1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động hoằng pháp của giáo hội phật giáo việt nam tỉnh đắk lắk và đời sống văn hóa của người êđê hiện nay (nghiên cứu trường hợp người êđê ở huyện }ư mgar)

115 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng về hoạt động hoằng pháp và Phương thức hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở huyện }ư| Mgar ảnh hưởng đến đời sống văn hóa hiện tại của tộc người Êđê .... Tính cấp thiế

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

PHÙNG THÁI HỘI (THÍCH TỊNH QUANG)

HOẠT ĐỘNG HOẰNG PHÁP CỦA GIÁO HỘI

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH ĐẮK LẮK VÀ ĐỜI SỐNG VĂN

HÓA CỦA NGƯỜI ÊĐÊ HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGƯỜI ÊĐÊ Ở HUYỆN }\ư\

Mgar)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

PHÙNG THÁI HỘI (THÍCH TỊNH QUANG)

HOẠT ĐỘNG HOẰNG PHÁP CỦA GIÁO HỘI

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH ĐẮK LẮK VÀ ĐỜI SỐNG VĂN

HÓA CỦA NGƯỜI ÊĐÊ HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGƯỜI ÊĐÊ Ở HUYỆN }\ư\

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Phùng Thái Hội (Thích Tịnh Quang), người thực hiện luận văn này Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác Những trích dẫn cần thiết trong luận văn được chú thích rõ ràng và trung thực

Tác giả luận văn

Phùng Thái Hội (Thích Tịnh Quang)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Khoa Tôn giáo học, Học viện Khoa học xã hội đã tạo những điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tôi học tập

và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng gửi cảm ơn đến quý thầy, cô giáo, những người phụ trách khoa Tôn giáo học đã đem hết tâm nguyện, tâm huyết, kiến thức và kinh nghiệm truyền đạt cho tôi trong thời gian lưu học tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hồng Dương, bậc thầy khả kính đã hướng dẫn tận tình, chỉ dạy và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức

và kinh nghiệm có giá trị để giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả chư thiện tri thức, những bạn bè, những người đã gắn bó và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, con xin tri ân đến ân sư, cha mẹ, huynh đệ và những người thân đã tạo điều kiện để con yên tâm học tập trong suốt thời gian qua

Xin cảm ơn tất cả!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018 Học viên

Phùng Thái Hội (Thích Tịnh Quang)

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI ÊĐÊ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI ÊĐÊ Ở ĐẮK LẮK 19

1.1 Khái quát về người Êđê ở huyện }ư| Mgar tỉnh Đắk Lắk 19

1.2 Khái quát về sự du nhập, ảnh hưởng của Phật giáo đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, người Êđê ở Đắk Lắk nói riêng 25

Chương 2: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI ÊĐÊ VÀ PHƯƠNG THỨC HOẰNG PHÁP CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM Ở HUYỆN }Ư¥ MGAR HIỆN NAY 35

2.1 Đời sống văn hóa của người Êđê và Phật giáo trong đời sống văn hóa của người Êđê ở huyện }ư| Mgar 35

2.2 Thực trạng về hoạt động hoằng pháp và Phương thức hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở huyện }ư| Mgar ảnh hưởng đến đời sống văn hóa hiện tại của tộc người Êđê 48

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 65

3.1 Một số nhận xét 65

3.2 Một số khuyến nghị giải pháp 73

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 88

Trang 6

CHÚ THÍCH

Địa danh Đắk Lắk có nhiều cách viết:

Viết theo tiếng M’nông thì viết Daklak

Trong văn bản của tiếng pháp thì Darlac

Một số nơi thì lại viết: Đắk Lắc, Đắc Lắk, Dăklăk, Đăk Lăk

Theo các công văn ban hành của chính phủ thì viết Đắk Lắk

Ở đây chúng tôi sử dụng theo cách viết theo các công văn của chính phủ là: Đắk Lắk

Địa danh huyện }ƣ\ Mgar cũng có nhiều cách viết nhƣ CƣM’gar, Chƣ Mga,

Cƣ mga Luận văn dùng theo tiếng Êđê là: }ƣ\ Mgar, Su\t Mdrang, Su\t Mdrƣng, }ƣ\ Sƣê

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, có thể nói Phật giáo là một trong những tôn giáo để lại dấu ấn khá đậm nét lên đời sống văn hóa người Việt từ tư tưởng, quan điểm đến nghi lễ, sinh hoạt cộng đồng Tư tưởng Phật giáo thấm sâu vào nếp nghĩ, nếp sống của người Việt, thành lời nhắc nhở của tổ tiên truyền đến con cháu, rằng phải ăn hiền ở lành, rằng dù sao đi nữa, cũng cứ tin “gieo gió gặt bão” Quan điểm Phật giáo đã đi từ hệ thống giáo lý của một tôn giáo vào cuộc đời, hình thành nên những tâm hồn Việt luôn biết tự nhắc thức nhau: hãy bao dung với người, hãy biết “tùy duyên” mà hành xử, bình tâm mà đón gió cuộc đời, bởi đó là tặng phẩm, là thử thách thú vị mà đời dành cho ta Nghi lễ Phật giáo dạy con người biết cúi đầu tôn trọng, tri ân các bậc Thánh nhân, tiền hiền, những người có công với làng xã, dân tộc Trong sinh hoạt cộng đồng, Phật giáo trao cho những tín đồ dân dã của mình niềm tin yêu hồn nhiên nhưng hết mực nhân văn rằng người chết

và cả người sống đều có thể sẻ chia cùng nhau ước vọng bình an giữa sóng gió luân hồi chỉ bằng sự thành tâm, lòng yêu thương dành cho đồng loại trong từng cuộc lễ cầu an, cầu siêu…

Điều gì đã khiến Phật giáo trở nên gần gũi, thiết thân trong lòng dân tộc Việt đến vậy? Có rất nhiều lý do được đưa ra Một trong những lý do ấy chính là sự cộng hưởng, hòa nhập rất tự nhiên nhưng không kém phần thú vị giữa tư tưởng, quan điểm của Phật giáo và lối sống, tâm hồn của dân tộc Việt nói chung Vì vậy, nghiên cứu, khảo sát về ảnh hưởng, mối tương quan giữa Phật giáo và văn hóa Việt Nam luôn thu hút được không ít sự quan tâm của khoa học và cả tôn giáo Tuy nhiên, diện mạo văn hóa Việt Nam không chỉ được tạo nên từ văn hóa của tộc người Việt

Do đó, nghiên cứu tương quan giữa Phật giáo và đời sống văn hóa Việt Nam, không thể bỏ qua mối tương quan dấu ấn Phật giáo trong đời sống văn hóa của các đồng bào dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam Xuất phát từ suy nghĩ ấy, chúng tôi

chọn đề tài: Hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk

Lắk và đời sống văn hóa của người Êđê hiện nay (nghiên cứu trường hợp

Trang 9

người Êđê ở huyện }ư\ Mgar) Với đề tài trên, chúng tôi mong muốn tìm hiểu sâu

hơn mối tương quan cũng như những ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của cộng đồng người Êđê Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, luận văn hy vọng

sẽ mang lại cho mọi người thêm một điểm nhìn, cách nhìn về Phật giáo trong đời sống văn hóa của tộc người Êđê ở Đắk Lắk nói riêng, và tộc người Êđê ở Việt Nam nói chung Thông qua đó, có thể có hướng hoằng pháp, giải pháp tích cực, phù hợp nhất để bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp, đồng thời khắc phục, hạn chế những cách nghĩ, cách sống chưa phù hợp, lệch lạc (nếu có) của tộc người Êđê

ở Đắk Lắk hiện nay, để văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo trở thành một dòng chảy liền mạch, thông suốt, dung hòa một cách trọn vẹn trong dòng chủ lưu của văn hóa và Phật giáoViệt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Những công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa của tộc người Êđê

Trong số 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, tộc người Êđê được xem như là một trong số những tộc người thiểu số ở Tây Nguyên

có dân số đông nhất Theo ước tính, có hơn 331.000 người Êđê cư trú ở các tỉnh Đắk Lắk, phía nam của tỉnh Gia Lai và miền tây của hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên Người Êđê vốn thuộc ngữ hệ ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo (Malayo – Polynesia) cũng gọi là Austonesia, tức là Nam Đảo, có nguồn gốc lâu đời từ vùng biển đảo Mặc dù đã chuyển cư vào miền Trung Việt Nam, rồi di dân lên vùng đất cao nguyên Tây Nguyên khoảng cuối thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ XV, song trong tâm thức tộc người Êđê, bến nước và con thuyền vẫn là những hình ảnh chưa hề phai nhạt Điều này giúp cho người Êđê tạo nên dấu ấn văn hóa riêng cho chính mình giữa vô vàn sắc màu văn hóa của 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam từ bao đời qua Có thể nói, chính nhờ những đặc trưng riêng

về văn hóa, cách sinh hoạt cộng đồng, người Êđê đã thu hút được không ít sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều người

Tuy nhiên, đa phần các công trình nghiên cứu này thường chỉ khảo sát chủ yếu về đặc trưng văn hóa, cách thức sinh hoạt cộng đồng của người Êđê đặt trong

Trang 10

tổng thể của văn hóa các dân tộc ở Tây Nguyên, còn khá ít những công trình, tài liệu đề cập một cách đầy đủ, chuyên sâu về tộc người Êđê Có thể tạm chia các

tài liệu, công trình nghiên cứu đó thành hai nhóm: Nhóm nghiên cứu đời sống

văn hóa của người Êđê như một bộ phận của văn hóa các dân tộc Tây Nguyên và nhóm nghiên cứu đời sống văn hóa của người Êđê như một nền văn hóa đặc trưng, riêng biệt

Ở nhóm thứ nhất, nhóm nghiên cứu đời sống văn hóa của người Êđê như một

bộ phận của văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, có thể kể đến“Văn hóa dân gian Tây Nguyên, một cách nhìn” Trong công trình này, Linh Nga Niê Kdam đưa ra nhận

xét khái quát về văn hóa các dân tộc Tây Nguyên (có người Êđê): “Có thể thấy, văn

hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có bản sắc riêng, độc đáo nhưng không hề tách rời và có tính thống nhất trong bản sắc văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” [42, tr 23-24] Tuy nhận xét còn chung chung, chưa chỉ rõ những

biểu hiện cụ thể của “bản sắc riêng, độc đáo” của văn hóa Tây Nguyên, song, tác giả đã bước đầu gợi mở cho người đọc những ấn tượng ban đầu để đi sâu vào tìm hiểu văn hóa của đồng bào các dân tộc, trong đó có người Êđê

Trong “Trang phục truyền thống của người Ê Đê Bih” tác giả Lương Thanh

Sơn đề cập đến dân tộc Êđê và các nhóm tộc người ở tỉnh Đắk Lắk, tác giả cho rằng: “

Người Bih là một nhóm của dân tộc Ê đê, có cùng nguồn gốc ngôn ngữ Austronesian( Malayô-Poolinêdi) lục địa Cư dân Bih có quan hệ nguồn gốc với người Chăm, Jarai, Chu ru, Raglai và có quan hệ cộng cư với các dân tộc khác trong khu vực như M’nông

và các nhóm của M’nông…tập sách Trang phục truyền thống người Bih sẽ góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ đó, đồng thời với việc tìm hiểu trang phục người Bih thông qua những đặc trưng và ứng xử tộc người sẽ giúp các nhà khoa học trong việc đánh giá trình độ phát triển kinh tế- xã hội-văn hóa của cư dân Bih Từ đó có những định hướng đúng đắn cho họ trong việc lựa chọn những ứng xử thích hợp của dân tộc mình trong hoàn cảnh hiện tại và tương lai.” [48, tr 8]

Trong cuốn “Sự biến đổi những giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các

dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay” Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hòa

Trang 11

đã phân tích về giá trị xã hội truyền thống và vai trò của nó trong đời sống xã hội, thực trạng biến đổi các giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số

ở Tây Nguyên, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm kế thừa và phát huy các giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

Đến “Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên”, Linh Nga

Niê Kdam đi sâu vào nghiên cứu về các nghi lễ, sinh hoạt truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng của đồng bào Tây Nguyên, cụ thể là ở người Êđê Công trình nghiên cứu gồm 3 chương.Trong đó, chương I – giới thiệu khái quát về địa bàn cư trú; các tộc người Jrai, Êđê, Sê đăng, Bahnar, M'nông, K'ho; đời sống văn hóa, kinh tế, sinh hoạt cộng đồng của các tộc người Chương II, đi vào tìm hiểu một số nghề truyền thống của các tộc người Chương III, đánh giá về vai trò của nghề thủ công trong đời sống cộng đồng quá khứ và hiện tại Từ đây, tác giả đưa ra một số nhận xét về

tộc người Êđê: “Tùy theo các lễ cúng lớn hay nhỏ, điều cầu xin quan trọng đến đâu

đối với gia đình hoặc cộng đồng, mà dùng lễ vật hiến sinh là gà, heo, hay bò Tuy nhiên, các lễ cúng lớn bao giờ cũng phải có trâu Các nhóm thuộc ngữ hệ Mã Lai –

Đa Đảo đều có ăn trâu (hiến sinh) nhưng tộc người ÊĐê không có nghi lễ và hình thức đâm trâu” [43, tr 73] Với nhận xét này, có thể thấy, tộc người Êđê cũng có

những đặc trưng riêng biệt về văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, không hoàn toàn “đồng nhất” với văn hóa của các tộc người ở địa bàn Tây Nguyên Bên cạnh đó, khi bàn về sinh hoạt văn hóa trong cộng đồng người Êđê, Jrai, Linh Nga Niê Kdam thấy rằng:

“Hôn nhân Ê Đê, Jrai mang nhiều tính nhân văn: từ tục “ở dâu” để báo hiếu cha

mẹ chồng, đến việc không ép buộc, cũng không áp đặt nặng nề về lễ vật dẫn cưới, thậm chí nếu chưa đủ lễ vật hai họ sẽ cho nợ và tổ chức cưới lớn sau Đặc biệt việc trao vòng bao giờ cũng được tổ chức trang trọng, tuy hình thức nhìn vào là đơn giản, nhưng lại được đảm bảo như một lời đính ước bền vững Sau này bên nào vi phạm sẽ bị phạt đền bù cho cả phía bên kia lẫn cộng đồng” [43, tr 90]

Đi xa hơn nữa, khi bàn về tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc, tác giả

cho rằng: “Tính cho đến những năm đầu thế kỉ XXI đã có đến 90% các dân tộc bản

địa Tây Nguyên từ bỏ tín ngưỡng truyền thống để trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo

Trang 12

và Tin Lành Nhưng có một điều lạ là: số người theo đạo Phật (gần như “quốc đạo” của Việt Nam) lại hầu như rất ít Do đồng bào theo tập quán bầy đàn, nên cùng đồng tâm theo các tôn giáo du nhập từ phương Tây? Hay các dân tộc thiểu số Tây Nguyên không phải là đối tượng tuyên truyền được lựa chọn của Phật giáo? Điều này chưa có cuộc khảo sát nào để đưa ra kết luận chính thức” [43 tr 82] Ý

kiến này đã gợi mở cho luận văn một hướng nghiên cứu mới, đó là thử đi vào tìm hiểu, lý giải vì sao Phật giáo chưa có được ảnh hưởng thật sự tích cực, mạnh mẽ trong lòng đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên nói chung, người Êđê nói riêng Vì sao một tôn giáo từng được xem là “quốc đạo”, từng có thời hoàng kim trong lịch sử Việt Nam lại có một “chỗ đứng” khá khiêm tốn ở Tây Nguyên, giữa dòng chảy văn hóa của người Êđê?

Như vậy, có thể thấy, dù vốn tài liệu nghiên cứu còn khá ít ỏi, song, những đánh giá trên đã phác thảo, gợi mở cho những ai mong muốn tìm hiểu về đời sống văn hóa của người Êđê có được cái nhìn mang tính định hướng, khơi dậy niềm hứng thú để bước vào thế giới văn hóa của tộc người Êđê

Ở nhóm thứ hai, nhóm nghiên cứu đời sống văn hóa của người Êđê như một

nền văn hóa đặc trưng, riêng biệt có thể nhắc đến tác giả Trương Bi – Bùi Minh Vũ

với tác phẩm“Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người Ê Đê, M’nông”.Tác

giả đã nói lên thực trạng văn hóa truyền thống các tộc người Êđê, M’nông và một số kết quả đạt được về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người Êđê, M’nông, đưa ra những giải pháp cơ bản về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người Êđê, M’nông Từ những kết quả nghiên cứu này, người đọc có thể phần nào hình dung được đặc trưng, những chuyển biến của đời sống văn hóa tộc người Êđê trong dòng chảy văn hóa Việt Nam đương đại

Ngoài ra, trong “Nghi lễ - lễ hội Ê Đê”, tác giả Trương Bi cũng đã đề cập

khá chi tiết đến tộc người Êđê ở Tây Nguyên Ở đây, người đọc có thể tìm thấy đặc trưng về không gian văn hóa Êđê thông qua đời sống sinh hoạt cộng đồng Tác giả

đã miêu tả khá cụ thể, chi tiết về những nghi lễ - lễ hội đặc trưng của người Êđê như nghi lễ - lễ hội vòng đời, lễ cúng cho người mẹ mang thai, lễ đặt tên thổi tai, lễ

Trang 13

trưởng thành, lễ cưới, lễ cầu an - cầu sức khỏe, lễ cúng sức khỏe, lễ tang, lễ ăn trâu

bỏ mả, và nghi lễ - lễ hội nông nghiệp như: lễ cúng rẫy, lễ cầu mưa - cầu được mùa,

lễ mừng trận mưa đầu mùa, lễ cúng thần gió, lễ tuốt lúa, lễ rước thần lúa vào kho, lễ

ăn cơm mới, lễ ăn trâu mừng được mùa - đón năm mới và một số nghi lễ - lễ hội cổ truyền khác như: lễ cúng bến nước, lễ cúng vào nhà mới, lễ đón uống rượu cần mừng năm mới, lễ đón khách quý, lễ rước k’pan…Từ những nghi lễ này, Trương Bi

nhận xét rằng: “Qua sự tiếp biến, giao thoa với văn hóa đa sắc tộc từ khắp mọi

miền đất nước đến Tây Nguyên, văn hóa Ê Đê đã hòa nhập, tiếp biến, giao thoa và chọn lọc những cái hay, cái đẹp của văn hóa của dân tộc mình trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đó là văn hóa thuộc ngữ hệ Nam Đảo, kín đáo, sâu sắc, đầy sức sống của cộng đồng” [6, tr 59] Tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của nghi lễ - lễ

hội trong việc gắn kết cộng đồng người Êđê:“…bên cạnh những giá trị tâm linh

mang đậm tính nhân văn sâu sắc, thắm đượm tình người, tình làng buôn thì đây còn

là dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng khá sinh động Ở đây, các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian như diễn tấu cồng chiêng, múa tung khắc, múa trống, hát dân ca,

kể khan, ẩm thực, trang phục dân tộc, mỹ thuật dân gian… được thể hiện vô cùng độc đáo, giàu bản sắc Đây cũng là dịp để đồng bào ôn lại truyền thống, thắt chặt thêm tình đoàn kết của cộng đồng” [6, tr.96]

Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những ý kiến mang tính chất “cảnh báo” trước những biến chuyển chưa hay, chưa đẹp trong nghi lễ - lễ hội của đồng bào dân tộc

Êđê trong tình hình hiện nay: “Sự thay đổi tín ngưỡng cũng đã gây ảnh hưởng

nghiêm trọng Hầu hết các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian trước đây đều diễn ra xung quanh các nghi lễ- lễ hội nhưng giờ đây nhiều nơi không còn tổ chức các nghi lễ- lễ hội truyền thống mà được thay bằng những lễ nghi tôn giáo mới Ở những nơi này, cồng chiêng bị bọn xấu coi là những nhạc cụ của thần linh, tà giáo, không được sử dụng và cần phải xóa bỏ, hoặc đem bán gây nên tình trạng “ chảy máu” cồng chiêng, ché, thổ cẩm, tượng nhà mồ trong các buôn làng” [6, tr.164]

Tác phẩm“Văn hóa mẫu hệ qua sử thi Ê đê” của Tuyết Nhung Buôn Krông, chỉ ra rằng “Người Ê đê là một tộc người thuộc xã hội mẫu hệ khá điển hình ở Việt

Trang 14

Nam Những nguyên tắc mẫu hệ chi phối nhiều mặt trong tổ chức gia đình, xã hội

và in dấu rõ rệt trong đời sống văn hóa của người Ê đê”[41, tr 45] Tác giả còn đi

vào tìm hiểu về vai trò của người phụ nữ trong đời sống văn hóa của người Êđê:

“Vai trò người phụ nữ được biểu hiện sinh động trong luật tục, chuyện kể, được hình tượng hóa trong kiến trúc dân gian ( nhà mồ, cồng chiêng) Qua đó, chúng ta

có thể thấy người phụ nữ không chỉ có vai trò trực tiếp đối với gia đình, dòng họ mà còn có tác động gián tiếp đối với thiết chế tổ chức xã hội Ê đê” [41, tr 46] Từ đây,

Tuyết Nhung Buôn Krông nêu lên một nhận xét khá xác đáng: “Sự quyết đoán, chủ

động theo kiểu nữ tính của họ lại là một trong những phẩm chất cần thiết để họ hoàn thành tốt vai trò của họ trong cộng đồng mẫu hệ Mặt khác họ rất dịu dàng, khiêm nhường, nép mình bên người chồng Đó là tính cách đa diện của phụ nữ Ê đê” [41, tr 200]

Trong công trình nghiên cứu của Phó giáo sư, Tiến sĩ Hà Đình Thành với đề

tài: “Cộng đồng dân tộc Ê đê ở tỉnh Đăklăk hiện nay” đã nghiên cứu một cách toàn

diện và hệ thống về cộng đồng dân tộc Êđê, về nguồn gốc cũng như đời sống văn hóa của tộc người Êđê, trong đó tác giả có đề cập đến tôn giáo nhưng cũng chỉ dừng

lại ở hai tôn giáo đó là Công giáo và Tin lành

Riêng tác giả Trương Thị Hiền với “Luật tục Ê Đê – một nền tư pháp hòa

giải những giá trị xã hội và sự biến đổi”cho rằng: “chúng tôi cho rằng luật pháp và luật tục đều là “luật”- là những hiện tượng xã hội với những thuộc tính: (1) có những quy tắc mang tính bắt buộc, (2) những quy tắc này được áp đặt bởi một nhóm xã hội nào đó, và (3) những quy tắc này có thể thay đổi Theo đó, luật tục và pháp luật cùng có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, cùng hướng đến trật tự

xã hội Có điều, nếu luật pháp hướng đến trật tự xã hội chung thì luật tục hướng đến trật tự cộng đồng Nếu như luật tục chỉ có giá trị áp dụng bắt buộc đối với các thành viên trong cộng đồng thì luật pháp lại có tính phổ biến và bắt buộc chung đối với tất cả các thành viên trong quốc gia”[ 27, tr 44] Trương Thị Hiền đã phát hiện

ra những yếu tố rất nhân văn trong luật tục của tộc người Êđê: “ luật tục Ê đê là

biểu hiện của một nền tư pháp hòa giải khi mà, cách giải quyết của người phân xử

Trang 15

Ngay cả khi một người bị quy tội thì biện pháp trừng phạt thật chất là một hình thức hòa giải, giáo dục Việc phân xử hướng tới sự hài hòa lợi ích của các bên liên quan

có thể lý giải sự lựa chọn của nhóm người nghèo thường dựa vào luật tục và các quyền không chính thức để bảo vệ quyền của mình Điều này dường như vô lý bởi nếu tuân thủ luật tục thì có thể họ bị mất chi phí nhiều hơn về thời gian và tiền bạc

so với việc giải quyết sự việc có liên quan theo luật pháp Nhưng đối với người Ê đê thì lại hợp lý khi mà “sau khi họ thi hành ngay hình phạt bồi thường cho người vi phạm, họ sẽ được dân làng bỏ qua lỗi lầm và có thể hòa nhập ngay với cộng đồng Còn xử theo luật pháp, mức bồi thường có thể thấp hơn nhưng họ thấy có gì đó không thoải mái, khó khăn hòa nhập vào cộng đồng” [27, tr 216-217]

Ngoài ra, tác giả còn nêu lên cơ sở tồn tại của luật tục Êđê: “ Sự tồn tại của

luật tục Ê đê có những cơ sở kinh tế xã hội cơ bản là: (1) định chế kinh tế nương rẫy cùng với quan niệm “đất đai là cái lưng của ông bà” khẳng định quyền sở hữu tài sản cộng đồng của người Ê đê; (2) định chế gia đình mẫu hệ Ê đê với những quan niệm về dòng họ, hôn nhân, thừa kế tài sản, mô hình nơi cư trú ;(3) định chế văn hóa của người Ê đê với lối sống cộng đồng, tín ngưỡng đa thần, lối sử dụng lời nói vần trong sinh hoạt cộng đồng” [27, tr 232]

Có thể nói, đây là một trong số ít những công trình nghiên cứu về người Êđê khá chi tiết, tinh tế, xác đáng Tài liệu này đã giúp luận văn có cái nhìn toàn diện hơn về gương mặt văn hóa Êđê, để có những định hướng nghiên cứu tiếp theo

2.2 Những công trình nghiên cứu về hoạt động hoằng pháp của Phật giáo hướng đến đồng bào dân tộc thiểu số

So với những công trình nghiên cứu về người Êđê thì những công trình nghiên cứu, bài viết về hoạt động hoằng pháp của Phật giáo hướng đến đồng bào dân tộc thiểu số càng có số lượng khiêm tốn hơn Trong kỷ yếu hội thảo hoằng pháp toàn quốc năm 2011, tổ chức tại Bình Dương có một số bài tham luận về hoạt động hoằng pháp hướng đến dân tộc thiểu số

Trước hết phải kể đến tham luận “Hoằng pháp và đồng bào dân tộc”của Đại

đức Thiện Minh Ủy viên Hội đồng trị sự, Ủy viên ban Hoằng pháp Trung ương, trong đó tác giả đề cập đến những yêu cầu đối với người hoằng pháp Đó là những

Trang 16

người phải thật tu, phải thật học, phải có tướng mạo, phải có tâm, phải viết lách khá tốt và phải có sức khỏe Đại đức đề cập đến những biện pháp để thực hiện hoằng pháp cho người dân tộc có hiệu quả: thứ nhất là tâm không phân biệt, thứ hai là biết ngôn ngữ của họ, thứ ba là lập chùa trong vùng dân tộc, thứ tư là tiếp độ người dân tộc xuất gia, thứ năm là gây quỹ để giúp người dân tộc và cuối cùng là mở những khóa tu để dạy đạo cho người dân tộc

Thượng tọa Thích Huệ Thông (Ủy viên Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo, Quyền Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo Bình Dương) trong bài tham luận

với chủ đề “Nhu cầu và giải pháp truyền bá Phật pháp đến tận vùng sâu vùng xa

của Tổ quốc” cho rằng: “Kể từ ngày GHPGVN được thành lập đến nay đã 30 năm,

mặc dù Phật giáo đã phát triển lớn mạnh trên khắp mọi miền đất nước trong suốt thời gian gần một phần ba thế kỷ qua, tuy nhiên công tâm nhìn nhận thì giữa Phật giáo vùng đồng bằng với Phật giáo vùng miền núi, giữa Phật giáo miền ngược và Phật giáo miền xuôi vẫn còn sự chênh lệch khá xa trong việc thọ nhận nguồn văn hóa Phật giáo cũng như tiếp nhận ánh sáng giáo lý Phật Đà Có thể nói rằng, đây

là một sự thiệt thòi đáng tiếc của quần chúng Phật tử vùng sâu vùng xa.Chính vì vậy mà việc truyền bá Phật pháp đến tận vùng sâu vùng xa cần phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu của sự nghiệp hoằng pháp độ sanh, nhất là trong thời kỳ Phật giáo phát triển rực rỡ như thời đại ngày nay.” [24, tr.119]

Trong bài tham luận với chủ đề “Nhu cầu và giải pháp truyền bá Phật pháp

đến tận vùng sâu vùng xa” của Hòa thượng Thích Thiện Duyên (Trưởng ban

Hướng dẫn Phật tử Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam) đưa ra một số giải

pháp cho hội thảo xem xét: “1 Thành lập hội đồng tư vấn truyền giáo để nghiên

cứu, đề xuất tư vấn cho ban hướng dẫn, ban hoằng pháp trong việc thực hiện truyền pháp vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Báo cáo kết quả về Hội đồng Trị sự nếu ở cấp trung ương, Ban Trị sự nếu ở cấp tỉnh, thành phố 2 Nâng Tiểu ban Dân tộc trong Phân ban Cư sĩ thành Phân ban chuyên trách đảm nhiệm công tác hoằng pháp đến vùng cao, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số từ trung ương đến tỉnh, thành thuộc Ban Hướng dẫn Phật tử Phân ban này có trách nhiệm nghiên

Trang 17

cứu những chính sách, ngôn ngữ tập quán, văn hóa của dân tộc ở vùng cao, vùng

xa 3 Giáo hội cần tranh thủ sự ủng hộ của đảng, nhà nước với công tác phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội, trong đó có đời sống tín ngưỡng tâm linh Liên hệ chặt chẽ, tăng cường tiếp xúc với lãnh đạo chính quyền các tỉnh vùng cao, xa của đất nước để

có sự nhìn nhận đúng đắn vai trò của Phật giáo với dân tộc và sự giúp đỡ Xây dựng mỗi xã, huyện có một số thành tựu nhất định như: xây dựng được ba ngôi chùa tại huyện đảo Trường Sa, thành lập một số cơ sở ở miền núi…, đây cũng là tiền đề để Tăng, ni có điều kiện thực hiện sứ mệnh của mình 4 Tổ chức nhiều đoàn hoằng pháp, các khóa tu, kết hợp với hoạt động từ thiện đến vùng sâu, vùng xa… đặc biệt là các vị giảng sinh lớp đào tạo cao trung cấp, tăng ni sinh của các học viện, các trường cao đẳng, v.v để truyền bá Phật pháp và giúp Tăng, ni trẻ hiểu biết, nhận thức đúng sứ mệnh của mình, thông qua đó tuyển chọn vào thành viên của Ban hướng dẫn, Ban hoằng pháp và vận động họ sau khi tốt nghiệp ra trường trở lại các vùng này để đảm nhận công tác Phật sự 5 Cử những Tăng, ni, cư sĩ có tài năng, đức độ trong ban chuyên trách về dân tộc, đảm nhiệm từng khu vực để giải quyết kịp thời công việc của từng khu vực, đồng thời các vị ấy cũng có thời gian để tập trung vào chuyên môn trong khu vực của mình, tìm ra những giải pháp thích hợp nhất để tập trung vào chuyên môn trong khu vực của mình, tìm ra những giải pháp thích hợp nhất để hoằng dương Phật pháp Ưu tiên đào tạo người dân tộc bản xứ 6 Soạn thảo kinh sách, băng đĩa, tài liệu Phật pháp ra các thứ tiếng thổ dân để giúp đồng bào bản xứ vùng sâu, vùng xa học và tìm hiểu Phật pháp được dễ dàng Ban Giáo dục Tăng ni tổ chức các lớp học tiếng dân tộc, tuyển chọn những người dân tộc trẻ có điều kiện từ vùng cao xuống miền xuôi để học tập, tạo điều kiện cho họ về kinh tế tài chính và học hỏi Phật pháp, sau khi tốt nghiệp trở về bản

xứ, họ là kênh chuyển tải và lan tỏa Phật pháp hiệu quả nhất 7 Tăng cường các hoạt động từ thiện nhân đạo với các vùng đồng bào dân tộc, vùng cao, vùng xa, thành lập quỹ học bổng, bệnh viện khám chữa bệnh, trường học, trung tâm phục vụ người già…8 Mỗi năm, trung ương Giáo hội cũng như tỉnh thành hội, nên dành một phần tài chánh để phục vụ cho hoạt động công tác Phật sự tại vùng cao, vùng

Trang 18

xa Suốt chặng đường hoằng pháp của chúng ta, đây là thời điểm thích hợp nhất cho việc truyền bá chánh pháp ở vùng sâu, vùng xa Bởi chính sách tự do tôn giáo,

tự do tín ngưỡng và chính sách ưu tiên xây dựng phát triển kinh tế xã hội ở vùng cao, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước Hội thảo lần này là cơ hội tốt, để chúng ta cùng nhau bàn thảo phương thức hoằng truyền ánh sáng từ bi và trí tuệ của đức Phật, trải rộng đến khắp mọi miền đất nước và 54 dân tộc anh em, nhằm thực hiện bản hoài của đức Phật, vì lợi ích của chư thiên và loài người”[ 24, tr.116- 117]

Trong bài “ Một số đóng góp của Phật giáo cho xã hội nông thôn Việt Nam

hiện nay”, Thạc sĩ Dương Hoàng Lộc (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân

văn- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) có nhận xét: “Phật giáo có vai trò

rất lớn cho sự nghiệp phát triển nông thôn nước ta ngày nay Trước nhiều vấn đề xã hội nổi cộm, với tinh thần từ bi của người con Phật, giới Phật giáo cả nước đã có nhiều đóng góp, giúp đỡ người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để họ vượt qua nhiều khó khăn trước mắt Điều này đã được xã hội ghi nhận.Tuy nhiên, để tăng cường tính hiệu quả hơn nữa, những hoạt động giúp bà con nông dân của Phật giáo cần phối hợp với kiến thức và kỹ năng của ngành công tác xã hội, đặc biệt là phát triển cộng đồng Phật giáo Việt Nam, với đặc trưng mang tính nhập thế, sẽ là niềm động viên để chia sẻ với những khó khăn người nông dân khi họ đối đầu với bệnh tật, ô nhiễm môi trường sống, mất việc làm, bỏ quê xa

xứ, nghèo đói,… Cả về vật chất lẫn tinh thần, nhất là ý thức tự vươn lên thoát nghèo, tin tưởng vào năng lực nơi bản thân Như vậy, đạo Phật sẽ tiếp tục tỏa sáng trong lòng dân tộc trên bước đường hội nhập và phát triển hiện nay Hy vọng ngôi chùa Việt mãi là chỗ dựa, nơi chia sẻ những mất mát đau thương, nơi thắp lên niềm

hy vọng về cuộc sống và bảo tồn những giá trị tâm linh truyền thống của người nông dân lam lũ, nhọc nhằn bao đời nay”[24, tr 157]

Với bài “Để Phật giáo vùng cao nguyên ngày thêm rạng rỡ với bản sắc riêng”, tác giả Dương Kinh Thành có đánh giá về Phật giáo Đắk Lắk như sau: “Mặc dù

trong nhiệm kỳ qua, đã có hàng ngàn đồng bào Ê đê, M’nông, Nùng, Tày, Mường,

Trang 19

Thái… đã quy y Tam bảo, tu học tại các chùa Và để phục vụ việc tu học của họ, Ban Văn hóa đã xuất bản cuốn “Lịch sử Đức Phật Thích Ca và Giáo pháp của Ngài” và cuốn “Nghi thức tụng niệm” bằng song ngữ Việt- Ê đê Tuy vậy, Phật giáo Đăk Lăk chưa có chiến lược phát triển lâu dài về mặt này và xem đó là đặc thù riêng của mình Định hướng phát triển ở đây cần chuyên sâu hơn trong từng chi tiết dành riêng cho bà con như thiết lập bàn thờ Phật, nghi thức tụng niệm tại nhà, tạo điều kiện cho chính bà con chủ sám, làm lễ theo phong cách của dân tộc mình Chúng ta chưa thấy có những nhân tố xuất gia nào của bà con người dân tộc ngay trên chính mảnh đất nơi mà họ đã từng sống ngày trước! Chưa thấy có, ít ra là một ngôi chùa mang đậm bản sắc người Tây Nguyên để cho bà con mỗi khi bước vào không ngỡ ngàng xa lạ với chung quanh Rất thương cho bà con muốn theo Phật,

mà mỗi bước đi còn lạ lẫm ngỡ ngàng, thậm chí xa vời với buôn làng bản ấp của mình, thì thiệt thòi biết bao nhiêu! Đó là những tồn tại của Phật giáo Đăk lăk nhiều nhiệm kỳ qua, hy vọng sẽ được tái lập và khơi dậy trách nhiệm trong nhiệm kỳ mới”[26, tr 22]

Trong bài tham luận của Ban Hoằng pháp tỉnh An Giang với chủ đề: “Hoằng

pháp với đồng bào dân tộc”, Đại đức Thích Thiện Trí đã đề cập đến hoạt động

hoằng pháp với người dân tộc trên tinh thần giải thoát Tác giả cho rằng Phật giáo là đạo từ bi, đạo giải thoát đưa con người đến con đường chân, thiện, mỹ Nói đến Phật pháp là nói đến phương pháp hợp lý, hợp cơ Đem chánh lý áp dụng thích hợp nơi căn cơ con người hiện thời là Phật pháp Hoặc nói “Phật pháp bất định pháp”, tức là giáo pháp của đức Phật không cố định, không câu nệ một cách cứng nhắc mà luôn luôn linh động, tùy thời, tùy cơ Nhưng không phải tùy cơ mà biến mất bản chất Phật giáo, chủ trương của Phật giáo là “Tùy duyên nhi bất biến” hoặc ngược lại

“Bất biến nhi tùy duyên” Bản chất từ bi, trí tuệ, giải thoát của Phật giáo không bao giờ thay đổi, nhưng phương tiện thực hiện từ bi cần phải tùy thời, tùy cảnh và tùy căn cơ của chúng sanh Vì thế, Phật giáo đến nước nào liền có hình thái thích nghi với dân tộc nước ấy, cho nên, Phật giáo ở nước nào là của dân tộc nước đó và cũng mang tên nước đó Như “Phật giáo Việt Nam”

Trang 20

Với tham luận “Hoằng pháp vùng dân tộc thiểu số nội dung và một số giải

pháp”, Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Liên đưa ra các định hướng lâu dài và

định hướng trước mắt cho hoạt động hoằng pháp Theo đó, định hướng trước mắt

là phải tổ chức thường xuyên các buổi thuyết giảng ngắn trong tháng, sinh hoạt văn hóa-nghệ thuật tại các buôn làng và kết hợp hoạt động từ thiện - xã hội với hoạt động kinh tế Về định hướng lâu dài, tác giả cho rằng cần phải đào tạo hoằng pháp viên, xây dựng tự viện vùng dân tộc thiểu số, ấn tống kinh sách, văn hóa phẩm Phật giáo Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Liên cũng đưa ra một số giải pháp ở mức độ cao hơn trong vấn đề tổ chức, cần thiết có sự điều phối của Ban Hoằng pháp Trung ương- Giáo hội Phật giáo Việt Nam, như việc vận động kinh phí cho vấn đề hoằng pháp ở vùng sâu, vùng xa; tổ chức các khóa huấn luyện hoằng pháp viên phục vụ vùng dân tộc thiểu số Các khóa học này cần được tổ chức thường xuyên, liên tục để có thể đáp ứng nhân sự cho nhiều vùng; thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi thông tin, sinh hoạt, kinh nghiệm giữa các ban hoằng pháp tỉnh Những buổi sinh hoạt này cũng cần có sự tham dự của nhiều thành phần trong xã hội, là những người có kiến thức về dân tộc, có kinh nghiệm sống thời gian dài trong vùng dân tộc, có nhiệt tình và khả năng tài chính

để có thể hỗ trợ trên nhiều mặt hoạt động

Trong bài tham luận của tỉnh Đắk Lắk với đề tài “Vai trò hoằng pháp đối với

đồng bào Phật tử dân tộc ít người tại Tây Nguyên”, Tỳ kheo Thích Minh Đăng nêu

lên 10 tiêu chí để hoằng pháp như: 1 Phải thực sự thương yêu người đồng bào dân tộc bằng tất cả tình thương của lòng từ bi như lời Phật đã nói cần phải đem ánh sáng Phật pháp đến với những chúng sinh do thiếu phước mà sinh ra nơi chốn xa xôi, biên địa Chúng ta phải xem họ như huynh đệ ruột thịt, không phân biệt, chia rẽ Bởi bản chất của người đồng bào là rất thật thà, nên họ rất mặc cảm, nhất là khi đưa

họ về chùa trong các dịp lễ lớn, nếu chúng ta không quan tâm chăm sóc họ trong những lúc đó, thì họ thật sự rất buồn và không muốn tới chùa nữa Vì vậy, chúng ta cần tổ chức một đội ngũ tri khách nhiệt tâm tại các chùa mỗi khi có đồng bào về Tổ chức chu đáo nơi ăn uống, nghỉ ngơi nếu cần thì người Kinh phải nhường chỗ cho

Trang 21

họ một cách vui vẻ Ân cần nói chuyện tạo cho họ sự gần gũi mật thiết Không nên

để họ sinh hoạt một nơi, người Kinh một nơi Khi lễ Phật trong chánh điện hoặc nghe thuyết pháp thì nên hướng dẫn họ ngồi lên trên, không nên để họ ngồi phía sau

và người Kinh dành ngồi phía trước Khi vào bữa ăn, nên ngồi chung mâm với họ

để có sự chăm sóc và tạo môi trường thân thiện 2 Thiết lập, huấn luyện một lực lượng cư sĩ hoằng pháp với sự dấn thân không mệt mỏi, không chấp công, không vụ lợi vào các nơi có đông đảo đồng bào sinh sống để truyền bá đạo pháp, hướng dẫn

tu tập cho họ biết lễ Phật, tọa thiền, tụng kinh làm công đức Luôn bám sát các vùng đồng bào dân tộc đã quy y Thường xuyên đi vào buôn ít nhất một tuần một lần, bởi sau khi quy y mà chúng ta không vào buôn làng thường xuyên thì chỉ sau một tháng thậm chí là một tuần họ sẽ bỏ chúng ta đi theo đạo khác Chúng ta cần thấy rõ rằng các đạo khác không thua mình về công tác hoằng pháp có thể nói là hơn hẳn về các phương pháp tiếp cận truyền bá giáo lý, khả năng tài chính Chỉ có giúp cho đồng bào tu tập và hiểu rõ giáo lý Phật pháp thì người đồng bào mới vượt qua được mặc cảm, không bị kẻ xấu mua chuộc làm ảnh hưởng đến lao động sản xuất, tự vươn lên trong cuộc sống tạo ra của cải vật chất không còn phụ thuộc vào sự giúp đỡ của mọi người nữa 3 Phải tạo điều kiện cho các tu sĩ, cư sĩ học tiếng đồng bào, trang bị trình độ giáo lý Phật pháp sao cho phù hợp với tầm nhận thức của đồng bào không nên nói xa quá, cao quá, khó hiểu Nên xem lại việc in sách, kinh bằng tiếng dân tộc bởi không phải người dân tộc nào cũng biết chữ của họ Số biết rất ít Chưa kể tại Việt nam chúng ta rất đa dạng dân tộc làm sao chúng ta dịch cho hết từng ấy tiếng

Vì vậy khi in ra tặng cho đồng bào, họ không đọc bỏ đi rất lãng phí Tiền in sách này dùng trang bị cho cư sĩ học tiếng dân tộc thì có hiệu quả hơn Một cư sĩ truyền

bá giỏi bằng tiếng dân tộc ngay tại địa phương họ, hiệu quả hơn hoằng pháp cực kỳ tốt đẹp 4 Băng đĩa thuyết pháp cho người đồng bào cần lựa chọn nội dung cho phù hợp với họ và cần dịch qua tiếng của từng dân tộc, có minh họa hình ảnh cho sinh động Nếu có thể ban hoằng pháp sẽ sắp xếp lại bài giảng cụ thể đúng trình độ sơ cơ của họ 5 Nạn phá rừng, giết hại động vật hoang dã là nguồn gốc của thiên tai, bão lụt, hạn hán mất mùa Cho nên chúng ta cần dùng Phật pháp để vận động bà con dân

Trang 22

tộc chấm dứt các vấn nạn trên cũng là một hình thức hoằng pháp theo tinh thần yêu thương của Đức Phật Đừng để cảnh bà con cứ tiếp tục phá rừng còn chúng ta cứ tiếp tục vận động quyên góp tiền bạc, vật chất đem cho Thời gian tới đây nếu cây rừng không còn, dẫn đến hạn hán nặng… đến cây lúa không sống nổi, thì ngay chúng ta cũng khó sống chứ đừng nói đến giúp đỡ cho ai 6 Nên áp dụng dung hòa yếu tố tập quán phong tục với tín ngưỡng tâm linh Tiếp cận sinh hoạt để tìm hiểu tập quán, thấy điểm nào gần giống thì phát huy, điểm nào là hủ tục mê tín ta tìm cách hóa giải dần Chẳng hạn như lập đàn dược sư cầu an đầu năm hoặc chúng ta hướng dẫn thực hiện các nghi lễ tôn giáo cho họ thông qua các lễ ma chay Bên cạnh đó, nghi lễ cũng là một phương tiện hữu hiệu nhất để đưa Phật giáo vào lòng người ví dụ như lễ hoằng thuận là dịp tốt để đưa thuyết giảng về tam quy- ngũ giới Muốn vậy phải đào tạo ban nghi lễ cho các Phật tử đồng bào dân tộc ít người 7 Xây dựng chùa cho đồng bào dân tộc ít người vùng sâu, vùng xa 8 Tổ chức các lễ hội văn hóa và Phật giáo để thay thế các lễ hội đâm trâu, ăn cơm mới, bỏ mả….9 Hoằng pháp kết hợp từ thiện 10 Phải có sự đồng thuận, giúp đỡ của các cấp nhà nước, giáo hội từ trung ương đến địa phương tạo mọi điều kiện tốt nhất để các cư sĩ thực hiện công tác hoằng pháp trong đồng bào dân tộc không nên để xảy ra cảnh trống đánh xuôi, kèn thổi ngược Hoặc chỉ mang tính phong trào, phô trương chạy

theo thành tích mà không có chiều sâu

Ngoài ra, có thể kể đến những tham luận trong hội thảo với chủ đề “Sinh hoạt

Phật giáo trong đồng bào các dân tộc vùng cao, miền núi Tây Nguyên” như: Hoằng pháp với đồng bào dân tộc của Ban Hoằng pháp tỉnh Đắk Lắk; Công tác hoằng pháp tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum của Thượng tọa Thích

Quang Hạnh; Phật giáo Đăklăk với đồng bào dân tộc Tây Nguyên của Đại đức Thích Giác Phổ; Hoằng pháp đối với đồng bào dân tộc ít người của Đại đức Thích Minh Đăng; Ứng dụng Tứ nhiếp pháp đối với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên của Đại Đức Thích Lệ Ngôn; Nhiệm vụ của một hoằng pháp viên của Tuệ Đức Quy;

Kế hoạch hoằng pháp tại vùng sâu vùng xa của Phật tử Nhuận Hạnh; Triển khai chương trình hoằng pháp tại vùng sâu vùng xa của Hòa thượng Thích Viên Thanh;

Trang 23

Phương cách hướng dẫn đồng bào dân tộc tu theo chánh pháp của Đại đức Thích

Nhuận Pháp; Người Phật tử dân tộc làm gì cho công tác Phật sự vùng sâu vùng xa của Đại đức Thích Vạn Nhơn; Triển khai chương trình hoằng pháp ở vùng sâu

vùng xa của Phật tử Hồ Thị Kim Duyên; Tổ chức thành lập các đạo tràng tu học tại

vùng sâu vùng xa của Đại đức Thích Đồng Giải…

Nhìn chung, từ những bài tham luận, những ý kiến do các tác giả đề xuất, có thể thấy rằng, hoạt động hoằng pháp cho người dân tộc thiểu số ngày càng được quan tâm hơn Quan điểm chung của các tác giả là chú trọng các hoạt động thực tiễn, xuất phát từ nhu cầu và lợi ích thiết thực cho đồng bào người dân tộc Tuy nhiên, với nếp sống, nếp nghĩ, cách sinh hoạt, tư duy của đồng bào, nhất là đối với những đồng bào dân tộc mà tôn giáo chính không phải là Phật giáo, hoạt động hoằng pháp lại là một vấn đề đáng phải lưu tâm hơn Làm sao để giáo lí Phật giáo được đồng bào đón nhận mà vẫn không tạo nên những “tranh chấp” về tư tưởng, sinh hoạt truyền thống của đồng bào, đó là một thử thách không nhỏ đối với tu sĩ Phật giáo ngày nay Ở đây, trong giới hạn của đề tài luận văn, hy vọng có thể phần nào đưa ra những giải pháp khả thi nhất, thiết thực cho vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghi lễ - lễ hội, luật tục và đời sống văn hoá của người Êđê và những hoạt động Hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với đời sống văn hóa cộng đồng người Êđê hiện nay, từ đó đề xuất khuyến nghị, giải pháp cho hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại tỉnh Đắk Lắk

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thứ nhất tìm hiểu về đời sống văn hóa của tộc người Êđê

- Thứ hai nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống sinh hoạt của tộc người Êđê tại Đắk Lắk hiện nay

- Đề xuất giải pháp (cho hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam) hướng đến việc dung hòa giữa văn hóa truyền thống bản địa và tư tưởng, quan điểm Phật giáo hiện nay, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người

Trang 24

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động Hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk Lắk và đời sống văn hóa của người Êđê hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Tộc người Êđê ở huyện }ư\ Mgar , Đắk Lắk

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Lý thuyết nghiên cứu:

Luận văn vận dụng lý thuyết thực thể tôn giáo để thấy rõ một thực thể tôn giáo với cốt lõi là niềm tin tôn giáo, sự thực hành tôn giáo và cộng đồng sinh hoạt tôn giáo Vận dụng lý thuyết cấu trúc, lý thuyết chức năng mỗi một nghi lễ- lễ hội

để tìm ra những nét tương đồng, góp phần giữ gìn và nâng cao giá trị văn hóa của mỗi dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Đối với một đề tài nghiên cứu về thực hành tôn giáo, luận văn sử dụng những phương pháp sau:

Phương pháp nghiên cứu lịch sử và hệ thống: dựa vào lịch sử luận văn tìm

hiểu nguồn gốc hình thành và phát triển của tộc người Êđê từ đó tìm hiểu văn hóa lễ hội cũng như luật tục và tìm những nét tương đồng với Phật giáo

Phương pháp phân tích lý thuyết, tổng hợp lý thuyết: được sử dụng ở chương

1 mục 1.1 sau khi thu thập các thông tin tài liệu, luận văn vận dụng 2 phương pháp trên để phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu về văn hóa của tộc người Êđê, so sánh trong tam tạng Phật giáo để tìm ra những điểm tương đồng

Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra sự nhìn nhận hiểu biết của đồng

bào về Phật giáo, phỏng vấn người có uy tín các buôn, lập bảng hỏi các đạo tràng

tộc người Êđê về chùa tu tập

Phương pháp so sánh: So sánh các nghi lễ - lễ hội, luật tục của tộc người Êđê

để tìm những chỗ tương đồng với nghi lễ và giới luật của Phật giáo

Phương pháp hỗn dung tiếp biến giao thoa văn hóa ( lý thuyết thích nghi và biến đổi văn hóa)

Trang 25

Với một đề tài hoàn toàn mới, luận văn sử dụng phương pháp điền dã là rất quan trọng để thu tập tài liệu thực tế, đó cũng là phần quyết định chính trong luận văn nghiên cứu của chúng tôi Phương pháp này nằm trong chương II và chương III

Phương pháp tham dự, quan sát

Chúng tôi cùng tham dự và quan sát các khóa tu của đạo tràng tộc người Êđê tại các chùa hay ở nhà của tộc người trong buôn Trải nghiệm thông qua các nghi lễ, lễ hội của tộc người để cảm nhận và định hướng hoạt động hoằng pháp của Phật giáo

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận:

Với đề tài: “Hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk Lắk và đời sống văn hóa của tộc người Êđê hiện nay” chúng tôi hy vọng luận văn sẽ là nguồn tài liệu khoa học căn bản hữu ích cho những ai muốn khảo cứu về ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của tộc người Êđê ở Đắk Lắk cũng như ở Việt Nam

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài cung cấp vốn kiến thức cơ bản về văn hóa nghi lễ - lễ hội, luật tục của tộc người Êđê, và những thay đổi bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào, đề cao những giá trị văn hóa bản sắc riêng của tộc người và giải pháp bảo tồn các giá trị văn hóa hữu ích trong đời sống

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm

3 chương:

Chương 1: Khái quát về người Êđê và ảnh hưởng của Phật giáo đối với

người Êđê ở Đắk Lắk

Chương 2: Đời sống văn hoá của người Êđê và phương thức hoằng pháp

của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở huyện }Ư\ MGAR hiện nay

Chương 3: Một số nhận xét và khuyến nghị giải pháp.

Trang 26

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI ÊĐÊ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO

ĐỐI VỚI NGƯỜI ÊĐÊ Ở ĐẮK LẮK 1.1 Khái quát về người Êđê ở huyện }ư\ Mgar tỉnh Đắk Lắk

1.1.1 Nguồn gốc của người Êđê ở Đắk Lắk

Có nhiều luận thuyết và nhiều nhà khoa học đã bàn về nguồn gốc tộc người Êđê ở Tây Nguyên cũng như ở Đắk Lắk Có thuyết cho rằng: vào thời thái cổ, người Tây Nguyên gồm một bộ phận cư dân Melanesien, bị làn sóng người Indonesien do những cuộc chiến tranh bộ lạc mà tràn vào đất liền Việt Nam, cùng tiến lên cư trú ở cao nguyên miền Tây Có thuyết cho rằng thời thượng cổ nam Trung Quốc và Bắc Việt là nơi cư trú của các thổ dân da đỏ Austronesien, cũng do chiến tranh bộ lạc mà dạt ra các hải đảo ngoài biển và chạy lên dãy Trường Sơn

Người Êđê tự gọi mình là Anăk Aê ADiê, có nghĩa là con của Ông Trời Thần thoại Êđê kể rằng: ông tổ Aê Diê- ông trời đánh nhau với một con rồng Rồng bị giết chết và đốt xác, cháy cả đất thành đất đỏ bazan Aê Diê chia đất đai đó cho con cháu mình sinh sống và canh tác Người Êđê được gọi là người Rađê (Rhade) có nghĩa là người ở gốc tre, Rađê là tên gọi trước năm 1975 Êđê là cách gọi chính thức trong văn bản hành chính về các dân tộc thiểu số của Nhà nước Việt Nam Đây là

nhóm tộc người cư trú trên địa bàn Tây Nguyên có dân số đông thứ hai “Dân số

toàn tỉnh Đắk Lắk là hơn 1,77 triệu người, mật độ dân số đạt 135 người /km Về thành phần dân tộc, người Kinh chiếm trên 70%, các dân tộc thiểu số như Êđê, M’nông, Thái, Tày, Nùng… chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh.Trong các dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk thì người Êđê đông nhất với hơn 290 ngàn người” [4,

tr.373] Tộc người Êđê chia thành nhiều nhóm nhỏ địa phương, có các nhóm như: Kpă, Bih, Mdhu\r, Blô, Adham, Êban, Hwing, Dongmak, Kdrao, Krung, Ktu\l, Dliê, Banalô, Arul, Êning…và mỗi nhóm như vậy bao gồm nhiều dòng họ, người Êđê có trên 30 dòng họ có vùng cư trú riêng

Theo các nhà nghiên cứu Ngô Văn Lệ- Nguyễn Văn Tiệp- Nguyễn Văn Diệu

trong cuốn “Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”: “Tổ tiên của hai dân tộc Ê

Trang 27

đê và Gia rai di cư từ ven biển miền Trung lên chinh phục và khai phá miền cao nguyên Đắc Lắc và Plâycu Sự di chuyển lên miền núi của họ đã chia cắt khối cư dân ngành Ba na thuộc ngôn ngữ Môn- khmer vốn là cư dân bản địa thành hai bộ phận Bắc và Nam Dân tộc Ê đê với số dân là 194.710 người, cư trú chủ yếu ở Đắc Lắc, Gia Lai, Khánh Hòa, Phú Yên Dân tộc Gia rai với 242.219 người, là dân tộc

có số lượng dân cư đông nhất trong các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam Địa bàn cư trú chủ yếu là các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc Hai dân tộc Ê đê và Gia rai chịu ảnh hưởng của Chămpa Trong lịch sử của người Gia rai có nói đến danh xưng Thủy Xá, Hỏa Xá, như là những dấu hiệu của nhà nước sơ kì”[37, tr.17]

Trong công trình nghiên cứu “Tây Nguyên những chặng đường lịch sử văn

hóa”của Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Triết cho rằng: “ Vào thế kỷ thứ IV sau Công Nguyên, các bi ký Champa đã ghi chép về Tây Nguyên và hoạt động của các vương triều Champa đã để lại một số dấu vết văn hóa trên lãnh thổ Tây Nguyên, như: phù điêu tượng Phật ở Dak Đoak, các phế tích ở Ken Klor, Kon Hơngo, Plơiwae, Kon Jơdri (tỉnh Kon Tum); phù điêu tượng trí sĩ ở Dak Bằng huyện Krông Pa, phù điêu tượng Phật ở huyện Ayun Pa, những tháp Yan Mun, Dranglai ở gần Cheo Reo (tỉnh Gia Lai); Rasungbatau ở Buôn Ma Thuột, tháp bằng đất nung ở Ea Rốc, tháp Yang Prong ở Ea Súp, tháp Hòa Thành ở Krông Bông ( Dak Lăk), v.v…; vào thế kỷ thứ X, tên dân tộc Ê đê một cư dân bản địa sống lâu đời ở tỉnh Dak Lăk đã được ghi trên bi

ký Chăm; từ đầu thế kỷ XII, quân đội Champa đã mở đường hành quân tới thung lũng sông Ba rồi đóng tại Tây Nguyên, v.v…” [59, tr 94-95]

Như vậy, xét về lịch sử hình thành, thời gian, địa bàn cư trú, có thể nói rằng, người Êđê đã có mặt tại Đắk Lắk từ rất sớm Người Êđê đã nhanh chóng định cư và định hình cho mình một diện mạo riêng, một nét văn hóa riêng, đặc trưng, không pha tạp qua những biến thiên của lịch sử Văn hóa truyền thống Êđê đã trở thành một phần không thể thiếu của văn hóa Việt Nam, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú cho văn hóa Việt Với Đắk Lắk, người Êđê đã là “cư dân bản địa” từ thuở sơ khai Hay nói khác đi, họ chính là một trong những “chủ nhân” của vùng đất này Điều này giúp chúng ta hiểu vì sao người Êđê có hẳn một nền văn hóa riêng, đặc sắc, luôn được bảo tồn gần như toàn vẹn theo thời gian

Trang 28

1.1.2 Sự tồn tại của người Êđê ở huyện }ư\ Mgar

Có một điều khá thú vị và thi vị về vùng đất }ư\ Mgar này, đó là truyền thuyết

về tình yêu của của nàng H’Lăm với chàng Y Đhin Theo tương truyền của tộc

người Êđê, nếu ai dám đến chặt gỗ, phá rừng tại núi }ư\ HLăm (buôn Măp, thị trấn

Êa Pốk, huyện }ư\ Mgar, Đắk Lắk) đều gặp phải quả báo vì đã phạm vào lời nguyền tình yêu của nàng H’Lăm với chàng Y Đhin năm xưa

Thuở ấy, ở phía mặt trời mọc của đồi }ư\ HLăm (quả đồi ngày đó vẫn chưa có tên), có một buôn (làng) của người Êđê Kpă sinh sống Trong buôn có một cặp trai gái cùng dòng họ Niê yêu nhau tha thiết Chàng trai có tên là Y Đhin có cặp mắt đẹp

và hiền như mắt nai con, nhưng lại có sức khỏe như con trâu rừng, hay lam hay làm như con ong trên tổ Còn cô gái có tên là H’Lăm có bắp chân trắng như cây chuối bóc ba lớp vỏ, có giọng hát hay như con chim khướu trong rừng, có đôi tay dệt váy

áo nhanh như con chim cắt, đẹp như bông hoa pớt, hoa dơn nở bên dòng suối Êa Pôk trong xanh Hai người yêu nhau, nhưng không được hai bên bố mẹ thuận lòng,

vì họ có chung dòng họ Niê Theo phong tục, người trong dòng họ không được lấy nhau Nếu lấy nhau bị xem là hành vi báng bổ, loạn luân, sẽ bị Yang (Trời) phạt, khiến dân làng gặp nạn: có thể bị lửa thiêu rụi cả làng, bị dịch bệnh khiến cả làng chết sạch, bị hạn hán, hoặc mưa đá khiến mùa màng thất bát, cả làng chết đói… Nếu lấy nhau, họ sẽ bị làng phạt, phải nộp trâu trắng, heo trắng cho làng để cúng Yang,

họ phải ăn uống trong máng như con heo đực, heo cái… Vì sự ngăn cản của bố mẹ

và của cả dân làng, không lấy được nàng H’Lăm làm vợ, Y Đhin đau buồn bỏ làng

ra đi biệt tăm Nàng H’Lăm mất bóng người yêu cũng đêm ngày sầu thảm Nàng bỏ làng lên đồi cây ngồi gào khóc suốt ngày đêm Gào khóc ngày này qua ngày khác, đến nỗi cả khu đất chỗ nàng ngồi đầm đìa nước mắt và sau đó sụt lún như ta thấy ngày nay Khi đất sụt lún, nàng cũng tan biến vào trong đất đỏ và rừng xanh Y Đhin sau ba mùa rẫy bỏ làng ra đi, quá thương nhớ người yêu, chàng trở về làng định bụng sẽ đem người yêu bỏ trốn khỏi làng, tới một vùng đất thật xa để cùng nhau sinh sống Nhưng khi về làng, biết chuyện người yêu, Y Đhin tìm lên chỗ đất sụt lún, chỉ thấy một khe nước nhỏ chảy róc rách, như tiếng nỉ non than khóc âm ỉ

Trang 29

của người tình Không cầm lòng được, chàng cởi trần nhảy xuống khe nước, nằm ngâm mình cho đến lúc cơ thể chàng cũng tan biến vào trong lạch nước Hồn của hai người yêu nhau cùng nhập vào cây rừng, khiến cả đồi cây trở thành khu rừng thiêng Ai chặt cây ở đây về dựng chòi, chòi sẽ bị con voi rừng giẫm nát Ai chặt cây ở đây về dựng nhà, nhà sẽ bị cháy trụi Từ đó, dân làng không còn ai dám chặt cây ở đây, không dám phá rừng ở đây để làm rẫy Người ta bảo: sở dĩ khi bốn xung quanh còn nắng chang chang mà trên đồi lại lất phất mưa bay, ấy là lúc nàng H’Lăm khóc Cây lá ở đây có nhiều màu sắc đẹp, ấy là mùa nàng H’Lăm đang dệt váy áo Những khi hương hoa rừng toả ra thơm ngát, ấy là khi nàng H’Lăm đang gội tóc trên đồi Nàng không mất đi mà vẫn đang hiện hữu trên quả đồi, trên từng thân cây, trên từng sắc lá, trong từng mùi hương, trong từng tiếng chim hót Nàng linh thiêng lắm Chính vì vậy mà dân làng đặt tên cho quả đồi là }ư\ H’Lăm

Có nhiều dị bản khác nhau về câu chuyện tình yêu này, song, thông qua truyền thuyết này, cùng với những tác phẩm văn học khác của người Êđê, chúng ta có thể nhận ra nét đẹp trong văn hóa, tâm hồn, tính cách của tộc người Êđê Dù có những điểm nhìn bảo thủ (nhưng có lý), người Êđê vẫn rất khoan dung, phóng khoáng (thể hiện qua đoạn kết của chuyện) Điều này cho thấy, người Êđê về cơ bản vẫn là một dân tộc có tư tưởng khá thoáng, dễ tiếp thu cái mới nếu cái mới đó không vi phạm, không ảnh hưởng đến những gì thuộc về truyền thống, đã thành “chuẩn mực” của

họ Điều này cho thấy niềm tin, hy vọng rằng trong tương lai, Phật giáo sẽ được tộc người Êđê đón nhận một cách nhiệt tình và trân trọng

Huyện }ư\ Mgar nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột 18km về hướng Đông Bắc, có diện tích 82,443 héc ta, phía đông giáp huyện Krông Búk, phía tây giáp huyện Buôn Đôn, phía nam giáp thành phố Buôn Ma Thuột và huyện Krông Pắc, phía bắc giáp huyện Êa súp, Êa H’leo Với địa hình bằng phẳng, hệ thống suối trải đều khắp địa bàn và với hơn 70% diện tích là đất đỏ Bazan, thích hợp cho việc sản xuất các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su… Độ cao trung bình trong khu vực khoảng 350- 500m so với mặt nước biển Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm

Trang 30

sau Lượng mưa bình quân/năm 1.712mm Độ ẩm không khí bình quân 82%, mật

độ suối dày và phân bố đều khắp trên địa bàn Huyện có 82.443ha diện tích tự nhiên, trong đó diện tích đất lâm nghiệp 11.385ha ( rừng tự nhiên 10.587ha, còn lại là rừng trồng) Có 17 đơn vị hành chính, gồm 2 thị trấn: Quảng Phú, Êa Pốk và 15 xã: Quảng Tiến, Êa M’nang, Êa Kpam, }ư\ suê, Cuôr Dăng, Êa DRơng, Êa Tu\l, Êa Tar,

Êa H’Đing, Êa Kiết, Êa M’Droh, Quảng Hiệp, }ư\ Mgar, }ư\ DliêMnông, Êa Kuêh Với 184 thôn, buôn, tổ dân phố Dân số hiện nay là 164.897 người, gồm 24 dân tộc anh em cùng sinh sống, cơ cấu thành phần dân tộc chính như sau: dân tộc Kinh chiếm 58,57%, Êđê 36,42%, còn lại các dân tộc khác Trên địa bàn huyện có tổng

số 38.500 tín đồ tôn giáo, chiếm 23,34% dân số toàn huyện, trong đó Công giáo: 12.800 tín đồ, Phật giáo: 8.500 tín đồ; Tin lành: 17.700 tín đồ, Cao Đài: 250 tín đồ Trước năm 1984, huyện }ư\ Mgar thuộc huyện Krông Búk và Êa Súp đến ngày 23/1/1984 huyện }ư\ Mgar được thành lập theo quyết định số 15/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)[ 56]

Vào đầu thế kỷ XX, khi Henri Maitre đi qua vùng đất của người Êđê Adham đã

miêu tả lại những ngôi làng ở đây: “sầm uất, những ngôi nhà rộng thênh thang và

sạch sẽ tỏ rõ một sự an sinh hiển nhiên, văn hóa phong phú và rộng lớn, các đàn trâu đông đúc và người ta còn thấy một số ngựa đực và cái” [60, tr 79]

Ychen Niê trong bài viết Nghi lễ vòng đời của người Ê đê Adham ở buôn Triă trong

“Nghi lễ và phong tục các dân tộc người ở Tây Nguyên”, cho rằng: “Buôn Triă là

một trong 13 thôn buôn vùng sâu, vùng xa thuộc xã Êa Tul, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk Buôn Triă nói riêng và xã Êa Tul nói chung là địa bàn cư trú của người Ê

đê Adham Ở phía đông nam, có ngọn núi Cư Kdriêng, được coi là ranh giới giữa nhóm Ê đê Adham với Ê đê Kpă và Ê đê Ktul Ở phía đông bắc có ngọn núi như Cư Keh, CưDliê Mnông cũng được coi là ranh giới giữa nhóm Ê đê Adham và Ê đê Krung Với đặc điểm này, có thể nói người Ê đê Adham ở buôn Triă, có sự giao lưu

và ảnh hưởng văn hóa giữa các nhóm địa phương Ê đê và nhóm địa phương của tộc người khác, nội vùng và ngoại vùng, tạo nên mối quan hệ gần gũi về văn hóa” [58,

tr 101]

Trang 31

Người Êđê ở }ư\ Mgar thuộc nhóm Êđê Kpă và Êđê Adham Theo Linh Nga

Niê Kdam trong“Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên” cho rằng:“ nhóm Ê đê Kpă được coi là thuần chủng nhất Tập trung ở vùng thành phố

Buôn Ma Thuột và các huyện phụ cận như CưM’gar, Krông Buk, Krông Pak.” [43,

tr 51] “Do tính chất sinh hoạt tập thể (bầy đàn thời nguyên thủy), trong đời sống,

lễ này được tổ chức lần lượt trong từng gia đình Cũng có nơi tổ chức một lần cho

cả cộng đồng Ở huyện Cư M’gar, làng Kon Hring của người Sê Đăng duy trì hàng năm lễ đón lúa mới của cả cộng đồng vào ngày 1- 11 Trong lễ hội hoàn toàn do dân tự nguyện đóng góp này không bao giờ thiếu tiếng chiêng, trống, hát, múa, rượu cần, những trang phục và món ăn truyền thống” [43, tr 54]

Theo Y Chen Niê trong đề tài “Tín ngưỡng và những giá trị văn hóa đặc sắc

trong nghi lễ tang ma của người Ê đê Adham ở xã Êa Tul, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk lăk”thì: “Xã Êa Tul là một trong 15 xã, thị trấn thuộc huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk, xã Êa Tul nằm ở phía đông bắc tỉnh Đăk lăk, cách trung tâm huyện Cư Mgar 15km về phía đông bắc, huyện Krông Buk khoảng 17km về phía tây nam và trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột theo trục đường tỉnh lộ 8 khoảng 30 km Xã Eea Tul

là địa bàn sinh sống của người Ê đê Adham Ở phía bắc giáp vùng cư trú của nhóm

Ê đê Krung và tộc người Jrai, ở phía nam giáp nhóm Ê đê Kpă, Ê đê Ktul và các nhóm địa phương khác Với đặc điểm này, có thể nói người Ê đê Adham ở xã Êa Tul

có sự giao lưu và ảnh hưởng văn hóa giữa các nhóm địa phương Ê đê và nhóm địa phương của dân tộc người khác, nội vùng và ngoại vùng, tạo nên sự tương đồng về văn hóa, tuy nhiên, mỗi vùng lại mang nét đặt trưng riêng.” [58,tr 22]

Khảo sát trên phương diện địa lý, lịch sử, huyện }ư\ Mgar là nơi cư trú của phần đông người Êđê ở Đắk Lắk Đây là vùng đất của sự giao thoa, giao lưu văn hóa giữa các nhóm người Êđê Tại “giao điểm” này, các tôn giáo khác nhau có thể cùng tồn tại, đi vào lòng đồng bào dân tộc một cách hòa bình nhất, an lành nhất Đó là một trong những lý do luận văn chọn vùng đất này làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu

Trang 32

1.2 Khái quát về sự du nhập, ảnh hưởng của Phật giáo đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, người Êđê ở Đắk Lắk nói riêng

1.2.1.Quá trình hình thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk Lắk

Trải qua một quá trình hình thành và phát triển như ngày hôm nay, Phật giáo Đắk Lắk phải chuyển mình qua từng giai đoạn gắn liền với lịch sử hình thành của nước nhà Đắk Lắk trước kia là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ trù phú, nằm ở phía Tây Nam cao nguyên với những nhóm người dân tộc thiểu số nhiều nhất là dân tộc Êđê

Tỉnh Đắk Lắk được thành lập theo Nghị định ngày 22 tháng 11 năm 1904 của Toàn quyền Đông Dương và tách khỏi Lào, đặt dưới quyền cai trị của Khâm sứ Trung kỳ [76] Trước đó, vào ngày 1 – 4 - 1950, vua Bảo Đại ban hành dụ số 6 thành lập cao nguyên Trung phần, trong đó có Đắk Lắk, làm hoàng triều cương thổ

và có quy chế cai trị riêng

Vào ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra nghị quyết chia tỉnh Đắk Lắk thành hai tỉnh mới là Đắk Lắk và Đắk Nông, và từ đó tỉnh Đắk Lắk có điều kiện mới phát triển về kinh tế với 47 dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc mang một tín ngưỡng đặc thù theo phong tục tập quán của riêng mình

Những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỷ XX, dòng người di cư theo chính sách kinh tế mới từ miền xuôi lên miền cao nguyên để sinh sống lập nghiệp Một số người tại quê hương đã là Phật tử Họ đến vùng đất mới, nhưng trong thâm tâm hình ảnh ngôi chùa làng, hình ảnh các vị Thầy, vị Sư và Phật tử thân thương tại quê hương luôn ngự trị Tại nơi đất lạ xa quê này, với nhu cầu về đời sống tinh thần, họ

tự thành lập những tụ điểm sinh hoạt Phật giáo trong thôn xóm để hỗ trợ đời sống tinh thần, tín ngưỡng Khi ấy dân cư còn thưa thớt, các dân tộc thiểu số chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt, săn bắn, hái lượm với tập tục văn hóa luân canh luân cư

Tiếp nối sự nghiệp của chư Phật, chư Tổ, chư Tăng cũng đặt chân đến vùng đất đỏ đại ngàn này để giúp đỡ bà con trong đời sống Thiền sư Trí Nghiễm (pháp hiệu Thiện Minh), lúc bấy giờ được Giáo hội Phật giáo Trung phần giao trách nhiệm tổ chức công cuộc hoằng pháp ở các tỉnh Trung trung bộ và Tây Nguyên

Hội đồng khoa học tỉnh đã đánh giá kết quả tại giấy xác nhận số 466/XNKHCN-SHCN ngày 11/8/2016 của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk

Trang 33

Lắk thông qua tài liệu về tuổi thọ của cây Bồ đề tại xã Êa Na-huyện Buôn Đôn,

khẳng định: “Phật giáo du nhập đầu tiên tại Cao Nguyên Đaklak do các nhà Sư

Phật giáo Nguyên Thủy (Theravada) người Lào truyền sang, vào thập niên cuối của thế kỷ XIX tại huyện Buôn Đôn, tỉnh ĐakLak (khoảng năm 1900).”[5] Đây là

dấu ấn chứng tỏ Phật giáo đã đến với Tây Nguyên đại ngàn rất sớm

Đến những năm 1950, với 10 ngàn dân Đắk Lắk, tín đồ Phật giáo đã chiếm 65%, phần còn lại là Thiên Chúa giáo 20% và các tôn giáo khác của người dân tộc[73] Lúc này, Phật giáo dường như được lan truyền khắp Đắk Lắk, nhưng chưa

có một cơ sở chính thức để sinh hoạt Phật giáo Đắk Lắk bắt đầu khởi sắc khi ngôi chùa Khải Đoan được hình thành trên khu đất 7ha do cụ Bùi Huy (anh ruột bà Bùi Mộng Điệp) hiến cúng, dưới sự giúp đỡ của Đoan Huy Hoàng Thái hậu và sự gia hộ của đức Hội chủ Thích Tịnh Khiết Đây là ngôi chùa đầu tiên ở Đắk Lắk Năm

1953, sau khi xây dựng xong nhà Tổ chùa Khải Đoan (Ngày 15 tháng 12 năm Quý

Tỵ (1953) chùa được phong “ Sắc tứ Khải Đoan tự” Tên Khải Đoan là ghép hai chữ đầu “ Khải Định- Đoan Huy” (Khải Định Vương niên- Đoan Huy Hoàng Thái Hậu) Giáo hội Phật giáo Trung phần đã bổ nhiệm Đại đức Thích Đức Thiệu đảm nhiệm trụ trì chùa Từ đó chùa Khải Đoan trở thành trung tâm sinh hoạt

tu học của Phật giáo Đắk Lắk

Sau khi đất nước thống nhất, Phật giáo Đắk Lắk vượt qua được giai đoạn khó khăn và buổi đầu dần dần đi vào ổn định Đến năm 1986, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk Lắk mới được thành lập do Thượng tọa Thích Quang Huy làm Trưởng ban Trị sự tỉnh nhiệm kỳ I (1986 - 1991) và đồng thời là Trụ trì chùa Khải Đoan Theo thời gian dần dần thành lập được Giáo hội Phật giáo huyện như: Krông Pach, Krông Buk (Buôn Hồ) và }ư\ Mgar Tổ chức Phật giáo các huyện chủ yếu do cư sĩ đảm nhiệm Tuy điều kiện còn khó khăn về nhiều mặt nhưng Tăng, Ni tỉnh đã chung tay xây dựng Phật giáo Đắk Lắk và đưa vào hoạt động trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Trải qua 6 nhiệm kỳ, từ năm 1986 đến năm 2017, Phật giáo Đắk Lắk đã phát triển về mọi mặt như số lượng Tăng, Ni và các Tự viện tăng dần, các công tác hoằng pháp lợi sanh, công tác văn hóa…

Trang 34

Nhiệm kỳ I (1986-1990), Ban Trị sự có 12 thành viên, trong đó Tăng, Ni: 6

vị và cư sĩ: 6 vị

Nhiệm kỳ II (1990-1997), Ban Trị sự số lượng thành viên tăng lên 17 vị, trong nhiệm kỳ này thành lập được 3 ban đại diện Phật giáo huyện, ban Hoằng pháp

và ban Văn hóa

Nhiệm kỳ III (1997-2002), với 24 thành viên trong Ban Trị sự, 4 Ban đại diện Phật giáo huyện được thành lập, có 3 ban: Hoằng pháp, Văn hóa và Từ thiện xã hội

Thời gian của 3 nhiệm kỳ (1986 – 2002) là cả một quá trình tiếp nhận Tăng

Ni, củng cố tổ chức Giáo hội để đưa Phật giáo tỉnh đi vào sinh hoạt chung của Phật giáo cả nước

Đến nhiệm kỳ IV (2002-2007), Ban trị sự có 29 thành viên và thành lập thêm ban Hướng dẫn Phật tử

Nhiệm kỳ V (2007-2012), có 35 thành viên, 4 Ban trị sự huyện, Thị hội Nhiệm kỳ VI (2012-2017), là nhiệm kỳ có số lượng thành viên nhiều nhất với 46 vị, với 7 phân ban và 3 phân ban trực thuộc, có 10/15 Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố, thị xã, huyện được thành lập

Nhìn chung nhiệm kỳ V và VI, chư Tăng, Ni trong tỉnh đã tốt nghiệp tại các trường Phật học trong nước cũng như ngoài nước, phát tâm trở về quê hương Đắk Lắk để chung tay cùng Ban Trị sự hoạt động các công tác Phật thự Cuối nhiệm kỳ

VI, toàn tỉnh có: 564 Tăng Ni; khoảng 196 ngàn tín đồ Phật tử, 154 tự viện chính thức được nhà nước cho phép hoạt động tôn giáo Và nhiệm kỳ này cũng là nhiệm

kỳ áp dụng các Nghị quyết và Chương trình hoạt động đã được thông qua tại Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, các công tác được triển khai trong khắp tỉnh với những thuận lợi mới

Nhiệm kỳ VI là nhiệm kỳ đánh dấu mốc phát triển vượt bậc khi Phân ban Hướng dẫn Phật tử dân tộc hoạt động, được công nhận sinh hoạt chính thức vào năm 2013 Đây là một phân ban chỉ toàn Phật tử dân tộc ít người nên không tập trung, địa bàn hoạt động rộng, nằm rải rác trong các buôn làng xa xôi Lúc đầu số lượng Phật tử chỉ mới vài chục người, nhưng đến nay số lượng Phật tử quy y Tam

Trang 35

bảo lên đến gần 2000 người, chủ yếu tập trung tại các huyện }ư\ Mgar, huyện Lắk, huyện Krông Pắc…

Đến nay Phật giáo Đắk Lắk sống trong tinh thần đoàn kết, hòa hợp với sự nỗ lực của Tăng Ni và Phật tử; dưới sự quan tâm chỉ đạo của Ban Thường trực Giáo hội Phật giáo Việt Nam; cùng với sự cho phép và tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước, Phật giáo Đắk Lắk đang trên đà phát triển và thu được những thành tựu đáng kể

1.2.2 Phật giáo đến với tộc người Êđê

Nói đến quá trình Phật giáo đến với tộc người Êđê, phải kể đến sư Giác Sỹ - người có công đầu trong việc truyền bá Phật giáo đến với tộc người Êđê Vào những năm 1980, có vị Phật tử pháp danh Thiện Ý vào buôn Su\t Mdrang quen với hộ gia đình Y Sê Niê và Y Heo Ê Ban, lúc đầu vị đó giúp đỡ người đồng bào trong đời sống, cho thuốc khi có người bị bệnh và chỉ cách làm cà phê, trồng tiêu, khuyên họ dời chuồng nuôi gia súc từ dưới nhà sàn ra bờ rào hay khu đất phía sau nhà, sống giữ gìn vệ sinh chung v.v…rồi rủ mọi người cùng đi về chùa, tịnh xá tập

tu mỗi khi có lễ hoặc vào các ngày 14, 15, 30, 01 Sau đó, Thiện Ý đi xuất gia học đạo với sư Giác Dũng tại tịnh xá Ngọc Quang ( 22 Đoàn Thị Điểm, tổ dân phố 4, phường Thắng Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột) và có pháp hiệu là Giác Sỹ Lúc bấy giờ Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk Lắk vừa thành lập ( 1986), Hòa Thượng Thích Quang Huy làm Trưởng Ban Năm 1987, sư Giác Sỹ lại vào buôn giúp đỡ hướng dẫn đồng bào tu tập Tại đây, gia đình Y Heo Ê Ban đã cúng cho Sư một lô đất trong vườn khoảng năm trăm mét vuông để Sư dựng một ngôi nhà sàn thờ Phật Sau khi nhà sàn được dựng lên, có khoảng 20 hộ gia đình ( theo văn hóa của người Êđê mỗi hộ gia đình sống chung trong một nhà sàn có khi hơn mười thành viên) về đây tu tập Sư bắt đầu hướng dẫn mọi người ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật Sư giảng giải cho đồng bào hiểu về luật nhân quả, khuyên đồng bào sống hiếu kính ông bà tổ tiên, tập ăn chay Ban đầu, Sư gặp khá nhiều khó khăn

để thuyết phục tộc người Êđê đồng thuận và thực hành theo những gì được dạy trong giáo lý nhà Phật Khó khăn ấy chủ yếu là do đặc trưng văn hóa và luật tục của người Êđê Tộc người Êđê vốn theo tín ngưỡng đa thần (vạn vật hữu linh) nên tất cả

Trang 36

các nghi lễ trong đời sống đều phải cúng tế Có lễ một con gà, có lễ một con heo ba ché rượu, có lễ một con heo năm ché rượu, có lễ một con heo bảy ché rượu, có lễ cúng tới trâu.v.v… Với người Êđê, vật cúng tế là cách để đồng bào thể hiện sự tôn kính chư thần, đồng thời, trong mỗi nghi lễ và vật tế lễ ấy còn chứa đựng cả lời nguyện cầu, mong ước một cuộc sống ấm no, an lành, phồn vinh cho buôn làng Hơn nữa, người Êđê theo văn hóa nương rẫy, lao động chân tay là chính nên cần phải ăn uống nhiều mới khỏe Họ quan niệm muốn khỏe thì phải ăn uống nhiều thịt

Do đó, rất khó để “nói” cho đồng bào đồng thuận với chủ trương ăn chay trưởng dưỡng tâm từ trong mỗi con người Nhưng, bằng sự kiên trì, lòng yêu thương, thái

độ chân thành, tận tâm của chính mình, sư Giác Sỹ đã dần dần thuyết phục được đồng bào thực tập ăn chay hiểu và bỏ đi các nghi lễ không phù hợp (ví dụ như có bệnh thì phải đi khám và uống thuốc mới hết không cần phải cúng) Tiếp đến về tâm linh về tín ngưỡng đa thần nếu khuyên bảo họ quay về nhất thần là khó Nhưng nhờ trong thời gian tiếp xúc với đồng bào Sư đã học được tiếng của tộc người Êđê nên giải thích cho hiểu rõ về Yang Phật “ Yang Phật tốt lắm hay giúp đỡ mọi người!” Khi người Êđê đề cập đến các Yang cõi trời, sư giảng giải Phật giáo cũng đề cập đến cõi trời Sư kể những câu chuyện trong Kinh Địa tạng nói về Yang Phật cũng từng lên cõi trời để thuyết pháp độ Hoàng hậu Ma Gia (Hoàng hậu Ma Gia sau khi sinh Thái Tử Sĩ Đạt Đa được bảy ngày thì chết về cõi trời Đao Lợi, ở cõi trời Đao Lợi tuy đầy đủ phước báu nhưng vẫn khổ vì sau khi hưởng hết phước rồi vẫn phải chịu sinh tử luân hồi trong sáu cõi) Khi đề cập đến các Yang thần sông thần núi, thần suối thần đất… Sư nói trong Phật giáo cũng có vị thần như Vân, Lôi, Âm, Điện sau này các thần đó được đưa vào chùa thành chùa Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện Khi đề cập đến các Yang tầng dưới đất, Sư kể câu chuyện trong kinh Vu Lan Bồn nói về hiếu hạnh của Đức Mục Kiền Liên sau khi tu tập chứng được thần thông, Ngài đi xuống địa ngục tìm mẹ Còn nói đến luật tục thì tộc người Êđê coi luật tục như một nguyên tắc sống về những qui định thờ cúng tổ tiên, không được trộm cắp, ngoại tình, giữ gìn bến nước vv Thì trong Phật giáo cũng có những giới cấm như: không được sát sanh, không được trộm cắp, không được tà dâm, không

Trang 37

nói dối v.v Như vậy, nhìn chung trong quan niệm về đời sống văn hóa của tộc người Êđê và văn hóa phương tiện của Phật giáo cũng có nét tương đồng gần gũi

Cho nên, từ đó tộc người Êđê hiểu, chấp nhận và quy y với Yang Phật “ Lúc đầu

vài gia đình tập trung nghe Sư giảng, sau đến 20 gia đình Khi hiểu được đạo, 70 người trong buôn xin quy y Tam Bảo và cúng dường nhà đất để lập Niệm Phật đường Hiện nay, hằng đêm nơi đây đều có Phật tử tụng kinh.” [46, tr 881]

Nhân dịp tết nguyên đán Năm 1989, Hòa thượng Thích Giác Dũng lúc bấy giờ là Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Viêt Nam tỉnh Đắk Lắk cùng chư Tăng đến thăm và tặng quà cho đồng bào dân tộc Êđê tại buôn Su\t Mdrang, xã }ư\ Sưê, huyện }ư\ Mgar Hòa Thượng đã tán thán và khích lệ tinh thần tu học của bà con đồng bào nơi đây Với tinh thần chiếu cố quan tâm như vậy nên đầu năm 1990, trong lễ Thượng nguyên (Rằm tháng Giêng), 30 người dân tộc Êđê đã về tịnh xá Ngọc Quang tại thành phố Buôn Ma Thuột xin phát nguyện quy y Tam bảo Cố Hòa thượng Thích Giác Dũng đã chứng minh truyền giới quy y Đây là những người dân tộc thiểu số quy hướng Tam bảo đánh dấu một nét riêng, một bước phát triển mới của Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk Lắk Năm 2004, Ban Trị sự Phật giáo

tỉnh Đắk Lắk kết hợp với Ban Hoằng pháp soạn dịch quyển “Lịch Sử Đức Phật

Thích Ca và giáo pháp của Ngài” chuyển ngữ sang tiếng dân tộc Êđê và “Nghi

Thức Tụng Niệm” song ngữ “Việt – Êđê” để cho người Êđê dễ dàng thọ trì, sư

Giác Sỹ lúc bấy giờ là Phó Ban Hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk Lắk và là người chịu trách nhiệm soạn dịch hai quyển sách này Có thể nói công tác tổ chức sinh hoạt tu tập của tộc người Êđê tại buôn Su\t Mdrang đã đi vào nền nếp và định kỳ vào những chủ nhật hàng tuần bà con tập trung về để tụng kinh niệm Phật và chia sẻ Phật pháp

Sau này, sư Giác Sỹ không ở tịnh xá Ngọc Quang mà về trông coi tịnh xá Ngọc Khánh ( thôn 4, xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk), cũng từ đây Sư không còn đủ duyên vào buôn hàng tuần để giúp đồng bào Nhưng với bản chất thật thà chất phác và hiểu được lợi ích của việc tu tập, từ đó đến nay hơn mười năm, tộc người Êđê ở buôn Su\t Mdrang xã }ư\ Sưê vẫn duy trì cứ chủ

Trang 38

nhật hàng tuần tập trung về tại ngôi thất của Sư làm ngày xưa để tụng kinh niệm Phật ngồi thiền và phát nguyện một tháng ăn chay 4 ngày Song song với đà phát triển của Phật giáo tỉnh Đắk Lắk, các tự viện ở các huyện vùng sâu, vùng xa khác cũng đã tích cực hoằng pháp và tổ chức hướng dẫn bà con người dân tộc thiểu số về chùa, tịnh xá quy y và tu tập Vào những năm 2001, 2004 một bộ phận người dân tộc thiểu số các buôn ở Đắk Lắk xuống đường biểu tình nhưng tộc người Êđê ở buôn Su\t Mdrang khoảng 20 hộ theo Phật giáo không tham gia Lý do mà đồng bào

ở đây đưa ra để giải thích đó là, họ đã thấm nhuần tư tưởng vô ngã, không hơn thua tranh chấp mà Phật đã dạy thông qua chư tăng truyền đạt Đây có thể xem là một

“thành công” lớn của Phật giáo trên hành trình lan tỏa, thâm nhập vào đời sống văn hóa tinh thần của người Êđê nơi đây Một điểm đáng chú ý mà Phật giáo không thể

bỏ qua được đó là tinh thần dấn thân của các vị Phật tử rất tâm huyết với việc muốn đưa ánh sáng Phật pháp đến với đồng bào dân tộc thiểu số Việc này phải kể đến cô Nguyễn Thị Phấn pháp danh Minh Nhu, Cô quy y và học đạo với thầy Chơn Quang (trụ trì chùa Phật Quang ở Núi Dinh, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) Sau biến cố năm

2001, Thượng tọa Thích Chơn Quang có một bài pháp với tựa đề là “Kinh-

Thượng” Cô Minh Nhu và một số bạn đồng tu đã hết lòng ủng hộ và dấn thân vào

các buôn làng để giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số tu tập Với tất cả tình thương vì đạo pháp Cô và các bạn đồng tu vượt qua bao thử thách, lập được các đạo tràng tu tập cho đồng bào tại các buôn như: buôn Huk B, buôn Cháy, buôn Chua….Sau này, tất cả đạo tràng các buôn được hướng dẫn về chùa Hoa Nghiêm huyện }ư\ Mgar tu tập vào chủ nhật tuần đầu của tháng

Một điểm đặc biệt đáng ghi nhận là sự hòa hợp, gắn kết giữa nghi lễ Phật giáo và văn hóa nghi lễ của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên: Mỗi dịp lễ lớn của giáo hội tổ chức đều có sự tham gia của đội cồng chiêng đón rước với sự hài hòa giữa nghi lễ Phật giáo và văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên Tiếp nối tinh thần Phật giáo đến với đồng bào dân tộc thiểu số, chùa Phước Bình, huyện Krông Păk hàng tuần tổ chức khóa tu “Một ngày an lạc” dành cho đồng bào dân tộc mỗi tuần một lần, trung bình khoảng 100 lượt người tu học, với nghi lễ đan xen Kinh –

Trang 39

làm bằng ống tre Chùa Hoa Nghiêm ở huyện }ư\ Mgar với khẩu hiệu trong hai câu

đối trước hai trụ cổng là: “ Nhà bất biến không kể Thượng Kinh cồng chiêng chuông

trống trầm bổng thảy là lời diệu Pháp Cửa tùy duyên chẳng phân thiền tịnh lớn nhỏ nhanh chậm trước sau đều đến cõi chân như” [19, tr 289] Chùa hàng tháng tổ chức

khóa tu “Một ngày an lạc” dành cho dân tộc thiểu số Êđê mỗi tháng một lần Trung bình khoảng 300 lượt người tham gia tu tập với các nội dung như: Tụng kinh, kinh hành niệm Phật, ăn cơm trong chánh niệm, ngồi thiền và chia sẻ Phật pháp Bên cạnh đó còn có chùa Quảng Trạch, huyện Lắk vị trụ trì chùa dạy đồng bào hãy xem đây là “ngôi nhà chung” nên Phật tử người dân tộc tập trung về đây xây dựng chăm lo công việc của chùa như công việc cho gia đình và tối về tụng kinh hàng đêm

Ghi nhận gần đây nhất là buổi khai giảng “Khóa tu trẻ” cho thanh thiếu niên

dân tộc thiểu số tổ chức vào sáng ngày 29/10/2017 (nhằm ngày 10/10/ Đinh Dậu), tại

chùa Quảng Trạch huyện Lắk, với sự chứng minh và gia hộ của Hòa thượng Thích Châu Quang, Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk Lắk, cùng chư tôn đức giáo phẩm, chư tôn đức trụ trì trong và ngoài huyện về tham dự và đặc biệt là hơn 300 em nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số Êđê trong độ tuổi từ 10-20 tham dự khóa tu này

Ngày khai giảng với sự tham gia đông đảo của Phật tử người dân tộc thiểu số là cha mẹ của các em và các mạnh thường quân xa gần cũng có mặt tham dự Huyện Lắk, mặc dù chỉ có 3 tự viện chính thức được sinh hoạt trong lòng Giáo hội, Tăng Ni cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay, nhưng các công tác Phật sự, đặc biệt là các công tác từ thiện đối với tộc người Êđê đã được các chùa quan tâm, thường xuyên tổ chức các chuyến từ thiện, trao tặng nhà tình thương, trao học bổng, tặng quan tài cho gia đình có tang chế Và nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Lắk đã mạnh dạn tổ chức khóa

tu cho thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số để góp phần vào sự nghiệp trồng người

và nuôi dưỡng tính thiện trong tâm hồn những chủ nhân tương lai của đất nước, đây là việc làm hết sức có ý nghĩa Khóa tu sẽ được duy trì mỗi tháng một lần vào các ngày chủ nhật và sẽ luân phiên tại các chùa trong huyện

Như vậy, có thể thấy rằng, Phật giáo đã từng bước tạo được những chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Êđê tại Đắk Lắk nói riêng

Trang 40

và Tây Nguyên đại ngàn nói chung Với những đổi thay ấy, tin rằng, trong tương lai không xa, hình ảnh Đức Phật, mái chùa, âm vang của những tiếng chuông, hồi kinh

sẽ trở thành một phần của văn hóa tâm linh người Êđê

Tiểu kết chương 1

Tóm lại, tộc người Êđê là tộc người có nguồn gốc từ vùng biển đảo thuộc ngữ hệ Nam Đảo ( Austronesien) rồi di cư và có mặt tại vùng đất Tây Nguyên rất sớm Người Êđê đã nhanh chóng định cư và định hình cho mình một diện mạo riêng, một nét văn hóa riêng, đặc trưng, không pha tạp qua những biến thiên của lịch sử Văn hóa truyền thống Êđê đã trở thành một phần không thể thiếu của văn hóa Việt Nam, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú cho văn hóa Việt Với Đắk Lắk, người Êđê được xem như “cư dân bản địa” từ thuở sơ khai theo dòng lịch sử, người Êđê đã tự “định hình văn hóa” cho chính mình với những đặc trưng độc đáo trong sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học, kiến trúc… Đến muộn hơn một chút trong dòng chảy văn hóa của người Êđê ở Đắk Lắk, song Phật giáo đã góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống tinh thần của đồng bào

Từ trước đến nay các nhà nghiên cứu chỉ chú trọng vào ảnh hưởng của tôn giáo đối với dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng là Tin lành và Công giáo dường như bỏ qua Phật giáo Trong khi đó, dù không đại trà nhưng Phật giáo vẫn len lỏi và tồn tại trong đời sống tộc người, đặc biệt là tộc người Êđê Đến nay Phật giáo Đắk Lắk sống trong tinh thần đoàn kết, hòa hợp với sự nỗ lực của tăng, ni và Phật tử; dưới sự quan tâm chỉ đạo của Ban Thường trực Giáo hội Phật giáo Việt Nam; cùng với sự cho phép và tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước, Phật giáo Đắk Lắk đang trên đà phát triển và thu được những thành tựu đáng kể

Trong quá trình hội nhập văn hóa, Phật giáo đã thể thiện hiện được tinh thần

“tùy duyên bất biến” nghĩa là tùy theo văn hóa địa phương mà truyền giáo nhưng vẫn giữ được hương vị, đó là hương vị giải thoát Bên cạnh đó, Phật giáo đã tạo được sự hòa hợp, gắn kết giữa nghi lễ Phật giáo và văn hóa nghi lễ của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Mỗi dịp lễ lớn của giáo hội tổ chức đều có sự tham

Ngày đăng: 21/06/2018, 16:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w