Nếu sự kiện khách quan gây khó khăn cho việc thực hiện hợp đồng có thể nhìn thấy trước hay dự đoán trước hoặc đã xảy ra thì phải coi là bên vi phạm nghĩa vụ đã tiếp nhận gánh chịu rủi ro
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ KHẮC TRUNG
BẤT KHẢ KHÁNG THEO PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI NGỌC CƯỜNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật- Học viện Khoa học xã hội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Khắc Trung
Trang 31.2 Khái niệm về bất khả kháng theo Pháp luật hợp đồng ở Việt nam và phân loại bất khả kháng
12
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẤT KHẢ KHÁNG TRONG
HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG VÀ THỰC TIỄN TỪ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
30
2.2 Thực tiễn áp dụng các trường hợp Bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng tại thành phố Hà Nội
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam trải qua những thăng trầm của lịch sử với những cuộc chiến tranh để lại những hậu quả nặng nề đã dần bước ra ánh sáng của văn minh với
sự phát triển về mọi mặt của nền kinh tế Sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã đưa nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý điều tiết của nhà nước, ngày càng thu được những thành quả quan trọng về mọi mặt
Cùng với sự phát triển liên tục của nền kinh tế đất nước, quy mô về chiều rộng và chiều sâu hoạt động xây dựng ngày càng mở rộng, thị trường xây dựng trở lên rất sôi động Những năm gần đây ngành xây dựng phát triển rất mạnh và trưởng thành nhanh chóng về trình độ, số lượng, chất lượng, mọi chuyên ngành xây dựng;
Trong những năm qua, nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động đầu
tư xây dựng cơ bản, trong đó rất chú trọng đến hợp đồng xây dựng và các chế tài bất khả kháng trong quan hệ hợp đồng Theo đó hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động xây dưng ngày càng được hoàn thiện, có tính khả thi cao, điều chỉnh toàn diện hoạt động của xây dựng cơ bản
Thành phố Hà Nội là thủ đô trung tâm chính trị- kinh tế- văn hóa của cả nước, phát triển với nhịp độ tăng trưởng cao, đã và đang hội nhập với nền kinh tế khu vực Asean và quốc tế Với xu thế đó, nhu cầu phát triển của hoạt động xây dựng càng tăng cao Thủ đô Hà Nội là cái nôi của nền văn hóa nước đất nước, có nhiều công trình văn hóa bảo tồn quốc gia, cùng với các diễn biến bất thường của khí hậu, thời tiết việc thực hiện hợp đồng xây dựng trên
Trang 5địa bàn thành phố còn gặp nhiều khó khăn
Trong quá trình thực hiện hợp đồng nói chung, hợp đồng trong xây dựng nói riêng, nhằm ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng, hệ thống pháp luật các quốc gia và quốc tế đều có quy định các hình thức chế tài trong thực hiện hợp đồng xây dựng, mỗi hình thức chế tài mang lại những hậu quả pháp lý khác nhau đối với các bên tham gia hợp đồng Một trong những chế tài được pháp luật Việt Nam đề cập đến trường hợp trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng xây dụng khi có bất khả kháng xảy ra
Nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện bất khả kháng đối với đối với cả nước nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, học viên
chọn đề tài “Bất khả kháng theo pháp luật về hợp đồng xây dựng ở Việt
Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về xây dựng, thực hiện hợp đồng xây dựng là vấn đề xoay quanh quá trình hình thành và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nên việc nghiên cứu vấn đề này vừa có ý nghĩa thiết thực lại mang tính thời sự Trong những năm qua việc nghiên cứu, tổng kết vấn đề pháp luật về xây dựng và hợp đồng xây dựng đã có một số tác giả tiên hành Có thể kể đến một số công trình có giá trị như:
- Tác giả Nguyễn Ngọc Khánh với cuốn sách “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam”, Nxb Tư pháp, năm 2007;
- Tác giả Ngô Huy Cương với cuốn sách “Giáo trình luật hợp đồng Việt Nam - Phần chung” Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013;
- Tác giả Nguyễn Như Phát, Lê Thị Thu Thủy với cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Công an nhân dân, năm 2003
Trang 6- Bùi Hưng Nguyên với bài viết “Bình luận về miễn trách nhiệm do
vi phạm hợp đồng theo điều 294 Luật thương mại” Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7/2006
- Trần Văn Duy với bài viết “Suy nghĩ về miễn trách nhiệm do bất khả kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay”, Tạp chí Kiểm sát số 12/2013
- Phạm Thanh Bình với bài viết “Về chế định miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu luật pháp, số 2/2009
Có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật xây dựng nói chung và việc thực hiện hợp đồng xây dựng nói riêng, nhưng mỗi công trình lại đề cập đến những khía cạnh khác nhau, trên mỗi địa phương khác nhau và mang những giá trị khác nhau Đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên
cứu trực tiếp vấn đề “Bất khả kháng theo pháp luật về hợp đồng xây dựng ở
Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” Mặc dù vậy, các công trình khoa
học đã được công bố là những tài liệu có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu và viết luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về bất khả kháng theo pháp luật hợp đồng xây dựng ở Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về bất khả kháng trong hợp
đồng xây dựng
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thông hóa và phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn các quy định của pháp luật về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng
Trang 7- Chỉ ra những đặc điểm và thực tiễn về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Đưa ra quan điểm, đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hoàn thiện các quy định của pháp luật về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu Bất khả kháng theo pháp luật về hợp đồng xây dựng
ở Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội Đối tượng nghiên cứu là Bất khả kháng theo pháp luật về hợp đồng xây dựng
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng bất khả kháng và thực tiễn về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng tại thành phố
Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; dựa trên đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các tư tưởng, quan điểm về luật học tiến bộ và hiện đại trên thế giới
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu hệ thống, phân tích và tổng hợp, phương pháp khái quát hoá, phương pháp thống kê, so sánh, mô tả… Trong đó, sử dụng nhiều là phương pháp phân tích và tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Việc nghiên cứu luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận và thực trạng về vấn đề bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng nói chung và thực tiễn về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng trên địa bàn thành phố
Hà Nội nói riêng, từ đó hoàn thiện hơn cách thức tiếp cận vấn đề này, đồng
Trang 8thời giúp mọi người thấy được vai trò quan trọng của quy định của pháp luật
về bất khả kháng đối với sự phát triển hoạt động xây dựng của đất nước Luận văn cũng đánh giá một cách toàn diện thực trạng bất khả kháng từ thực tiễn thành phố Hà Nội và đưa ra được quan điểm, đề xuất được những giải pháp thiết thực để hoàn thiện các quy định của pháp luật về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được chia thành 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Bất khả kháng trong hợp đồng nói
chung và trong hợp đồng xây dựng nói riêng
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bất khả kháng trong hợp đồng xây
dựng và thực tiền từ thành phố Hà Nội
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bất khả kháng
trong hợp đồng xây dựng
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẤT KHẢ KHÁNG TRONG HỢP ĐỒNG NÓI CHUNG VÀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG NÓI RIÊNG 1.1 Khái quát về hợp đồng xây dựng
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng xây dựng
* Khái niệm về hợp đồng xây dựng
Trong đời sống xã hội, con người luôn phải vận động và tham gia các mối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, việc thiết lập với nhau những quan
hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau những lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, trao đổi tài sản hay những việc có tính chất kinh doanh, đóng vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với mọi đời sống xã hội Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải tự nhiên được hình thành mà do con người trao đổi với nhau để đạt những thỏa thuận nhất định, cùng nhau tiến hành những công việc chung Chính vì vậy, hợp đồng là
sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên khi tham gia một quan hệ nhất định
Trên cơ sở định nghĩa này, ta thấy rằng trước hết hợp đồng là một hành
vi pháp lý, hơn thế nữa nó là một hành vi pháp lý đặc biệt thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên
Hợp đồng là một hành vi pháp lý: Hành vi pháp lý là sự thể hiện ý chí
làm phát sinh các hệ quả pháp lý Mục đích của hợp đồng chính là nhu cầu, mục đích của các bên Mỗi bên đều theo đuổi những mục đích riêng của mình Hợp đồng chính là kết quả của sự dung hòa các lợi ích đối lập nhau
Hành vi pháp lý là một hành vi có ý trí của con người làm phát sinh các
hệ quả pháp lý Hợp đồng là một loại hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất và được thực hiện trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội Hành vi pháp lý
Trang 10đơn phương thể hiện ý trí của một người làm phát sinh hệ quả pháp lý, chẳng hạn như hành vi từ chối nhận thừa kế, hành vi lập di chúc, hành vi thừa nhận con ngoài giá thú… ở đây cần phân biệt hành vi pháp lý đơn phương với hợp đồng đơn vụ Hợp đồng đơn vụ là sự thống nhất ý trí giữa hai hay nhiều người nhưng chỉ làm phát sinh nghĩa vụ đối với một người trong số họ Mặc dù, trước đây có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ngày nay người ta đều thống nhất thừa nhận hành vi pháp lý đơn phương là một nguồn làm phát sinh nghĩa
vụ, có một lưu ý là hành vi pháp lý đơn phương không làm phát sinh nghĩa vụ đối với người khác Mặt khác, cho dù là đơn phương, người đã đưa ra cam kết không thể rút lại được cam kết đó nữa
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên: Thỏa thuận là sự thống nhất ý
chí phát sinh các hệ quả pháp lý; Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên làm phát sinh hệ quả pháp lý đặc biệt; hợp đồng làm phát sinh hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ nhất định
Căn cứ xác lập hợp đồng: Chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự, hợp đồng thể hiện sự tự do ý chí, không có sự ép buộc lừa dối được xác lập trên cơ sở tự nguyện Các quy phạm pháp luật về hợp đồng là sự phản ánh các quan điểm lý luận về vấn đề này
Bên cạnh đó, nếu chỉ có một bên thể hiện ý trí của mình mà không được bên kía chấp nhận cũng không thể hình thành nên một quan hệ Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi vật chất mới được hình thành quan hệ đó được gọi là quan hệ hợp đồng Như vậy cơ sở đầu tiên hình thành hợp đồng là sự tự nguyện về ý chí của các bên Tuy nhiên, hợp đồng chỉ có hiệu lực pháp luật (được nhà nước bảo vệ ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của nhà nước Các bên được tự do
thỏa thuận để thiết lập hợp đồng, nhưng sự “tự do” ấy phải đặt trong giới hạn
bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng Nếu
Trang 11để các bên tự do vô hạn, thì hợp đồng trở thành phương tiện để kẻ giàu bắt lạt
kẻ nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung toàn xã hội
Tóm lại, khi ý chí của các bên trong hợp đồng phù hợp với ý chí của nhà nước và đảm bảo sự tự do thỏa thuận thì hợp đồng có hiệu lực như pháp luật đối với các bên giao kết Nghĩa là từ đó các bên đã tự nhận về mình nghĩa
vụ pháp lý nhất định Sự can thiệp của nhà nước không chỉ là buộc các bên phải giao kết hợp đồng phù hợp với lợi ích chung và đạo đức xã hội mà còn buộc các bên phải thực hiện hợp đồng đúng với những cam kết mà họ đã thỏa thuận Theo nội dung đã cam kết, dưới sự hỗ trợ của pháp luật, các bên phải thực hiện với nhau các quyền và nghĩa vụ
Khái niệm về hợp đồng xây dựng
Khái niệm về hợp đồng xây dựng cần phải được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau Theo phương diện khách quan, thì hợp đồng xây dựng là một bộ phận các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau
Theo phương diện chủ quan, hợp đồng xây dựng là một giao dịch trong lĩnh vực xây dựng mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến những thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định Theo phương diện này thì hợp đồng xây dựng vừa được đề cập ở dạng
cụ thể, vừa được xem xét ở dạng khái quát
Theo quy định tại điều 138- Luật xây dựng năm 2014: “Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng” Định nghĩa trên cũng được ghi nhận lại trong khoản 1 Điều
Trang 122 Nghị định số: 37/2015/NĐ-CP Nghị định của Chính phủ ban hành ngày 18/06/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng
Hợp đồng trong họat động xây dựng được xác lập cho các công việc lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế công trình, giám sát, thi công xây dựng công trình, quản lý dự
án xây dựng công trình và các công việc khác trong họat động xây dựng
Hợp đồng xây dựng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu
và bên nhận thầu để thực hiện một số công việc hay toàn bộ công việc trong hoạt động xây dựng
* Đ c đi m của hợp đồng xây dựng
Hợp đồng xây dựng có những đặc điểm sau:
Hợp đồng xây dựng mang những đặc điểm chung của hợp đồng nói chung Tuy nhiên, hợp đồng xây dựng có một số nét đặc thù sau:
* Về chủ thể: Gồm nhiều chủ thể tham gia như: tư vấn, thiết kế, giám sát, thi công, trong đó có bên giao thầu và bên nhận thầu:
- Bên giao thầu là chủ đầu tư hoặc đại diện của chủ đầu tư hoặc tổng
thầu hoặc nhà thầu chính (Khoản 2 Điều 2 số: 37/2015/NĐ-CP);
- Bên nhận thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính khi bên giao thầu là
chủ đầu tư; là nhà thầu phụ khi bên giao thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính Bên nhận thầu có thể là liên danh các nhà thầu (Khoản 3 Điều 2 số: 37/2015/NĐ-CP)
* Về nội dung của hợp đồng xây dựng: rất phức tạp, gồm nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực như kinh tế, môi trường, đất đai, quy hoạch, phát triển đô thị
* Về thời gian thực hiện hợp đồng xây dựng: đa số các hợp đồng xây dựng có thời gian thực hiện kéo dài, theo từng hạng mục công trình;
Trang 13* Các yếu tố tác động đến hợp đồng xây dựng: có nhiều yếu tố tác động đến hợp đồng xây dựng, nhất là hợp đồng thi công công trình xây dựng như quá trình thực hiện gặp phải rủ ro, sự kiện bất khả kháng;
* Về mục đích của hợp đồng xây dựng: Là hợp đồng chứa đựng nhiều
yếu tố kinh tế Hợp đồng xây dựng được ký kết vừa liên quan đến các công trình xây dựng, vừa mang mục đích thương mại Mục đích này được thể hiện trong nội dung công việc mà các bên thoả thuận trong hợp đồng như là: thực hiện hoạt động xây dựng công trình, cung cấp thiết bị lắp đặt vào công trình xây dựng, trao đổi hàng hoá, thiết kế - mua sắm vật tư, thiết bị - thi công xây dựng Điều đó có nghĩa là hợp đồng xây dựng phải gắn với quá trình sản xuất
và tái sản xuất của các chủ thể kinh doanh, trong đó ít nhất một bên ký hợp đồng phải có mục đích kinh doanh còn bên kia có thể có hoặc không có mục đích kinh doanh
Nội dung hợp đồng và thực hiện hợp đồng xây dựng gắn liền với quá trình lựa chọn nhà thầu Hợp đồng xây dựng cũng chính là sản phẩm của quá trình lựa chọn nhà thầu, gần như toàn bộ các tài liệu của hợp đồng và những thương thảo để hình thành hợp đồng xây dựng đều không đươc trái với hồ sơ mời thầu và dự thầu
Hợp đồng xây dựng có những đặc điểm khá giống với hợp đồng dịch
vụ Phạm vi thực hiện hợp đồng xây dựng liên quan tới các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều văn bản trong các lĩnh vực khác nhau (lao động, thương mại, thuế, môi trường, ngân hàng, bảo hiểm….)
Sự phức tạp của hợp đồng trong việc xác định chính xác quy mô của đối tượng (khối lượng, phạm vi công việc), khó khăn trong việc đánh giá tính chất của đối tượng (đơn giản, phức tạp), khó khăn trong việc áp dụng loại giá hợp đồng theo quy mô, tính chất của đối tượng
Trang 141.1.2 Phân loại hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng
Tuỳ theo quy mô, tính chất, điều kiện thực hiện của dự án đầu tư xây dựng công trình, loại công việc, các mối quan hệ của các bên, hợp đồng trong hoạt động xây dựng có thể có nhiều loại với nội dung khác nhau
+ Hợp đồng tư vấn xây dựng: Là hợp đồng để thực hiện một, một số
hay toàn bộ công việc tư vấn trong hoạt động xây dựng như: Lập quy hoạch xây dựng; lập dự án đầu tư xây dựng công trình; khảo sát xây dựng; thiết kế xây dựng công trình; lựa chọn nhà thầu; giám sát thi công xây dựng công trình; quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; thẩm tra thiết kế, tổng dự toán, dự toán và các hoạt động tư vấn khác có liên quan đến xây dựng công
trình Hợp đồng tư vấn thực hiện toàn bộ công việc thiết kế xây dựng công trình của dự án là hợp đồng tổng thầu thiết kế
+ Hợp đồng cung ứng vật tư, thiết bị xây dựng: Là hợp đồng để thực
hiện việc cung ứng vật tư, thiết bị nằm trong dây chuyền công nghệ được lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ cho dự án đầu tư xây
dựng công trình
+ Hợp đồng thi công xây dựng: Là hợp đồng để thực hiện việc thi
công xây dựng công trình, hạng mụccông trình hoặc phần việc xây dựng theo
thiết kế xây dựng công trình
+ Hợp đồng xây dựng thực hiện toàn bộ công việc thi công xây dựng công trình của dự án: Là hợp đồng tổng thầu thi công xây dựng công trình
+ Hợp đồng thực hiện toàn bộ công việc thiết kế và thi công xây dựng công trình của dự án: Là hợp đồng tổng thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình
Trang 15+ Hợp đồng thiết kế - cung ứng vật tư, thiết bị - thi công xây dựng (viết tắt theo tiếng Anh là EPC): Hợp đồng EPC là hợp đồng xây dựng để
thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế, cung ứng vật tư, thiết bị đến thi
công xây dựng công trình, hạng mục công trình
Hợp đồng chìa khoá trao tay: Là hợp đồng để thực hiện trọn gói toàn
bộ các công việc lập dự án,thiết kế, cung ứng vật tư, thiết bị và thi công xây
"Sự kiện bất khả kháng" là một thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Pháp
“force majeure” có nghĩa là “sức mạnh tối cao” hoặc “sức người không thể kháng cự nổi” Sự kiện này xẩy ra chỉ sau khi ký hợp đồng, không phải do lỗi của bất kỳ bên tham gia hợp đồng nào, mà xẩy ra ngoài ý muốn và các bên không thể dự đoán trước, cũng như không thể tránh và khắc phục được, dẫn đến không thể thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ, bên chịu sự cố này có thể được miễn trừ trách nhiệm của hợp đồng hoặc kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng
Sự kiện bất khả kháng có thể là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra (thiên tai) như lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất, sóng thần… hoặc cũng có thể
là những hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách của chính phủ…
Trong Bộ luật dân sự năm 2015, chưa có một quy định cụ thể, riêng rẽ thế nào là sự kiện bất khả kháng, những trường hợp nào được coi là bất khả kháng, hậu quả cũng như các nội dung liên quan
Trang 16Theo khoản 1 điều 156- Bộ luật dân sự năm 2015: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”
Nhìn chung, sự kiện bất khả kháng còn được quy định rất chung chung, thậm chí là khó hiểu cũng như không bao quát được các trường hợp trong thực tế trong Bộ luật dân sự năm 2015 Điều này đã dẫn tới những tranh chấp khi ký kết hợp đồng nếu có sự kiện bất khả kháng xảy ra và đặc biệt là các đường lối xét xử khác nhau của Tòa án với cùng một sự kiện bất khả kháng;
* Đặc điểm
Bất khả kháng, trước hết phải là một sự kiện khách quan xảy ra ngoài ý chí của các bên và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của các bên Theo các quy định pháp lí nói trên, trở ngại khách quan vượt khỏi tầm kiểm soát của các bên chỉ trở thành sự kiện bất khả kháng, khi chứa đựng đầy đủ các yếu tố sau:
Thứ nhất, đó phải là tình huống mà các bên vào thời điểm giao kết hợp
đồng và phải xảy ra sau khi kí kết không thể nhìn thấy trước hoặc dự đoán trước Nếu sự kiện khách quan gây khó khăn cho việc thực hiện hợp đồng có thể nhìn thấy trước hay dự đoán trước hoặc đã xảy ra thì phải coi là bên vi phạm nghĩa vụ đã tiếp nhận gánh chịu rủi ro về trở ngại phát sinh mà không
được coi là sự kiện bất khả kháng;
Thứ hai, đó phải là sự kiện không thể khắc phục, tức là sự kiện xảy ra
phải làm cho nghĩa vụ trở nên không thể thực hiện được trong một khoảng thời gian nhất định Việc không thể thực hiện được nghĩa vụ phải có tính chất
tuyệt đối (absolument impossible) Nếu sự kiện xảy ra chỉ làm cho việc thực
hiện nghĩa vụ trở nên khó khăn hơn hay đòi hỏi nhiều chi phí hơn thì không
đủ căn cứ để miễn trách nhiệm Vì thế, những khó khăn trở ngại rất đáng kể
Trang 17như hoạt động quân sự làm gián đoạn việc cung cấp và chuyên chở hàng hóa, những cuộc đình công làm đình trệ sản xuất…cũng không đương nhiên được coi là các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ;
Thứ ba, bên vi phạm nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền biết về
sự hiện diện của sự kiện bất khả kháng Khoản 4 điều 79 Công ước Viên
1980, khoản 3 điều 7.1.7 Bộ nguyên tắc UNIDROIT năm 2004 đều quy định: bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền về sự tồn tại của trở ngại và ảnh hưởng của chúng đối với khả năng thực hiện của mình Nếu thông báo không đến tay người nhận trong khoảng thời gian hợp lí kể từ khi bên có nghĩa vụ biết hoặc buộc phải biết về trở ngại, bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra do không nhận được thông báo như vậy Còn theo quy định tại điều 295 Luật Thương mại Việt Nam 2005 thì: bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt bên vi phạm phải thông báo ngay cho bên kia biết, nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại Có thể nói rằng việc quy định về nghĩa vụ thông báo của bên
vi phạm hợp đồng là hoàn toàn hợp lí, vì lẽ nếu bên vi phạm nghĩa vụ đã biết hoặc phải biết về những trở ngại khách quan ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ của mình mà không thông báo cho bên có quyền biết, điều đó có nghĩa là bên vi phạm nghĩa vụ đã không quan tâm đến những trở ngại đó, và không coi đó là sự kiện bất khả kháng Chính vì vậy, trong trường hợp này, những trở ngại khách quan không được coi là sự kiện bất khả kháng, không là căn cứ loại trừ trách nhiệm cho bên vi phạm nghĩa vụ là hoàn toàn xác đáng Hơn nữa trong trường hợp này còn cho phép chúng ta suy luận rằng việc bên
vi phạm nghĩa vụ không thông báo cũng đồng nghĩa họ có khả năng thực hiện hợp đồng
Trang 181.2.2 Phân loại bất khả kháng theo pháp luật hợp đồng
Khác với Bộ luật dân sự năm 2015, Luật thương mại năm 2005 đã quy định rõ hơn về Sự kiện bất khả kháng ở các điều
Điều 294: Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm; Điều 295: Thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm;
Điều 296: Kéo dài thời hạn, từ chối thực hiện hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng
Với các quy định này, Luật thương mại năm 2005 đã phần nào theo kịp các quy định trên thế giới Theo đó, khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra, bên
vi phạm hợp đồng phải có sự thông báo ngay cho bên kia về trường hợp miễn trách nhiệm trong một khoảng thời gian thích hợp, nếu không thì vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, ở đây, sự kiện bất khả kháng không còn được coi là trường hợp được miễn trừ trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng nữa
Đây là một nội dung cần chú ý bởi lẽ trong thực tế, không ít những doanh nghiệp khi rơi vào trường hợp bất khả kháng thì vẫn đinh ninh mình được miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không có sự thông báo kịp thời cho bên đối tác, để rồi xảy ra những hậu quả không đáng có
Khác với luật pháp, tập quán quốc tế, pháp luật Việt Nam còn quy định rất chung chung, mờ nhạt về sự kiện bất khả kháng Theo cá nhân tôi, điều này xuất phát một phần từ quan điểm cho rằng Hợp đồng là sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, nên cũng như các quy định pháp luật khác trong lĩnh vực này, các nhà làm luật quy định khá mở, tạo điều kiện cho các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng Tuy nhiên, việc có quy định được trong hợp đồng hay không lại là một chuyện hoàn toàn khác đối với các doanh nghiệp
Trang 19* Thiên tai:
Khái niệm: theo quy định tại điều 3- Luật phòng chống thiên tai năm
2013 “Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về
người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác”
Việc coi các hiện tượng thiên tai có thể là sự kiện bất khả kháng được
áp dụng khá thống nhất trong luật pháp và thực tiễn của nhiều nước trên thế giới Bởi vì, vào thời điểm ký hợp đồng xây dựng hai bên không thể dự liệu trước rằng thiên tai sẽ xảy ra trong tương lai và hậu quả mà thiên tai gây ra là không thể tránh được
* Sự cố môi trường
Theo điều 3- Luật bảo vệ môi trường: “Sự cố môi trường là sự cố xảy
ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng”
Sự cố môi trường có thể xảy ra do:
Trang 20Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;
Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ
sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng;
Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác;
Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ
Cũng giống như thiên tai vào thời điểm ký hợp đồng xây dựng hai bên không thể dự liệu trước rằng sự cố môi trường sẽ biến đổi như thế nào trong tương lai và hậu quả mà thiên gây ra là không thể tránh được Dưới sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách
có thể nghiên cứu có thể được một phần nào đó những biến đổi của môi trường, tuy nhiên đa các sự cố môi trường xảy ra bất ngờ không thể lường trước, điều kiện môi trường thay đổi đã khiến cho việc thực hiện hợp đồng xây dựng gặp nhiều khó khăn trở ngại
* Địch họa, hỏa hoạn
Theo từ điểm tiếng Việt: Địch họa tai hoạ, tổn thất lớn do quân địch gây ra trong chiến tranh
Hỏa hoạn: Theo trang wikipedia tiếng Việt: là hiểm họa do lửa gây ra
Hỏa hoạn là thuật ngữ để chỉ một đám cháy lớn thiêu đốt phá hủy tài sản (cháy nhà và công trình xây dựng), đe dọa đến sức khỏe và cuộc sống của con người, sự sống động vật và thiêu đốt thảm thực vật (cháy rừng) Một trận hỏa hoạn có thể do tự nhiên gây ra bởi thiên tai (như núi lửa phun, sét đánh
Trang 21gây cháy rừng; động đất gây chập điện, nổ khí ga), hay do con người vô tình hay cố ý tạo ra (đốt cháy)
Có thể thấy địch họa và hỏa hoản đều là yếu tố có thể do con người gây
ra, tuy nhiên nó vẫn đảm bảo được điều kiện của bất khả kháng theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2015 đó là: đó là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép Bởi hậu quả chiến tranh và hỏa hoạn thường không lường được trước và các bên tham gia hợp đồng xây dựng cũng không lường trước được hậu quả của nó như thế nào
* Các sự kiện bất khả kháng khác: bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách của chính phủ, thay đổi quy hoạch, cấm đường…
Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng,“sự kiện bất khả kháng” cũng có thể là những hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo
chính, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách của chính phủ…
Tuy nhiên, cách hiểu và thừa nhận các hiện tượng xã hội có là “sự kiện bất khả kháng” là rất đa dạng và nhiều điểm chưa có sự thống nhất Trong cổ
luật Việt Nam, nhà lập pháp chấp nhận một cách rất dè dặt trường hợp bất khả kháng
1.2.4 Bất khả kháng theo pháp luật về hợp đồng trên thể giới
Hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới và các văn bản pháp lí quốc tế đều thừa nhận bất khả kháng là một trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm hợp đồng Mặc dù nội hàm của khái niệm bất khả kháng ở các hệ thống pháp luật có sự khác nhau nhất định Ở đây, chỉ nhắc đến 2 tài liệu pháp luật thương mại quốc tế phổ biến
Trang 221.2.4.1 Công ước Viên năm 1980
Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi là Công ước Viên) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Theo quy định tại khoản 1 điều 79- Công ước Viên 1980 thì: “Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục các hậu qủa của nó”
Công ước Viên năm 1980 quy định chặt chẽ các tiêu chí để một trường hợp bất khả kháng được công nhận miễn trách Chỉ những trở ngại nào thực
sự đến mức khiến cho việc thực hiện các nghĩa vụ là không thể (impossibile) mới được xem xét, còn những trường hợp tuy có gây hoặc đe doạ gây khó khăn trở ngại đến việc thực hiện nghĩa vụ hoặc chỉ dừng ở mức không khả thi (impracticable) thường có thể sẽ không được xem xét Công ước Viên năm
1980 quy định miễn trách cho cả người bán và người mua, đề cập đến tất cả các trường hợp bất khả kháng có thể xảy ra trong việc thực hiện bất cứ nghĩa
vụ được quy định trong hợp đồng
Về hậu quả pháp lí, theo Công ước Viên năm 1980 bên vi phạm chỉ được miễn trách nhiệm phải thực hiện các biện pháp đền bù thiệt hại gây ra bởi sự kiện bất khả kháng, bên bị vi phạm có quyền tiến hành tất cả các biện pháp bảo hộ pháp lí hay chế tài còn lại theo quy định của Công ước bao gồm quyền được yêu cầu giảm giá hàng hoá (Điều 50), buộc thực hiện hợp đồng (Điều 46, Điều 62), tuyên bố huỷ hợp đồng (Điều 49, Điều 64), và thanh toán tiền lãi trên các khoản thanh toán chậm (Điều 78)
Trang 23Về thời hạn, Công ước Viên năm 1980 quy định sự miễn trách chỉ có hiệu lực trong thời kì tồn tại sự kiện khó khăn, trở ngại (Điều 79 3) Về nghĩa
vụ thông báo, theo CISG bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải thông báo cho bên kia biết về trở ngại và ảnh hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ Nếu thông báo không tới tay bên kia trong một thời hạn hợp lý từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ đã biết hay đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc bên kia không nhận được thông báo
Do đặc điểm phức tạp của hoạt động thương mại quốc tế như sự mở rộng về không gian, sự kéo dài về thời gian, sự khác nhau về địa lí, tập quán, quy định của mỗi quốc gia mà khả năng xảy ra những trường hợp bất khả kháng là rất lớn Bên cạnh đó, do hậu quả pháp lí là được miễn trách và trong nhiều trường hợp có thể thay đổi hoàn toàn vị thế của các bên nên không tránh được khả năng các bên tìm cách lợi dụng trường hợp bất khả kháng để
cố gắng giải thoát trách nhiệm khi có những hoàn cảnh bất lợi xảy đến hoặc
để trục lợi khi giá cả thị trường thay đổi theo hướng có lợi cho bên mình Một
số hợp đồng được soạn thảo với điều khoản bất khả kháng rất cụ thể chi tiết
có thể hạn chế được tranh chấp xảy ra nhưng có rất nhiều hợp đồng thiếu vắng điều khoản quan trọng này
Công ước Viên và luật Việt Nam đều có quy định rõ ràng về các trường bất khả kháng Điều khoản 1 điều 79 công ước Viên và Điều 294, 296 luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 Khi so sánh các điều khoản trên, Công ước Viên 1980 có quy định rộng và đầy đủ hơn so với luật Việt Nam Điều 79 khoản 1 Công ước Viên quy định bên vi phạm được miễn trách nếu chứng minh được tằng trở ngại đó nằm ngoài tầm kiểm soát, không thể lường trước, không thể tránh khỏi và không thể khắc phục được hậu quả Đây là một quy định khá chung chung và bao quát cho các trường hợp có liên quan đến bất
Trang 24khả kháng Ngược lại, Điều 294 luật Thương Mại Việt Nam 2005 liệt kê khá chi tiết 4 trường hợp miễn trách, thiếu tính khái quát và có thể gây khó khăn khi áp dụng trong thực tế Về vấn đề thông báo và xác nhận trong trường hợp miễn trách, Công ước Viên 1980 và luật Thương Mại Việt Nam 2005 đều bắt buộc bên vi phạm phải thông báo cho bên kia về trường hợp miễn trách Tuy nhiên, Điều 295 Luật Thương Mại Việt Nam 2005 bắt buộc việc thông báo này phải bằng văn bản trong khi Công ước Viên 1980 không quy định gì về hình thức của thông báo;
1.2.4.2 Bộ nguyên tắc UNIDROIT năm 2004
Theo quy định tại điều 7.1.7 Bộ nguyên tắc UNIDROIT năm 2004
(Trường hợp bất khả kháng):
“ 1 Bên có nghĩa vụ được miễn trừ hậu quả do việc không thực hiện của bên mình, nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện là do một trở ngại vượt khỏi tầm kiểm soát của mình, và không thể mong chờ một cách hợp
lý ở mình xem xét được những trở ngại này vào thời điểm ký kết hợp đồng,
dự đoán hay vượt qua được trở ngại hoặc dự đoán được hay vượt qua được hậu quả của trở ngại đó
2 Khi trở ngại chỉ có ý nghĩa tạm thời, sự miễn trừ có hiệu lực trong một thời hạn hợp lý có tính đến các hậu quả của trở ngại đối với việc thực hiện hợp đồng
3 Bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền về sự tồn tại của trở ngại và ảnh hưởng của chúng đối với khả năng thực hiện của mình Nếu thông báo không đến tay người nhận trong khoảng thời hạn hợp lý kể từ khi bên có nghĩa vụ biết hoặc buộc phải biết về trở ngại, bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra do không nhận được thông báo
Trang 254 Những qui định của điều khoản này không ngăn cấm các bên thực hiện quyền huỷ hợp đồng, hoãn thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thanh toán tiền lãi cho khoản tiền đến hạn”
Từ những quy định trên có thể nhận thấy một số điểm tương đồng trong
lý luận về chế tài do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và Bộ Nguyên tắc Unidroit
Về nguyên tắc, pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế đều nhấn mạnh tính bù đắp về tài sản, hạn chế xung đột, triệt tiêu không đáng có Ở đây
có thể thấy, hậu quả pháp lý bất lợi được đặt ra khi có sự vi phạm hoặc không thực hiện nghĩa vụ Trách nhiệm thực hiện nghiêm túc, trung thực cam kết hợp đồng được các nhà lập pháp nâng lên thành các quy phạm pháp luật và trở thành trách nhiệm bắt buộc hay còn gọi là trách nhiệm pháp lý đối với các bên Chế tài vi phạm hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể vi phạm pháp luật, vi phạm cam kết giữa các bên do có hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác phải gánh chịu với tính chất là biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị vi phạm
Về thẩm quyền áp dụng, chế tài do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, quốc tế không chỉ được áp dụng bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà còn có thể được áp dụng bởi cơ quan tài phán phi chính phủ như cơ quan trọng tài của một quốc gia hay cơ quan trọng tài quốc tế Đặc biệt, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chịu sự chi phối của các hệ thống pháp luật khác nhau nên khi các cơ quan này áp dụng các chế tài vi phạm cần phải căn cứ vào sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng hoặc nếu hợp đồng không quy định thì phải căn cứ vào các quy định của luật áp dụng
Trang 26Về lĩnh vực áp dụng, chế tài do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, quốc tế được áp dụng trong lĩnh vực ký kết, thực hiện hợp đồng khi có hành vi vi phạm Nếu hợp đồng chưa được giao kết và thực hiện thì sẽ không đặt ra vấn đề hiệu lực của hợp đồng, không có căn cứ để xác định hành
vi vi phạm hợp đồng Hợp đồng không hợp pháp hoặc bị tuyên bố vô hiệu cũng có thể làm phát sinh trách nhiệm giữa các bên nhưng đó là trách nhiệm ngoài hợp đồng vì nó không phát sinh từ các nghĩa vụ do các bên thỏa thuận với nhau
Về mục đích áp dụng các chế tài, các chế tài nêu trên được áp dụng không chỉ nhằm mục đích giáo dục và phòng ngừa vi phạm pháp luật như trách nhiệm pháp lý nói chung mà mục đích chính của việc áp dụng các chế tài này là khôi phục lợi ích vật chất, bù đắp những tổn thất cho bên bị vi phạm Việc áp dụng các chế tài này không chỉ mang tính trừng phạt đối với bên vi phạm mà còn tính toán để đảm bảo lợi ích chính đáng của chính họ Điều này thể hiện ở các quy định về miễn giảm trách nhiệm, nghĩa vụ chứng minh tổn thất, nghĩa vụ hạn chế thiệt hại của bên bị vi phạm Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của quan hệ hợp đồng là quan hệ mang tính chất đền bù ngang giá Khi hợp đồng bị vi phạm, điều mà các bên quan tâm là điều chỉnh lợi ích vật chất của mình, lợi ích đó sẽ được đáp ứng ra sao thông qua việc áp dụng các chế tài do vi phạm hợp đồng
Về tính chất của chế tài, trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, yếu tố lợi ích vật chất là yếu tố hàng đầu vì mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và quốc tế là mục đích kinh doanh, thương mại tức là để thu lợi nhuận cho các bên ký kết Vì vậy, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa cũng mang tính vật chất hay tính tài sản Bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu hậu quả vật chất bất lợi, tức phải dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bồi hoàn tổn thất vật chất cho bên bị vi phạm dưới
Trang 27hình thức tiền phạt vi phạm hoặc tiền bồi thường thiệt hại, hay phải gánh chịu những tổn thất về vật chất như chi phí để thực hiện đúng hợp đồng, các tổn thất không thu hồi được do hợp đồng bị hủy bỏ hoặc bị đình chỉ Một điểm lưu ý thêm là, bên vi phạm hợp đồng sẽ không phải gánh chịu trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm hành chính trước đối tác của mình
Những điểm khác biệt trong lý luận về chế tài vi phạm hợp đồng giữa pháp luật Việt Nam và Bộ Nguyên tắc Unidroit
Về phạm vi, đối tượng áp dụng, khi xây dựng hệ thống chế tài vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa, các nhà làm luật Việt Nam xây dựng ưu tiên áp dụng đối với các quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam với nhau, giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài, giữa các tổ chức và cá nhân nước ngoài với nhau Như vậy, giao dịch chủ yếu diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam, trừ khi các bên có thỏa thuận khác Bộ Nguyên tắc UNIDROIT bao gồm những quy phạm chung nhằm điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế nên đối tượng áp dụng rộng hơn không chỉ trên lãnh thổ một quốc gia mà còn diễn ra trên lãnh thổ các quốc gia mà các bên thỏa thuận hợp đồng sẽ được điểu chỉnh bởi Bộ Nguyên tắc này Ngoài ra, nếu các bên muốn áp dụng luật của một quốc gia cụ thể thì có thể sử dụng quy định: “Hợp đồng này sẽ được điều chỉnh bởi Bộ Nguyên tắc UNIDROIT (trừ các điều khoản …)”, được bổ sung bởi luật (của nước X) đối với những vấn đề chưa được Bộ Nguyên tắc này điều chỉnh
Về yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, trong phạm vi luận văn tác giả muốn nhấn mạnh yếu tố có thiệt hại về tài sản Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì thiệt hại về tài sản là những thiệt hại vật chất thực
tế tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra là cơ sở để áp dụng chế tài vi phạm Bộ Nguyên tắc UNIDROIT khẳng định những thiệt hại, kể cả thiệt hại
Trang 28trong tương lai chỉ có thể được bồi thường khi chúng được thiết lập với một mức độ hợp lý về tính xác thực, điều này loại trừ những yêu cầu bồi thường những thiệt hại, tổn thất mang tính giả định hoặc có thể xảy ra Như vậy, Bộ Nguyên tắc UNIDROIT công nhận thiệt hại trong tương lai cũng được coi là căn cứ cấu trách nhiệm vi phạm hợp đồng Đặc biệt, Bộ Nguyên tắc UNIDROIT quy định rõ phạm vi bồi thường bao gồm cả những thiệt hại phi tiền tệ, Bộ Luật dân sự năm 2015 đã công nhận bồi thường tổn thất tinh thần, tuy nhiên Luật thương mại năm 2005 lại chưa quy định về vấn đề này
1.3 Hậu quả của bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng
1.3.1 Hậu quả pháp lý của các bên tham gia hợp đồng khi có trường hợp bất khả kháng
Khi có sự kiện bất khả kháng xẩy ra thì bên bị ảnh hưởng bởi sự kiện bất khả kháng sẽ:
Được miễn trách nhiệm nếu nghĩa vụ không được thực hiện, không được thực hiện đầy đủ hoặc không được thực hiện đúng do sự kiện bất khả kháng gây ra;
Được kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng nếu việc thực hiện hợp đồng
bị chậm trễ do sự kiện bất khả kháng;
Ngoài ra, nếu sự kiện bất khả kháng kéo dài hoặc gây ra hậu quả nghiêm trọng dẫn đến việc thực hiện hợp đồng sẽ không có lợi cho các bên thì
các bên có thể chấm dứt việc thực hiện hợp đồng
Luật Thương mại năm 2005 có quy định về căn cứ miễn trách khi gặp
trường hợp bất khả kháng tại điểm b, khoản 1 Điều 294 như sau: “Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp “xảy ra sự kiên bất khả kháng” Tuy nhiên, thế nào là sự kiện bất khả kháng thì lại không được
quy định cụ thể Theo khoản 1 điều 156- Bộ luật dân sự năm 2015: “Sự kiện
Trang 29bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần
thiết và khả năng cho phép” Sự kiện này xảy ra chỉ sau khi ký hợp đồng,
không phải do lỗi của bất kỳ bên tham gia hợp đồng nào, mà xảy ra ngoài ý muốn và các bên không thể dự đoán trước, cũng như không thể tránh và khắc phục được, dẫn đến không thể thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ, bên chịu sự cố này có thể được miễn trừ trách nhiệm của hợp đồng hoặc kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng Đây là trường hợp miễn trách nhiệm phổ biến nhất Khi bên vi phạm chứng minh được mình gặp phải trở ngại khách quan mà không thể lường trước được, chống đỡ được buộc phải vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết
và khả năng cho phép để khắc phục hậu quả nhưng không khắc phục được thì được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại
Theo quy định của pháp luật thương mại, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng Điều này có nghĩa là dù hợp đồng có quy định hay không thì khi xảy ra sự kiện bất khả kháng dẫn đến việc vi phạm hợp đồng, bên vi phạm vẫn được miễn trách nhiệm Theo đó, để được xem là bất khả kháng thì một sự kiện cần thỏa mãn
3 nội dung sau:
Thứ nhất, là sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký hợp đồng Tức là sự kiện nằm ngoài phạm vi kiểm soát của bên vi phạm hợp đồng như các hiện tượng tự nhiên: bão, lụt, sóng thần… ; các sự kiện chính trị, xã hội: đình công, bạo loạn, chiến tranh, chính nhà nước thay đổi…; ngoài ra còn có các trường hợp như hỏa hoạn phát sinh từ khu vực bên ngoài lan sang và thiêu rụi nhà máy…
Trang 30Thứ hai, là sự kiện xảy ra không thể dự đoán trước được Năng lực đánh giá xem xét một sự kiện có xảy ra hay không được xét từ vị trí của một thương nhân bình thường chứ không phải một chuyên gia chuyên sâu
Thứ ba, là sự kiện xảy ra mà hậu quả để lại không thể khắc phục được
dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép, là sự kiện xảy ra
mà không thể tránh được về mặt hậu quả Tức là sau khi bên vi phạm đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết những vẫn không khắc phục được hậu quả thì mới đáp ứng điều kiện này Tuy nhiên, nếu như bên vi phạm không thực hiện các biện pháp cần thiết để khắc phục hậu quả nhưng chứng minh được rằng
dù có hành động vẫn không thể khắc phục được hậu quả thì xem như đã thỏa mãn điều kiện này
Khi xảy ra trường hợp bất khả kháng, các bên có thể thoả thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; trừ các hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có thời hạn cố định về giao hàng hoặc hoàn thành dịch vụ
Nếu các bên không có thoả thuận hoặc không thỏa thuận được thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm một thời gian bằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng cộng với thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả, nhưng không được kéo dài quá các thời hạn sau đây: 05 tháng đối với hàng hoá, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ được thoả thuận không quá 12 tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng; 08 tháng đối với hàng hoá, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ được thoả thuận trên 12 tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng
Tuy nhiên, nếu sự kiện bất khả kháng kéo dài quá thời hạn nêu trên thì các bên có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không bên nào có quyền yêu cầu bên kia bồi thường thiệt hại Bên từ chối thực hiện hợp đồng phải thông báo cho bên kia biết trước khi bên kia bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng trong thời hạn mười ngày
Trang 311.3.2 Thủ tục thông báo khi có sự kiện bất khả kháng
Theo thông lệ chung, khi có sự kiện bất khả kháng thì bên bị ảnh hưởng bởi sự kiện bất khả kháng phải gửi thông báo cho bên kia trong một thời hạn hợp lý Tuy nhiên thông thường, các bên quy định rõ thời hạn thông báo và hậu quả của việc không thông báo: Nếu không thông báo thì sẽ mất quyền được miễn trách nhiệm hoặc kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng Trong trường hợp nếu các bên không có thỏa thuận cụ thể về hậu quả của việc không thông báo, thì các bên sẽ tuân theo luật áp dụng để giải quyết Theo nguyên tắc chung của phần lớn luật áp dụng, nếu bên bị ảnh hưởng bởi sự kiện bất khả kháng vi phạm nghĩa vụ thông báo thì sẽ không được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng Điều 79.4 của Công ước của Liên
hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 quy định: “Bên không thực hiện hợp đồng phải thông báo cho phía bên kia biết về trở ngại và ảnh hưởng của nó đến khả nãng thực hiện hợp đồng Nếu phía bên kia không nhận được thông báo về điều đó trong thời hạn hợp lý sau khi bên không thực hiện hợp đồng đã biết hoặc buộc phải biết về trở ngại đó, thì bên không thực hiện hợp đồng phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại gây ra cho phía bên kia do không nhận được thông báo.” Do vậy, để bảo đảm lợi ích của mình,
bên bị ảnh hưởng bởi sự kiện bất khả kháng cần: Gửi đến bên kia thông báo
bằng vãn bản (fax, telegraph, email, điện tín, thư bảo đảm,…) về sự kiện bất khả kháng trong thời hạn hợp đồng hoặc luật áp dụng quy định nếu không có
quy định thì trong một thời gian hợp lý
Kèm theo thông báo là vãn bản chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc tài liệu, chứng cứ hợp pháp khác có giá trị chứng minh Nếu một bên gửi cho bên kia một thông báo về sự kiện bất khả kháng mà không có tài liệu chứng minh thì chắc chắn sẽ không được chấp nhận Vì vậy việc chuẩn bị các
Trang 32chứng cứ để được hưởng miễn trừ trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng là rất
cần thiết
Kết luận chương 1
Có thể thấy rằng, trong quá trình thực hiện hợp đồng nói chung, hợp đồng xây dựng nói riêng, luôn có những rủi ro vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng Một trong những rủi ro không thể tránh khỏi đó là khi xảy ra sự việc bất khả kháng Các công ước quốc tế và pháp luật mỗi quốc gia đều có những quy định về vấn đề này, để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên khi tham gi hợp đồng
Việc xây dựng và thực thi pháp luật về bất khảng kháng trong hợp đồng xây dựng Việt Nam mới chỉ dừng lại ở bước đầu Bởi vậy, để có thể rút ngắn được khoảng cách phát triển, việc tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm các quốc gia trong khu vực và trên thế giới có quá trình điều chỉnh và thực thi pháp luật lâu dài là điều nên làm Qua việc tìm hiểu về các quy định quan điểm luật học trên thế giới về bất khả kháng, Việt Nam có thể học hỏi nhiều điểm và bằng cách tiếp cận đúng đắn, việc tiếp thu này sẽ mang lại hiệu quả cao
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẤT KHẢ KHÁNG TRONG HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG VÀ THỰC TIỄN TỪ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Thực trạng pháp luật về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng
2.1.1 Bất khả kháng theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015
Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua với rất nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung theo hướng vì con người, đề cao các giá trị phổ biến về quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 Trong đó, Điều 584- Bộ luật Dân sự năm 2015, đó là, “sự kiện bất khả kháng” trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định dựa trên nguyên tắc suy đoán lỗi hay nhà làm luật đã xác định sẵn Thiết nghĩ, mấy vấn đề này cần được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần kịp thời ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thống nhất về nhận thức và áp
dụng trong thực tiễn
Điều 584 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy:
“1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật
có quy định khác
3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”
Trang 34So với Điều 60 Bộ Luật dân sự năm 2005, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 584 Bộ Luật dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung theo hướng hợp lý hơn với thực tế phát sinh tranh chấp Theo quy định tại khoản 5 Điều 275 Bộ Luật dân sự năm 2015, một trong những
căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng làm phát sinh
nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng
Căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể
xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đó là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại” Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh người gây thiệt
hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người
gây thiệt hại có lỗi Bộ Luật dân sự năm 2015 đã quy định về căn cứ làm phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo hướng có lợi hơn cho người bị thiệt hại Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi
có các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra; Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại Khắc phục điểm bất hợp lý của Điều 604 của Bộ Luật dân sự năm 2005, điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng là phải có lỗi của người gây thiệt hại, bởi với những trường hợp thiệt hại là do tài sản gây ra thì hầu như cơ quan chức năng rất “lúng túng” khi giải quyết Đó là những trường hợp mà tài sản gây ra thiệt hại
nhưng lại không chứng minh được lỗi của bất kỳ chủ thể nào Không có lỗi cố
ý cũng như vô ý Những tài sản là súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây
Trang 35dựng, máy móc, thiết bị,… mà trong quá trình tồn tại, vận hành chúng có khả năng gây thiệt hại bất cứ lúc nào cho những người xung quanh, nguy
cơ tiềm tàng gây thiệt hại vượt khỏi sự kiểm soát của con người, tức là tự thân các tài sản này gây ra thiệt hại cho người khác mà không phải do lỗi của người quản lý, sử dụng Vì, theo lý luận về Nhà nước và pháp luật thì lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Vậy nên, không thể tìm kiếm được yếu tố lỗi trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại Nhưng thực
tế, những thiệt hại thuộc dạng này rất thường xảy ra Chính vì lẽ đó, khoản
3 Điều 584 Bộ Luật dân sự năm 2015 đã khắc phục được thiếu sót này, bằng cách bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
là “tài sản gây thiệt hại” Quy định này nhằm mục đích bù đắp phần
nào thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người bị thiệt hại, dù người quản lý hợp pháp tài sản đó không có lỗi nhưng thiệt hại thực tế do tài sản đó gây ra là có thật
Đáng chú ý, tại khoản 2 Điều 584 Bộ Luật dân sự năm 2015 có quy
định thêm trường hợp do “sự kiện bất khả kháng” hoặc hoàn toàn do lỗi của
bên bị thiệt hại thì không bên gây thiệt hại không phải bồi thường, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bồi thường hoặc luật có quy định khác
“Sự kiện bất khả kháng” là một thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Pháp “force majeure” có nghĩa là “sức mạnh tối cao” hoặc “sức người không thể kháng cự nổi” Sự kiện này xảy ra không phải do lỗi của bất kỳ bên nào, mà hoàn toàn
ngoài ý muốn và các bên không thể dự đoán trước, cũng như không thể tránh
và khắc phục được, dẫn đến không thể thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ, bên chịu sự cố này có thể được miễn trừ trách nhiệm của hợp đồng hoặc kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng
Sự kiện bất khả kháng có thể là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra, như
Trang 36lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất, sóng thần,… Việc coi các hiện tượng thiên tai
có thể là sự kiện bất khả kháng được áp dụng khá thống nhất trong luật pháp
và thực tiễn của nhiều nước trên thế giới Bên cạnh đó, cũng có quan điểm
cho rằng,“sự kiện bất khả kháng” cũng có thể là những hiện tượng xã hội như
chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách của chính phủ… Tuy nhiên, cách hiểu và thừa nhận các hiện tượng xã hội có là
“sự kiện bất khả kháng” là rất đa dạng và nhiều điểm chưa có sự thống nhất
Trong cổ luật Việt Nam, nhà lập pháp chấp nhận một cách rất dè dặt trường hợp bất khả kháng Ngày nay, trường hợp bất khả kháng đã được các nhà lập pháp quan tâm hơn Theo khoản 1 Điều 156 Bộ Luật dân sự năm 2015
(thay thế khoản 1 Điều 161 Bộ Luật dân sự năm 2005), “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép” Khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra thì bên gây thiệt hại
không phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại Thế nhưng với định
nghĩa như vậy, khi liên hệ với thực tế trong nhiều trường hợp nhận diện “sự kiện bất khả kháng” là điều không đơn giản Một sự biến xảy ra phải hội tụ
đủ những điều kiện nào mới được coi là “sự kiện bất khả kháng”?Một hiện tượng xã hội xảy ra như đình công, biểu tình,… có phải là “sự kiện bất khả kháng” không?
Trong khi đó, khoản 1 Điều 156 Bộ Luật dân sự năm 2015 chỉ đặt ra
quy định “sự kiện bất khả kháng” liên quan đến phần thời hiệu, cụ thể là để
xác định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự Tham khảo quy định tại các điều 294, 295 và
296 Luật Thương mại năm 2005, cũng quy định về “sự kiện bất khả kháng”,
mà theo đó, khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra, bên vi phạm hợp đồng phải
có sự thông báo ngay cho bên kia về trường hợp miễn trách nhiệm trong một
Trang 37khoảng thời gian thích hợp, nếu không thì vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại,…
Một số văn bản dưới luật trước đây cũng có định nghĩa thế nào là sự kiện bất khả kháng Ví dụ, theo khoản 1 Điều 4 Quyết định số 42/2002/QĐ-BCN ngày 9/10/2002 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành quy định kiểm tra cung ứng, sử dụng điện và xử lý vi phạm hợp đồng mua bán
điện, “sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan mà bên vi phạm không thể kiểm soát được, không thể lường trước được và không thể tránh được, mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép Sự kiện bất khả kháng bao gồm mưa, giông, bão, lốc, lụt, sấm sét, hạn hán, động đất, chiến tranh, phá hoại và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”
Chính vì khi “sự kiện bất khả kháng” xảy ra thì bên có dấu hiệu có lỗi
(hay vi phạm hợp đồng) được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm dân sự nên
có thể thấy việc xác định một sự kiện nào đó có phải là bất khả kháng hay không là việc rất quan trọng
Khoản 1 Điều 156 Bộ Luật dân sự năm 2015 qui định:“Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”.Quy định này, thực tế Bộ Luật dân sự năm 2005 cũng đã ghi
nhận tại khoản 1 Điều 161, nhưng suốt thời gian Bộ Luật dân sự năm 2005 có hiệu lực thi hành cho đến khi Bộ Luật dân sự năm 2015 thay thế, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng vẫn chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật
để giải thích, liệt kê những trường hợp được coi là “sự kiện bất khả kháng” Chính vì lẽ đó, kết luận trường hợp này là “sự kiện bất khả kháng”; trường hợp kia không thuộc “sự kiện bất khả kháng”, ít nhiều phụ thuộc vào nhận