1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận QLNN chuyên viên Giải quyết tranh chấp đất đai tại địa phương

16 380 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 73,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH BÌNH DƯƠNG LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN KHÓA 22 TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA MỘT SỐ Ý KIẾN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỤ T

Trang 1

TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH BÌNH DƯƠNG LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN KHÓA 22

TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA

MỘT SỐ Ý KIẾN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỤ THỂ

ĐANG DIỄN RA Ở ĐỊA PHƯƠNG

Người thực hiện: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Đơn vị công tác:

Năm 2005

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay, giá trị quyền sử dụng đất luôn là nguyên nhân quan trọng đầu tiên dẫn đến tranh chấp giữa các đối tượng sử dụng đất Những mảnh đất bỏ hoang bao

nhiêu năm, ở chốn "khỉ ho cò gáy", "không đáng để mắt", nhưng khi giá đất

tăng vọt ngoài tầm kiểm soát, ngoài sức tưởng tượng thì họ bắt đầu tranh chấp với nhau Thực tế, qua thống kê 10 năm thực hiện Luật đất đai năm

1993, tỉ lệ đất chưa sử dụng được đưa vào sử dụng ngày càng tăng, đặc biệt là đất đồi núi, đất bằng chưa sử dụng và đất có mặt nước Trong khi chính sách sử dụng đất đai của nhà nước ta là không để đất bị hoang hóa, tuy nhiên phải có cơ chế quản lý chặt chẽ đối với đất chưa sử dụng, phải tính toán kỹ và bảo đảm định hướng sử dụng lâu dài

Trong phạm vi đề tài tiểu luận cuối khóa, tôi không bàn luận nhiều về vấn đề đất chưa sử dụng và chế độ chính sách đối với loại đất đó Tình huống tôi đề cập là một trường hợp tranh chấp đất đai mà sau nhiều năm không sử dụng, bỏ hoang phí, nhưng lại phát sinh tranh chấp kể từ khi giá đất tăng lên, nhu cầu đất đai biến động Cho đến cuối tháng 8/2004 vừa qua, vẫn chưa có quyết định giải quyết chính thức đối với tình huống tranh chấp đó Qua tiểu luận cuối khóa này, tôi muốn nêu một số ý kiến cá nhân để giải quyết vấn đề Một mặt, để thực hành khả năng lập luận, vận dụng kiến thức học được qua lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên (khóa 22 năm 2004) Mặt khác, với hy vọng đóng góp thêm một hướng, một phương án cho quá trình xác định hướng và phương án giải quyết vấn đề để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham khảo Tuy nhiên, vụ việc đang trong quá trình giải quyết tranh chấp và không được phép của các cơ quan có thẩm quyền, các đương sự liên quan nên tôi đã không nêu tên, địa chỉ thật Tên các đương sự đã được đặt theo ý riêng, việc mượn tên các cơ quan liên quan chỉ để nhằm giải quyết tình huống

Trang 3

chứ không có ý gì khác Người viết rất cảm ơn sự thông cảm của quý cơ quan liên quan trong đề tài

Tôi chân thành cám ơn các thầy cô Trường Chính trị Bình Dương đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tôi bổ sung những kiến thức mới, bổ ích và có điều kiện kiểm nghiệm lại kiến thức của bản thân qua kinh nghiệm công tác

Tuy có nhiều cố gắng, song vì là lần đầu tiên thực hành viết tiểu luận hình thức xử lý tình huống, nên chắc chắn sẽ có những khiếm khuyết nhất định, kiến giải có thể chưa thật sự phù hợp Tôi xin trân trọng tiếp thu những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, đồng nghiệp để hoàn thiện hơn

HỌC VIÊN

Trang 4

I MÔ TẢ TÌNH HUỐNG

Phần đất hiện đang tranh chấp được đề cập trong tình huống này là diện tích 5.399m2, có nguồn gốc đất công thổ do nhà nước quản lý Trước năm

2004, diện tích đất trên tọa lạc tại xã Định An, huyện Dầu Tiếng, tình Bình Dương Từ tháng 1/2004, theo quyết định thành lập xã Định Thành, phần đất đó thuộc địa phận ấp Núi Đất xã Định Thành huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương và có vị trí tứ cận như sau:

+ Đông giáp đất ông Phan Văn Phương và bà Nguyễn Thị Liên, dài 169m

+ Tây giáp đất bà Lương Thị Nguyên, dài 157m

+ Nam giáp đất bà Lương Thị Nguyên, dài 25m

+ Bắc giáp suối Đá – Lòng Hồ Dầu Tiếng, dài 40m

Thực ra, thửa đất trên có một vị trí không thuận lợi cho việc canh tác, sử dụng bởi chính sự khô cằn và sỏi đá của nó Những tảng đá tự nhiên "mọc" lên từ lòng đất, cao hơn 2m, có tảng có bề mặt to và rộng 8  10m2, trông như cái phản rộng nhưng lồi lõm và gai góc Để đầu tư khai phá, dọn đất cho sản xuất nông nghiệp, trồng cây phải tốn không ít vốn và công sức Nhưng từ trong thửa đất đó lại không có lối ra, các chủ sử dụng đất xung quanh có diện tích sử dụng đất lớn nên việc giải quyết lối ra càng trở nên khó khăn Ơû địa phương đã có không ít trường hợp giải quyết tranh chấp lối

ra mà dai dẳng, kéo dài biết bao lâu chỉ vì sự cố chấp của các bê, dẫn đến tình trạng "kẻ ở trong muốn ra, người ở ngoài … không muốn vào" và phải nhờ đến sự can thiệp của tòa án cùng với quyền lực cưỡng chế nhân danh nhà nước của hệ thống cơ quan này

Tuy vậy, sự việc tranh chấp đối với thửa đất trên vẫn diễn ra giữa nguyên đơn tranh chấp là ông Phan Văn Phương và bị đơn tranh chấp là bà Lương Thị Nguyên Nội dung sự việc như sau:

Trang 5

Vào năm 1979, ông Phan Văn Long – cha của ông Phương – khai phá sử dụng thửa đất trên, đến năm 1985 thì không sử dụng nữa, nên phần đất đó

bị bỏ hoang cho đến năm 1992, ông Phương tiếp tục khai phá sử dụng cho đến năm 1995 thì tiếp tục bỏ hoang Mãi đến 2001, ông Phương lại tiếp tục khai phá lại để sử dụng thì bà Nguyên ngăn cản, không cho ông Phương khai phá sử dụng và thế là xảy ra tranh chấp cho đến nay

Oâng Phương bất bình với thái độ thái quá của bà Nguyên vì đã ngăn cản ông khai phá đất, nộp đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã Định An Ngày 30/7/2000, Ủy ban nhân dân xã Định An tổ chức hòa giải sự việc nhưng không thành Mỗi bên đều khăng khăng ý kiến của mình là đúng Ngày 24/8/2000, Ủy ban nhân dân xã Định An tiếp tục tổ chức hòa giải lần hai, kết quả vẫn không hòa giải thành Các bên đều giữ nguyên ý kiến như ở lần hòa giải đầu tiên đã cung cấp, cụ thể:

Oâng Phương cho rằng, vào năm 1976, ông Năm Khoát cho ông Phan Văn Long (cha ông Phương) một thửa đất diện tích bao nhiêu không rõ, ông Long sử dụng đến 1985 thì nhượng lại cho ông Phương tiếp tục sử dụng Ông Trương Văn Vui (chồng bà Lương Thị Nguyên) thì có ý kiến trái ngược Theo ông Vui, từ năm 1976, ông về đã thấy gia đình ông hai Long (cha ông Phương) ở gần thửa đất trên (thửa đất đang tranh chấp), phần đất gò và phần đất tính từ bờ Suối lên Phần đất mà ông Phương đang sử dụng là do ông Khoát (cha bà Nguyên) cho trước 1976, còn phần đất đang tranh chấp trên thì sát ranh với phần đất ông Phương đang sử dụng

Ý kiến bất đồng Để có điều kiện tìm hiểu, xác minh rõ nội dung kê khai của mỗi bên, Ủy ban nhân dân xã tiến hành xác minh lại từ những người sử dụng đất xung quanh Kết quả không thu được thông tin gì đáng kể do những người đó đều ở nơi khác mới đến lập nghiệp, sinh sống nên không biết rõ về quá trình sử dụng đất hay tranh chấp đất của hai hộ trên

Trang 6

Ngày 06/02/2001, Ủy ban nhân dân xã Định An tổ chức hòa giải tiếp tục Ông Vui khẳng định phần đất đang tranh chấp là cha vợ ông để lại cho vợ chồng ông canh tác chứ không của ai hết Trong khi ông Phương xác định phần đất đang tranh chấp là do ông sử dụng từ trước đến nay Cả hai bên đều cương quyết bảo vệ ý kiến và kết quả hòa giải không thành

Ủy ban nhân dân xã Định An tập hợp biên bản, đóng khóa hồ sơ và chuyển Phòng Nông Nghiệp – Phát triển nông thôn và địa chính để giải quyết theo thẩm quyền và có điều kiện xác minh rõ nguồn gốc đất theo cung cấp của mỗi bên tranh chấp

Ngày 12/6/2003, Phòng Nông nghiệp – phát triển nông thôn địa chính huyện Dầu Tiếng tổ chức hòa giải nhưng kết quả không thành

Ý kiến của ông Phương về quá trình sử dụng đất là: sau năm 1975, ông Phan Văn Long (cha ông Phương) khai phá phần đất trên và sử dụng đến

1996 thì giao lại cho ông tiếp tục sử dụng cho đến nay Khi cha ông đến khai phá và sử dụng trong suốt hai mươi năm, không có ai ngăn cản hay tranh chấp Do đó, ông không biết đất có nguồn gốc của ai hay không Oâng Phương đề đạt nguyện vọng nhà nước làm rõ sự thật, xác minh chính xác Nếu đất đó là của ai thì trả lại người đó Còn nếu là đất bỏ hoang, thì nhà nước cứ thu hồi lại và giao cho người khác đang có nhu cầu sử dụng đất Trong khi đó, ý kiến của vợ chồng ông Vui và bà Hương về nguồn gốc và quá trình sử dụng phần đất trên là do cho của bà (ông Năm Khoát) khai phá sử dụng từ trước năm 1975 và đến 1976 thì giao lại cho vợ chồng bà sử dụng cho đến nay

Sau đó, ngày 07/6/2004, Phòng Nông nghiệp – phát triển nông thôn và Địa chính huyện Dầu Tiếng tổ chức hòa giải tiếp nhưng kết quả vẫn không thành Phòng Nông nghiệp – Phát triển nông thôn và Địa chính huyện đang hoàn thành bản báo cáo quá trình tranh chấp cho Ủy ban nhân dân huyện Dầu Tiếng – cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Trang 7

giữa ông Phan Văn Phương và bà Lương Thị Nguyên theo quy định về thẩm quyền tại khản 2 điều 38 Luật đất đai 1993 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998, 2001

Vụ việc vẫn đang trong quá trình giải quyết tranh chấp ở cấp huyện

II XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG

Sự việc tranh chấp đất đai nói trên xảy ra và kéo dài nhiều năm, liên quan đến nhiều người, cho nên xác định mục tiêu để giải quyết tình huống trên phải đảm bảo:

1) Giải quyết tranh chấp theo đúng luật đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền

2) Phương án giải quyết phải có tính khả thi, có tính thuyết phục để hạn chế các bên tranh chấp tiếp khiếu, đồng thời nhanh chóng đưa đất vào quá trình sử dụng, tăng giá trị và hiệu quả sử dụng đất, chấm dứt tình trạng bỏ hoang và lãng phí đất

3) Bảo đảm tính công bằng, không gây thiệt hại đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất hợp pháp

4) Tăng cường lòng tin của nhân dân đối với hiệu quả quản lý, hiệu quả giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong dân cư nói riêng và giải quyết các công việc của nhân dân nói chung của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước và cơ quan nhà nước

5) Kết quả giải quyết phải được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo quần chúng

III PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ

1 Nguyên nhân:

- Diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc đất công thổ, do nhà nước quản lý, người khai phá sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

Trang 8

đất Do đó, theo quy định tại khoản 2 điều 38 Luật đất đai1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998, 2001 và hiện nay là theo quy định tại khoản 2 điều 135 Luật Đất đai 2003, thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ do Ủy ban nhân dân giải quyết

- Quá trình khai phá sử dụng đất của ông Phương không liên tục, sau một thời gian dài không sử dụng, để đất trống rồi lại quay lại sử dụng tiếp làm phát sinh tranh chấp

- Sự tác trách, thiếu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc quản lý và theo dõi biến động đất đai Diễn ra quá trình sử dụng đất trong thời gian dài như vậy mà không nắm được người khai phá sử dụng đất là ai, người trực tiếp sử dụng đất là ai, bỏ hoang đất như thế nào …

- Sự lỏng lẻo của pháp luật về đất đai trong quản lý đất công, đất chưa sử dụng, quá trình khai phá và sử dụng đất Không có một sự bắt buộc hay chế tài cụ thể trong việc xác định trách nhiệm của người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất trong trường hợp khai phá đất hoang, đất công

do nhà nước quản lý

- Sự thiếu lý, thiếu bằng chứng trong việc cung cấp nội dung, ý kiến làm rõ vấn đề tranh chấp của các bên tranh chấp Các dữ kiện về nội dung tranh chấp do các bên nêu ra không có văn bản hay giấy tờ gì để chứng minh; chính quyền địa phương không nắm được đúng sai của tính chất, nội dung dữ kiện; người sử dụng đất xung quanh thì không rõ do mới chuyển đến, có người sử dụng đất cùng thời điểm khai phá đất thì không còn sống hoặc đã chuyển đi nơi khác vào thời điểm tranh chấp xảy ra… Một chuỗi những dữ liệu, sự kiện làm ảnh hưởng việc xác định phương án giải quyết tranh chấp, qua nhiều năm, nhiều cấp vẫn không hòa giải được

- Chính quyền địa phương và cả cơ quan quản lý đất đai đều không có chứng lý cụ thể để bác bỏ hay thừa nhận nội dung tranh chấp của mỗi bên, làm căn cứ giải quyết nhanh chóng vụ việc, cứ để mỗi bên cố chấp lý lẽ

Trang 9

của mình trong khi không chứng minh được bằng bằng chứng cụ thể Tiến hành hòa giải nhiều lần không có hiệu quả

- Cùng với sự vận động và phát triển không ngừng của kinh tế thị trường, sự nâng cấp và mở rộng các khu đô thị, sự tái lập huyện Dầu Tiếng theo chính sách của nhà nước để đáp ứng nhu cầu phát triển của địa phương, xa hơn nữa là sự gia tăng dân số, đòi hỏi con người phải tăng nhu cầu sử dụng đất để ở, để canh tác, sản xuất v.v… làm cho giá đất tăng vọt, nhiều lúc trở thành "cơn sốt" làm nóng bỏng "thị trường" đất đai Đây chính là nguyên nhân sâu xa, gián tiếp của sự tranh chấp

2 Hậu quả:

- Các bên tranh chấp mất nhiều thời gian, không an tâm sản xuất, làm ảnh hưởng đến thu nhập kinh tế gia đình

- Vụ việc hòa giải đi, hòa giải lại nhiều lần, qua nhiều cấp mà không hòa giải thành, kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp, vi phạm thời hạn theo quy định của pháp luật

- Ảnh hưởng đến trật tự xã hội, niềm tin của nhân dân vào hiệu quả, hiệu lực của cơ quan quản lý nhà nước

- Góp phần làm tăng sự khiếu nại, tranh chấp đất đai một cách cố chấp, ngoan cố trong khi không có căn cứ hoặc không chứng minh được nguyên nhân tranh chấp

IV XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VÀ VẤN ĐỀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN

1 Xây dựng phương án:

Từ nội dung vụ việc, sau khi phân tích nguyên nhân và hậu quả tranh chấp, tôi đề xuất hai phương án giải quyết như sau:

A Phương án 1:

Trang 10

Đơn của ông Phan Văn Phương tranh chấp đất với bà Lương Thị Nguyên, xét thấy có cơ sở giải quyết, nhưng qua xác minh cho thấy quá trình sử dụng đất của ông Phương không liên tục, không đảm bảo được quá trình sử dụng đất lâu dài và ổn định, không khai thác hiệu quả sử dụng đất, đất lại có nguồn gốc là đất công do nhà nước quản lý, nên bác yêu cầu giải quyết tranh chấp, đất do nhà nước quản lý và giao Ủy ban nhân dân xã Định Thành (tên xã mà phần đất tranh chấp hiện đang tọa lạc) quản lý Sau đó xem xét những người có nhu cầu sử dụng đất ở địa phương, nếu xét thấy đủ điều kiện thì giao đất để người đó sử dụng

Ưu điểm:

- Giải quyết xong vụ việc tranh chấp đất đai mà mỗi bên tranh chấp đều không có chứng cứ, bằng chứng chứng minh quá trình khai thác hay sử dụng đất của mình Ngăn ngừa tranh chấp sau này vì đất công do nhà nước quản lý, khi nhà nước chưa giao cho người nào sử dụng thì không có ai có lý do để tranh chấp

- Giải quyết đúng pháp luật, hợp lý vụ việc tranh chấp Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của người có công sức khai phá, có nhu cầu sử dụng đất Trường hợp khai phá, sử dụng đất rồi bỏ hoặc sử dụng không liên tục (ông Phương), làm lãng phí đất thì không cho phép tiếp tục sử dụng đất

Khuyết điểm:

- Không được sự đồng tình của các bên tranh chấp Có thể sẽ xảy ra khiếu nại lên cấp trên từ phía bà Nguyên (còn ông Phương đã có nguyện vọng nhà nước xem xét kỹ lưỡng, nếu đất của ai thì trả cho người đó, nếu đất thật sự bỏ hoang thì thu hồi và giao cho người khác có nhu cầu sử dụng đất)

- Kéo dài thêm thời gian bỏ hoang đất, góp phần làm tăng diện tích đất

bị hoang hóa và giảm hiệu quả sử dụng đất

Trang 11

- Thiệt hại cho ông Phương và ông Long (cha ông Phương) phần công, của đã đầu tư vào diện tích đất trên

B Phương án 2:

Đơn của ông Phan Văn Phương tranh chấp quyền sử dụng diện tích đất 5.399 m2 nêu trên có cơ sở xem xét giải quyết Xét về nguồn gốc đất, đất có nguồn gốc đất công do nhà nước quản lý Xét công khai phá và thực tế sử dụng đất, kết quả xác minh cho thấy ông Phan Văn Long (cha của ông Phương) đã có công khai phá, sử dụng đất đến năm 1985 rồi bỏ hoang, năm

1992 thì ông Phương tiếp tục khai phá sử dụng được 3 năm (đến 1995) thì tiếp tục bỏ hoang Tuy rằng quá trình ông Long và ông Phương có thời gian sử dụng đất không liên tục, nhưng đã có sự đầu tư lao động, đầu tư tiền của, vật tư để khai phá, sử dụng đất, góp phần làm tăng giá trị sử dụng của phần đất đó, nên giao cho ông Phương quyền tiếp tục quản lý và sử dụng phần đất có diện tích 5.399m2 nêu trên

Ưu điểm:

- Giải quyết đúng pháp luật, hợp tình, hợp lý vụ việc tranh chấp Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của người có công sức khai phá, có nhu cầu sử dụng đất

- Công bằng trong quyết định giao đất, nghĩa là người nào có công khai phá và có sự đầu tư lao động lẫn vật chất để tăng giá trị đất thì giao cho người ấy quyền sử dụng đất

- Tạo điều kiện phục hồi quá trình sử dụng đất, giảm diện tích đất bị hoang hóa

- Giải quyết được nhiều người đồng tình ủng hộ Tạo niềm tin của nhân dân vào nhà nước đối với kết quả giải quyết khiếu nại cũng như giải quyết công việc khác

Khuyết điểm:

Ngày đăng: 21/06/2018, 16:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w