1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá

248 897 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Tác giả Ngô Thị Thanh Tâm
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Ngữ văn - chuyên ngành Hán Nôm
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 248
Dung lượng 31,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá là một trong những địa phương còn lưu giữ được bia đá tương đối dồi dào về số lượng, phong phú về nội dung và nghệ thuật. Đến bất cứ thôn làng nào ở huyện Đông Sơn đều có thể bắt gặp những tấm bia đá được dựng ở đình, chùa, đền, miếu, từ đường, lăng mộ, hoặc ngoài cánh đồng, trong hang động… với kích thước và hình dáng khác nhau, tạo nên một vẻ đẹp cổ kính cho cảnh quan và toát lên một màu sắc văn hoá khá độc đáo của Việt Nam nói chung và huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá nói riêng. Văn bia huyện Đông Sơn có một lịch sử lâu dài vào loại nhất nước. Bia sớm nhất được đặt tại xã Đông Minh huyện Đông Sơn là Đại Tuỳ Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn 大 隨 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文, khắc năm Đại Nghiệp thứ 14 (618) nhà Tuỳ. Nội dung bia ca tụng giáo lý nhà Phật và ca ngợi đạo học cùng sự nghiệp của Viên thứ sử Cửu Chân họ Lê. Bia đã bị mờ nhiều chữ, tác phẩm không còn nguyên vẹn, nhưng nó là văn bản văn bia cổ nhất còn lại ở Việt Nam. Tấm bia muộn nhất ở huyện Đông Sơn có niên đại của đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là bia Ngọc Tích bi ký 玉 積 碑 記, tạo năm Việt Nam dân quốc năm Bính Tuất thứ 2 (1946) thuộc xã Đông Thanh. Với lịch sử trải dài trên 13 thế kỷ tồn tại, văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá đã góp phần quan trọng trong việc tìm hiểu niên đại và nghiên cứu các vấn đề văn học, lịch sử, địa lý, tôn giáo tín ngưỡng của Việt Nam nói chung và huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá nói riêng. Có thể nói, văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá là địa phương có nhiều văn bia cổ. Xét về loại hình văn bản, văn bia huyện Đông Sơn mang đầy đủ những đặc trưng của văn bia Việt Nam nói chung. Hơn nữa, văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá tuy từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu Hán Nôm lưu tâm, dịch và công bố, song đến nay, chúng tôi vẫn chưa thấy có một công trình nghiên cứu nào mang tính chất bao quát, tổng hợp. Những công trình nghiên cứu trước đây, hoặc là chỉ nghiên cứu, giới thiệu mang tính độc lập đối với từng di tích lịch sử văn hoá; hoặc là chỉ hướng tới mục đích công bố một số văn bia tiêu biểu của huyện Đông Sơn. Vấn đề số lượng bia đá, số lượng thác bản văn bia hiện có và địa điểm đặt bia của huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá ngày nay, vẫn còn chưa mang tính đích xác, văn bia còn bị xếp nhập nhằng giữa xã này với xã khác, giữa huyện Đông Sơn với huyện khác. Tình trạng này đã gây ít nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu khi muốn sử dụng, khai thác văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá. Vì vậy, việc nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá là việc cần thiết và có ý nghĩa. Trong đó, việc tập hợp đầy đủ, chính xác số lượng văn bia, cũng như việc khảo sát tổng quan để tìm hiểu đặc điểm, giá trị nội dung văn bia, đồng thời tiến hành phiên âm, dịch nghĩa các văn bản văn bia tiêu biểu của huyện Đông Sơn để nghiên cứu và phục vụ cho việc nghiên cứu là công việc thiết thực, nằm trong chuyên môn của ngành Hán Nôm. Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn - chuyên ngành Hán Nôm.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài

Việt Nam là một trong những nước nằm trong khu vực chịu ảnh hưởngcủa văn hoá Hán, và cũng là nước có những yếu tố đặc thù về thời tiết khí hậu,lại luôn xảy ra chiến tranh, nên người Việt đã dựng bia đá từ hơn 1000 năm naynhư là một phương thức hữu hiệu để lưu giữ các ghi chép và truyền tải thôngtin ở thời cổ và trung đại

Huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá là một trong những địa phương cònlưu giữ được bia đá tương đối dồi dào về số lượng, phong phú về nội dung vànghệ thuật Đến bất cứ thôn làng nào ở huyện Đông Sơn đều có thể bắt gặpnhững tấm bia đá được dựng ở đình, chùa, đền, miếu, từ đường, lăng mộ, hoặcngoài cánh đồng, trong hang động… với kích thước và hình dáng khác nhau,tạo nên một vẻ đẹp cổ kính cho cảnh quan và toát lên một màu sắc văn hoá kháđộc đáo của Việt Nam nói chung và huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá nói riêng

Văn bia huyện Đông Sơn có một lịch sử lâu dài vào loại nhất nước Bia

sớm nhất được đặt tại xã Đông Minh huyện Đông Sơn là Đại Tuỳ Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn 大 隨 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 隨 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 寶 安 道 場 之 碑 文 安 道 場 之 碑 文 道 場 之 碑 文 場 之 碑 文 之 碑 文 碑 文 文 , khắc

năm Đại Nghiệp thứ 14 (618) nhà Tuỳ Nội dung bia ca tụng giáo lý nhà Phật

và ca ngợi đạo học cùng sự nghiệp của Viên thứ sử Cửu Chân họ Lê Bia đã bị

mờ nhiều chữ, tác phẩm không còn nguyên vẹn, nhưng nó là văn bản văn bia

cổ nhất còn lại ở Việt Nam Tấm bia muộn nhất ở huyện Đông Sơn có niên đại

của đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là bia Ngọc Tích bi ký 玉 積 碑 文 記, tạo năm ViệtNam dân quốc năm Bính Tuất thứ 2 (1946) thuộc xã Đông Thanh Với lịch sửtrải dài trên 13 thế kỷ tồn tại, văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá đã gópphần quan trọng trong việc tìm hiểu niên đại và nghiên cứu các vấn đề văn học,lịch sử, địa lý, tôn giáo tín ngưỡng của Việt Nam nói chung và huyện ĐôngSơn tỉnh Thanh Hoá nói riêng

Trang 2

Có thể nói, văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá là địa phương cónhiều văn bia cổ Xét về loại hình văn bản, văn bia huyện Đông Sơn mang đầy

đủ những đặc trưng của văn bia Việt Nam nói chung Hơn nữa, văn bia huyệnĐông Sơn tỉnh Thanh Hoá tuy từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu Hán Nômlưu tâm, dịch và công bố, song đến nay, chúng tôi vẫn chưa thấy có một côngtrình nghiên cứu nào mang tính chất bao quát, tổng hợp Những công trìnhnghiên cứu trước đây, hoặc là chỉ nghiên cứu, giới thiệu mang tính độc lập đốivới từng di tích lịch sử văn hoá; hoặc là chỉ hướng tới mục đích công bố một sốvăn bia tiêu biểu của huyện Đông Sơn Vấn đề số lượng bia đá, số lượng thácbản văn bia hiện có và địa điểm đặt bia của huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoángày nay, vẫn còn chưa mang tính đích xác, văn bia còn bị xếp nhập nhằnggiữa xã này với xã khác, giữa huyện Đông Sơn với huyện khác Tình trạng này

đã gây ít nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu khi muốn sử dụng, khai thácvăn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá

Vì vậy, việc nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá làviệc cần thiết và có ý nghĩa Trong đó, việc tập hợp đầy đủ, chính xác số lượngvăn bia, cũng như việc khảo sát tổng quan để tìm hiểu đặc điểm, giá trị nộidung văn bia, đồng thời tiến hành phiên âm, dịch nghĩa các văn bản văn bia tiêubiểu của huyện Đông Sơn để nghiên cứu và phục vụ cho việc nghiên cứu làcông việc thiết thực, nằm trong chuyên môn của ngành Hán Nôm

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Nghiên cứu văn bia

huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn

-chuyên ngành Hán Nôm

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá từ lâu đã thu hút được nhiềunhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Cụ thể là trong các cuốn sách như: Khảo sát

văn hoá truyền thống Đông Sơn do Trần Thị Liên - Phạm Văn Đấu biên soạn năm

1988 đã giới thiệu một số bài văn bia của huyện Đông Sơn; hai cuốn sách Địa chí Thanh Hoá, tập II- Văn hoá xã hội, Nxb KHXH, 2004 và Địa chí huyện Đông

Trang 3

Sơn tỉnh Thanh Hoá, Nxb KHXH, 2006 cũng có giới thiệu một vài văn bia tiêu

biểu của huyện Đông Sơn, đồng thời đưa ra danh mục văn bia huyện Đông Sơntỉnh Thanh Hoá, tuy nhiên, danh mục này chưa thật đầy đủ và chính xác so với

số lượng và đơn vị hành chính hiện nay

Bên cạnh đó, trong các tạp chí, thông báo Hán Nôm, cũng có một sốnhà nghiên cứu có bài giới thiệu về văn bia huyện Đông Sơn, như các bài viết

của: Trần Thị Băng Thanh với bài “Thanh Hoá vườn văn bia” (Tạp chí Hán Nôm, số 3-2000), tác giả giới thiệu khái quát sự phong phú đa dạng về số lượng

và nội dung văn bia trong cả mảng khắc thơ đề vịnh và bi ký của tỉnh ThanhHoá, trong đó bao gồm cả giới thiệu về một số văn bia huyện Đông Sơn Phạm

Thị Hoa với bài “Văn khắc Hán Nôm ở đền thờ Nguyễn Nghi” (Thông báo Hán Nôm, năm 2000) đã giới thiệu tóm tắt về ngôi đền thờ Nguyễn Nghi cùng với

ba tấm bia được đặt tại đền, thuộc xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnhThanh Hoá

Ngoài ra, trong cuốn Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb KHXH, 1993 do

Nguyễn Quang Hồng chủ biên cũng có giới thiệu thư mục 20 văn bia của huyệnĐông Sơn tỉnh Thanh Hoá

Như vậy, có thể thấy, những bài viết nêu trên chỉ nghiên cứu, giới thiệumang tính độc lập cho từng di tích lịch sử văn hoá; hoặc là chỉ hướng tới mụcđích công bố một số văn bia tiêu biểu của huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá, màhoàn toàn chưa có một công trình nào trình bày về văn bia huyện Đông Sơntỉnh Thanh Hoá một cách hệ thống

3 Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là các thác bản văn biacủa huyện Đông Sơn tính theo địa lý hành chính hiện nay, cụ thể là tất cảnhững bài văn, bài thơ được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm chuyển tải đầy đủmột nội dung hoàn chỉnh được khắc trên bia đá

Trang 4

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi tập trung tiến hành khảo sát

180 thác bản văn bia, có đối chiếu với địa điểm đặt bia tại địa phương theo đơn

vị hành chính hiện nay Nghiên cứu đặc điểm về phân bố không gian và thờigian của các văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá Bước đầu tìm hiểu giátrị nội dung của văn bia trong nghiên cứu lịch sử, văn hoá xã hội huyện ĐôngSơn tỉnh Thanh Hoá Ngoài ra chúng tôi còn lập danh mục văn bia huyện ĐôngSơn và dịch nghĩa một số bài văn bia tiêu biểu

Để hoàn thành Luận văn, chúng tôi vận dụng một số phương phápnghiên cứu cơ bản sau:

3.3.1. Phương pháp văn bản học.

Thông qua mô tả văn bản về các mặt như kích cỡ bia, độ dài bài vănbia, đặc điểm trang trí trên bia, đặc điểm viết chữ,… chúng tôi đưa ra một sốnhận định về đặc điểm của văn bia huyện Đông Sơn, về vấn đề niên đại, về thờiđại và tác giả

3.3.2. Phương pháp thống kê định lượng.

Chúng tôi tiến hành một loạt các thao tác thống kê định lượng đối với

tư liệu văn bia huyện Đông Sơn thu thập được theo các tiêu chí: sự phân bốtheo không gian và thời gian, tác giả biên soạn, và các vấn đề có liên quan,v.v… Thông qua các kết quả đó, chúng tôi đưa ra những nhận xét tổng quát vềtình hình và đặc điểm của văn bia huyện Đông Sơn

3.3.3. Phương pháp tổng hợp.

Phương pháp tổng hợp liên ngành là phương pháp quan trọng trong quátrình tiến hành nghiên cứu của chúng tôi Chúng tôi dựa vào phương pháp này

để bước đầu đưa ra những nhận định tổng quát về văn bia huyện Đông Sơn

Ngoài những phương pháp trên, chúng tôi còn tiến hành phương phápnghiên cứu điền dã để khảo chứng, xác minh, và bổ sung tư liệu mới về văn biahuyện Đông Sơn

Trang 5

4 Đóng mới của luận văn

- Bước đầu khảo sát văn bản, xác định được chính xác vị trí đặt bia,thống kê tương đối đầy đủ về mặt số lượng văn bia huyện Đông Sơn được sưutầm trong những năm qua, hiện đang được lưu trữ ở Thư viện Viện nghiên cứuHán Nôm Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành thu thập thêm một số văn bản vănbia huyện Đông Sơn thông qua các tài liệu khác, và qua quá trình điền dã

- Lần đầu tiên văn bia huyện Đông Sơn được trình bày một cách có hệ

thống và tương đối đầy đủ về tình trạng và đặc điểm

- Đưa ra một số nhận xét về giá trị cơ bản của văn bia huyện Đông Sơnvề: văn học, văn hoá, nghệ thuật tạo hình Tất cả những giá trị đó được đề cậpmột cách cụ thể

- Phần Phụ lục giới thiệu những bài văn bia huyện Đông Sơn tiêu biểu,

bao gồm có nguyên văn kèm phiên âm, dịch nghĩa và chú thích

- Lập Danh mục văn bia huyện Đông Sơn mà chúng tôi thu thập và làm

lược thuật theo 8 tiêu chí

5 Bố cục của luận văn

- Luận văn gồm có 4 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kết luận

và Phần phụ lục

- Phần Nội dung được chia làm 3 chương:

+ Chương 1:Giới thiệu khái quát về huyện Đông Sơn.

+ Chương 2: Đặc điểm văn bia huyện Đông Sơn.

+ Chương 3: Tìm hiểu giá trị của văn bia huyện Đông Sơn.

- Phần Phục bao gồm:

+ Phụ lục 1 Danh mục văn bia huyện Đông Sơn.

+ Phục lục 2 Phiên âm, dịch nghĩa giới thiệu một số văn bia huyện Đông Sơn.

+ Phụ lục 3 Nguyên văn một số bài văn bia giới thiệu.

Trang 6

6 Quy ước trình bày

- Trong phần danh mục văn bia tóm lược, kích thước văn bia được đotheo hình thức: chiều ngang x chiều cao, đơn vị tính là cm

- Những chữ trên thác bản bị mờ, chúng tôi chưa chắc chắn về phương

án phiên âm sẽ được đặt trong dấu []

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐÔNG SƠN

Đông Sơn là một huyện đồng bằng của châu thổ Sông Mã, nằm ở trungtâm của tỉnh Thanh Hoá, cách 5 km về phía Tây thành phố Đông Sơn là mộtvùng đất được kiến tạo trên một địa hình tương đối ổn định, có đồng bằng mầu

mỡ phì nhiêu, có hệ thống núi đồi gò bãi phong phú, và còn có cảnh quan rấtđẹp, hài hoà Đông Sơn là huyện có nhiều tiềm năng đất đai và con người, có vịtrí quan trọng về kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh Thanh Hoá

và Đông Vinh; phía Bắc giáp huyện Thiệu Hoá, gồm các xã: Đông Lĩnh, ĐôngTiến, Đông Thanh, Đông Khê, Đông Hoàng

Trang 8

đất của Đông Sơn hình thành chủ yếu do phù sa của sông Chu và sông Mã bồiđắp nên có độ mùn khá cao, các chất dinh dưỡng trong đất phong phú, phù hợpvới nhiều loại cây trồng, nhất là thuận lợi cho canh tác nông nghiệp Ngoài ra,Đông Sơn còn có một diện tích đất không nhỏ thường bị úng nước mưa mùa

hè, phân bố ở địa hình thấp, trũng hoặc lòng chảo của vùng châu thổ

Nhìn chung, đất Đông Sơn tốt cả về hoá tính và lý tính, không chua,thích hợp với các loại cây lương thực và cây công nghiệp [195/17]

Về khí hậu, sông ngòi.

Khí hậu của huyện Đông Sơn cũng như các huyện trong vùng đồngbằng Thanh Hoá, đều chịu sự ảnh hưởng, chi phối của khí hậu nhiệt đới giómùa

Sông ngòi của Đông Sơn gồm có 2 sông chính là sông Hoàng và thuỷnông sông Chu Ngoài ra còn có trên 325ha ao hồ phân bố hầu hết các xã tronghuyện [195/11-12]

Về tài nguyên, khoáng sản.

Đông Sơn là một trong những huyện của Thanh Hoá có đồi, núi đá vôiphong phú, nằm rải rác ở các xã trong huyện với trữ lượng khoảng 20 triệu m3 .Phần lớn các núi đá này có chất lượng tốt, đáp ứng cho nhu cầu xây dựng cáccông trình vĩnh cửu, làm đá mỹ nghệ, ôplat có giá trị cao Đặc biệt là đá núiNhồi: “Ở phía Tây Nam huyện, có một quả núi lớn và cao gọi là núi An Hoạch,

… Sắc đá óng ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt Sau này đục đálàm khí cụ, ví như đẽo đá làm khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùnglàm bia văn chương thì còn mãi ngàn đời”[2] Đá núi Nhồi được hình thànhcách ngày nay khoảng 200 - 300 triệu năm, là loại đá không liền tấm, cứngnhưng không giòn, không có tạp chất, mịn, các khối đá tạo thành từng lớp có

độ dày mỏng khác nhau

Ngoài ra, huyện Đông Sơn còn có các tài nguyên khác như: đất sét(dùng làm gạch, ngói, gốm, sứ, tiêu biểu là đất sét Đông Ngàn, xã ĐôngVinh); than bùn; nước ngầm;…

Trang 9

Thời Trần - Hồ, phủ lộ Thanh Hoá gồm có 7 huyện và 3 châu Cụ thểlà: huyện Cổ Đằng, Cổ Hoằng, Đông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, Yên Định,Lương Giang, châu Thanh Hoá, châu Ái, châu Cửu Chân Tên gọi Đông Sơnbắt đầu từ đây

Thời thuộc Minh, Trấn Thanh Đô đổi thành phủ Thanh Hoá, lãnh 4châu và 11 huyện, trong đó có Đông Sơn [195/27]

Thời Lê - Nguyễn Thanh Hoa lãnh 4 phủ, 16 huyện và 4 châu HuyệnĐông Sơn lúc này thuộc vào phủ Thiệu Thiên Năm Gia Long thứ 14 (1815)đổi phủ Thiệu Thiên thành phủ Thiệu Hoá

Năm 1928, huyện Đông Sơn được đổi gọi là phủ Đông Sơn

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tên huyện Đông Sơn vẫn giữnguyên Huyện lỵ Đông Sơn đóng ở Rừng Thông (nay là thị trấn Rừng Thông)

Trang 10

1.1.2.2 Địa danh làng xã.

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, nhất là Khảo cổhọc và Sử học cho thấy, Đông Sơn là một trong những vùng đất cổ nhất của

Thanh Hoá và cương vực lúc đó rộng gấp nhiều lần hiện nay “Kẻ” - một từ chỉ

địa danh cổ nhất nước ta, còn lưu danh ở nhiều vùng ở Đông Sơn, như: Kẻ Trổ,

Kẻ Dậu, Kẻ Môi, Kẻ Thìa, Kẻ Trầu, Kẻ Chiếu, Kẻ Rủn, Kẻ Bôn, Kẻ Chẻo, KẻBụt, … Và những từ chỉ địa danh như: xá, trang, ấp, phường, vạn, … cũngxuất hiện và có không ít ở vùng đất này như: Nguyên Xá, Lê Xá, Ngô Xá,Quảng Xá, Bồ Lồ trang, phường Vạn Niên, … là những bằng chứng sinh động

về sự phong phú và đa dạng của một vùng đất cổ nổi tiếng của Thanh Hoá.Theo tiến trình phát triển của xã hội, những từ chỉ địa danh hành chính đó đã sựthay đổi như: Kẻ Bôn chuyển thành Cổ Bôn; Kẻ Rủn chuyển thành làng Rủn(nay là xã Đông Khê); Kẻ Bụt chuyển thành thôn Cửa Bụt; Kẻ Lậu chuyểnthành thôn Ngọc Lậu; …

Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, vào thời kỳ này Đông

Sơn gồm có 6 tổng (Thọ Hạc, Thạch Khê, Đại Bối, Vận Quy, Quang Chiếu, LêNguyễn), 145 xã, thôn, trang, vạn, giáp, sở, phường [223/111]

Dưới thời vua Minh Mệnh, một số tên tổng, làng, xã của huyện ĐôngSơn được đổi tên, như: tổng Lê Nguyễn đổi thành tổng Thanh Hoa; xã Nguyễn

Xá (tổng Vận Quy) đổi thành tổng Quy Xá; xã Ngọc Đôi (tổng Thạch Khê) đổithành xã Ngọc Tích;… chia tổng Thọ Hạc thành 2 tổng (Thọ Hạc và Bố Đức);tổng Quang Chiếu thành 2 tổng (Quang Chiếu và Quảng Chiếu) Lúc này,huyện Đông Sơn gồm có 8 tổng

Đến nửa sau thế kỷ XIX, dưới thời Tự Đức, tên gọi một số thôn, làng

của huyện Đông Sơn đã thay đổi Theo Đồng Khánh dư địa chí, cuối thế kỷ

XIX, hai tổng Thạch Khê và Tuyên Hoá được chia làm 3 tổng (Tuyên Hoá,Thạch Khê và Thanh Khê) Đông Sơn gồm có 9 tổng (Thọ Hạc, Đại Bối, Bố

Trang 11

Đức, Vận Quy, Thạch Khê, Thanh Khê, Tuyên Hoá, Quang Chiếu, QuảngChiếu), bao gồm 147 xã, phường, giáp, vạn

Đầu thế kỷ XX, tổng Thanh Khê sau đổi thành Kim Khê, tổng QuangChiếu đổi thành Viễn Chiếu Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900), nhà Nguyễncắt 2 tổng Vận Quy và Đại Bối nhập vào huyện Thuỵ Nguyên (nay thuộc huyệnThiệu Hoá) Huyện Đông Sơn còn lại 7 tổng: Thọ Hạc, Bố Đức, Viễn Chiếu(Quang Chiếu), Quảng Chiếu, Tuyên Hoá, Kim Khê (Thanh Khê), Thạch Khê

Đến năm Bảo Đại thứ 3 (1928), huyện Đông Sơn đổi thành phủ ĐôngSơn, gồm có 7 phủ với 115 làng và 5.794 xuất đinh

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1946, huyện Đông Sơn

đã chia 7 tổng cũ thành 22 xã

Từ sau năm 1954 đến nay, huyện Đông Sơn nhiều lần thay đổi tênhuyện và các cuộc tách nhập giữa các xã của huyện Đông Sơn với các xã ở cấphuyện khác, cùng với đó là các quyết định thành lập thị trấn Rừng Thông (năm1992) và thị trấn Nhồi (năm 2006)

Hiện nay, huyện Đông Sơn bao gồm 19 xã và 2 thị trấn Đó là: Thị trấn huyện lỵ Rừng Thông, thị trấn Nhồi và các xã Đông Anh, Đông Hoà, Đông Hoàng, Đông Hưng, Đông Khê, Đông Lĩnh, Đông Minh, Đông Nam, Đông Ninh, Đông Phú, Đông Quang, Đông Tân, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Thịnh, Đông Văn, Đông Vinh, Đông Xuân, Đông Yên.

1.1.3 Dân cư và các ngành nghề truyền thống

1.1.3.1 Dân cư

Vùng đất Đông Sơn không chỉ là nơi đầu tiên phát hiện được di vật củavăn hoá Đông Sơn có niên đại cách ngày nay khoảng 2.820 năm, mà nơi đâycòn phát hiện được nhiều dấu tích cư trú, hoạt động vật chất của chủ nhân vănhoá Đông Sơn Trên lưu vực sông Mã, người ta đã phát hiện được nhiều di tíchkhảo cổ thuộc về văn hoá Đông Sơn với đủ các loại hình: di tích cư trú, mộtáng, di chỉ - xưởng, quan trọng hơn cả là việc phát hiện công xưởng chuyên

Trang 12

chế tác các công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang sức trên đất Đông Sơn Các ditích này chủ yếu tập trung ở khu vực ngã ba sông trên địa bàn Đông Sơn Từkết quả khảo cổ, người ta cho rằng: vùng đất này không những chỉ là địa bàngốc, mà còn là một trung tâm kinh tế - chính trị quan trọng của cư dân ĐôngSơn trong buổi đầu dựng nước.

Hiện nay, dân số của các xã trong huyện khá đông đúc và tỉ lệ tăngnhanh Theo số liệu năm 2003, dân số huyện Đông Sơn là 109.797 người, baogồm 24.880 hộ, mật độ dân số trung bình 1.030 người/km2 [195]

1.1.3.2.Các ngành nghề truyền thống

Nghề chế tác đồ đá

Nghề chế tác đá ở Đông Sơn là một trong những nghề cổ truyền đượcbảo lưu và phát triển lâu đời nhất ở Đông Sơn, nó được hình thành và phát triểntrên cơ sở của một nguồn nguyên liệu địa phương sẵn có, và tiếp thu truyềnthống kỹ thuật từ xưa

Núi An Hoạch nằm ở phía Tây Nam huyện Đông Sơn, trên địa bàn hai

xã Đông Tân và Đông Hưng là một trong những trung tâm khai thác đá nổitiếng của nước ta, được người thợ đá rất ưa dùng Núi cao, thoải, đá mịn, tiếngkêu trong, có thể dùng làm bia, làm khánh cùng các vật dụng khác Từ thời Lý,Thái uý Lý Thường Kiệt đã biết đến tiếng đá núi Nhồi, nên đã cho người đếnnúi Nhồi khai thác để sử dụng Đến đời Trần, nghề đục đá ở núi An Hoạch (núiNhồi) đã nổi tiếng, được triều đình biết tới, thợ đá An Hoạch được huy độngvào việc đục đá ở các núi Thiên Kiện và Khuân Mai Triều Lê, từ những miếuđiện ở Lam Kinh (huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá) đến Lăng Quận công (ĐôngSơn) đều do thợ đá núi Nhồi góp phần tạo dựng

Làng Nhồi chủ yếu vẫn sống bằng nghề nông Đục đá, sản xuất các sảnphẩm từ đá là một nghề phụ quan trọng ở đây Nghiên cứu về các nghề thủcông ở Thanh Hoá, Robequain - một người Pháp cho biết: vào cuối triềuNguyễn, ở làng Nhồi có khoảng 300 hộ làm nghề đục đá [196/971-972]

Trang 13

Hiện nay, nghề đục đá ở Đông Sơn, mà chủ yếu là ở làng Nhồi vẫntiếp tục phát triển đa dạng, phong phú nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng caocủa công tác xây dựng và đời sống.

Nghề gốm:

Đông Sơn là nơi có nguồn nguyên liệu đất sét tốt, có hệ thống giaothông đường thuỷ thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi Do vậy, nghề sản xuấtgốm ở đây đã sớm hình thành và nhanh chóng trở thành một trong những trungtâm sản xuất đồ gốm của xứ Thanh [230/31-32]

Trung tâm sản xuất đồ gốm là vùng Đức Thọ và một số nơi ven sôngChu, sông Mã, như Vồm, Thổ Phương, Là vùng có đầy đủ các yếu tố vềnguồn nguyên liệu tốt, chất đốt dồi dào, cùng với việc tiếp thu kinh nghiệm sảnxuất từ xưa, nghề làm đồ gốm ở Đức Thọ phát triển tương đối nhanh trở thànhvùng gốm quan trọng của tỉnh Thanh Hoá, và cũng là một trong những vùng cónghề gốm quan trọng nhất nước ta Các lò gốm ở Đức Thọ sản xuất chủ yếu là

đồ dân dụng như chum, vại, lọ, hũ, chĩnh, chậu, ấm, bình vôi, tiểu sành,…

Ngày nay, nghề sản xuất đồ gốm sành sứ ở Thanh Hoá vẫn đang duy trì

và phát triển Trên vùng đất Đức Thọ xưa đã hình thành một khu vực sản xuất

đồ gốm - sành khá sầm uất, đó là khu gốm Lò Chum được nhân dân khắp nơibiết đến

Nghề đúc đồng:

Nghề đúc đồng là một trong những nghề thủ công cổ truyền khá nổitiếng ở Thanh Hoá, được tập trung chủ yếu ở làng Trà Đông, xã Thiệu Trung,Đông Sơn (này thuộc huyện Thiệu Hoá tỉnh Thanh Hoá), xưa còn có tên là TràSơn Trang, tên Nôm là Kẻ Chè Làng này chủ yếu sống bằng nghề đúc đồng,đơn vị sản xuất chủ yếu là gia đình Mỗi gia đình là một cơ sở sản xuất, là một

lò riêng, chủ gia đình đồng thời cũng là chủ lò đúc

Sản phẩm ở Trà Đông được khắp nơi ưa chuộng, không chỉ chủ yếu làcác đồ dùng dân dụng như: nồi đồng, bát hương, đèn, chân đèn,… mà với sựtích luỹ kinh nghiệm phong phú,mà bàn tay tài hoa người thợ đúc đồng còn tạo

Trang 14

ra những sản phẩm mang tính nghệ thuật cao, như các loại: tượng, chuông, congiống, con rồng,… Nghề đúc đồng ở Trà Đông chủ yếu tập hợp nguyên liệu từviệc tận dụng các nguồn đồng thứ phẩm

Ngoài ra, ở Đông Sơn còn có nghề dệt, cũng là một nghề cổ truyền xuấthiện sớm Trong số những làng dệt được biết đến ở Đông Sơn, nổi tiếng là làngdệt Hồng Đô, xã Thiệu Đô huyện Đông Sơn (nay thuộc huyện Thiệu Hoá) với

nghề dệt nhiễu Dấu ấn của nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải còn để lại trong

một số hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian, như hát phường vải, trong các lễhội thi dệt vải,…

1.2 Văn hoá - Xã hội.

Đông Sơn là một trong những vùng đất cổ của đồng bằng Thanh Hoá.Bằng tinh thần lao động cần cù, trí thông minh sáng tạo và lòng yêu quê hươngđất nước, người dân Đông Sơn đã tạo dựng cho mình một đời sống tinh thần vôcùng phong phú và đa dạng Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, những tinh hoatrên các lĩnh vực kinh tế và xã hội, cùng với những đặc điểm của hoàn cảnhthiên nhiên, hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh con người đã tạo nên các đặc trưngvăn hoá của vùng đất này, trở thành những di sản văn hoá không chỉ của riêngĐông Sơn mà còn là của Thanh Hoá và cả nước

1.2.1 Những phong tục tập quán, tín ngưỡng.

Cũng như bao miền quê khác, người dân Đông Sơn rất coi trọng phongtục thờ cúng tổ tiên Ở Đông Sơn hiện có khoảng hơn 60 nhà thờ họ và từđường [195/435-442] Mỗi nhà thờ họ thường gắn liền với một cá nhân nổitiếng của dòng họ đó, là những người khoa bảng đỗ đạt, có công lao to lớn vớidân, với nước Đấy không chỉ là niềm tự hào của riêng dòng họ mà còn là niềm

tự hào chung của cả cộng đồng cư dân làng và cả một vùng rộng lớn Có cácnhà thờ họ như: Nhà thờ Nguyễn Chích (xã Đông Ninh); nhà thờ Nguyễn VănNghi, Nguyễn Khải (xã Đông Thanh); lăng mộ Quận công Lê Trung Nghĩa (xãĐông Hưng); từ đường họ Lê Khả (xã Đông Khê);…

Trang 15

Họ lớn thì có nhà thờ riêng, họ nhỏ thì lấy nhà Tộc trưởng làm nhà thờ

họ, do Tộc trưởng đảm trách việc hương khói, giỗ tết và có phần ruộng hươnghoả để chi dùng Vào ngày giỗ họ, con cháu trong họ “đơm cỗ” đội đến cúng ởnhà thờ họ rất nghiêm cẩn Cũng trong những dịp này, người ta thường kết hợpbàn việc quan trọng khác của dòng họ, như: lập hoặc bổ sung gia phả, xây mộ

tổ, xây dựng nhà thờ họ,…

Ngoài ra, có một số người không có con để kế nối việc thờ cúng ông

bà, cha mẹ thì họ cúng ruộng, tiền cho làng xã để sửa chữa, xây dựng đình chùa

và các công trình công cộng của làng như: cầu, cống, đường xá, v.v… để được

xã tôn bầu làm Hậu thần và thờ cúng khi họ qua đời Điều này được phản ánhkhá đậm nét trong các văn bia Hậu thần, Hậu phật ở huyện Đông Sơn

Tín ngưỡng thành hoàng, là một phong tục không thể thiếu trong cáclàng xã Đông Sơn Do quan niệm “đất có thổ công” nên phần nhiều các làngđều có thờ một vị thần “bảo trợ” Tuỳ theo quy mô kiến trúc và chức năng màcác vị thần được thờ ở đình, đền, nghè, miếu, Thành hoàng có thể là nhân vậtthần thoại; có thể là một con người thực có công tích lớn lao với cộng đồnglàng, được cả làng suy tôn; có thể là nhân vật lịch sử của địa phương hay củadân tộc Vị thần đó được dân làng kính ngưỡng thờ cúng Ở Đông Sơn, trongcác nhân vật được tôn là “Thành hoàng” thì nhiều nhất là những người có cônglao trong các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và những người đỗ đạt, giữ nhữngtrọng trách quan trọng trong xã hội Cụ thể như: đền thờ Nguyễn Nghi, đền thờCao Cử (xã Đông Thanh); đền thờ Nguyễn Đăng Khoa (xã Đông Hoà); đìnhXuân Lưu (xã Đông Xuân) thờ Quận công Nguyễn Đình Thuần;…

Bên cạnh đó, ở Đông Sơn còn thờ cúng nhiều vị thần khác như thần:Cao Sơn, Đông Hải, công chúa Liễu Hạnh, Thiên Cương, Long Uyên,… Có thểnói, tục thờ cúng tổ tiên, thần thánh từ lâu đã trở thành truyền thống đạo đứcdân tộc “uống nước nhớ nguồn” của con người Đông Sơn nói riêng và củangười Việt Nam nói chung

Ngoài ra, ở Đông Sơn còn có một số tục lệ như:

Trang 16

Tục kết chạ, là một tục lệ phổ biến trước kia ở Đông Sơn, nhằm tăng

cường tinh thần đoàn kết và thân thiện láng giềng Một làng có thể kết chạ vớimột hoặc nhiều làng khác nhau Trong các lễ hội của làng thì lễ kết chạ, đi chạ,hội chạ là một lễ quan trọng và các làng thường tổ chức các hình thức sinh hoạtvăn hoá khá sôi nổi Hiện nay tục lệ này không còn phổ biến và các làng cũngkhông mấy áp dụng

Tục khảo thí, là tục kiểm tra các học trò trong làng, mỗi năm được tổ

chức một lần Trong các làng xã của Đông Sơn phần lớn có tục này và đượcduy trì thường xuyên, nhất là các làng có nhiều người đỗ đạt, có truyền thốngkhoa bảng, tiêu biểu như làng Cổ Bôn (xã Đông Thanh) Hiện nay tục lệ này

không còn lưu truyền trong vùng Và còn có các tục: khảo rể, tục gánh nước đầu năm, tục đi chợ Chuộng (còn có tên gọi là chợ Hoàng), tục săn Cuốc,v.v…

tất cả đã tạo nên nét đặc trưng làm phong phú thêm văn hoá Đông Sơn

Bức tranh phong tục tập quán, tín ngưỡng ở Đông Sơn có thể nói là đadạng, phong phú, trong đó có nhiều yếu tố cổ xưa bị mai một, che lấp hoặcđược nhào nặn lại Song nhìn tổng thể thì đó là thuần phong mỹ tục, là thô phácsong lành mạnh, biểu hiện những mong ước của người dân hướng tới cuộc sốngyên ả trong lành và ít bị xáo trộn Nó là linh hồn của nền văn hoá dân gian(folkore) xứ Thanh

1.2.2 Di tích lịch sử văn hoá và lễ hội truyền thống.

Về di tích lịch sử văn hoá

Huyện Đông Sơn hiện có 125 di tích lịch sử văn hoá các loại Trong đó,đình có 14 di tích, chùa có 11 di tích, từ đường - nhà thờ họ có 25 di tích, đền

có 45 di tích, nghè có 17 di tích, và lăng có 1 di dích [195/427-442] Có thể nói,những di tích lịch sử văn hoá huyện Đông Sơn đã góp phần làm nên nét đặctrưng văn hoá của vùng đất này

Về lễ hội truyền thống.

Lễ hội trong truyền thống dân tộc trở thành một nhu cầu tinh thần, nhucầu tâm linh không thể thiếu trong mỗi tâm hồn người dân đất Việt Lễ hội đểmong cầu cuộc sống yên bình, nhân khang vật thịnh, đất nước phát triển

Trang 17

Cũng giống như các miền quê khác ở Việt Nam, trong một năm, ngườidân Đông Sơn cũng có các tết chung của dân tộc như: tết Nguyên Đán, tếtThanh minh; tết mùng 5 tháng năm (còn gọi là Tết giết sâu bọ); tết Rằm tháng7; và tết Rằm tháng 8 (còn gọi là Tết Trung Thu)

Ngoài ra, ở Đông Sơn còn có các lễ hội cổ truyền khá sôi nổi, tiêu biểunhất là lễ hội Nghè Sâm và lễ hội Cổ Bôn [195/464-474]:

- Lễ hội Nghè Sâm

Nghè Sâm thờ phụng Lê Ngọc, quan Thái thú quận Cửu Chân thời Tuỳ(còn gọi là Cao Hoàng) và người con trai cả của ông là Ích Từ Công (còn gọi làĐức Thánh cả), thuộc làng Nhuệ Sâm tổng Tuyên Hoá, nay thuộc xã ĐôngXuân Lễ hội Nghè Sâm khởi thuỷ chỉ là ngày cúng giỗ hai nhân vật trên Ngàyhội đó không chỉ là ngày hội lớn của 9 xã, thôn thuộc 3 tổng (Tuyên Hoá,Thanh Khê, Quảng Chiếu) mà còn là lễ hội chung của cả vùng

Theo tục lệ, lễ hội này cứ 3 năm tổ chức một lần, vào các năm Thìn,Tuất, Sửu, Mùi Thời gian tổ chức lễ hội Nghè Sâm là vào những ngày cuốitháng Giêng âm lịch và kéo dài từ 7 đến 10 ngày Trong lễ hội nghè Sâm, trungtâm của phần hội là sự công diễn các diễn trò của các làng xã sau khi đã được

Hội đồng hàng tổng và đại biểu của các làng về khảo trò lựa chọn Sân khấu để

diễn trò là sân Nghè Sâm Các trò diễn trong Lễ hội Nghè Sâm tiêu biểu nhưcác trò: Xiêm Thành, Tô Vũ, Múa đèn, Tiên Cuội, trống mõ, trò Hà Lan,…

Lễ hội trở thành ngày hội lớn trong vùng, thu hút nhân dân khắp nơitrong huyện Đông Sơn và các vùng lân cận tấp nập kéo về Viên Khê xem hội.Ngoài ra, trong Lễ hội còn có các trò diễn mang đậm dấu ấn của các làng lâncận khu vực Nghè Sâm như các trò: Chạy gậy, Tô Vũ chăn dê, múa Lào,… Cáclàng tham gia lễ hội vào ngày kết thúc thường làm lễ tạ thần và tổ chức ăn uốnglinh đình

- Lễ hội Cổ Bôn

Cổ Bôn, xưa có tên gọi là Kẻ Bôn, gồm có 4 làng: Ngọc Tích, PhúcTriền, Kim Bôi và Quỳnh Bôi (gọi chung là Tứ Bôn), nay là xã Đông Thanh

Trang 18

huyện Đông Sơn Nơi đây được xem là một kho tàng lưu giữ văn hoá, văn nghệdân gian đặc sắc Trong bốn làng này, mỗi làng thờ một vị thành hoàng riêng(làng Ngọc Tích thờ Đế Thích, làng Phúc Triền thờ Nguyễn Văn Nghi, làngKim Bôi thờ Đăng Quận công Nguyễn Khải, làng Quỳnh Bôi thờ “Hắc BạchĐại vương” - thờ con cáo trắng và đám mây đen).

Phần lễ bao gồm có: Lễ Triều quan, được tiến hành vào sáng ngày

mùng 2 tháng Giêng âm lịch, có các vị trong Hội Tư văn bốn xã, khăn áo chỉnh

tề đến nhà Thánh làm lễ Đức Khổng Tử và thất thập nhị hiền Sau đó cử từ 10đến 12 người mặc đồ tế đến tận gia đình các vị đỗ đại khoa để cúng lễ như:Hoàng giáp Lưu Ngạn Quang (đỗ năm 1481), Tiến sĩ Lê Khả Trù (đỗ năm1628), Thám hoa Thiều Sĩ Lâm (đỗ năm 1670), Tiến sĩ Lê Khả Trịnh (đỗ năm

1676) v.v… Lễ khảo học trò (khảo thí) vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch Lễ giỗ chung cả làng ngày 19 tháng Giêng âm lịch, là ngày giỗ chung cho những

người bị giặc sát hại cùng một ngày, cùng với những vong linh 5 đời không aithờ cúng, người không có hậu tự

Hội tế làng Cổ Bôn, được mở vào ngày 20 tháng Giêng Trước đó,chiều ngày 19 tháng Giêng, cả bốn làng đều rước kiệu đưa bốn vị thành hoàngđến áng tế Cuộc rước kiệu diễn ra rất trang nghiêm, lộng lẫy cờ lọng nhưngcũng rất tưng bừng, rộn rã của tiếng trống chiêng và bát âm Sáng ngày 20tháng Giêng, sau khi kiệu và các lễ phẩm đã chuẩn bị xong, đặt đúng vị trí quyđịnh thì Nha môn mới mời các quan viên, tư văn, hương lão vào chiếu ngồitheo một quy định rất cụ thể Các tế quan và trình tự cuộc Đại tế cũng giốngcác nơi Tế xong, có một vị đại diện hàng quan viên (có hàm lục phẩm trở lên

và hưu quan tại làng) ngân nga cao giọng cất tiếng hỏi về tình hình mùa màng,sưu dịch, giá cả của làng trong năm qua Sau đó thông qua câu trả lời thực tế

mà các quan viên nghị định để chọn lấy một trong ba chữ Thượng-Trung hoặc

Hạ để quyết định việc mở hội diễn trò Mùa màng tươi tốt, xóm làng yên bìnhquan viên thông ra chữ Thượng, hoặc chữ trung thì dân các làng chuyền nhau,

vỗ tay reo hò

Trang 19

Phần hội Trong lễ hội Cổ Bôn có các trò diễn như: trò đánh cờ, trò

Tiên cuội, trò Thuỷ phường, trò Ngô phường, trò Lan Phường v.v… Trò diễntrên sân áng tế kéo dài 5-7 ngày Suốt thời gian lễ hội, các gia đình đón kháchtiếp đãi; nhà thờ các vị đại khoa hương đèn không tắt, các cuộc yết lễ ở 4 đềnthờ ở 4 làng cũng liên tục diễn ra tuỳ theo các làng

Nhìn chung, Lễ hội truyền thống Đông Sơn cùng với các trò diễn phánánh nhiều mặt trong cuộc sống hàng ngày cũng như tâm tư nguyện vọng củaquần chúng nhân dân Có thể nói, lễ hội Nghè Sâm và Cổ Bôn là một nét đặcsắc trong lễ hội dân gian vùng Đông Sơn

1.3 Văn học - Giáo dục

1.3.1 Văn học dân gian và văn học viết.

1.3.1.1 Văn học dân gian.

Văn học dân gian Đông Sơn là một bộ phận của dòng văn học dân gianThanh Hoá Nó xuất hiện trước khi có chữ viết và song hành cùng với văn họcthành văn Các thể loại văn học dân gian được lưu hành trong cả nước đềuđược bắt gặp ở đây, như thơ ca dân gian (tục ngữ, ca dao, dân ca,…) và vănxuôi dân gian

- Truyện kể dân gian, bao gồm các loại chủ yếu như: thần thoại, cổ tích,

truyện cười, truyện ngụ ngôn,… Trong đó, tiêu biểu là truyện: Núi Quảy, sông Cày; Sự tích núi Vọng phu; Vợ chồng anh Kình; Trương Ba đánh cờ; Ông đồ Bôn hay chữ; Ba mươi tuổi mới đi học mà đỗ Hoàng giáp v.v…

- Phương ngôn, ngạn ngữ, tục ngữ

Là những nhận thức, kinh nghiệm của cư dân Đông Sơn về thiên nhiên,lịch sử, xã hội và con người đã được sàng lọc qua thời gian, là những câu tiêubiểu chỉ địa danh, sản vật và danh nhân quê hương:

+“Buôn bông là xã Làng Đà Dệt cửi trong nhà là xã Bến Quan

Nấu rượu là xã Làng Chan

Cử nhân tiến sĩ thì sang Phúc Triền”…

Trang 20

+ Gió đông là chồng lúa chiêm, Hiu hiu gió bắc là duyên lúa mùa…

- Ca dao

Ca dao nơi đây không chỉ đề cập đến tên đất, tên làng của vùng đất này

mà còn cho ta thấy thấp thoáng trong đó đời sống kinh tế, các hoạt động vănhoá - xã hội mang đậm dấu ấn của cư dân Đông Sơn

+“Làng Nhồi đục đá, nung vôi Hương Bào trồng cải cho người ta mua.

Lấy chồng làng Rủn làm quan, Ngã năm Tuyên Hoá đốt than nhọc nhằn” (1)

- Dân ca

Đông Sơn là một vùng dân ca nổi tiếng của xứ Thanh mà trung tâm làvùng Đông Anh (nay là một xã thuộc huyện Đông Sơn) Dân ca Đông Anhmang nội dung phong phú, trữ tình, được thể hiện rõ trong thể loại hát đối đápgiữa nam và nữ (còn gọi là hát trao duyên) Đây là một hình thức sinh hoạt

“văn nghệ” phổ biến trong các làng xã trong những đêm trăng thanh, gió mát;trong các lễ hội,… tạo nên một nét văn hoá truyền thống đặc sắc của Đông Sơn

Có những câu hát đối đáp đầy ý vị như:

+“Phượng hoàng chắp cánh bay qua Thấy cây tươi tốt liền xà xuống chơi”.

+“Trèo lên chót vót ngọn sồi

Anh bao nhiêu tuổi mà đòi lấy em?

Trèo lên chót vót ngọn chanh,

Em hai mươi tuổi lấy anh cũng vừa” …

Ngoài dân ca Đông Anh, ở Đông Sơn còn có các làn điệu hát ru, hátcửa đình rất phong phú

- Trò diễn dân gian

Là nét đặc sắc trong kho tàng văn hoá dân gian truyền thống Đông Sơn

Là một huyện đồng bằng trung tâm của Thanh Hoá, ở Đông Sơn nghề nông là

1 Làng Nhồi nay thuộc xã Đông Hưng; làng Rủn nay thuộc xã Đông Khê; ngã năm Tuyên Hoá nay thuộc xã Đông Minh; Hương Bào nay thuộc Tp Thanh Hoá.

Trang 21

nghề cơ bản Vậy nên, nội dung của các trò diễn dân gian Đông Sơn cơ bản làphản ánh đời sống sản xuất nông nghiệp, phục vụ nhà nông, phản ánh phongtục, lịch sử, đời sống xã hội,…

Trung tâm trò diễn nổi tiếng là Lễ hội Nghè Sâm và lễ hội Cổ Bôn

Gồm có các trò diễn tiêu biểu sau: trò Xiêm Thành, là trò múa theo nhịp trống

có mặt nạ, không có lời ca chỉ có vài lời thoại để đưa đẩy cho hành động; trò múa đèn, là một tổ khúc rất nổi tiếng Đội múa gồm có 12 người, đèn dầu được thắp sáng và đội lên đầu, vừa hát, vừa múa; trò Tô Vũ (còn gọi là trò Tô tượng đúc chuông), gồm các nhân vật đeo mặt nạ, vừa múa vừa hát; trò Đấu cờ người, được tổ chức ngay trên sân đền Đế Thích Mỗi làng chọn ra một đội

gồm 16 người, trọng tài là một người cao tuổi có tiếng là cao cờ và có uy tíntrong làng Đội được nhất thì thưởng một tấm lụa tốt và một quan tiền Trongsuốt quá trình diễn ra đánh cờ người ta vừa đánh cờ vừa hát Ngoài ra, còn có

các trò như trò Thuỷ; trò ngô; trò Hùm; trò Tú Huần; trò tiên cuội, trò Hà Lan, trò thiếp,v.v…

1.3.1.2 Văn học viết.

Mỗi nền văn học, văn hoá của một đất nước thường bao gồm nhữngthành tựu tiêu biểu của các vùng, miền trong cả nước Huyện Đông Sơn vớinhững thành tựu văn học riêng có của mình, cũng đã góp một phần để chungđúc thành tinh hoa cho nền văn học, văn hoá nước nhà

Về sử học Ở Đông Sơn có Lê Hy, là một trong những sử gia có nhiều đóng góp quan trọng cho Quốc sử quán Việt Nam Theo lời Tựa Đại Việt sử ký toàn thư do chính Lê Hy viết năm1697, niên hiệu Chính Hoà thứ 18 thì nhà vua

đã có sắc chỉ sai Lê Hy cùng 12 người nữa “khảo đính sử cũ, chỗ nào sai thìsửa lại, chỗ nào đúng thì chép lấy Về thế thứ, phàm lệ niên biểu, hết thảy đềutheo như trước đã thuật Lại sưu tầm sự tích cũ, tham khảo các dã sử, biên chép

từ Huyền Thông Mục hoàng đế niên hiệu Cảnh Trị năm đầu (1665), đến GiaTông Mỹ hoàng đế niên hiệu Đức Nguyên thứ 2 (1675), tất cả thực sự trong 13

năm, gọi là Bản kỷ tục biên” [190/35].

Trang 22

Như vậy, công lao của nhóm Lê Hy mà ông là người đứng đầu, đối vớiQuốc sử là ngoài việc biên soạn phần tục biên gồm 13 năm từ 1663 - 1675, còngiữ vai trò kết thúc công việc biên soạn kéo dài qua nhiều đời và do đó quyết

định bộ mặt của bộ Đại Việt sử ký toàn thư bản Chính Hoà như chúng ta có

hiện nay

Về văn bia

Có thể nói, văn bia là điểm nổi bật trong mảng văn học viết của huyện

Đông Sơn Căn cứ vào Ái Châu bi ký [181] do Hồ Đắc Dự chép năm Duy Tân thứ 3 (1909), các công trình Thơ văn Lý - Trần do Nguyễn Huệ Chi chủ biên [226], Văn khắc Hán Nôm Việt Nam do Nguyễn Quang Hồng chủ biên [243] và Danh mục thác bản văn khắc Hán Nôm của Viện nghiên cứu Hán Nôm, cùng

nhiều tài liệu khác cho thấy văn bia Thanh Hoá chủ yếu tập trung vào hai huyệnThọ Xuân và Đông Sơn Theo thống kê hiện có, Đông Sơn có 180 văn bia Tuynhiên còn bao nhiêu tác phẩm đã bị mất không tìm ra tăm tích thì vẫn khó cócâu trả lời đích xác

Văn bia huyện Đông Sơn nằm ở gần khắp các xã trong huyện, trong đóchủ yếu là ở hai xã Đông Hưng và xã Đông Tân Văn bia huyện Đông Sơnphong phú về số lượng, đa dạng về nội dung và nghệ thuật Đặc biệt, huyệnĐông Sơn còn là nơi có nhiều tấm cổ vào loại nhất nước, góp phần quan trọngtrong việc tìm hiểu các vấn đề về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, tínngưỡng,… của huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá nói riêng và của cả nước nóichung

Về thơ, huyện Đông Sơn cũng những tác phẩm thơ đề vịnh thiên nhiên

của thi nhân Đông Sơn, như Nguyễn Mộng Tuân (1) vịnh mai lan cúc trúc,…Nhưng nhìn chung là không nhiều lắm

Văn học Đông Sơn tuy không phát triển đều đặn, liên tục và đồ sộnhưng với những gì đã tạo dựng được, văn học Đông Sơn cũng đã đóng gópphần nào làm phong phú thêm cho nền văn học nước nhà

1 Nguyễn Mộng Tuân, tự là Văn Nhược, hiệu là Cúc Pha, người làng Viên Khê huyện Đông Sơn Ông đỗ Thái học sinh 1400, giữ chức Tả nạp ngôn.

Trang 23

1.3.2 Giáo dục thời phong kiến.

Đông Sơn là vùng đất trung tâm của xứ Thanh với những điều kiện tựnhiên và xã hội thuận lợi, người dân Đông Sơn lại có chí hướng không ngừngvươn lên, nên giáo dục ở Đông Sơn được hình thành khá sớm và không ngừngphát triển, trở thành một trong những trung tâm giáo dục và có truyền thốnghiếu học nổi tiếng của Thanh Hoá

Về tổ chức trường lớp, cũng giống như các địa phương khác trong cả

nước thời bầy giờ, từ thế kỷ XVII, XVIII trở đi, Nhà nước mới lập các trườnghọc ở các phủ, huyện miền xuôi nhưng không nhiều Cả huyện Đông Sơn chỉ

có một trường huyện, nên phần lớn học sinh đều học ở các trường lớp tư do cácông đồ Nho, các hưu quan mở trường dạy học hoặc do dân các làng xã tự đónggóp xây dựng Trong các làng xã, trường học chỉ là một lớp, gồm nhiều thế hệhọc sinh với nhiều trình độ khác nhau và chỉ có một thày dạy Tất cả giờ giấc,nội dung học tập và phương pháp giảng dạy đều do thầy quyết định

Về chế độ học tập, hầu như chỉ dựa vào các khoa thi làm chuẩn đích,

không định thời gian học tập Chương trình học tập thường tuỳ theo trình độ vàkhả năng của thầy cũng như sức học của học sinh Trong quá trình học có diễn

ra các kỳ thi không chính thức, kỳ bình văn, sát hạch Việc này do các viênHuấn đạo, Giáo thụ, Đốc học chủ trì, có mời các nhà khoa bảng ở địa phươngđến tham dự Vài năm huyện tổ chức sát hạch học sinh các “trường làng” một

lần, chọn ra học trò đạt một trình độ nào đó vào học “trường huyện” hay

“trường phủ” Đến gần kỳ thi Hương, quan Đốc học ở tỉnh lại tổ chức một cuộc

sát hạch nữa ở các phủ, huyện cho tất cả thí sinh để chọn ra người đủ trình độhọc vấn nhất định tham dự kỳ thi Hương

Để cổ vũ cho việc học tập, hầu hết các làng xã trong huyện Đông Sơnđều có Văn chỉ, có hội Tư văn, có ruộng khuyến học… và hầu hết các Hươngước của các làng đều có mục quy định về việc học

Làng Cổ Bôn nay thuộc xã Đông Thanh là một vùng đất học nổi tiếngcủa Đông Sơn Làng này hàng năm có “Lễ triều quan” diễn ra vào sáng ngày

Trang 24

mùng 2 Tết để tôn vinh, tưởng nhớ các vị khoa bảng đỗ đạt và “Lễ khảo thí”được tổ chức vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch để kiểm tra trình độ học trò.Những ông thầy giạy học của làng được mọi người hết sức trọng vọng và lưutruyền danh tiếng

Người mở đầu cho nền khoa bảng Đông Sơn là Lê Văn Hưu, ngườilàng Phủ Lý, tổng Vận Quy, nay thuộc xã Thiệu Trung huyện Thiệu Hoá Ôngthi đỗ Bãng nhãn khoa Đinh Mùi (1427) đời vua Trần Thái Tông khi mới 18tuổi Từ đó đến khi nhà Nguyễn bãi bỏ việc thi cử vào năm 1919, Đông Sơn đã

có 32 người đỗ Đại khoa Tính riêng trên phạm vi địa giới ngày nay thì huyệnĐông Sơn có 18 người, trong đó 17 người đỗ dưới triều Trần, Hồ, Lê và 1

người đỗ thời Nguyễn Còn trong các kỳ thi Hương, theo thống kê của Thanh Hoá đăng khoa lục, Đông Sơn có 156 người đỗ Hương cống (Cử nhân) Trong

đó, xã có số người đỗ đạt nhiều nhất là xã Đông Thanh, xã Đông Ninh,v.v…

“Thi Hoằng Hoá, khoá Đông Sơn” là sự thừa nhận của nhiều thế hệtrong cả nước nói chung và Thanh Hoá nói riêng về thành tích học hành khoabảng của huyện Đông Sơn và Hoằng Hoá trong thời phong kiến Bởi với nềngiáo dục được đề cao, riêng ở Đông Sơn đã xuất hiện những cá nhân tài caođức trọng, trình độ uyên bác, khoa bảng đỗ đạt trong hệ thống giáo dục thời bấygiờ như: Lê Văn Hưu, Nguyễn Mộng Tuân, Lê Hy, Nguyễn Văn Nghi,…gópphần đưa Đông Sơn trở thành một vùng “đất học” nổi tiếng của xứ Thanh

1.3.3 Một số danh nhân tiêu biểu

- Nguyễn Mộng Tuân (? - ?), tự là Văn Nhược, hiệu là Cúc Pha Ông là

một nhà nho yêu nước đã sớm tìm đến với khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnhđạo và rất được trọng dụng Nguyễn Mộng Tuân phụng sự ba đời vua Lê: Thái

Tổ, Thái Tông, Nhân Tông Dưới thời Thái Tông, ông từng giữ chức Trung thưlệnh và Đô uý

- Nguyễn Chích (1383 - 1448), quê ở Đồng Pho (nay là xã Đông Hoà).

Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, bố là Nguyễn Liêu, mẹ là LêThị Ổn, người làng Vạn Lộc (nay là xã Đông Ninh) Nguyễn Chích là con trai

Trang 25

cả trong nhà, hai người em trai sau đều mất sớm Đến tuổi trưởng thành, chứng

kiến cảnh tàn bạo của quân Minh đối với nhân dân ta, Nguyễn Chích với lòngyêu nước căm thù giặc, đã tập hợp lực lượng, dựng cờ khởi nghĩa chống quânMinh ngay trên quê hương mình và được nhân dân trong vùng tích cực hưởngứng Thanh thế của nghĩa quân Nguyễn Chích lan rộng khắp vùng Nam Thanh

- Bắc Nghệ Ông được Lê Lợi biết đến và rất trọng dụng Nguyễn Chích mấtnăm Mậu Thìn (1448), mộ táng ở xứ Mả Trạch quê nhà Nhà vua ban tặng choông thêm chức Nhập nội kiểm hiệu, Tư không bình chương sự, ban tên thuỵ làTrinh Vũ, cấp lễ Thái thường khi tế tự

- Nguyễn Nhữ Soạn (? - 1448), tự là Thủ Trung, hiệu là Nguyễn Đức,

quê ở xã Mục Nhuận, tổng Tuyên Hoá, nay là làng Cẩm Nga xã Đông Yênhuyện Đông Sơn Nguyễn Nhữ Soạn tham gia khởi nghĩa Lam Sơn ngay từnhững buổi đầu, là một võ tướng có tài, tham gia nhiều trận chiến đấu chống lại

sự đàn áp của quân Minh và lập được nhiều chiến công Ông được cử giữ nhiềuchức quan trọng dưới triều vua Lê như: Tham tri quân dân Hải Tây đạo, Chính

sự viện Tham nghị, hàm tứ phẩm, thăng lên làm Nam đạo Hành khiển, tước

Quan Nội hầu Nguyễn Nhữ Soạn có 3 con trai đều có công lao xây dựng và

bảo vệ sự nghiệp của nhà Lê Sau khi mất, ông được nhà vua ban sắc phongtặng là “Bậc khai quốc công thần, Vinh lộc đại phu, Tả xa kỵ, đại tướng quân,Quan Phục hầu, Nhập thị nội Hành khiển, Tư mã, tặng Thái phó Tuy quốccông, bao phong Thượng đẳng phúc thần”

- Nguyễn Văn Nghi (1525 - 1595), tự là Ấp Thanh, quê ở Kim Bôi, xã

Đông Thanh huyện Đông Sơn Ông sinh ra trong một gia đình “danh gia thếphiệt” Nguyễn Văn Nghi là con trai trưởng trong nhà, hai em trai sau là

Nguyễn Văn Liêm, Nguyễn Văn Diễn đều được phong giữ chức vụ cao Từ khi

còn trẻ tuổi, Nguyễn Văn Nghi đã ngày đêm miệt mài đèn sách Năm GiápDần, niên hiệu Thuận Bình thứ 6 (1554), đời vua Lê Trung Tông, ông thi đỗNhất giáp chế khoa (Bãng nhãn), được giữ chức Hiệu lý Viện Hàn lâm TínhNguyễn Văn Nghi “đoan chính, cẩn thận, có khuôn phép” nên rất được Trịnh

Trang 26

Kiểm tin dùng, thường xuyên gọi vào hầu giảng Nguyễn Văn Nghi phụng sựdưới 3 triều vua Lê (Trung Tông, Anh Tông và Thế Tông), nắm giữ nhiều chức

vụ quan trọng như: Hộ khoa Cấp sự trung, Đông các Hiệu thư, Tham chínhNghệ An, Tả Thị lang bộ lại, Đông các Học sĩ, Tả Thị lang Bộ binh, Tả Thịlang Bộ lại, Nhập thị Kinh Diên, tước Phúc Ấm bá, Nguyễn Văn Nghi mấtnăm 1595, thọ 71 tuổi

- Nguyễn Khải (? - 1632), quê ở Cổ Bôn, nay là xã Đông Thanh huyện

Đông Sơn Ông sinh trưởng trong dòng tộc danh gia thế phiệt ở vùng Đông Sơnthời bấy giờ Thân phụ là Nguyễn Văn Nghi, đỗ Chế khoa xuất thân năm 1554,nắm giữ nhiều chức vụ cao dưới 3 triều vua Lê Thân mẫu là bà Lê Thị Nhu,người cùng xã được phong là “tự phu nhân” Bà sinh được 4 người con (3 trai,

1 gái), Nguyễn Khải là con thứ hai trong nhà Nguyễn Khải có đức nghiệp caodày với đất nước, quê hương, tiên tổ và con cháu dòng dõi Dưới thời vua LêKính Tông (1600 - 1619), ông được phong giữ các chức: Hiệp mưu dương võcông thần, Trung quân Đô đốc phủ, phó tướng, Đến đời vua Lê Thần Tông(1619 - 1643), ông giữ chức Thái phó, Binh bộ Thượng thư và bậc “Quốc lãotham dự triều chính” Nguyễn Khải mất năm Nhâm Thân (1632), được phong

là “Thượng đẳng Phúc thần”, được nhân dân lập đền thờ phụng

- Lê Hy (1646 - 1702), quê ở thôn Thạch Khê, xã Đông Khê huyện

Đông Sơn Từ nhỏ, Lê Hy đã nổi tiếng là người thông minh học giỏi, sớm đậu

kỳ thi Hương (cử nhân) Năm Cảnh Trị thứ 2 (1664) triều Lê, ông đậu Đệ tamgiáp đồng Tiến sĩ xuất thân lúc mới 19 tuổi, nhưng vì tuổi còn quá trẻ nên Lê

Hy không được bổ làm quan Là người có tài trí mẫn tiệp, nên từ sau khi được

bổ làm quan, con đường công danh sự nghiệp của ông không ngừng thăng tiến

Từ năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677) đến năm Mậu Dần (1698), ông liên tục đượcthăng giữ các chức: Cấp sự Trung Bộ Hình, Hội đồng Đề hình giám sát ngự sử,Hữu Thị lang bộ Binh, Tả Thị lang Bộ Lễ, Tả Thị lang Bộ Lại, rồi đến Thamtụng Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Binh, Tham tụng Thượng thư Bộ

Lại, Tổng tài quốc sử, tước Lai Sơn bá,… Lê Hy không chỉ là một nhà chính trị

Trang 27

có quyền cao chức trọng vào bậc nhất lúc bấy giờ, mà còn là một nhà thơ với 6

bài được tuyển chép trong tập Toàn Việt thi lục Trên cương vị là Tổng tài Quốc sử, Lê Hy đã đóng góp quan trọng cho việc hoàn thành bộ Quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư và trực tiếp biên soạn phần Bản kỷ tục biên.

Trang 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1 này, chúng tôi đã giới thiệu khái quát về huyện ĐôngSơn trên các phương diện địa lý, văn hoá - xã hội, văn học, giáo dục Từ đó,chúng ta sẽ có một cái nhìn tổng quát về đặc điểm, sự phát triển và tầm ảnhhưởng của huyện Đông Sơn trong tiến trình vận động chung tỉnh Thanh Hoá vàcủa cả đất nước

Từ cái nhìn tổng quát đó, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm vềhuyện Đông Sơn như sau:

Về mặt địa lý

Về địa lý tự nhiên: Đông Sơn là một huyện đồng bằng của châu thổSông Mã, nằm ở trung tâm của tỉnh Thanh Hoá, cách 5 km về phía Tây thànhphố Là một vùng đất được kiến tạo trên một địa hình tương đối ổn định, đấtđai mầu mỡ phì nhiêu, hệ thống núi đồi phong phú

Về địa lý hành chính: Huyện Đông Sơn hiện gồm có 19 xã và 2 Thịtrấn, huyện lỵ Đông Sơn đóng ở Thị trấn Rừng Thông Dân số trong huyện kháđông đúc và tỷ lệ tăng nhanh Đông Sơn có nhiều ngành nghề truyền thốngđược nhiều nơi biết đến, nhất là các nghề chế tác đá, Gốm, đúc đồng,…

Về mặt Văn hoá - Xã hội

Đông Sơn là một vùng đất cổ nên có nhiều di tích lịch sử văn hoá, với

125 di tích Nơi đây còn lưu truyền và bảo lưu được nhiều phong tục tập quán,tín ngưỡng, lễ hội truyền thống cổ mang yếu tố tích cực, thể hiện các thuầnphong mỹ tục

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VĂN BIA HUYỆN ĐÔNG SƠN

2.1 Vài nét về văn bia

Văn bia là một hiện tượng văn hoá được nảy sinh từ đời sống xã hội,làm thành nét đặc thù và là một trong những hình thức thông tin thời kỳ cổ đại

và trung cổ [306] Ở các nước Phương Đông, truyền thống dựng bia có từ rấtsớm, khởi đầu từ Trung Quốc, sau đó lan rộng ra những nước xung quanh nhưNhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam

Về sự hình thành văn bia, theo nhà nghiên cứu kim thạch Chu Kiếm

Tâm ghi trong Kim thạch học 金 石 學 石 學 學 cho rằng từ thời Tần Thuỷ Hoàng đã có

việc khắc chữ lên đá: “Sử ký, Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ ghi việc Tần Thuỷ

Hoàng (22-207 TCN) tuần du Phương Đông có 6 khắc thạch, bao gồm lên:Trâu Dịch, Thái Sơn, Lang Nha, Chi Phù, Kiệt Thạch và Cối Kê, có nhiềuthuyết cho là khắc vào núi đá hoặc khắc vào tấm đá rồi dựng lên Lại nói việcNhị Thế (207 - 136 TCN) tuần du các quận huyện phía đông đều có khắc lêntấm đá mà Thủy Hoàng đã dựng… Cái tên khắc thạch bắt đầu từ đó” [306]

Cũng theo Chu Kiếm Tâm, dẫn lời của Diệp Xương Xí trong Ngữ thạch 語 石 石 學

nói rằng: “Tất cả nội dung khắc trên đá đều gọi là văn bia bắt đầu từ đời Hán vềsau” [324/171] Trong Tập cổ lục 集 古 錄 古 錄 錄 , Âu Dương Tu cũng ghi: “Từ hậuHán về sau mới có văn bia, tìm văn bia trong bia, thời Tiền Hán chưa thể thấyđược”[324/173] Từ những ghi chép trên, có thể nhận định, văn bia ở TrungQuốc xuất hiện từ thời Hậu Hán

Ở các nước lân cận Trung Quốc như Triều Tiên, Nhật Bản cũng cónhững phát hiện ra một số bi văn có niên đại khá sớm, vào khoảng thế kỷ thứ

V, VI [294/15] Ở Việt Nam, tấm bia cổ nhất hiện được biết đến là bia Đại Tuỳ Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn 大 隨 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 隨 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 寶 安 道 場 之 碑 文 安 道 場 之 碑 文 道 場 之 碑 文 場 之 碑 文 之 碑 文 碑 文

文, niên đại năm 618

Trang 30

Như vậy, theo những nguồn tư liệu hiện đã tìm thấy, có thể nói văn biaViệt Nam xuất hiện muộn hơn các nước đồng văn trong khu vực Song, điều đókhông làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của văn bia Việt Nam Ngay từthời kỳ độc lập trở đi, văn bia Việt Nam đã bắt nhịp vào khung cảnh văn hoáViệt Nam và ngày càng phát triển nở rộ Sau đây là một vài nét sơ lược về quátrình phát triển của văn bia Việt Nam nói chung, và hiện trạng văn bia huyệnĐông Sơn tỉnh Thanh Hoá nói riêng.

2.1.1 Quá trình phát triển của văn bia Việt Nam

Cho đến nay, tấm bia được nhiều nhà nghiên cứu công nhận có niên đại

sớm nhất ở Việt Nam là Đại Tuỳ Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn

大 隨 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 隨 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 寶 安 道 場 之 碑 文 安 道 場 之 碑 文 道 場 之 碑 文 場 之 碑 文 之 碑 文 碑 文 文, niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (618), thuộcđịa phận xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá Hiện bia được lưugiữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Tiếp sau tấm bia này phải kể đến những cột đá khắc kinh phật ở Hoa

Lư (tỉnh Ninh Bình) thời nhà Đinh (968-979) Trong đó, tiêu biểu phải kể đến

là cột kinh Phật đỉnh Tôn Thắng Đà La Ni 佛 鼎 尊 勝 陀 那 尼 鼎 尊 勝 陀 那 尼 尊 勝 陀 那 尼 勝 陀 那 尼 陀 那 尼 那 尼 尼 ở Hoa Lư

Từ thời Lý - Trần trở đi, lệ dựng bia đã được phổ biến Tuy nhiên chođến nay, chúng ta mới chỉ tìm được 27 tấm bia thời Lý [238] và 44 tấm bia thờiTrần [238a], chắc chắn con số thực tế không dừng lại ở đó Trải qua nhiều thế

kỷ, cùng với sự khắc nghiệt của thiên tai địch hoạ, sự tàn khốc của các cuộcchiến tranh, sự trả thù lẫn nhau của các dòng họ, vương triều và còn cùng với ýthức bảo tồn chưa cao, thì việc mất đi nhiều tư liệu văn bia hiện vật là điềukhông thể tránh khỏi Văn bia thời Lê sơ (1428-1527) hiện còn hơn 70 vănbia(1) Riêng trong khoảng thời gian từ triều Lê Trung hưng đến triều Nguyễn,

số lượng bia hiện còn đến ngày nay là khá lớn, có thể lên tới con số vài chụcngàn mà ở đây chúng tôi chưa có điều kiện thống kê được

Về mặt không gian, văn bia Việt Nam có mặt từ Bắc vào Nam, mà tậptrung với mật độ dày đặc là ở các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, hiện ở vùng

1 Theo điều tra của nhóm công trình Văn khắc Hán Nôm (thời Lê sơ), Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Trang 31

này còn tồn tại nhiều tấm bia cổ Ở miền núi phía Bắc, mật độ bia có niên đạisớm ít hơn Đến miền Trung, mật độ văn bia giảm dần theo đà đi về phươngNam Các tỉnh phía Nam của đất nước không có văn bia sớm (trước 1802) Cóthể nói, vùng đồng bằng Bắc Bộ là một cái nôi của văn hoá Đại Việt, nơi tậptrung nhiều làng Việt cổ truyền Do đó, sự phát triển của văn bia Việt Nam cóliên quan trực tiếp đến sự phát triển của văn hoá truyền thống.

Có thể nói, văn bia Việt Nam hình thành cùng với sự ảnh hưởng củavăn hoá Hán Tuy nhiên, càng về sau, văn bia Việt Nam càng đi theo conđường phát triển riêng và bám rễ vào trong đời sống văn hoá Việt, đồng hànhvới văn hoá bản địa và ngày một gắn bó mật thiết với đời sống văn hoá ở cáclàng Việt cổ truyền

2.1.2 Hiện trạng văn bia Đông Sơn.

Qua quá trình đi điền dã tại các xã thôn thuộc huyện Đông Sơn, chúngtôi nhận thấy, văn bia huyện Đông Sơn, bên cạnh những tấm bia được bảo quảntốt còn có khá nhiều tấm bia hiện đang đứng trước thực trạng xuống cấpnghiêm trọng và không mấy được quan tâm chú ý ở một số nơi trong các xãthôn của huyện Đông Sơn Có nhiều tấm bia bị vùi lấp trong cỏ dại, có bia nằm

vạ vật trên con đường qua lại; hoặc có bia bị dùng để bắc cầu mặc cho trâu, bò,người, xe dẫm đạp; hoặc có bia còn đặt trong một góc nơi công cộng như mộttấm đá vô dụng Ngoài ra, có bia còn bị xây làm bức chắn (bia ở làng Quỳnh,

xã Đông Thanh), có bia bị đất đá đổ che lấp (bia Thạch Khê khoa hoạn bi 石 學 溪

科 宦 碑 宦 碑 碑 文, nay thuộc Đội 1 xã Đông Khê)

Không chỉ vậy, có những tấm bia đứng trơ vơ giữa nắng mưa, trên cáccánh đồng, bãi hoang thuộc các xã trong huyện Đông Sơn, như các bia trêncánh đồng làng Phúc Triền xã Đông Thanh; cánh đồng làng Kim Bôi xã ĐôngThanh; cánh đồng xã Đông Phú; cánh đồng xã Đông Hoà; bia nhà thờ họ Lê xãĐông Ninh; bia mộ họ Nguyễn ở xã Đông Lĩnh, v.v… Phần lớn các bia nàyđều đã bị nứt vỡ, bị che lấp bởi các ụ đất, bị quẳng ra một góc ruộng và bị mòn

mờ gần hết chữ và cả hoạ tiết hoa văn trang trí trên bia

Trang 32

Những thực trạng văn bia huyện Đông Sơn ở trên đã làm cho công tácsưu tầm và nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn gặp nhiều khó khăn trong việctìm hiểu niên đại, chữ viết, và nội dung bài văn bia Không chỉ vậy, mỗi tấmbia còn ghi chép về các hoạt động sinh hoạt văn hóa làng xã, nếu cứ để chúngmai một dần mất thì đồng thời cũng làm mất đi những cứ liệu xác thực nhất đểtìm hiểu các hoạt động văn hoá làng xã cổ truyền của địa phương đó Vì những

lý do đó, văn bia huyện Đông Sơn nói riêng và văn bia Thanh Hoá nói chungcần được quan tâm chú ý gìn giữ

2.2 Khảo sát văn bia huyện Đông Sơn.

Đông Sơn là một huyện đồng bằng của châu thổ Sông Mã, nằm ở trungtâm của tỉnh Thanh Hoá Huyện Đông Sơn ngày nay gồm có 19 xã và 2 thịtrấn Tuy có diện tích nhỏ nhất tỉnh Thanh Hoá, nhưng trong huyện Đông Sơnhiện còn bảo tồn được hơn 125 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có đến hơn 100

di tích bao gồm cả Đình, chùa, từ đường, phủ miếu, văn chỉ, lăng mộ,… Trong

số di tích này, theo điều tra của chúng tôi nhận thấy còn giữ lại được khoảng

180 bia đá

2.2.1 Sự phân bố của văn bia huyện Đông Sơn

Số văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá hiện chúng tôi sưu tậpđược(1) là 180 văn bia Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy đa số các văn bia nàytập trung nhiều ở các xã sẵn có nguồn nguyên liệu đá và nghề đá phát triển nhưxã: Đông Hưng, Đông Tân và các xã lân cận khác Có thể nói, với con số 180văn bia, tuy chưa phải đã bao quát hết, song cũng phần nào phản ánh một cách

cơ bản tình hình của văn bia huyện Đông Sơn nói riêng, văn bia Thanh Hoá nóichung

Sau đây, chúng tôi xin khảo sát sự phân bố của 180 văn bia huyệnĐông Sơn theo hai tiêu chí: không gian và thời gian

2.2.1.1 Phân bố theo không gian

1 Con số văn bia huyện Đông Sơn có thể chưa dừng ở đây

Trang 33

Trong phần khảo sát này, không gian tồn tại của các văn bia huyệnĐông Sơn tỉnh Thanh Hoá sẽ được chúng tôi quy đổi theo các đơn vị hànhchính hiện nay(2) Theo tiêu chí trên, các văn bia được khảo sát tồn tại trên địabàn của 15 đơn vị xã, 43 đơn vị thôn xóm, 8 loại di tích

Dưới đây là Sự phân bố bia huyện Đông Sơn theo không gian (Bảng 1).

Số bia

(thôn)

Số bia

(di tích)

Số bia

2 Căn cứ vào Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Nxb KHXH, 2006, tr.25-52 và các tài liệu khác.

Trang 35

xã Đông Lĩnh có 16/180 bia, chiếm 8,89% Một số xã chỉ có 1 bia (0,56%) baogồm các xã: Đông Anh, Đông Minh và Đông Tiến Trong số 43 thôn (xóm) củatất cả 15 xã tồn tại văn bia của huyện Đông Sơn, có thôn Nhuệ, xã Đông Hưngchiếm số lượng bia nhiều nhất là 41 bia/66 của xã (62,12%) và chiếm 27,78%trong tổng số 180 bia của huyện Sau đó là thôn Quảng Nạp, xã Đông Hưng có

14 bia/180, chiếm 7,78%; thôn Vân Nhưng, xã Đông Lĩnh có 11bia/180, chiếm6,11% Các thôn còn lại điều có ít hơn 10 bia, đa số là từ 1- 4 bia

Từ các con số về tỉ lệ văn bia ở các xã, thôn của huyện Đông Sơn ởtrên, chúng ta nhận thấy văn bia có mặt nhiều nhất là xã Đông Hưng, mà tập trungchủ yếu là ở thôn Nhuệ, xã Đông Hưng Ngoài ra, các xã lân cận cũng có số lượngbia tương đối nhiều như các xã Đông Tân, Đông Lĩnh, Đông Thanh Điều này

Trang 36

càng thể hiện rõ ưu thế của một vùng có nghề làm đồ đá phát triển phong phú, đadạng, dựa trên nguồn nguyên liệu đá dồi dào, sẵn có của địa phương

Núi An Hoạch (còn gọi là núi Nhồi) nằm ở phía Tây nam huyện ĐôngSơn, trên địa bàn hai xã Đông Tân và Đông Hưng là một trong những trung tâmkhai thác đá nổi tiếng của nước ta Đời Tấn (Trung Quốc), quan Thái thú DựChương là Phạm Ninh sai người đến núi Nhồi lấy đá về làm khánh [260/53]

Đá núi Nhồi đã được sử sách ghi chép từ gần 1000 năm trước, là loại

đá “sắc óng ánh như ngọc lam, chất xanh biếc như khói nhạt Sau này đục làm

đá khí cụ, ví như đẽo đá thành khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùnglàm bia văn chương thì còn mãi ngàn đời ” [2] Từ thời Lý, tổng trấn ThanhHoá lúc bấy giờ là Lý Thường Kiệt đã biết đến tiếng đá núi Nhồi, nên đã chongười đến núi Nhồi khai thác để sử dụng Đến đời Trần, nghề đục đá ở núi AnHoạch (núi Nhồi) đã nổi tiếng, được triều đình biết tới

Với nguồn nguyên liệu đá sẵn có, nghề chế tác đá phát triển lâu đời vàbàn tay tài hoa của người thợ đá núi Nhồi là điều kiện thuận lợi cho việc dựngbia đá với số lượng tương đối nhiều ở xã Đông Hưng và các xã lân cận khác

Về mặt loại hình di tích:

Văn bia huyện Đông Sơn được tạo dựng và đặt tại các loại hình di tíchsau: Đình, chùa, đền miếu, lăng mộ, nghè, văn chỉ - vũ chỉ, nhà thờ họ - từđường Ngoài ra cầu, chợ, bãi hoang, trong các tư gia,… cũng là nơi để tạodựng bia, được chúng tôi xếp chung vào loại khác Trên địa bàn huyện ĐôngSơn còn có bia ma nhai, là loại bia khắc trên vách núi đá, bởi vì đây là vùng cónúi đá vôi phong phú

Dựa vào Bảng 2 sau đây, chúng ta nhận thấy, bia huyện Đông Sơn

phân theo loại hình di tích thì chùa có số lượng bia nhiều nhất là 58 bia/180(chiếm tới 32,22%), tiếp đến là văn chỉ - vũ chỉ có 32 bia/180 (chiếm 17,77%),nhà thờ họ có 19 bia/180 (chiếm 10,56%), đình 16 bia/180 (chiếm 8,89%), đềnmiếu 10 bia/180 (chiếm 5,56%), lăng mộ có 5 bia/180 (chiếm 2,78%), sau cùng

là nghè có 4 bia/180 (chiếm 2,22%) Ngoài ra, bia thuộc loại khác cũng có sốlượng tương đối nhiều là 36 bia/180, chiếm 20 %

Trang 37

Bảng 2 Sự phân bố bia theo lo i hình di tích ại hình di tích

có sức thu hút số đông dân chúng, Phật giáo đã ngấm sâu vào đời sống tìnhcảm cũng như tín ngưỡng của người dân Đông Sơn và khẳng định được vị trícao hơn hẳn so với các tôn giáo khác Chùa cũng là loại hình di tích có văn bảnkhắc sớm nhất So với chùa thì văn chỉ - vũ chỉ chiếm vị trí thứ hai trong toàn

bộ văn bia Đông Sơn Các loại hình di tích khác như đền miếu, lăng mộ, nghèv.v đều có rất ít bia

Mặt khác, văn bia Đông Sơn còn thể hiện con đường phát triển songhành của văn bia huyện Đông Sơn đối với văn bia Việt Nam nói chung, văn biaThanh Hoá nói riêng Một điều đáng chú ý nữa, đó là trong số 58 bia được đặttại chùa thuộc các xã trong huyện, có tới 34 bia thuộc địa phận xã Đông Hưng

mà trong đó có gần 10 bia ma nhai khắc thơ đề vịnh (gồm cả bia chữ Hán vàbia chữ Nôm) trong hang động thuộc cụm di tích chùa, mang nội dung chủ yếu

là ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên non nước kỳ vĩ, hữu tình Có lẽ, cùng với cảnhđẹp thiên nhiên kỳ thú và các ưu thế đã nêu trên, xã Đông Hưng trở thành một

Trang 38

xã không chỉ có số lượng bia lớn nhất, mà còn là xã có số bia khắc thơ đề vịnhnhiều nhất trong toàn huyện Đông Sơn.

Qua những nhận xét trên đây, chúng tôi có thể đưa ra kết luận: khônggian tồn tại của bia huyện Đông Sơn gắn liền với nguồn nguyên liệu đá dồi dào,nghề chế tác đá phát triển; gắn liền với di tích chùa và hang động trong cụm ditích chùa

Để hình dung rõ hơn về sự phân bố văn bia huyện Đông Sơn về mặt

không gian, chúng tôi đã trình bày kết quả ở Bảng 1 dưới dạng biểu đồ sau:

Trang 39

Biểu đồ 1

0 10

2.2.1.2 Phân bố theo thời gian

Trước khi phân tích về sự phân bố theo thời gian của văn bia huyệnĐông Sơn - Thanh Hoá, chúng tôi tiến hành khảo sát về niên đại, qua khảo sátchúng tôi nhận thấy tình hình cụ thể như sau: có 149 thác bản (bia) ghi rõ niênđại, 31 bia không ghi rõ niên đại Trong số 31 bia không ghi rõ niên đại có: 1bia chỉ ghi niên hiệu, không ghi năm thứ bao nhiêu; 5 bia chỉ ghi năm can chi,không ghi niên hiệu, có 11 bia hoàn toàn không ghi niên đại (trong đó, chúngtôi dựa vào thời đại của tác giả soạn bia và đặc điểm hoa văn trang trí của cácthời kỳ để xác định được chắc chắn có 1 bia thuộc đầu thế kỷ XVI, có 4 trườnghợp thời Nguyễn) Ngoài ra còn lại tới 14 bia không rõ có ghi niên đại bia haykhông, vì phần lớn những trường hợp này mặt bia đều bị mòn mờ gần hết chữ

Trong tình hình niên đại các văn bản văn bia huyện Đông Sơn như vậy,

sự phân bố của 180 bia huyện Đông Sơn sẽ được phân tích theo các tiêu chísau: thế kỷ, triều đại và không niên đại Chúng tôi dựa vào 3 tiêu chí chủ yếu

này để lập bảng thống kê dưới đây (Bảng 3) Do niên đại của những tấm bia

Trang 40

được xét ở đây ghi theo các niên đại vua của các thời: Đời Tuỳ, Lý (1010 1225), Lê sơ (1428-1527), Lê Trung hưng (1533-1788), Nguyễn (1802-1945)cho nên tiêu chí triều đại ở Bảng 3 chỉ xét theo các triều vua trên, những triềuđại không được nhắc đến đồng nghĩa với số lượng phân bố bằng 0.

Triều

Niên đại

Năm thứ

Năm dương lịch

Số lượng bia

Tổng số bia/

thế kỷ

Tỉ lệ % bia/thế kỷ

Tổng

số bia/

triều đại

Tỉ lệ

% bia triều đại

Đời Tuỳ VII Đại

Ngày đăng: 06/08/2013, 10:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Sự phân bố bia theo loại hình di tích - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Bảng 2. Sự phân bố bia theo loại hình di tích (Trang 37)
Bảng 3. Sự phân bố theo thời gian - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Bảng 3. Sự phân bố theo thời gian (Trang 40)
Bảng 4. Các tác giả biên soạn bài văn bia huyện Đông Sơn - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Bảng 4. Các tác giả biên soạn bài văn bia huyện Đông Sơn (Trang 47)
Bảng 5. Thành phần tác giả biên soạn văn bia huyện Đông Sơn - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Bảng 5. Thành phần tác giả biên soạn văn bia huyện Đông Sơn (Trang 49)
Bảng 6. Kích thước bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Bảng 6. Kích thước bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá (Trang 52)
Bảng 7. Độ dài bài văn bia huyện Đông Sơn - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Bảng 7. Độ dài bài văn bia huyện Đông Sơn (Trang 56)
Bảng 8. Đề tài hoa văn trang trí trên bia huyện Đông Sơn Stt Triều - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Bảng 8. Đề tài hoa văn trang trí trên bia huyện Đông Sơn Stt Triều (Trang 59)
Hình chóp - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Hình ch óp (Trang 60)
Hình mây lá  cách   điệu  (nét mập) 34 Số 44/1822 rồng   mây - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Hình m ây lá cách điệu (nét mập) 34 Số 44/1822 rồng mây (Trang 61)
Hình lá cách  điệu   (nét  mập) - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Hình l á cách điệu (nét mập) (Trang 62)
Hình lá cách  điệu - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
Hình l á cách điệu (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w