức, Hội đồng tuyển dụng viên chức có 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm:

- Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập;

- Phó Chủ tịch Hội đồng là người phụ trách công tác tổ chức cán bộ của đơn vị sự nghiệp công lập;

Trang 26

- Ủy viên kiêm thư ký Hội đồng là người phụ trách công tác tổ chức

cá bộ của đơn vị sự nghiệp công lập;

- Các ủy viên khác là những người có chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến vị trí tuyển dụng

Thứ hai: Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao

thẩm quyền tuyển dụng viên chức, Hội đồng tuyển dụng viên chức có 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm:

- Chủ tịch Hội đồng do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định;

- Phó Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập;

- Ủy viên kiêm thư ký Hội đồng là người đại diện bộ phận làm công tác tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức;

- Các ủy viên khác là người có chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến vị trí tuyển dụng

Bước 3 Hội đồng tuyển dụng xây dựng yêu cầu với vị trí tuyển dụng

và kế hoạch tuyển dụng

Bước 4 Thông báo tuyển dụng:

Sau khi kế hoạch tổ chức tuyển dụng được phê duyệt thì Hội đồng tuyển dụng ra thông báo tuyển dụng Đây thực chất là bước để thu hút đối tượng tuyển dụng vì vậy sau khi xác định nguồn tuyển dụng thì nội dụng thông báo cũng như hình thức thông báo phải đảm bảo nguyên tắc công khai minh bạch, rõ ràng, phải đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật để tất cả các đối tượng đủ tiêu chuẩn có thể tham gia đăng ký

Trang 27

Công việc của nhà tuyển dụng là nghiên cứu thị trường, đối tượng tuyển dụng để đưa ra các chính sách và sử dụng phương pháp tuyển dụng phù hợp với nhu cầu của tổ chức

Thời hạn nhận hồ sơ của người đăng ký dự tuyển ít nhất là 20 ngày làm việc kể từ ngày thông báo tuyển dụng công khai trên phương tiện thông tin đại chúng

Bước 6 Đối với việc thi tuyển Hội đồng tuyển dụng thành lập ra Ban

ra đề, Ban coi thi, Ban thanh tra, Ban chấm thi

Đối với việc xét tuyển Hội đồng tuyển dụng thành lập Hội đồng kiểm tra, sát hạch

Bước 7 Tổ chức tuyển dụng với các hình thức thi tuyển và xét tuyển Bước 8 Tổ chức chấm thi: Chậm nhất sau 20 ngày kể từ ngày tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển, Ban chấm thi phải hoàn thiện công việc của mình

Bước 9 Thông báo kết quả: Đơn vị tuyển dụng phải thông báo kết quả tuyển dụng chậm nhất sau 10 ngày nhận được báo cáo kết quả tuyển dụng

Bước 10 Phúc tra, phúc khảo: Sau 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được kết quả tuyển dụng, người dự tuyển có thể gửi đơn phúc khảo bài thi

và đơn vị tổ chức phải tổ chức chấm phúc khảo sau 10 ngày kể từ ngày hết hạn nộp đơn phúc khảo

Trang 28

Bước 11 Công nhận kết quả và ký hợp đồng tuyển dụng với viên chức:

- Sau khi có kết quả tuyển dụng, người đứng đầu cơ quan tuyển dụng phê duyệt và gửi thông báo kết quả trúng bằng văn bản đến người dự tuyển theo địa chỉ mà người dự tuyển đã đăng ký, nội dung thông báo cần ghi rõ nội dung yêu cầu và thời gian ký hợp đồng với người trúng tuyển Ngoài ra phải niêm yết điểm thi, kết quả thi cũng như công bố điều kiện được trúng tuyển trên các phương tiện thông tin đại chúng để các ứng viên tiện theo dõi và biết về kết quả thi tuyển của mình

Trên đây là quy trình tổ chức tuyển dụng được quy định rất rõ từng bước cụ thể và thời gian để thực hiện các thủ tục đó Tuy nhiên, tùy vào điều kiện và quy mô của mỗi đơn vị có thể bỏ qua hoặc gộp các bước với nhau sao cho tuyển dụng tiết kiệm chi phí mà đạt hiệu quả cao nhất

Nội dung và hình thức thi:

- Thi kiến thức chung: Thi viết về pháp luật viên chức; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những hiểu biết cơ bản về ngành hoặc lĩnh vực tuyển dụng

Trang 29

- Thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành thông qua hình thức thi viết hoặc trắc nghiệm và thi thực hành Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định hình thức và nội dung thi phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm

Trường hợp vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc công nghệ thông tin, bài thi chuyên môn, nghiệp

vụ chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc công nghệ thông tin thì người dự tuyển không phải thi ngoại ngữ hoặc thi tin học văn phòng

- Thi ngoại ngữ: Thi một trong năm thứ tiếng Anh, Nga, Pháp , Đức, Trung Quốc hoặc ngoại ngữ khác theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm

Trường hợp vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc ít người, việc thi ngoại ngữ được thay thế bằng tiếng dân tộc ít người Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định hình thức và nội dung thi tiếng dân tộc ít người

- Thi tin học văn phòng: Thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm

- Căn cứ vào khả năng, điều kiện cụ thể, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định hình thức thi trên giấy hoặc trên máy tính

Miễn thi tin học với tiếng anh với các trường hợp sau:

- Miễn thi môn ngoại ngữ trong trường hợp môn nghiệp vụ chuyên ngành không phải là ngoại ngữ nếu có một trong các điều kiện sau:

Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học về ngoại ngữ;

Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học ở nước ngoài hoặc tốt nghiệp đại học, sau đại học tại cơ sở đào tạo bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam

Trang 30

- Miễn thi môn tin học văn phòng trong trường hợp có bằng tốt nghiệp từ trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên

+ Xét tuyển:

Xét tuyển thì không tổ chức việc ra đề thi, chấm thi mà thông qua việc xem xét kết quả học tập, kinh nghiệm làm việc, kiểm tra, sát hạch trình độ khả năng thông qua phỏng vấn hoặc thực hành về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển

Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 quy định rõ tại Điều 11 Chương 2 về xét tuyển viên chức là xét kết quả học tập bao gồm điểm học tập và điểm tốt nghiệp của người dự tuyển Ngoài ra xét tuyển còn kiểm tra, sát hạch thông qua phỏng vấn hoặc thực hành về năng lực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển

Việc xét đặc cách dành cho viên chức cũng được quy định rõ tại Điều

14 Chương 2 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP Với các trường hợp như sau:

- Người có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 03 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng

- Những người tốt nghiệp đại học loại giỏi, tốt nghiệp thạc sỹ, tiến sỹ

ở trong và ngoài nước, có chuyên ngành đào tạo phù hợp với vị trí việc làm cần tuyển dụng, trừ các trường hợp mà vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp cần tuyển dụng yêu cầu trình độ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ

- Những người có tài năng, năng khiếu đặc biệt phù hợp với vị trí việc làm trong các ngành, lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao và các ngành nghề truyền thống

*Ý nghĩa của tuyển dụng viên chức

Trong bất kỳ tổ chức, đơn vị nào, nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của tổ chức đó, vì vậy tuyển dụng viên

Trang 31

chức là việc làm thường xuyên của các đơn vị sự nghiệp công lập trên cơ

sở chỉ tiêu số lượng người làm việc được giao, cơ cấu tổ chức và nhu cầu thực tế của đơn vị, nhằm tìm kiếm, bổ sung nguồn nhân lực mới cho đơn vị thay thế những viên chức đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác khác… hoặc đơn vị có sự thay đổi về quy mô tổ chức và lĩnh vực hoạt động, để đơn vị ổn định, duy trì hoạt động, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu phát triển của các đơn vị mà nhu cầu ngày càng cao của người dân và tổ chức

Tuyển dụng viên chức giúp các đơn vị sự nghiệp công lập ổn định về

cơ cấu tổ chức, bố trí vị trí việc làm phù hợp với trình độ đào tạo tuyển dụng, giúp cho đơn vị, tổ chức có một đội ngũ viên chức chất lượng tăng thêm tính cạnh tranh trong đơn vị

Việc tuyển dụng viên chức góp phần tạo việc làm cho xã hội, các đơn

vị sự nghiệp công lập cung cấp chất lượng dịch vụ công cho tổ chức và người dân ngày càng tốt hơn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương

Tuyển dụng viên chức có trình độ chuyên môn cao có năng lực thực

sự, đáp ứng yêu cầu công việc giúp cho các đơn vị sự nghiệp công lập không mất thời gian và chi phí để đào tạo lại viên chức hay tuyển dụng nhân lực mới…

Vấn đề tuyển dụng viên chức là một hoạt động diễn ra trong thời gian ngắn nhưng lại ảnh hưởng rất lâu dài đến sự tổn tại và phát triển của một đơn vị Việc tuyển dụng viên chức được coi như là một hoạt động giống như người nông dân chọn giống lúa tốt để gieo trồng trên mảnh ruộng của mình Nếu tuyển dụng được thực hiện có hiệu quả tốt sẽ là cơ sở để xây dựng một đội ngũ viên chức có trình độ, năng lực và phát triển của đơn vị

Trang 32

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc tuyển dụng viên chức

Hoạt động tuyển dụng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập chịu

sự tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố, từ những yếu tố chủ quan của mỗi đơn vị đến những yếu tố khách quan từ phía cơ chế, chính sách, pháp luật, nền kinh tế thị trường, xã hội…

*Yếu tố khách quan:

- Cơ chế và chính sách nhà nước: Là yếu tố khách quan đầu tiên ảnh hưởng trực tiếp đến tuyển dụng viên chức Đầu tiên tàn dư của việc không phân biệt rõ ràng giữa hai đối tượng công chức và viên chức đã dẫn đến những thuận lợi cũng như khó khăn đối với bộ phận viên chức như: khi chưa có Luật Viên chức 2010 thì viên chức và công chức nói chung đều được quy định theo Luật Cán bộ, công chức với những tiên chuẩn, chế độ cũng như các ưu đãi giống như công chức đã tạo ra nhiều thuận lợi cho việc tuyển dụng thu hút được một lực lượng viên chức có chất lượng, hoàn thành các mục tiêu ton lớn quan trọng trong công tác phục vụ cung ứng dịch vụ công của nhà nước đề ra Từ những thuận lợi đó cũng đem lại những bất lợi cho đội ngũ viên chức đó là làm giảm tính linh động, tự do trong hoạt động Năm 2010 nhà nước đã cho ra đời Luật Viên chức với tư tưởng cái cách hành chính nhà nước, từ đầy Viên chức được đứng một mình, có quy định điêu chỉnh cụ thể và được nhìn nhận theo hướng tích cực hơn

Thực hiện tuyển dụng viên chức theo tinh thần của Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành, hệ thống cơ chế quản lý viên chức đã được hình thành và hoàn thiện từng bước đưa công tác quản lý và công tác tuyển dụng viên chức từng bước đi vào nề nếp, có nhiều đột phá quan trọng, góp phần tích cực vào việc xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay [1]

Trang 33

So với quy định của Pháp lệnh công Cán bộ, công chức và các văn bản hướng dẫn thi hành thì việc tuyển dụng viên chức theo quy định của pháp luật viên chức hiện hành đã thể hiện tinh thần đổi mới theo hướng vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập, thẩm quyển tuyển dụng, kể cả phân cấp trong việc lập kế hoạch, chi tiêu, nôi dung, hình thức thi tuyển Nhà nước chỉ quy định về từng tiểu chuẩn, điều kiện chung đối với từng ngành, lĩnh vực sự nghiệp

Mặt khác, cơ chế chính sách của nhà nước vẫn còn bộc lộ những nhược điểm làm ảnh hưởng tới tuyển dụng viên chức

Bên cạnh các yếu tố về Pháp luật và các chính sách, quy định của nhà nước về tuyển dụng viên chức nói trên thì còn một số yếu tố khách quan khác ảnh hưởng đến vấn đề tuyển dụng viên chức như sau:

- Môi trường cạnh tranh: Trong thời đại hiện nay, việc xã hội hóa dịch

vụ công khiến việc độc quyền trong các lĩnh vực nhà nước không còn nữa Các đơn vị sự nghiệp công lập của nhà nước đang đối mặt với thực tế là phải cạnh tranh về chất lượng dịch vụ cũng như nguồn lực lao động Đây là một trong những khó khăn không nhỏ trong khi các đơn vị sư nghiệp công lập thì bị gò bó, chịu sự điều chỉnh của các loại văn bản thì các doanh nghiệp tư nhân có hành lang pháp lí thông thoáng hơn, nhiều sự hấp dẫn hơn nhiều cho nguồn tuyển dụng đối với các đơn vị sự nghiệp bị thu hẹp và hạn chế

- Yếu tố kinh tế - chính trị: Sự phát triển kinh tế chính trị sẽ dẫn đến việc mở rộng quy mô của các đơn vị sự nghiệp Quy mô tổ chức thay đổi làm tăng nhu cầu tuyển dụng lao động để thỏa mãn các yêu cầu mới của tổ chức

Trang 34

- Yếu tố văn hóa - xã hội: Trong tư tưởng người Việt Nam luôn muốn tìm đến sự ổn định trong tất cả các lĩnh vực và đặc biệt là trong công việc

Từ lâu đối tượng công chức, viên chức hình thành nên một nền tảng suy nghĩ với người dân là một khu vực có thể coi là ổn định tuyệt đối, mức thu nhập dù có thấp nhưng sẽ tăng theo thâm niên và đảm bảo các chế độ xã hội khác, bảo hiểm y tế, thất nghiệp và hưu trí… điều đó dẫn đến tư tưởng luôn hướng về công việc hướng nhà nước cho các đối tượng đang tìm kiếm việc làm và thậm chí là định hướng nghề nghiệp trong tương lai học sinh, sinh viên

- Vị thế và uy tín của tổ chức: Việc cung ứng các dịch vụ công ra đời

từ rất sớm, được nhà nước đầu tư toàn bộ về vốn, cơ sở vật chất và con người để đảm bảo chất lượng cũng như thương hiệu cho cung ứng dịch vụ công trong xã hội Với vai trò đặc biệt quan trọng của mình thì đòi hỏi nguồn nhân lực làm việc phải có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo có

hệ thống và có tính chuyên nghiệp Trong thời kỳ bao cấp, việc gần như độc quyền về cung ứng dịch vụ công đã giúp cho nhà nước tuyển chọn được một đội ngũ viên chức hùng hậu đáp ứng yêu cầu và tạo nên thương hiện cho các đơn vị sự nghiệp công lập Với bề dầy về lịch sử, uy tín và chất lượng, các đơn vị sự nghiệp công lập đã và đang có những sức hút đáng kể đối với lực lượng lao động chất xám hiện nay

- Khả năng tài chính: Đi đôi với chỉ tiêu biên chế thì khả năng tài chính của đơn vị để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho việc tuyển dụng và sử

Trang 35

dụng viên chức Việc đưa ra các chính sách đãi ngộ, chế độ tiền lương hấp dẫn để thu hút tuyển chọn lao động là một chiến lược mà phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tài chính của mỗi đơn vị

- Vài trò, tính chất và đặc điểm của công việc: Sự hấp dẫn của khu vực công đến từ nhiều lý do khác Khu vực công đáp ứng những nhu cầu của đời sống xã hội đặt ra tạo ra nhiều lợi thế, dễ huy động sự tham gia của người lao động Con người sẽ cảm thấy hưng phấn với việc tham gia hoặc đóng góp trực tiếp cho những vấn đề lớn lao của đất nước như sự nghiệp giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho người dân, đảm bảo an ninh quốc gia, chứ không chỉ thuần túy tạo ra những sản phẩm đời thường nhằm mục đích kiếm lợi nhuận

- Tính ổn định: Trừ một số tổ chức có phần nào đó gắn với yếu tố cạnh tranh, thì khu vực công luôn nằm trong trạng thái ổn định một cách tương đối so với khu vực tư nhân Sự ổn định này thể hiện ở các đặc điểm như nhiệm vụ, công việc được giao; tỷ lệ nhân viên làm việc suốt đời trong các

tổ chức công là khá lớn Tuy nhiên, xu hướng thiên về tính ổn định có phần bảo thủ cứng nhắc về vấn đề nhân sự đối với các tổ chức công gây ra các hạn chế trong quá trình tìm kiếm nguồn nhân lực nội tại đối với một số đơn

vị sự nghiệp làm hạn chế khả năng tìm kiếm những ứng cử viên tốt nhất cho vị trí cần tuyển

- Quan điểm và tư tưởng của nhà quản lý: Nếu tư tưởng tiến bộ, nắm bắt được nhu cầu cũng như tầm quan trọng của đội ngũ nhân sự cần tuyển thì việc tuyển dụng sẽ đạt hiệu quả Ngược lại, nếu tư duy cục bộ, thiếu công bằng trong công tác tuyển dụng sẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tuyển dụng thất bại

1.5 Kinh nghiệm tuyển dụng nhân lực tại khu vực ngoài công lập

ở Việt Nam

Các khu vực ngoài công lập cho thấy tuyển dụng lao động được thực hiện với những cơ chế thông thoáng, linh hoạt và chuyên nghiệp hơn Với

Trang 36

những quy trình tuyển mộ đơn giản, dễ tiếp cận và giảm thiểu chi phí, thời gian một cách khoa học phù hợp nhất với quy mô của doanh nghiệp

Với nguồn lực dồi dào, ngoài Luật Lao động, việc tuyển dụng đối với các doanh nghiệp tư nhân không bị gò bò hay hạn chế với bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào Không phân biệt quốc tịch, tôn giáo, độ tuổi miễn là có khả năng đáp ứng được yêu cầu của công việc thì đều có thể tham gia ứng tuyển Nhà tuyển dụng xây dựng điều kiện, yêu cầu chi tiết cho từng vị trí ứng viên Cùng với đó là những chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ phù hợp từng vị trí việc làm Việc không bị chi phối bởi các chính sách chế độ tiền lương cụ thể nào là một lợi thế lớn khiến cho các doanh nghiệp ngoài công lập dễ dàng đưa ra các mức lương phù hợp, hấp dẫn đối với các vị trí tuyển dụng của mình

Tuyển dụng nhân lực khu vực ngoài công lập có quy trình như sau:

Thứ nhất, xác định nhu cầu tuyển dụng: bước này bao gồm việc thẩm

định xem doanh nghiệp có thực sự cần tuyển thêm nhân viên hay không, tuyển người về làm những công việc gì và cần tuyển người có những tiêu chuẩn gì

Thứ hai, tìm kiếm ứng viên: việc tìm kiếm ứng cử viên cũng được

nghiên cứu và chọn lọc các hình thức phù hợp nhất Thông thường, theo khảo sát thực tế cho thấy đa số các Doanh nghiệp sử dụng hình thức tìm kiếm ứng viên trên các trang web uy tín như : Vietnamworks, Trang Đăng tin tuyển dụng, Tìm Việc làm tại Hà Nội, Nghệ An…, một số báo giấy có lượng lao động tìm kiếm đông như: Báo Người Lao động, Báo Người tìm việc, việc tìm người… với nguyên tắc tìm kiếm được đối tượng phù hợp nhất, tốt nhất về kinh nghiệm cũng như chuyên môn nghiệp vụ trên diện rộng, không giới hạn người nộp hồ sơ Các thông báo tuyển dụng ngoài việc đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với các vị trí, thời gian nhận hồ sơ,

Trang 37

địa điểm thì thông báo thường có mục giới thiệu chung về Doanh nghiệp, quy mô, khả năng phát triển và để ngỏ chế độ tiền lương theo xu hướng thảo luận trong quá trình xét tuyển để kích thích sự tò mò với những lời hứa hẹn hấp dẫn về một chế độ đãi ngộ xứng đáng Đây là một chiêu bài thật sự có hiệu quả để thu hút nhân lực đối với các doanh nghiệp tư nhân Với những vị trí quan trọng như lãnh đạo, trưởng bộ phận cần người thực sự có năng lực, các doanh nghiệp tư nhân thường bỏ công sức và tiền bạc đầu tư thật sự bằng những phương pháp chiêu mộ, đưa ra những điều kiện và chế độ đãi ngộ hấp dẫn để thu hút ứng viên, thậm chí tìm kiếm ứng viên ngay trong công việc tương đương mà họ đang đảm nhận ở các doanh nghiệp khác Đây là được xem như một chiến lược đầu tư lớn, có tính cạnh tranh cao để hoàn thiện và phát triển tổ chức của mỗi đơn vị đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn

Thứ ba, đánh giá và lựa chọn: hay nói cách khác là phương pháp

tuyển dụng, đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước đa phần đều sử dụng phương pháp tuyển dụng xét tuyển Tức là sau khi hết thời gian nhận hồ sơ, doanh nghiệp sẽ tiến hành phân loại hồ sơ, tìm những hồ sơ phù hợp nhất sau đó tiến hành tổ chức xét tuyển ứng viên thông qua hình thức phỏng vấn thực tế Nội dung phỏng vấn xoay quanh các kiến thức chuyên môn nghiệp

vụ, khả năng xử lý tình huống, khả năng ngoại ngữ (nếu có), kinh nghiệm thực tế và các kiến thức xã hội khác…Hội đồng xét tuyển cũng không nhất thiết là các lãnh đạo cao nhất mà có thể là những người trực tiếp quản lý và

sử dụng đối tượng lao động

Một số doanh nghiệp quy mô lớn tổ chức hình thức thi tuyển đối với các đối tượng tuyển dụng Việc thi tuyển thường được tổ chức theo hình thức thi viết và phỏng vấn Vòng một với các môn thi viết thường được chọn để thi là : Ngoại ngữ, IQ, EQ, một số môn chuyên ngành phù hợp với

Trang 38

vị trí công việc… sau khi có kết quả của vòng một thì mới tiến hành tổ chức phỏng vấn đối với các ứng viên đã qua vòng thi viết

Nội dung phỏng vấn ở vòng 2 thường là những câu hỏi kiểm tra kinh nghiệm làm việc, các kỹ năng mà vị trí tuyển dụng thật sự cần thiết mà ứng viên có thể đáp ứng

Đối với hình thức xét tuyển việc thông báo kết quả có thể diễn ra ngay sau khi phỏng vấn, sát hạch còn với hình thức thi tuyển việc thông báo kết quả thường diễn ra sau từ 1-2 tuần

Thứ tư, hướng dẫn và hội nhập: ở giai đoạn này sau khi ứng viên được

tuyển dụng sẽ được hướng dẫn làm quen với công việc và môi trường làm việc trong doanh nghiệp

Trong quá trình tham gia làm việc tại các doanh nghiệp, các đối tượng được tuyển dụng sẽ tập trung làm công tác chuyên môn, thể hiện năng lực, nếu ứng viên thật sự đáp ứng được công việc giúp cho doanh nghiệp giải quyết được các vấn đề trong lĩnh vực đảm nhiệm của mình và đem lại hiệu quả công việc cao sẽ có những hình thức khen thưởng xứng đáng, ngược lại, với những ứng viên không đáp ứng được công việc doanh nghiệp sẽ có hình thức khiển trách, giảm lương thưởng thậm chí có thể bị cho nghỉ việc Đây là một trong những thuận lợi những cũng là hạn chế khốc liệt của thị trường lao động bên ngoài Công việc có tính cạnh tranh cao, mức ổn định thấp khiến công việc bấp bênh tuy nhiên điều này mang lại cho Doanh nghiệp lợi thể của việc ứng viên, người lao động luôn luôn phải vận động

để phát triển, đáp ứng đòi hỏi của công việc, làm theo năng lực hưởng theo lao động là phương châm của các nhà tuyển dụng, sử dụng và quản lý lao động thực hiện để đạt hiểu quả mong muốn cao nhất

Chúng ta có thể thấy, đối với môi trường doanh nghiệp ngoài công lập, việc tuyển dụng và sử dụng lao động vô cùng đa dạng và phong phú

Ngày đăng: 21/06/2018, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w