Ngoài ra, để khuyến khích tính tự giác chấp hành nghĩa vụ trong Bản án, Quyết định của người phải thi hành án, nhằm bảo đảm quyền lợi của họ, không chỉ người được thi hành án mà cả người
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN KIM LIỄU
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hứa Sỹ Sơn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ…… 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự .6 1.2 Một số thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự…… 11
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự 34
Kết luận chương 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG THỦ TỤC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NAM ĐỊNH 41
2.1 Thực trạng pháp luật về thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự 41
2.2 Thực trạng thực hiện thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự qua thực tiễn tại tỉnh Nam Định 53
2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập thực hiện thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự 61
Kết luận chương 2 66
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỦ TỤC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 67
3.1 Quan điểm về hoàn thiện thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự 67
3.2 Giải pháp hoàn thiện thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự 70
Kết luận chương 3 75
KẾT LUẬN………… 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 4PLTHADS : Pháp lệnh thi hành án dân sự
THADS : Thi hành án dân sự
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ
án nói riêng và trong hoạt động tư pháp nói chung Bản án, quyết định của Tòa án sẽ chỉ là phán quyết trên giấy, nếu nó không được thực thi trên thực tế Hoạt động THA nói chung và THADS nói riêng có hiệu quả sẽ góp phần bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
Trong những năm qua, công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Nam Định đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận; nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng lâu năm đã được tổ chức thi hành dứt điểm; một số án lớn, tính chất phức tạp, ảnh hưởng lớn về kinh tế, trật tự an toàn xã hội cũng đã được chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo Kết quả đạt được nói trên phản ánh sự cố gắng, nỗ lực của đội ngũ cán bộ thi hành án dân sự nói riêng, sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương; sự phối hợp chặt chẽ của các ngành hữu quan trong việc thực hiện pháp luật thi hành án dân sự
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, cũng như nhiều huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh, thực trạng thực hiện pháp luật thi hành án dân sự
ở tỉnh Nam Định vẫn còn nhiều bức xúc, bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Lượng án tồn đọng qua các năm vẫn còn nhiều Nhiều bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được tổ chức thi hành Tình trạng trên có nhiều nguyên nhân khác như: Pháp luật thi hành án dân sự hiện hành còn thiếu tính khả thi, nhiều điểm còn chưa rõ ràng, bất cập, quy định của pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn, tạo ra trở lực cho quá trình thi hành án và chưa thực sự bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì vậy Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự 2008 đã có hiệu lực thi hành 01/7/2015, có nhiều điểm mới về thủ tục thi hành án dân sự
Trang 6Chính vì lẽ đó mà tác giả lựa chọn đề tài “Thủ tục trong hoạt động thi
hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Nam Định” để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi Luật thi hành án dân sự năm 2008, THADS đã được quan
tâm nghiên cứu trong các công trình như Luận văn Thạc sĩ “Hoàn thiện pháp
luật thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn Thanh Thủy năm 2001; Luận
văn Thạc sĩ “ Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn năm 2004… Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, “Một số vấn
đề về hoàn thiện pháp luật Thi hành án dân sự” của Trường Đại học Luật Hà
Nội năm 2004, Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ, “Bình luận
PLTHADS năm 2004” của Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp năm 2006…
và rất nhiều công trình nghiên cứu khác
Từ khi Luật thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực pháp luật đến nay, việc nghiên cứu về THADS đã được quan tâm đáng kể hơn nữa Năm 2011 có
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường về “Những điểm mới của Luật THADS năm 2008” của Trường đại học Luật Hà Nội do Tiến sỹ Bùi Thị Huyền làm chủ nhiệm Ngoài ra trên sách báo pháp lý, các diễn đàn pháp luật
từ năm 2009 đến nay cũng có rất nhiều bài nghiên cứu, trao đổi về THADS, trong đó có thủ tục thi hành án dân sự Cũng có thể kể đến những nghiên cứu khác như cuốn sách tham khảo “Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật THADS Việt Nam” – tác giả Tiến sỹ Lê Thu Hà – học viện Tư pháp viết, xuất bản năm 2011, hay các bài viết trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề
về thi hành án dân sự các tháng 2/2012, tháng 4/2012, tháng 12/2012, tháng 03/2014; số chuyên đề tháng 6/2012 về thi THADS tồn đọng; số chuyên đề tháng 12/2013 về thực hiện Luật Thi hành án dân sự…và rất nhiều các bài viết khác trong các sách báo, tạp chí nghiên cứu về thủ tục thi hành án dân sự như Tạp chí nghề luật của Học viện Tư pháp, Tạp chí nghiên cứu lập pháp…
Trang 7Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp, Bộ Tư pháp đã ban hành dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự 2008 Luật đã được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2014) và được biểu quyết thông qua và kỳ họp thứ 8 ngày 25/11/2014 và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2015
Trên cơ sở các nghiên cứu trước đó, luận văn của tác giả sẽ tiếp thu những vấn đề cần thiết đưa vào nội dung nghiên cứu và nghiên cứu sâu hơn
về thủ tục thi hành án dân sự, với việc đưa khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và đặc biệt là phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng thủ tục thi hành án dân sự tại tỉnh Nam Định từ khi Luật thi hành án dân sự năm 2008 ra đời cho đến nay, chỉ ra những bất cập, đề xuất những đóng góp cho quá trình sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa trên kết quả nghiên cứu, mục đích của Luận văn là phân tích, đánh giá một số thủ tục thi hành án dân sự, nêu ra những hạn chế, bất cập và đề xuất quan điểm hoàn thiện pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự:
- Phân tích được những vấn đề lý luận và thực tiễn của thủ tục THADS
- Đánh giá thực trạng, hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự tỉnh Nam Định
- Đưa ra các quan điểm cá nhân đánh giá Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014 cũng như đề xuất các giải pháp có tính khả thi cao nhằm bảo đảm việc thực thi pháp luật thi hành án, nâng cao hiệu quả công tác THADS
- Đưa ra các quan điểm cá nhân về việc sửa đổi, bổ sung pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự, góp ý về một số vấn đề liên quan đến thủ tục thi hành án dân sự trong Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; cũng như đề xuất các giải pháp có tính khả thi cao nhằm bảo đảm thực thi pháp luật thi hành án dân sự, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự, pháp luật về thi hành án dân sự thực tiễn áp dụng thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Nam Định hiện nay và các giải pháp hoàn thiện pháp luật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thủ tục thi hành án bao gồm rất nhiều thủ tục khác nhau, cho nên phạm vi của đề tài rất rộng, với phạm vi của một luận văn thạc sỹ, tác giả không đi sâu vào tìm hiểu hết tất cả các thủ tục thi hành án dân sự mà chỉ đi sâu vào một số thủ tục cụ thể, nổi bật theo Luật thi hành án dân sự năm 2008
đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đó là các thủ tục: Thủ tục ra quyết định thi hành án theo đơn và thủ tục thi hành án chủ động của cơ quan thi hành án dân sự; thủ tục xác minh thi hành án; thủ tục ủy thác thi hành án Về phạm vi địa giới: tỉnh Nam Định
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Các phương pháp cụ thể được sử dụng kết hợp đó là: Phương pháp
nghiên cứu lịch sử, phương pháp so sách, phương pháp thống kê tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận, làm
cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự
Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để giúp cho cơ quan có thẩm quyền tham khảo trong việc triển khai và thực hiện có hiệu quả thủ tục thi hành án dân sự Ngoài ra, những kiến thức khoa học trong luận văn sẽ có giá trị làm tài liệu tham khảo cho cán bộ, chấp hành viên tỉnh Nam Định vận dụng trong thực tiễn
Trang 97 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1- Những vấn đề lý luận và pháp luật về thủ tục trong hoạt động
thi hành án dân sự
Chương 2- Thực trạng thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự qua
thực tiễn tại tỉnh Nam Định
Chương 3- Quan điểm, giải pháp hoàn thiện thủ tục trong hoạt động
thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Nam Định
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ THỦ TỤC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thủ tục trong hoạt động thi hành
án dân sự
Thủ tục thi hành án dân sự là phương thức, cách thức giải quyết công
việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thi hành các BA, QĐ về dân sự, hôn nhân
và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định về hình
sự, hành chính và quyết định khác do cơ quan, tổ chức THADS thực hiện theo quy định pháp luật
“Thủ tục” xét về mặt ngôn ngữ có nghĩa là “những việc cụ thể phải làm
theo một trình tự đã được quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [14, tr.905] Trình tự là “sự sắp xếp thứ tự trước sau” [14, tr.934]
“Thi hành án” Trong khoa học pháp lý được hiểu là việc đưa các BA,
QĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế Bản án, Quyết định của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính… Có thể nói, THA được coi
là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước Bởi lẽ, thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền lực của Nhà nước, mặt khác lại là công cụ hữu hiệu để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi bị xâm hại Trong các công trình nghiên cứu khoa học về thi hành án, có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm THA:
Có quan điểm xem thi hành án là một giai đoạn tố tụng, đây là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự Quan điểm cho rằng thi hành án là giai đoạn kết thúc của tố tụng mà
Trang 11trong đó cơ quan thi hành án đưa các Bản án, Quyết định đã có hiệu lực thi hành
ra thi hành nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Có quan điểm lại cho rằng thi hành án là một hoạt động mang tính chấp hành và điều hành Quyết định của Tòa án – cơ quan tư pháp – mang tính chất của hoạt động quản lý hành chính – tư pháp Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi không phải là Tòa án Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang tính hành chính – tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động và một phần của thi hành án hình sự đối với loại hình phạt không phải hình phạt tù…)
Quan điểm của tác giả đồng nhất với quan điểm cho rằng:“Thi hành án là
thủ tục tố tụng tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành để thi hành Bản án, Quyết định của Tòa án hoặc Quyết định của cơ quan Nhà nước, tổ chức khác do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân.” [25, tr.14]
Thi hành án bao gồm thi hành án hình sự và thi hành án dân sự Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn về thủ tục thi hành án dân sự, các quan điểm trên về thi hành án đều có những điểm hợp lý, song dù theo quan điểm nào thì thủ tục thi hành án dân sự có đặc điểm sau:
Thi hành án dân sự là cách thức, trình tự tổ chức thi hành BA, QĐ dân sự
có hiệu lực thi hành được pháp luật quy định, bao gồm nhiều thủ tục khác nhau
Thủ tục thi hành án dân sự do pháp luật quy định, quá trình THADS thực hiện thông qua nhiều thủ tục và theo một trình tự nhất định Thủ tục thi hành án dân sự bao gồm nhiều bước để đưa một Bản án, Quyết định của Tòa
án ra thi hành
Đầu tiên là thủ tục cấp Bản án, Quyết định của Tòa án cho đương sự và chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành; tiếp theo đến thủ tục yêu cầu thi hành án của đương sự, nộp đơn yêu cầu thi hành án, thủ tục nhận hoặc từ chối nhận đơn của cơ quan thi hành án dân sự; thủ tục ra Quyết định
Trang 12thi hành án của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, trong quá trình thi hành án có thể phát sinh các thủ tục như xác minh… cho đến chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án, nộp phí thi hành án…rồi cuối cùng kết thúc thi hành án Trong quá trình thi hành án dân sự, ở mỗi giai đoạn thực hiện từng thủ tục là khác nhau và các thủ tục này liên kết toàn bộ quá trình thi hành án dân sự
Thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự là thủ tục nhằm thi hành phán quyết của các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, xét xử chính là
tiền đề của THADS Hoạt động thi hành án được tiến hành dựa trên nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trọng tài, Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh Nói cách khác, căn cứ pháp lý để thi hành án là bản án, quyết định của các cơ quan nói trên đã có hiệu lực pháp luật Ngược lại, THADS tiếp nối với xét xử làm bản án, quyết định được thực hiện trên thực
tế Sau khi có bản án, quyết định của tòa án, trọng tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trên cơ sở của bản án, quyết định do tòa án và các cơ quan này chuyển giao hoặc đơn yêu cầu THA của đương sự, cơ quan thi hành án dân sự
ra quyết định thi hành và thụ lý, tổ chức việc thực hiện thi hành án Tuy nhiên THA lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan THADS đối với THADS Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc THA Các cơ quan, tổ chức, công dân trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả Nhằm bảo đảm hiệu lực thi hành của các bản án, quyết định của các cơ quan Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, hiện nay nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan này được quy định tại các Điều từ Điều 465 đến 467 Bộ luật TTDS năm 2015, Điều 66
và 67 Luật trọng tài thương mại, từ Điều 134 đến Điều 135 Nghị định số
Trang 13116/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh và các Điều 26, 27, 28, 48, 49 và 179 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014
Thi hành án dân sự ở Việt Nam giao cho cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp thực hiện
Mặc dù có sự lệ thuộc và chịu sự chi phối vào giai đoạn xét xử, nhưng THA cũng mang tính độc lập Ở giai đoạn THA, tính chất tố tụng đã chấm dứt, bởi vì khi Bản án, Quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì có nghĩa là chức năng xét xử đã hoàn thành, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử rõ ràng Để đảm bảo hiệu quả của THADS thì cơ quan THADS
và chấp hành viên phải thực hiện thủ tục THA một cách độc lập và không cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án dân sự Cơ quan, tổ chức THA phải tuân thủ đúng thủ tục THA trong quá trình tổ chức việc THA
Cơ sở của hoạt động THA là các Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành; bản án, quyết định do các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh sau khi được tuyên sẽ được cơ quan THADS thi hành Ở Việt Nam, ngoài cơ quan THADS của Nhà nước còn có tổ chức Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại TP Hồ Chí Minh và hiện nay được nhân rộng ra phạm vi các nước theo Nghị định số 107 ngày 26/11/2015, thì một số thủ tục THADS do Văn phòng thừa phát lại thực hiện như: Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan THADS; xác minh điều kiện THA theo yêu cầu của đương sự; trực tiếp tổ chức THA các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự Thừa phát lại không tổ chức THA các Bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng
cơ quan THADS chủ động ra quyết định THA
Tòa án có trách nhiệm gửi bản án, quyết định tới cơ quan THADS và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm Thủ tục THA do cơ quan THADS thực hiện từ việc ra quyết định thi hành án, hoãn, tạm đình chỉ THA, việc cưỡng chế THA, …cho đến khi kết thúc THA Cơ quan THA là cơ
Trang 14quan chuyên trách để thực thi các Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành trên thực tế Việc ra quyết định THA để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của đương
sự do Thủ trưởng cơ quan THADS đảm nhiệm Trước đây, pháp lệnh THADS 1989 việc ra quyết định THA còn do Chánh án Tòa án sơ thẩm xét
xử vụ án, điều này dẫn đến việc chồng chéo và gánh nặng cho Tòa án, từ pháp lệnh năm 1993, pháp lệnh THADS 2004 và Luật THADS năm 2008 hiện nay, việc THA chỉ do cơ quan chuyên trách thi hành án thực hiện, đảm bảo tính
công bằng, khách quan
Ý nghĩa của việc xây dựng thủ tục thi hành án dân sự
Thứ nhất, thủ tục THADS là cơ sở pháp lý đảm bảo thi hành BA, QĐ
có hiệu lực thi hành và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật
Kết quả của quá trình xét xử là giải quyết các tranh chấp và đưa ra các
BA, QĐ có hiệu lực thi hành Nhưng những bản án, quyết định đó, nếu không được đưa ra thi hành thì chỉ là phán quyết trên giấy tờ, không có giá trị pháp lý ràng buộc các bên trong quan hệ THADS, không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đơn sự Cho nên pháp luật quy định về thủ tục THADS là cần thiết
và đảm bảo cho việc thực thi các bản án, quyết định trên thực tế, thể hiện sự tôn trọng các phán quyết của tòa án, sự nghiêm minh của pháp luật Vì nếu không thực thi các phán quyết trên thực tế thì quá trình xét xử, giải quyết của Tòa án, Trọng tài cũng như Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh là vô nghĩa
Thứ hai, thủ tục thi hành án còn là cơ sở bảo đảm cho hoạt động THA
được tuân thủ đúng pháp luật
Thủ tục thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm việc thi hành án của chấp hành viên, cán bộ cơ quan thi hành án dân sự theo đúng pháp luật, hạn chế tình trạng lạm quyền để thi hành những bản án, quyết định không thuộc thẩm quyền thi hành của mình, đồng thời ngăn chặn việc cơ quan thi hành án dân sự từ chối, đùn đẩy trách nhiệm thi hành bản án những bản án, quyết định mà cơ quan mình có trách nhiệm phải thi hánh án Bên
Trang 15cạnh đó, việc luật hóa các thủ tục thi hành án trong pháp luật THADS còn là
cơ sở pháp lý cho chấp hành viên, cán bộ cơ quan thi hành án căn cứ vào đó
để thực hiện, bảo vệ quá trình thi hành án, bảo vệ quan điểm cũng như uy tín, danh dự của chính mình Nếu làm được như vậy mới tạo được niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào pháp luật, vào nhà nước
Thứ ba, thủ tục THADS cơ sở bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của các đương sự
Việc thực hiện THA đúng thủ tục do pháp luật quy định, đảm bảo bản
án, quyết định có hiệu lực thi hành theo thủ tục THADS kịp thời thì lợi ích của cá nhân và tổ chức sẽ được bảo vệ, kỉ cương phép nước được tôn trọng, trật tự xã hội được củng cố Thủ tục thi hành án dân sự không được quy định hoặc quy định không rõ ràng, thiếu khoa học sẽ không có căn cứ pháp lí hoặc dẫn đến áp dụng pháp luật không đúng, không đầy đủ, làm phức tạp quá trình thi hành án, gây tốn kém kinh phí, không đáp ứng kịp thời hoặc không bảo đảm được lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1.2 Một số thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự
1.2.1 Thủ tục thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu
Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã đưa ra các quy định về thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu chuyển lên trước quy định về thi hành án dân sự chủ động nhằm thể hiện rõ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 2013 Với thủ tục này, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự sẽ ra Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân người được thi hành án Quy định này xuất phát từ việc người được thi hành
án muốn buộc người phải thi hành án thi hành cho mình hoặc người phải thi hành án muốn được tự nguyện thi hành nghĩa vụ thông qua cơ quan thi hành
án dân sự thì phải yêu cầu thi hành án Theo đó, khi đã có Bản án, Quyết định thì người được hưởng quyền và lợi ích theo Bản án, Quyết định hoàn toàn có
Trang 16thể quyết định có làm đơn yêu cầu thi hành án hay không, yêu cầu thi hành án vào thời điểm nào, yêu cầu thi hành những gì, đã có những thỏa thuận gì với bên phải thi hành án,… Cho nên pháp luật giành quyền quyết định cho người được thi hành án thể hiện ý chí của mình bằng việc yêu cầu thi hành án Ngoài ra, để khuyến khích tính tự giác chấp hành nghĩa vụ trong Bản án, Quyết định của người phải thi hành án, nhằm bảo đảm quyền lợi của họ, không chỉ người được thi hành án mà cả người phải thi hành án cũng có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án.Trong thi hành án theo yêu cầu, thủ tục bao gồm:
Thủ tục nhận đơn yêu cầu thì hành án dân sự
Khi nhận đơn yêu cầu thi hành án của đương sự, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung của đơn và các tài liệu kèm theo Quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2008 về đơn yêu cầu thi hành án
phải có “thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi
hành án”, và nếu đơn yêu cầu thi hành án không có đầy đủ các nội dung quy
định và người được thi hành án không yêu cầu xác minh thì cơ quan thi hành
án dân sự thực hiện theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13
tháng 7 năm 2009 của Chính phủ “thông báo để đương sự bổ sung nội dung
đơn yêu cầu thi hành án trước khi ra quyết định thi hành án” Khoản 2 Điều
4 Nghị định 125/2013/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định
58/2009/NĐ-CP còn bổ sung thêm quy định: “trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày nhận được thông báo, nếu người được thi hành án không bổ sung hoặc không đúng nội dung quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự không thụ lý đơn yêu cầu thi hành án và có văn bản trả lời cho đương sự biết, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan” Quy định này đã gây ra không ít trở ngại, khó khăn cho
người được thi hành án Chính vì vậy, Khoản 2 Điều 31 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án đã sửa lại một trong các nội dung của đơn yêu cầu thi hành
Trang 17án là: “thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi
hành án, nếu có” Đây là một trong những điểm mới tháo gỡ những vướng
mắc, gây khó khăn, bất lợi cho các đương sự nhiều năm qua Bởi việc có thông tin về tài sản hoặc điều kiện của người phải thi hành án để đưa vào nội dung đơn yêu cầu thi hành án là điều không dễ dàng trong nhiều trường hợp
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 31 Luật sửa đổi bổ sung: “ khi tiếp
nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu” Ngay sau khi nhận được đơn thì cơ
quan thi hành án dân sự phải cấp hoặc gửi bằng đường bưu điện giấy biên nhận cho người nộp đơn Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014 còn quy định rõ việc cơ quan THADS phải thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận yêu cầu; việc từ chối yêu cầu thi hành án cho người yêu cầu
Thủ tục từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án dân sự
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã bổ sung quy định về việc từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án so với pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 Theo khoản 1 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án Đó là những trường hợp việc yêu cầu thi hành án không đáp ứng đủ những điều kiện yêu cầu thi hành án: người yêu cầu thi hành án không có quyền yêu cầu thi hành án; nội dung đơn yêu cầu thi hành án không liên quan đến nội dung Bản án, Quyết định; cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án; thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết
Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 đã gộp thủ tục từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án vào Điều 31 quy định về tiếp nhận và từ chối yêu cầu thi hành án Thêm nữa, tại khoản 5 Điều 31 Luật sửa đổi bổ sung Luật Thi hành án dân sự bổ sung thêm quy định về thời hạn thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu nếu cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi
Trang 18hành án của họ là 05 ngày làm việc Thời hạn này đã được quy định tại khoản
3 Điều 4 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự, tuy nhiên đến nay được quy định chi tiết
và rõ ràng trong Luật, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người dân, đặc biệt là người
có quyền yêu cầu thi hành án Luật sửa đổi, bổ sung cũng bổ sung một căn cứ
mới để từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án tại điểm a, khoản 5, Điều 31: “…
Bản án, Quyết định không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này” vì thực tiễn thi hành án cho thấy có trường hợp
Bản án, Quyết định của Tòa án được yêu cầu thi hành không xác định được nội dung cần thi hành là gì
Thủ tục thi hành án theo đơn thì chủ thể yêu cầu là ai? Chủ thể yêu
cầu thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến thi hành án Người làm đơn yêu cầu thi hành án có thể là người phải THA, người được thi hành án Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện các nghĩa vụ còn người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích theo nội dung quyết định bản án có hiệu lực pháp luật Do đó dưới góc độ của mỗi chủ thể làm đơn yêu cầu thi hành án thì có ý nghĩa khác nhau trong quá trình tổ chức thi hành án Chủ thể
là người phải thi hành án có đơn yêu cầu thì thủ tục thi hành án dứt điểm bản
án thuận lợi rất nhiều gồm các thủ tục chính sau: Kiểm tra nội dung yêu cầu
có phù hợp với nội dung bản án, nếu phù hợp thì ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu và yêu cầu người có đơn phải thực hiện các nghĩa vụ theo đơn, báo gọi người được thi hành án lên chi trả hoặc giao nhận như vậy hồ sơ thi hành án kết thúc Chủ thể là người được THA có đơn yêu cầu thi hành án ngoài thủ tục kiểm tra nội dung đơn, bản án…ấn định thời gian tự nguyện, xác minh điều kiện thi hành án nếu có điều kiện mà không tự nguyện thi hành
án thì Chấp hành viên xây dựng phương án cưỡng chế, báo cáo Ban chỉ đạo
Trang 19thi hành án, gửi phương án cưỡng chế đến Viện kiểm sát nhân dân, Công an cùng cấp, Công an xây dựng phương án bảo vệ cưỡng chế…thủ tục thi hành
án nói chung trong đó thủ tục thi hành án theo đơn, bị chi phối bởi nhiều yếu
tố như: Người phải thi hành án chây ỳ; không hợp tác với cơ quan thi hành án; chống đối quyết liệt, tẩu tán tài sản; chế tài chưa đủ sức răn đe đối với người phải thi hành án; khi tổ chức cưỡng chế cơ quan THADS không chủ động làm được mà phụ thuộc rất nhiều sự phối hợp của các cơ quan khác, mất nhiều thời gian, tiền của nhiều khi không đạt kết quả
1.2.2 Thủ tục thi hành án dân sự chủ động
Chủ động ra quyết định thi hành án là trường hợp sau khi nhận được Bản án, Quyết định do Tòa án chuyển giao thì cơ quan thi hành án dân sự tự mình ra quyết định thi hành án mà không cần phải chờ có đơn yêu cầu của đương sự Theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự thì cơ quan THADS chủ động ra quyết định THADS đối với phần Bản án, Quyết định mà việc thi hành án mang lại lợi ích cho Nhà nước và cá nhân Cụ thể, theo khoản
2 Điều 36 Luật THADS năm 2014 thì Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án đối với phần Bản án, Quyết định hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; trả lại tiền, tài sản cho đương sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước; tịch thu tiêu hủy vật chứng tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ Nhà nước; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và quyết định của Tòa án giải quyết phá sản
Sở dĩ những vụ việc này được pháp luật cho phép cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định chủ động thi hành là bởi vì:
Một phần đây là những loại việc mà Bản án, Quyết định tuyên người được hưởng quyền lợi là Nhà nước nên cơ quan thi hành án phải có trách nhiệm quan tâm, bảo vệ bằng cách chủ động đưa ra thi hành sớm để thu hồi lại tài sản, đảm bảo tài sản cho Nhà nước, cũng nhằm mục đích đảm bảo quyền và lợi ích công, lợi ích của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 20Bên cạnh đó, quy định về những khoản của Bản án, Quyết định tuyên trả lại tiền, tài sản cho đương sự cũng thuộc diện cơ quan thi hành chủ động thi hành bởi xuất phát từ quan niệm rằng, việc tạm giữ, thu giữ những tài sản
đó là do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trước đó với mục đích phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử, bảo đảm thi hành án, nay theo quy định của pháp luật được tuyên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp thì Nhà nước phải chủ động trả lại mà không đợi đương sự phải yêu cầu, hoặc khoản vật chứng, tài sản bị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy thì không còn phụ thuộc quyền quyết định của đương sự nên cũng giao cơ quan thi hành án chủ động thực hiện việc tiêu hủy
Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng là nhằm mục đích đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, đảm bảo hiệu quả của việc thi hành án, cao hơn thế, là đảm bảo hiệu lực của Bản án, Quyết định của Tòa án, của pháp luật và do tính chất khẩn cấp của việc áp dụng mà nhà nước cần chủ động thực hiện để phù hợp với mục đích của việc ban hành quyết định đó Luật sửa đổi bổ sung năm 2014 bổ sung thêm trường hợp để cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án chủ
động đó là “quyết định của Tòa án giải quyết phá sản”, quy định này nhằm
bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, cũng chính là những người được thi hành án Bản chất của quyết định chủ động thi hành án là việc cơ quan thi hành
án dân sự tự đưa ra Bản án, Quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật ra thi
hành mà không cần có đơn yêu cầu của đương sự
Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã quy định thời hạn ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành đối với một số trường hợp cụ thể: Đối với quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì cơ quan thi hành án dân sự phải ra ngay quyết định thi hành án; đối với quyết định của Tòa án giải quyết phá sản thì cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định;
Trang 21đối với các quyết định còn lại thì thời hạn vẫn là 05 ngày làm việc Thêm nữa,
Luật còn bổ sung khoản 3, 4 Điều 36: “3 Quyết định thi hành án phải ghi rõ
họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; số, ngày, tháng, năm, tên cơ quan,
tổ chức ban hành Bản án, Quyết định; tên, địa chỉ của người phải thi hành
án, người được thi hành án; phần nghĩa vụ phải thi hành án; thời hạn tự nguyện thi hành án; 4 Chính phủ quy định chi tiết Điều này”
Tại khoản 1, 2, 3 Điều 6 Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều Luật Thi hành án dân sự quy định: Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành trong một Bản án, Quyết định, trừ trường hợp:
Một là: Trong một Bản án, Quyết định có khoản chủ động về trả lại tiền,
tài sản thì ra một quyết định thi hành đối với mỗi người được thi hành án;
Hai là: Trong một Bản án, Quyết định có nhiều người phải thi hành
nhiều khoản chủ động khác nhau thì ra một quyết định thi hành án chung cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành án đối với mỗi người phải thi hành
án Trường hợp thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới
Bên cạnh đó, các khoản thu khác cho Nhà nước quy định tại điểm c khoản 2 Điều 36 Luật THADS thuộc diện chủ động ra quyết định THA bao gồm khoản truy thu thuế; khoản viện trợ cho Nhà nước và các khoản bồi thường cho Nhà nước trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; các khoản thu khác nộp trực
tiếp vào Ngân sách nhà nước
1.2.3 Thủ tục xác minh thi hành án dân sự
Việc xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án
và những người liên quan là cơ sở pháp lý để Chấp hành viên tổ chức thi hành, áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án hoặc kiến nghị lãnh đạo ra
Trang 22các quyết định về việc tiếp tục tổ chức thi hành án, ủy thác, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án… và là cơ sở để phân loại án nên tính xác thực, chi tiết, tính pháp lý là yêu cầu bắt buộc trong công tác xác minh điều kiện thi hành án của đương sự Như vậy, có thể thấy, đây là một trong những công việc phức tạp và khó thực hiện nhất, vì việc xác minh tài sản của người phải thi hành án mất nhiều thời gian, chi phí…
Thứ nhất, về trách nhiệm tiến hành việc xác minh điều kiện thi hành án,
trước đây, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 PLTHADS và Điều 8 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong THADS thì trong mọi trường hợp trách nhiệm xác minh thuộc về CHV
Theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì trách nhiệm xác minh thi hành án được chuyển sang người được thi hành án Tại Điều 44 Luật Thi hành
án dân sự năm 2008, đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu thì người được thi hành án phải tự tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Chấp hành viên chỉ tiến hành xác minh khi người được thi hành án có yêu cầu và trong trường hợp thi hành quyết định thi hành
án chủ động Trong trường hợp người được thi hành án yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh thì yêu cầu này phải đáp ứng đủ hai điều kiện: được lập thành văn bản và ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh
Quy định người được THA phải tự tiến hành xác minh nhằm tháo gỡ bớt gánh nặng xác minh cho CHV Tuy nhiên, mặt bằng am hiểu pháp luật của đại bộ phận người dân nước ta còn thấp cho nên khả năng tự mình thực hiện nghĩa vụ xác minh điều kiện THA của người THA là hạn chế Bên cạnh
đó, việc tự tiến hành xác minh của người được THA cũng gặp không ít trở ngại, khóa khăn khi không có sự phối hợp, giúp đỡ giữa các cơ quan, tổ chức cũng như người phải THA Để phù hợp với thực tiễn, Luật sửa đổi, bổ xung Luật THADS lại sửa đổi quay về theo hướng chuyển việc xác minh điều kiện
Trang 23thi hành án từ nghĩa vụ của người được THA thành trách nhiêm của chấp
hành viên Điều này được quy định tại khoản 1, Điều 44 Luật sửa đổi, bổ sung: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án
mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh;trường hợp quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay" Theo luật sửa đổi, bổ sung thì nghĩa vụ xác
minh điều kiện của người được THA chuyển hóa thảnh quyền tự mình hoặc
ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện THA, cung cấp thông tin về tài sàn, thu nhập, điều kiện THA của người phải THA cho CQTHA
Thứ hai, về phí xác minh THA, theo quy định tại khoản 1 Điều 31
Nghị định số 58/NĐ-CP/2009 người được THA phải chịu chi phí xác minh (ngoài việc phải nộp phí THA) Tuy nhiên lại không có quy định nào về việc thu phí xác minh là bao nhiêu? Thu theo tính chất của việc cần xác minh là khó hay dễ, tiền này được thu nộp và sử dụng như thế nào? Luật sửa đối, bổ sung năm 2014 cũng đã tháo gỡ vướng mắc này bằng việc quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 73 “chi phí xác minh điều kiện thi hành án”
do Ngân sách Nhà nước trả
Thứ ba, về thời gian xác minh: phần 1, khoản 1, Điều 44 Luật Thi
hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 xác định rõ thời hạn Chấp hành
viên phải tiến hành xác minh điều kiện THA, cụ thể là: “trong thời hạn 10
ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành
án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay”
Thứ tư, trách nhiệm của người phải THA: phần 2, khoản 1, Điều 44
Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 xác định cụ thể trách nhiệm của người phải THA, mặc dù tính khả thi của quy định này không
cao nhưng vẫn là quy phạm có tính nguyên tắc: “Người phải thi hành án
Trang 24phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình”
Thứ năm, những quy định liên quan đến thủ tục xác minh THA:
Để khắc phục tình trạng lỏng lẻo của công tác xác minh THA, đảm bảo hiệu quả công tác phối hợp trong THADS, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung quy định yêu cầu CHV phải xuất trình thẻ CHV; CHV được quyền yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc mời, thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh trong trường hợp cần thiết; được trực tiếp xem xét tài sản, sổ sách quản
lý vốn, tài sản, xác minh tại cơ quan, tổ chức khác có liên quan đang quản lý, bảo quản, luôn giữ thông tin về tài sản, tài khoản của người phải THA Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện THA phải thực hiện yêu cầu của CHV và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp Trường hợp từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do Xác định cụ thể và hợp lý hơn về trách nhiệm xác nhận biên bản xác minh; xác nhận của ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã, hoặc cơ quan,
tổ chức nơi tiến hành xác minh
Tại khoản 1, Điều 9, Nghị định 62/2015 quy định rõ: Khi tiến hành xác minh, CHV yêu cầu người phải THA kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện THA Nội dung kê khai phải nêu rõ loại, số lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập; địa chỉ, nơi cư trú của người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng; khả năng và điều kiện thực hiện nghĩa vụ THA
Chấp hành viên phải nêu rõ trong biên bản xác minh điều kiện thi hành
án về việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tài sàn, thu nhập, điều kiện thi hành án
Trang 25Luật cũng khẳng định rõ vai trò của các công chức Tư pháp - Hộ tịch, địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường, cán bộ công chức cấp xã nói riêng và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác nói chung trong việc thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin cho CHV và phải chịu trách nhiệm về các nôi dung thông tin đã cung cấp; quy định rõ thời hạn phải thực hiện yêu cầu của CHV Cụ thể: Bảo hiềm xã hội, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, văn phòng đãng ký quyền sừ dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tồ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải THA có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; ký vào biên bản trong trường hợp CHV xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên, đối với thông tin về tài khoản thì phải cung cấp ngay; Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan Trường hợp
cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu
rõ lý do
Trách nhiệm của người được THA, các cơ quan, tổ chức trong trường hợp không hợp tác cung cấp thông tin điều kiện THA: Trường hợp người được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt hại thì phải bồi thường Khoản 1, Điều 9 Nghị định 62/2015
quy định cụ thể và rõ ràng: Trường hợp người phải thi hành án không kê khai
hoặc phát hiện việc kê khai không trung thực thì tùy theo mức độ vi phạm,
Trang 26Chấp hành viên có thế xử phạt hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật
Căn cứ và thời hạn xác minh lại: CHV thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của CHV và người được THA khác nhau hoặc có kháng nghị của VKSND thì phải xác minh lại Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của VKSND
Kéo dài thời hạn xác minh (01 năm/1 lần) thay cho 06 tháng/1 lần như trước đây đối với trường hợp người phải THA chưa có điều kiện THA là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải THA
Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã thêm một quy
định mới tại Điều 44a, làm rõ hơn thế nào là “chưa có điều kiện thi hành án" và
việc công khai thông tin của người phải thi hành án trong một số trường hợp Theo đó, việc chưa có điều kiện thi hành án thuộc 1 trong 3 trường hợp sau:
Thứ nhất: Khi người phải thi hành án không có thu nhập hoặc mức thu
nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sàn nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;
Thứ hai: Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc
định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;
Thứ ba: Chưa xác minh được địa chỉ, nơi cư trú của ngưòi phái thi
hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng
Trang 27Khoản 4 Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật THADS quy định cụ thể về thời hạn ra quyết định về việc chưa có điều kiện THA: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân
sư, Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án
Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 cũng quy định: Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự
và gửi cho UBND cấp xã nơi xác minh để niêm yết Khi người phải thi hành
án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành Quy định mới này nhằm nhắc nhở người phải THA cân nhắc, lựa chọn biện pháp
tự nguyện THA, hạn chế các trường hợp không chấp hành án, góp phần giảm bớt chi phí, thời gian, trách nhiệm của CHV và người được THA trong quá trình tổ chức THA
Theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP thì cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa
có điều kiện thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi có đủ các điều kiện sau:
Một là, đã hết thời hạn 02 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có
điều kiện thi hành án đối với trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án hoặc đã hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án;
Hai là, đã xác minh ít nhất hai lần theo quy định tại Khoản 2 Điều 44
Luật Thi hành án dân sự;
Ba là, không có thông tin mới về điều kiện THA của người phải thi
hành án
Trang 28Các trường hợp chưa có điều kiện thi hành án được quy định tại Điều 44a Luật THADS sửa đổi, bổ sung, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự phải tiếp tục tổ chức việc thi hành án theo quy định tại khoản 4, Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP: Trong thời hạn
10 ngày, kê từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh Sau khi có quyết định
về việc chưa có điều kiện thi hành án, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật THADS đã sửa đổi khá toàn diện các quy định về xác minh điều kiện THA Các quy định mới đều rất phù hợp với thực tiễn, nhằm tháo gỡ nhũng khó khăn, vướng mắc mà Luật THADS 2008 gặp phải là những bước tiến nhằm nâng cao hiệu quả công tác THADS trong thời gian tới
Mẫu biên bản xác minh được ban hành kèm theo Thông tư số BTP ngày 30/5/2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng các loại biểu mẫu nghiệp vụ THADS – Mẫu số: D 23-THA (Phụ lục 2) Mẫu quyết định về việc chưa có điều kiện THA quy định tại Điều 44a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS, các cơ quan THADS
09/TT-sử dụng biểu mẫu tạm thời ban hành kèm theo công văn TCTHADS ngày 09/06/2015
1967/BTP-1.2.4 Thủ tục ủy thác thi hành án dân sự
Ủy thác THADS là một trong những biện pháp hiệu quả để giải quyết những khó khăn cho công tác THA, bảo đảm quyền lợi của người được THA Bởi vì trên thực tế có rất nhiều trường hợp như: cá nhân đăng kí hộ khẩu ở một nơi, nhưng lại làm việc và tạm trú ở nơi khác; cá nhân có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau; hoặc trong quá trình THA, người phải THA chuyển đi
Trang 29nơi khác Để đảm bảo nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong những trường hợp này thì ủy thác THA dân sự được đặt ra như một nhu cầu khách quan và tất yếu Việc ủy thác cho CQTHA nơi khác thực hiện việc THA sẽ giúp cho việc xác minh điều kiện THA được dễ dàng, các thủ tục THA được tiến hành nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm được thời gian đi lại tổ chức THA cũng như chi phí cho việc cưỡng chế THA
Uỷ thác THADS là hoạt động của Thủ trưởng CQTHA bằng một Quyết định để chuyển hồ sơ vụ việc THA thuộc thẩm quyền của mình cho một CQTHA khác có điều kiện để tổ chức thi hành Có thể thấy, đây là trách nhiệm của CQTHA nơi có thẩm quyền nhưng không có điều kiện để tổ chức thi hành mà phải chuyển hồ sơ vụ việc cho CQTHA khác có điều kiện tổ chức thi hành vụ việc Như vậy, “ủy thác là việc chuyển giao toàn bộ hoặc từng phần việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án từ CQTHADS này sang CQTHADS khác theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm việc thi hành các bản án, quyết định cùa Tòa án trên thực tế, đảm bảo
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự”
Về nguyên tắc việc ủy thác THADS, Điều 55 Luật THADS quy định như sau:
- Thủ trưởng CQTHADS phải uỷ thác THA cho CQTHADS nơi người phải THA có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở Việc xác định người phải THA có tài sản ở địa phương nào được thực hiện thông qua công tác xác minh điều kiện THA Để việc uỷ thác được chính xác thì công tác xác minh cũng phải đúng và đầy đủ Thông thường, nơi làm việc của người phải THA cũng
là nơi chi trả thu nhập cho họ, cho nên Luật THADS quy định như vậy để thuận tiện hơn trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với người phải THA trong trường hợp họ không tự nguyện THA Khi xác minh nơi làm việc cần chú ý xác định rõ hình thức làm việc của họ như thế nào (Công chức hay làm việc theo hợp đồng dài hạn, ngắn hạn ) Khi xác định nơi cư trú của
Trang 30người phải THA, CHV cần căn cứ vào quy định tại Luật Cư trú năm 2006 Điều 12 quy định xác định nơi cư trú của công dân như sau: Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú; Nơi thường trú là nơi công dân
sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định
và đã đăng ký thường trú; Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú
- Trường hợp người phải THA có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ
sở ở nhiều địa phương thì Thủ trưởng CQTHADS ủy thác THA từng phần cho CQTHADS nơi người phải THA có điều kiện THA để thi hành phần nghĩa vụ của họ
- Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì Thủ trưởng CQTHADS ủy thác đến CQTHADS nơi người phải THA có tài sản; nếu không xác định được nơi có tài sàn hoặc nơi có tài sản trùng với nơi làm việc, cư trú, có trụ sở của người phải THA thì ủy thác đến nơi làm việc, cư trú hoặc nơi có trụ sở của người đó
Thẩm quyển ra quyết định ủy thác THA được quy định tại Điều 56 Luật THADS 2008 như sau:
Uỷ thác cho CQTHADS cấp tỉnh nơi khác thi hành các BA, QĐ về nhận người lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại mà người phải thi hành án là cơ quan nhà nước cấp tỉnh trở lên; bản án, quyết định có yểu tố nước ngoài hoặc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; quyết định của Trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;
Ủy thác cho CQTHADS cấp quân khu thi hành vụ việc mà đương sự hoặc tài sản có liên quan đến quân đội trên địa bàn;
Ủy thác cho CQTHADS cấp huyện vụ việc khác, trừ những trường hợp quy định tại điểm a và điểm b của khoản 1 Điều 56 Luật THADS
Trang 31CQTHADS cấp huyện ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền THA của mình cho CQTHADS cấp tỉnh nơi khác, CQTHA cấp quân khu, CQTHADS cấp huyện khác có điều kiện thi hành
CQTHA cấp quân khu ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền THA của mình cho CQTHA cấp quân khu khác, CQTHADS cấp tỉnh hoặc CQTHADS cấp huyện có điều kiện thi hành
1.2.5 Một số thủ tục phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự
Thủ tục định giá tài sản kê biên để thi hành án
Định giá tài sản kê biên, bán đấu giá để giải quyết việc thi hành án hiện nay được thực hiện theo quy định tại Điều 98 Luật THADS năm 2008 cụ thể như sau:
Như vậy, theo các quy định của pháp luật về THADS thì việc định giá tài sản kê biên để bán đấu giá hiện nay được tiến hành thông qua các hình thức: Một là, các bên đương sự thỏa thuận với nhau ngay khi kê biên tài sản; Hai là, thông qua tổ chức định giá do các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn hoặc do Chấp hành viên chọn;
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự không thoả thuận được về giá và không thoả thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá;
b) Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;
Trang 32c) Thi hành phần bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này
Chấp hành viên xác định giá trong các trường hợp sau đây:
a) Không thực hiện được việc ký hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản
2 Điều này;
b) Tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ
mà đương sự không thoả thuận được với nhau về giá Chính phủ quy định về tài sản có giá trị nhỏ.”
Ngoài ra tại Điều 15, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự còn quy định việc xác định giá đối với tài sản kê biên như sau: Chấp hành viên xác định giá đối với tài sản kê biên có giá trị tại thời điểm xác định giá, sản phẩm cùng loại trên thị trường không quá hai triệu đồng; Trường hợp do không ký được hợp đồng dịch vụ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan trước khi xác định giá của tài sản kê biên
Thủ tục định giá lại tài sản
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì việc định giá lại tài sản
được thực hiện trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của LTHADS 2008 dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản (khoản 1 Điều 99);
Thứ hai, đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản (khoản 2 Điều 99);
Thứ ba, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá Mỗi lần giảm giá không quá mười phần
Trang 33trăm giá đã định (Điều 104) Như vậy, nếu trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự có yêu cầu định giá lại thì yêu cầu này được chấp nhận
Trong ba trường hợp định giá lại theo các quy định trên, có hai trường hợp thuộc về quyền yêu cầu của đương sự (bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án)
Thủ tục ra quyết định hoãn thi hành án dân sự
Hoãn THA là việc cơ quan THADS quyết định chưa thực hiện việc thi
hành bản án, quyết định dân sự sau khi có những căn cứ do pháp luật quy định
Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS đã giảm bớt 01 trường hợp hoãn
THA và sửa đổi bổ sung các trường hợp hoãn THA như sau:
Thứ nhất, tách căn cứ hoãn THA tại điểm a, Khoản 1, Điều 48 Luật
THADS năm 2008 thành 02 căn cứ hoãn thi hành án, đồng thời bổ sung căn
cứ hoãn thi hành án khi người phải THA bị mất hoặc bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án:
- Người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp
huyện trở lên; bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quvết
định của Tòa án;
- Chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định;
Thứ hai, sửa đổi căn cứ hoãn thi hành án theo điểm b, Điều 48 Luật
THADS 2008 như sau:
- Đương sự đồng ý hoãn thi hành án;việc đồng ý hoãn thi hành án phải
lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi xuất chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác;
Trang 34Thứ ba, bỏ căn cứ hoãn thi hành án theo điểm c, khoản 1, Điều 48 Luật
THADS 2008 “Người phải thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước
không cỏ tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản đó không đủ chi phí cưỡng chế THA hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc loại không được kê biên;
” Việc bỏ căn cứ hoãn THA này là hoàn toàn phù họp, bởi lẽ Luật THADS sửa đổi, bổ sung đã bỏ quy định về trả đơn yêu cầu THA và quy định trong mọi trường họp (không kể thi hành án chủ động hay thi hành án theo đơn yêu cầu), người phải THA không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để THA thì cơ quan THA sẽ ra quyết định về việc chưa có điều kiện THA Như vậy, cơ quan THA sẽ không phải ra quyết định hoãn THA như trước đây
Thứ tư, sửa đổi căn cứ hoãn THA theo điểm d, Khoản 1, Điều 48 Luật
THADS 2008 như sau:
Tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này; tài sản được kê biên theo Điều 90
của Luật này nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm;
Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 170 và khoản 2 Điều 179 của Luật này
Bên cạnh đó, Luật sửa đổi, bổ sung còn bổ sung căn cứ hoãn THA khi tài sản được kê biên theo Điều 90 cùa Luật này nhung sau khi giảm giá theo
quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm
Việc quy định bổ sung này là hết sức cần thiết Bởi trước đây, có rất nhiều trường hợp các cơ quan THA tiến hành kê biên tài sản thế chấp và sau nhiều lần giảm giá thì giá trị tài sản kê biên lại thấp hơn hoặc bằng chi phí và nghĩa
vụ được bảo đảm Trên thực tế khi gặp trường hợp này các cơ quan THA áp
Trang 35dụng không thống nhất và có nhiều cách giải quyết khác nhau Có cơ quan thi hành án khi gặp trường hợp này vẫn tiến hành tiếp tục xử lý tài sản kê biên Tác giả cho rằng, nếu cơ quan THA tiếp tục xử lý vừa mất rất nhiều thời gian nhưng không mang lại hiệu quả cho hoạt động thi hành án, bởi cuối cùng số tiền thu được cũng đã ưu tiên thanh toán hết cho nghĩa vụ được bảo đảm mà không còn tiền để thanh toán cho người được thi hành án Có cơ quan THA khi gặp trường hợp này thì căn cứ vào điểm a, khoản l, Điều 51 Luật THADS
để ra quyết định trả đơn yêu cầu THA vì cho rằng người phải THA có tài sản nhưng tài sản không được xử lý theo quy định của pháp luật Và để trả đơn yêu cầu THA được thì có cơ quan THA phải ra quyết định kê biên, căn cứ vào điểm c, khoản l, Điều 37 Luật THADS hoặc cũng có cơ quan thi hành án cho đương sự thỏa thuận giải tỏa kê biên, sau đó ra quyết định trả đơn yêu cầu THA Qua đó cho thấy cùng một tình huống nhưng trên thực tiễn lại có nhiều cách giải quyết khác nhau và không thống nhất Như vậy, việc bổ sung căn cứ hoãn THA như trên là cần thiết và tạo điều kiện cho CQTHA có căn
cứ để thực hiện việc hoãn THA đúng pháp luật
Thứ năm, bổ sung thêm căn cứ hoãn THA: người được nhận tài sản,
người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận
Việc bổ sung này là hết sức cần thiết, bởi trên thực tiễn có rất nhiều cơ quan THA tổ chức thi hành khoản giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, giao tài sản còn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt là trường hợp người được giao nuôi dưỡng, người được nhận tài sản được thông báo hợp lệ nhiều lần nhưng không đến nhận người chưa thành niên và tài sản Trong trường hợp nay, theo các quy định hiện hành của pháp luật về thi hành
án dân sự thì cơ quan thi hành án không có căn cứ để giải quyết và đã xếp vào diện án tồn đọng Vì vậy cần thiết bổ sung quy định này là căn cứ hoãn thi hành án
Trang 36Thứ sáu, bổ sung căn cứ hoãn THA: Việc chuyển giao quyền và nghĩa
vụ thi hành án theo quy định tại Điều 54 của Luật này chưa thực hiện được vì
sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
Thời gian qua, trong quá trình tổ chức THA có rất nhiều CQTHA đã hướng dẫn đương sự thực hiện việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ THA nhưng đương sự không thực hiện vì rất nhiều lý do, cũng có trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan Mặc dù đã có hướng dẫn nhưng đương sự không thực hiện dẫn đến cơ quan THA không có hướng xử lý Ví dụ: Căn cứ nội dung 3 quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu thì Công ty cổ phần tập đoàn TVT có trụ sở tại Km số 8, quốc lộ 10, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định phải có trách nhiệm trả nợ cho người phải thi hành án với số tiền là 36 tỷ đồng, Chi cục thi hành án dân sự đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của Công ty cổ phần tập đoàn TVT được biết hiện Công
ty không hoạt động, Công ty không có tiền trong tài khoản mở tại Ngân hàng, tài sản Công ty gồm nhà xưởng, thiết bị máy sản xuất, đất thuê có giá trị khoảng 90 tỷ đồng, qua xác minh được biết số tài sản trên Công ty đã thế chấp tại Ngân hàng Vietinbank với số tiền là 54 tỷ đồng năm 2012 Chi cục thi hành án dân sự đã có văn bản đề nghị Ngân hàng phối kết hợp để giải quyết, tháng 9/2016 nhận được văn bản của Ngân hàng với nội dung là Công
ty cổ phần tập đoàn TVT phải trả Ngân hàng tiền gốc, lãi với tổng số tiền là
96 tỷ đồng và đề nghị khi xử lý tài sản phải ưu tiên thanh toán tiền gốc, lãi cho Ngân hàng trước với lý do các tài sản trên đã thế chấp Ngân hàng Để đảm bảo lợi ích hợp pháp của người được thi hành án và căn cứ để giải quyết Chi cục thi hành án dân sự đã hướng dẫn Ngân hàng khởi kiện ra tòa, đến nay Chi cục thi hành án dân sự chưa thể tiến hành kê biên được Làm cho việc THA không thể thực hiện được, nhưng cũng không có căn cứ để hoãn THA dẫn đến đương sự khiếu nại về việc chậm THA Cho nên việc bổ sung quy định này là rất hữu ích
Trang 37Thứ bảy, bổ sung căn cứ hoãn THA: Tài sản kê biên không bán được
mà người được thi hành án không nhận để thi hành án theo quy định tại
khoản 3 Điểu 104 của Luật này
Thời hạn hoãn THA trong trường hợp người có thẩm quyền yêu cầu hoãn THA không quá 3 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn THA Đối với các trường hợp khác, thời hạn hoãn THA cho đến khi lý do của việc hoãn không còn nữa
Thời hạn ra quyết định hoãn THA là 5 ngày làm việc kể từ ngày có căn
cứ hoàn THA quy định tại khoản 1 Điều 48 Trường hợp hoãn THA theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị thì thủ trưởng CQTHA phải ra quyết định hoãn THA ngay khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền Trước đây PLTHADS 2004 không có quy định thời hạn bao lâu kế từ khi có căn cứ hoãn THA thủ trưởng CQTHA ra quyết định hoãn THA Quy định này của Luật THADS đã bồ sung những thiếu sót của PLTHADS 2004, nhằm hạn chế tình trọng kéo dài thời hạn THA, gây khó khăn cho quá trình THA, không đảm bảo quyền lợi của đương sự
Về thẩm quyền hoãn THADS, thủ trưởng CQTHADS đã ra quyết định
THA có thẩm quyền ra quyết định hoãn THA Ngoài ra, người có thẩm quyền kháng nghị BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cũng có quyền yêu cầu hoãn THA Trong trường hợp này, thủ trưởng CQTHADS ra quyết định hoãn ngay khi nhận được yêu cầu nhưng ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế Hậu quả pháp lý quan trọng sau khi hoãn THA đó là các hoạt động THADS được tạm ngừng lại; trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì CQTHADS phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn THA; người phải THA không chịu lãi suất chậm THA Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn THA không còn, hết thời hạn hoãn THA theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị hoặc
Trang 38nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì thủ trưởng CQTHADS phải ra quyết định tiếp tục THA
Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 62/2015 của Chính phủ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định hoãn thi hành án theo quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự trong trường hợp người phải thi hành án phải tự mình thực hiện nghĩa vụ theo bản
án, quyết định Trường hợp đương sự có tài sản khác ngoài trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó để thi hành án
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự
1.3.1 Tính hợp pháp, thống nhất, phù hợp với thực tế của pháp luật
về thủ tục thi hành án dân sự
Để thực hiện công tác THADS, cơ quan THADS áp dụng cả Luật THADS và văn bản dưới luật hướng dẫn Các quy định của Luật THADS và các văn bản hướng dần thi hành đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của
cơ quan THADS, là phương tiện không thể thiếu để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Về cơ bản, Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2008 có nhiều quy định mới, tiến bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện thủ tục THADS, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, phù hợp với chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của nước ta
Tính hợp pháp của hệ thống pháp luật là sự phù hợp giữa quy định của các văn bản dưới luật với luật Bên cạnh đó, tính hợp pháp của hệ thống pháp luật còn bao hàm nhiều yêu cầu khác Đó là việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng nhu cầu xã hội Văn bản đó có đáp ứng được yêu cầu của xã hội của thời điểm đó
Trang 39hay không? Có được người dân ủng hộ hay không? Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cần thực hiện tốt công tác tham khảo ý kiến của đối tượng chịu tác động của văn bản nói riêng, nhân dân nói chung Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật công khai, minh bạch thông qua nhiều hình thức khác nhau bảo đảm cho xã hội, nhân dân được tiếp cận một cách thuận tiện, dễ dàng nhất Hình thức văn bản phải rõ ràng đúng quy định, đúng thẩm quyền Nội dung văn bản phải rõ ràng, dễ đọc, dễ tiếp cận; nội dung của từng quy phạm phải đơn nghĩa dễ hiểu, dễ tiên liệu Các văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực THADS thường mang tính định khung, quy định chung,
và cần rất nhiều văn bản dưới luật hướng dẫn Ví dụ như Pháp lệnh Thi hành
án dân sự năm 2004 đã cần đến trên 40 văn bàn pháp luật khác nhau đề hướng dẫn thi hành Sau khi Luật THADS năm 2008 ra đời các cấp có thẩm quyền
đã ban hành 51 văn bản quy định chi tiết, huớng dần thi hành gồm: 3 Nghị
định của chính phủ, 3 Quyết định của thủ tướng Chính phú, 18 Thông tư, 17 Thông tư liên tịch, 1 Quy chế phối hợp liên ngành, 3 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, 1 Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, 5 Quyết định của Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS ban hành quy phạm nội bộ trong hệ thống tổ chức THADS; mặt khác vẫn áp dụng 1 Quyết định của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp và 1 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành trước khi có Luật THADS Vì vậy khi áp dụng gây khó khăn, vướng mắc cho bộ phận người dân ít am hiểu pháp luật Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS đã quy định mang tính chi tiết hơn Hiện nay, Chính phủ đà ban hành văn bản hướng dân thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự: Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung Nghị định đã quy định và hướng dẫn cụ thể, rõ ràng hơn, giảm bớt việc chồng chéo giữa các văn bản
Trang 401.3.2 Ý thức pháp luật của người dân trong việc thực hiện thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự
Cần phải thay đổi tư duy để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân
sự Bởi thi hành án dân sự là việc đưa bản án, quyết định của Toà án; quyết định, phán quyết của trọng tài Thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, ra thi hành trên thực tế Có thể nói, việc đưa các quyết định của cơ quan có thẩm quyền ra thi hành trên thực
tế là công việc hết sức khó khăn và phức tạp Điều 106 của Hiến pháp 2013
quy định: Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu pháp luật phải
được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành Tuy nhiên, trên thực tế không ít trường
hợp khi bản án, quyết định cùa Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng các bên vẫn không tự nguyện thi hành Do đó, một trong các bên phải làm đơn yêu cầu đến cơ quan Thi hành án dân sự để nhờ cơ quan này can thiệp Trong nhiều trường hợp, người phải thi hành án còn thể hiện rõ ý chí chống đối pháp luật, không hợp tác với các cơ quan thi hành án dân sự, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người được thi hành án Tình trạng người phải thi hành án chây ì không tự nguyện thi hành, khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là tình trạng xảy ra phổ biến Khi người thi hành ánh phải làm đơn yêu cầu thi hành án và vụ việc được cơ quan thi hành
án ra quyết định thi hành án, thì việc tổ chức thi hành các phán quyết của tòa
án lại được thực hiện theo trình tự, thủ tục mang nặng tính hành chính Do vậy, đã làm giảm hẳn tính nghiêm minh của bản án, quyết định của Tòa án nói riêng và tính nghiêm minh của pháp luật nói chung
chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật của người dân đối với các bản án dân sự còn rất hạn chế Điều này rất dễ dẫn đến việc người dân mất niềm tin vào hệ thống pháp luật, vì người được thi hành án thì cảm thấy không được pháp luật