Đối tượng, trường hợp được khấu trừ thuế GTGT Theo quy định của pháp luật về thuế GTGT hiện hành thì những đối tượng sau đây thuộc diện được khấu trừ GTGT: thực hiện đầy đủ các thủ tục
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ VĂN CƯƠNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là những công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tối xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình
Học viên
Nguyễn Xuân Bắc
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ KHẤU TRỪ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 8
1.1 Những vấn đề lý luận về khấu trừ, hoàn thuế GTGT 8
1.2 Khái quát pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT 15
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM 30
2.1 Thực trạng pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT 30
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT 38
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHẤU TRỪ VÀ HOÀN THUẾ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM 51
3.1.Những định hướng cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về khấu trừ và hoaàn thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay 51
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam 53
3.3 Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT 66
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT
DN GTGT KTTT
Công nghệ thông tin Doanh nghiệp Giá trị gia tăng Kinh tế thị trường NNT
NSNN
NNT Ngân sách Nhà nước QLT Quản lý thuế
TTĐB Tiêu thu đặc biệt
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) số 13/2008/QH ra đời đã đánh dấu sự phát triển mới về chính sách thuế pháp luật GTGT của Việt Nam Thuế GTGT đã trở thành một sắc thuế tiên tiến góp phần làm cho hệ thống thuế của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường
Sau 18 thực hiện, pháp luật về thuế GTGT ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Đặc biệt trong đó là chế định về khấu trừ và hoàn thuế GTGT Đây là chế định quan trọng trong pháp luật về thuế GTGT , thể hiện sự ưu việt của loại thuế này, bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp
Tuy nhiên thời gian qua, lợi dụng những chủ trương, chính sách khuyến khích của Nhà nước, nhiều cá nhân, tổ chức đã có hàng loạt nhũng hành vi gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế thông qua việc mua bán, sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp, xuất khẩu khống hàng hóa… nhằm gian lận, chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT Những
vi phạm này diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp và làm hạn chế đi những mặt tích cực
từ chính sách khấu trừ và hoàn thuế GTGT , gây thiệt hại đến khoản thu NSNN từ thuế, làm giảm niềm tin của các DN thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế
Trước thực tế này, học viên đã chọn đề tài: “Khấu trừ và hoàn thuế GTGT theo pháp luật về thuế ở Việt Nam” với mong muốn nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực
tiễn thi hành pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT ở nước ta hiện nay, qua đó tìm
ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT nói chung và pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT nói riêng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thuế GTGT là một sắc thuế quan trọng đóng góp tích cực vào tổng thu NSNN hàng năm Khấu trừ và hoàn thuế là vấn đề muôn thuở, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu khai thác vấn đề này, tuy nhiên đây là vấn đề khá rộng và phức tạp được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Đã có nhiều chuyên gia pháp lý dành thời
Trang 6gian cũng như trí tuệ cho mảng đề tài này như luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Thương
Huyền: “Những vấn đề pháp lý về việc áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam”, năm 2002;
Luận văn thạc sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Kim Thái Linh (2010); Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về Khấu trừ và hoàn thuế GTGT tại Việt Nam” của Đào Thị Ngọc Ánh (2011), trường
ĐH Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sĩ “ pháp luật về hoàn thuế giá GTGT ở Việt Nam- thực trạng và giải pháp” của tác giả Trần Quốc Hùng (2011), trường ĐH Quốc gia Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ “Thực thi pháp luật về kiểm soát gian lận hoàn thuế GTGT trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác giả Vũ Thi Mai Lan (2015) trường ĐH Quốc gia Hà Nội …
Bên cạnh các luận văn, luận án, sách tham khảo, giáo trình về pháp luật thuế ở các cơ sở nghiên cứu đào tạo luật, còn có một số bài viết mang tính nghiên cứu, trao đổi, đưa lại nhiều góc nhìn khác nhau về vấn đề mà đề tài lựa chọn, thực sự hữu ích cho công tác hoàn thiện pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT như: “Một số ý kiến góp ý cho dự thảo Luật thuế thu nhập DN và Luật thuế GTGT”, của tác giả Phan Anh Thông, đăng ở Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử; “Luật thuế GTGT nên sửa đổi theo hướng nào?”, của tác giả Lê Thị Thu Thủy (2011), đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; “Một số ý kiến về sửa đổi Nghị định hướng dẫn Luật Thuế TNDN và Luật Thuế GTGT”, của TS Nguyễn Thị Lan Hương (2011)…
Một điểm chung của các nhóm công trình nghiên cứu kể trên, đó là phần lớn các tác giả thường thiên về phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật thuế GTGT, hoàn thuế GTGT; phân tích rất sâu một số vấn đề liên quan đến thuế GTGT được quy định trong Luật Thuế GTGT
Đi sâu vào khai thác thực tiễn áp dụng pháp luật để tìm ra những tồn tại hạn chế, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế còn tồn tại là việc làm hết sức quan trọng trong hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT ở Việt Nam Đề tài “Khấu trừ, hoàn thuế GTGT theo pháp luật về thuế ở Việt Nam” sẽ là một trong những đề tài tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này
Trang 73 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật khấu trừ, hoàn thuế GTGT , dựa trên cơ sở lý luận đó để đánh giá về thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế và hội nhập quốc tế Với mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Đánh giá về những quan điểm hiện hành và từ đó xây dựng nội dung lý luận về pháp luật khấu trừ, hoàn thuế GTGT: khái niệm, đặc điểm của khấu trừ và hoàn thuế; mối liên hệ và các yếu tố chi phối nội dung điều chỉnh của pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật hiện hành về hoàn thuế và khấu trừ thuế
- Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật khấu trừ và hoàn thuế GTGT cả về kết quả đạt được và bấp cập phát sinh trong quá trình thi hành
- Nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật để nâng cao hiệu quả hoạt động khấu trừ, hoàn thuế GTGT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật liên quan đến khấu trừ và hoàn thuế GTGT , thực tiễn áp dụng pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT tại Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tác giả áp dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp nghiên cứu tại chỗ: nghiên cứu chuyên đề, rà soát đánh giá hệ thống văn bản pháp luật, nghiên cứu các tài liệu trong, ngoài nước về các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Thu thập, thống kê số liệu
Trang 86 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ các vấn
đề liên quan đến thực tiễn áp dụng và các quy định pháp luật hiện hành về khấu trừ, hoàn thuế GTGT ở Việt Nam Trên cơ sở đó nêu ra những những điểm hạn chế, bất cập để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về khấu trừ, hoàn thuế GTGT và pháp luật về khấu trừ hoàn thuế GTGT
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT ở Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật
về khấu trừ và hoàn thuế thuế GTGT ở việt nam
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ KHẤU TRỪ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 Những vấn đề lý luận về khấu trừ, hoàn thuế GTGT
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế GTGT
*Khái niệm thuế GTGT
Trước khi Thuế giá trị gia (GTGT) tăng ra đời, một số quốc gia áp dụng Thuế doanh thu, đây là một loại thuế bị thu trùng ở nhiều giai đoạn khác nhau từ sản xuất đến tiêu dùng Thực trạng này đã khiến cho nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu một giải pháp đánh thuế mới khắc phục được những nhược điểm của Thuế doanh thu Đây chính là nền móng cho việc xây dựng hệ thống thuế bán lẻ và thuế GTGT sau này Kết quả là Thuế GTGT ra đời với tên gọi là Taxe Sur La Valeur Anjou tesee (TVA) (Tiếng Anh là Value Added Tax – VAT) và chính thức được áp dụng lần đầu vào ngày 10 tháng 4 năm 1954 tại Pháp Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT được áp dụng rộng rãi
ở nhiều nước trên thế giới Ngày nay các quốc gia thuộc khối liên minh Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế GTGT Theo số liệu điều tra của một trong những công ty kiểm toán lớn nhất thế giới là KPMG, hiện có trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng loại thuế này
Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” [24]
Định nghĩa này rất khác so với định nghĩa về thuế doanh thu, theo đó thuế
GTGT không tính trên phần doanh thu thu được từ việc bán hàng hay cung cấp dịch
vụ mà là phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ Giá trị tăng thêm có thể được
xác định theo nhiều phương thức tính khác nhau nhưng nguyên lý chung là bằng giá trị sản phẩm đầu ra (giá bán/doanh thu) trừ giá trị sản phẩm đầu vào (giá mua/chi phí) Điều cần lưu ý là trong khi thuế doanh thu thường được thiết kế theo hướng tiếp cận theo ngành thì thuế GTGT lại được tiếp cận theo quá trình Nghĩa là, đối với thuế
Trang 10doanh thu, việc tính thuế không phụ thuộc vào quy trình sản xuất và tiêu thụ của sản phẩm Bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào phát sinh doanh thu chịu thuế theo quy định đều phải nộp thuế doanh thu Nói cách khác, do không được khấu trừ thuế doanh thu đầu vào nên các hoạt động mua hàng và bán hàng hay quá trình từ sản xuất, lưu thông, phân phối đến tiêu dùng có tính độc lập tương đối với nhau Trong khi đó,
do bản chất của thuế GTGT là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch
vụ nên yếu tố đầu vào cũng giữ một vai trò quan trọng như yếu tố đầu ra Nói cách khác, thuế GTGT đưa ra những khái niệm mới so với thuế doanh thu là khấu trừ và hoàn thuế Các quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng là những mắt xích gắn kết với nhau rất chặt chẽ Nhà phân phối mua sản phẩm của nhà sản xuất rồi bán lại cho người tiêu dùng sẽ được khấu trừ thuế đầu vào nhưng phải nộp thuế đầu ra Điều này
có nghĩa là nhà phân phối chỉ phải chịu khoản thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm ở khâu phân phối Trước đó, nhà sản xuất chắc chắn đã phải nộp khoản thuế GTGT cho sản phẩm đầu ra bán cho nhà phân phối Khoản thuế này cũng chính là khoản thuế mà nhà phân phối được nhà nước cho khấu trừ Người tiêu dùng mua hàng
để sử dụng cuối cùng sẽ không được hoàn thuế GTGT đầu vào Khoản thuế GTGT đầu vào của người tiêu dùng cũng chính là khoản thuế GTGT mà nhà phân phối phải nộp cho nhà nước Theo cách tư duy mắt xích như vậy thì người tiêu dùng cuối cùng mới chính là người phải gánh chịu khoản thuế GTGT, trong khi đó nhà phân phối và nhà sản xuất chỉ là người “nộp thay” khoản thuế này cho người tiêu dùng và sau đó được nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại Cũng theo cách suy luận như vậy thì thuế GTGT cũng tương tự như thuế doanh thu đánh vào khâu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ xét ở phương diện giá trị
Như vậy, về bản chất thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở tất cả các khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng nhằm động viên một phần thu nhập của người dân vào ngân sách Nhà nước Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT là sản phẩm, hàng hóa dù qua ít hay nhiều khâu từ sản xuất đến tiêu dùng đều không bị đánh thuế trùng, không bị đội giá bán như thuế doanh thu trước đây Mặc dù thuế GTGT có rất nhiều ưu điểm, tuy nhiên việc áp
Trang 11năng Nhiều quốc gia phát triển cho đến nay vẫn không ban hành luật thuế GTGT do nhiều lý do khác nhau, trong đó đặc biệt là Mỹ
* Đặc điểm thuế GTGT
Ngoài những đặc điểm của thuế nói chung như: do cơ quan lập pháp ban hành, mang tính chất bắt buộc, không mang tính đối giá, tính hoàn trả trực tiếp và tương
xứng, luôn gắn với quyền lực Nhà nước… Thuế GTGT còn có những đặc điểm riêng:
-Thuế GTGT về bản chất là thuế gián thu đánh hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ Người sản xuất, kinh doanh là NNT, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế
- Thuế GTGT có phạm vi áp dụng rộng, đánh vào hầu hết các hàng hóa, dịch
vụ (Ở Việt Nam Luật thuế GTGT quy định có 25 loại hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế); Đây là loại thuế quan trọng đem lại nguồn thu lớn cho NSNN
- Thuế GTGT đánh vào mọi khâu của quá trình sản xuất, nhập khẩu, lưu thông đến tiêu dùng Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế GTGT với những loại thuế gián thu khác Nếu như thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh một lần ở khâu sản xuất hay nhập khẩu hàng hóa, khâu kinh doanh đối với dịch vụ chịu thuế; thuế xuất - nhập khẩu chỉ đánh ở khâu xuất khẩu hoặc nhập khẩu thì thuế GTGT lại đánh ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
-Thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ; Việc tính thuế dựa trên hoá đơn mua vào, bán ra; Bởi vậy, phương pháp tính thuế được sử dụng chủ yếu là phương pháp khấu trừ Ở Việt Nam do có đặt thù có khá nhiều cơ sở kinh doanh có quy mô nhỏ (doanh thu từ kinh doanh dưới 1 tỷ đồng năm) và thường là đối tượng chưa thực hiện tốt chế độ kế toán hóa đơn chứng từ nên ngoài phương pháp khấu trừ thuế, còn áp dụng cả phương pháp tính thuế trực tiếp Theo đúng nguyên lý
về thuế GTGT, việc tính thuế theo bất kỳ phương pháp nào thì tổng số thuế nhà nước thu được đều như nhau Nếu giá bán ra và giá mua vào làm căn cứ xác định GTGT ở phương pháp trực tiếp là giá chưa thuế GTGT thì hai công thức tính thuế thực chất có thể biến đổi để trở về một Tuy nhiên, giá bán ra và giá mua vào hoặc doanh thu ở phương pháp trực tiếp theo hướng dẫn của Bộ Tài chính là giá đã bao gồm thuế GTGT nên hai phương pháp tính thuế ở trên không có kết quả như nhau Nói cách khác,
Trang 12phương pháp tính thuế trực tiếp này có khả năng tạo ra hiện tượng đánh trùng thuế Hơn nữa, do Luật thuế quy định nhiều mức thuế suất khác nhau, cộng với các chính sách ưu đãi thuế, thì không nhất thiết tổng số thuế thu được sẽ như nhau theo hai cách tính thuế này
- Quản lý thuế GTGT khá phức tạp, yêu cầu trình độ quản lý cao Trong pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam còn quy định nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế Cơ sở kinh doanh hàng không chịu thuế thì thuế GTGT đầu ra không tính thuế GTGT đầu vào sẽ không được khấu trừ Với chính sách áp dụng 3 mức thuế suất thuế GTGT là 0% đối với hàng hóa dịch vụ xuất khẩu, 5 % với 14 nhóm hàng hóa dịch vụ thiết yếu và 10% áp dụng cho hàng hóa dịch vụ còn lại Ngoài ra còn đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp áp dụng tỷ lệ % trên doanh thu có mức 1% ,2%, 3% và 5 % Bên cạnh đó với hai phương pháp tính thuế khác nhau thì sử dụng loại hóa đơn khác nhau… Theo quy định thì chỉ những DN nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế mới được khấu trừ thuế GTGT đầu vào Những đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp sẽ không có cơ sở để khấu trừ thuế Trong khi đó, đối với những DN tính thuế theo phương pháp khấu trừ đã phải thanh toán khoản thuế GTGT khi mua hàng hoá đầu vào cho nhà cung cấp rồi lại nộp tiếp khoản thuế GTGT đầu ra do người tiêu dùng chi trả Do đó, phần thuế GTGT đầu vào phải được khấu trừ hoặc hoàn lại để phản ánh DN chỉ phải nộp khoản thuế ròng dựa trên phần GTGT phát sinh Một DN muốn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào cần phải có hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, hoặc chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu Đứng ở góc
độ các DN, để được khấu trừ và hoàn thuế GTGT thì DN phải có đầy đủ hoá đơn GTGT đầu vào hợp lệ Do vậy, khi mua hàng thì DN sẽ luôn đòi hỏi hoá đơn của nhà cung cấp để có thể được hoàn thuế Nhà cung cấp không thể không cấp hoá đơn để trốn thuế và cũng không thể ghi giảm giá trị hàng bán để giảm số thuế phải nộp trong trường hợp này Nếu làm như vậy thì DN mua hàng sẽ chịu thiệt tương ứng mà Nhà nước thì hầu như không bị thiệt hại gì xét trên bình diện tổng thể Tuy nhiên, đối với khoản thuế GTGT đầu ra thì DN gần như không quan tâm về việc xuất hoá đơn GTGT cho người tiêu dùng Trong khi đó, do người tiêu dùng không được khấu trừ thuế
Trang 13Cũng cần nói thêm về vấn đề quản lý hoá đơn GTGT hiện nay, đó là các DN đã được phép tự chủ về hoá đơn của mình Cụ thể là, DN đáp ứng một số điều kiện nhất định thì có thể tự in hóa đơn để sử dụng cho việc bán hàng hóa, dịch vụ thay vì phải xin phép in hoá đơn hoặc mua hoá đơn do Bộ Tài chính phát hành như trước Quy định này có thể làm tăng các hành vi gian lận thuế GTGT, tạo cơ hội cho các DN “ma” được lập ra để mua bán hoá đơn khống và chiếm đoạt tiền hoàn thuế của Nhà nước Một hệ quả có thể nhận ra là khi một DN làm ăn uy tín gặp phải DN “ma” cùng với thứ hoá đơn kê khai không được cơ quan thuế chấp nhận thì không những DN này bị thiệt về kinh tế mà còn có thể bị dính líu đến các rắc rối pháp lý khác Trong quá trình thực hiện Luật thuế GTGT thường nảy sinh một số trục trặc liên quan đến công tác quản lý và lưu hành hoá đơn GTGT, việc lập hoá đơn khống để chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT, các hành vi gian lận, trốn thuế GTGT hoặc mua hóa đơn để hợp thức hoá hàng lậu còn diễn ra tương đối phổ biến
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của khấu trừ thuế GTGT
Khấu trừ thuế là phương pháp tính thuế GTGT áp dụng cho chủ thể kinh doanh thực hiện tốt chế độ kế toán,hóa đơn chứng từ Theo quy định của pháp luật thì những
DN nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ mới được khấu trừ thuế GTGT đầu vào Những DN này đã phải thanh toán khoản thuế GTGT khi mua hàng hóa đầu vào
từ nhà cung cấp rồi lại nộp tiếp khoản thuế GTGT đầu ra do người tiêu dùng chi trả Vì vậy, mà phần thuế GTGT đầu vào được khấu trừ vì bản chất DN chỉ phải nộp khoản thuế ròng dựa trên phần giá trị tăng thêm phát sinh trong quá trình kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Như vậy có thể hiểu “khấu trừ thuế GTGT là số thuế GTGT phải nộp được tính trên cơ sở số thuế GTGT đầu ra trừ đi số thuế GTGT đầu vào”
Về đặc điểm của phương pháp khấu trừ GTGT được thể hiện:
Thứ nhất, thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng vào kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ
Thứ hai, thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong kỳ
tính thuế nào được kê khai khấu trừ khi xác định thuế phải nộp của kỳ tính thuế đó không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho
Trang 14Thứ ba, phương pháp khấu trừ thuế áp dụng cho các tổ chức kinh doanh thực
hiện đầy đủ các nghĩa vụ về kế toán, hóa đơn, chứng từ đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế GTGT Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào không có hóa đơn GTGT thì cơ sở kinh doanh đó không được khấu trừ thuế bởi căn cứ để xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ sẽ là số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT khi mua hàng hóa, dịch vụ
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của hoàn thuế GTGT
Luật thuế GTGT năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2016 không đưa ra khái niệm hoàn thuế GTGT Tuy nhiên có thể xem xét khái niệm hoàn thuế GTGT dưới nhiều góc độ khác nhau Qua thực tiễn pháp lý cho thấy “Hoàn thuế GTGT là việc cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền ra quyết định trả lại cho chủ thể nộp thuế số tiền thuế GTGT đã nộp vuợt quá nghĩa vụ phải thực hiện theo quy định của pháp luật”
Hoàn thuế GTGT có đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hoàn thuế GTGT chỉ áp dụng cho đầu vào của hàng hóa, dịch vụ chịu
thuế GTGT
Thứ hai, nếu như nộp thuế là nghĩa vụ pháp lý thì hoàn thuế được coi là một
quyền pháp lý của đối tượng nộp thuế Về nguyên tắc, khi các chủ thể nộp thuế vượt quá số thuế phải nộp thì có quyền được hoàn lại số tiền thuế đã nộp thừa đó
1.1.4 Sự cần thiết của khấu trừ, hoàn thuế GTGT
Việc khấu trừ, hoàn thuế GTGT là cần thiết, bởi:
Thứ nhất, khấu trừ, hoàn thuế GTGT khắc phục được những nhược điểm, đánh
thuế trùng lặp giữa các khâu trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ của Thuế doanh thu trước đây
Thứ hai, Việc khấu trừ thuế GTGT nó giúp cho việc xác định đúng số thuế phải
nộp ở từng khâu, từng chủ thể nộp thuế, chống thất thu thuế; Đảm bảo thu đủ số thuế cần thiết điều tiết thu nhập của người tiêu dùng; đảm bảo sự động viên kịp thời một phần thu nhập quốc dân; Đơn giản hóa quá trình quản lý và thu thuế; Khấu trừ thuế còn thúc đẩy các tổ chức kinh tế tiến hành hạch toán theo chuẩn mực pháp luật
Thứ ba, Việc hoàn thuế GTGT giúp bảo đảm tính công bằng, bình đẳng cho các
Trang 15chỉnh chế độ hóa đơn chứng từ theo quy định pháp luật Và, xét một cách tổng quát thì hoàn thuế GTGT góp phần kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh của DN nói riêng
và toàn xã hội nói chung, kích thích hoạt động xuất khẩu; Giảm bớt khó khăn về tài chính cho các DN trong kinh doanh là đối tượng nộp thuế; Việc hoàn thuế GTGT còn góp phần khuyến khích xuất khẩu Hàng hóa xuất khẩu của một số mặt hàng được hưởng mức thuế suất 0% (tức là hoàn thuế đầu vào) Việc làm này giúp các DN có lợi thế cạnh tranh với hàng hóa trên thị trường quốc tế; Trả lại số thuế do thay đổi tính chất của việc sử dụng hàng hoá; Hoàn thuế GTGT thể hiện tính minh bạch của chính sách thuế gián thu;, bảo đảm quyền pháp lý chính đáng cho các chủ thể nộp thuế
Thứ tư, cơ chế của khấu trừ, hoàn thuế GTGT bảo đảm đúng bản chất thuế
GTGT là đánh thuế trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam, giúp thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo định hướng của Nhà nước Đặc biệt, đây là động lực quan trọng trong việc khuyến khích, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
Thứ năm, khấu trừ, hoàn thuế GTGT giúp phát huy tính tự giác của DN và đóng
vai trò thiết yếu trong việc tiến hành hạch toán theo chuẩn mực pháp luật với đầy đủ hóa đơn, chứng từ, sổ sách kế toán của các tổ chức kinh tế vì một trong những điều kiện để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT là DN phải sử dụng hóa đơn, chứng từ, sổ sách… chứng minh hoạt động kinh doanh thuộc diện được hoàn thuế
Thứ sáu, khấu trừ, hoàn thuế GTGT giúp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cho
phù hợp nền KTTT cũng như xu hướng hội nhập quốc tế Thông qua cơ chế khấu trừ
và hoàn thuế GTGT giúp đảm bảo tính công bằng, bình đẳng cho các chủ thể nộp thuế, tạo tâm lý an tâm cũng như thay đổi nhìn nhận về thuế GTGT từ phía các cơ sở sản xuất, kinh doanh từ đó nâng cao tinh thần tự giác chấp hành các quy định về thuế ở Việt Nam
Tóm lại, việc khấu trừ, hoàn thuế GTGT cho DN đã tạo ra rất nhiều thuận lợi trong
quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh; khuyến khích mở rộng sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, đảm bảo tính công bằng bình đẳng giữa các chủ thể thực hiện
Trang 161.1.5 Mối liên hệ giữa khấu trừ và hoàn thuế trong thuế GTGT
Khấu trừ thuế GTGT là cơ sở cho việc áp dụng hoàn thuế GTGT bởi cơ sở kinh doanh chỉ được áp dụng việc hoàn thuế GTGT khi nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế Mặt khác, hoàn thuế sẽ là cơ sở để các DN có thể được hoàn lại khoản tiền thuế của mình do đã nộp thừa vào NSNN mà chưa được khấu trừ hết Chính vì mối liên hệ chặt chẽ này mà DN sẽ phải nâng cao tính tự giác trong việc kê khai thuế, trung thực trong hệ thống sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ
Khi nghiên cứu về mối liên hệ giữa khấu trừ thuế GTGT và hoàn thuế GTGT, một vài quan điểm cho rằng hoàn thuế GTGT là một dạng đặc biệt của khấu trừ thuế GTGT đầu vào là không hợp lý Bởi theo nguyên tắc, nếu số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ hết sẽ phát sinh quyền hoàn thuế Tuy nhiên Luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung năm 2016 đã quy định tại Khoản 3 Điều 1 như sau “Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo” Quy định này ban hành kịp thời để ngăn chặn trường hợp những DN “ma”, những tổ chức kinh doanh mua bán hóa đơn khống để rút tiền hoàn thuế từ Ngân sách Nhà nước
1.2 Khái quát pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT
1.2.1 Khái niệm pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT
Pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT là một bộ phận của pháp luật thuế GTGT bao gồm các nhóm các quy pháp luật điều chỉnh các quan hệ về khấu trừ và hoàn thuế GTGT Nói cách khác, pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT bao gồm các quy định của pháp luật về:
1.2.1.1 Đối tượng, trường hợp được khấu trừ thuế GTGT
Theo quy định của pháp luật về thuế GTGT hiện hành thì những đối tượng sau đây thuộc diện được khấu trừ GTGT: thực hiện đầy đủ các thủ tục về kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, cụ thể đối với các trường hợp sau:
- Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế
Trang 17giá trị gia tăng đầu vào không được bồi thường của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng bị tổn thất
- Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ
số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng
- Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng thì không được khấu trừ, trừ trường hợp pháp luật quy định
- Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ bán cho tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn vốn viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại được khấu trừ toàn bộ
- Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu, khí được khấu trừ toàn bộ
- Thuế giá trị gia tăng đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế giá trị gia tăng đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu trừ
bổ sung trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ
sở người nộp thuế
1.2.1.2 Đối tượng, trường hợp được hoàn thuế
Các đối tượng, trường hợp được hoàn thuế theo pháp luật về thuế GTGT hiện hành được quy định như sau:
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế giá trị gia tăng nếu trong ba tháng liên tục trở lên có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo
- Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng
ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò
và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ
sử dụng cho đầu tư theo từng năm, trừ trường hợp tại điểm c Khoản 3 Điều 13 Luật
Trang 18Thuế GTGT Trường hợp, nếu số thuế giá trị gia tăng lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT
- Cơ sở kinh doanh đang hoạt động (trừ các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành) thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư cơ
sở sản xuất mới thành lập tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh 7 doanh, chưa đăng ký thuế, nếu có số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng
- Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng
- Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi
sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết hoặc có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa
- Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo
- Đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của Pháp lệnh
về Ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam để sử dụng được hoàn thuế giá trị gia tăng đã trả ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng hoặc trên chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán đã có thuế giá trị gia tăng
- Cơ sở kinh doanh có quyết định xử lý hoàn thuế của cơ quan có thẩm theo quy định của pháp luật
1.2.1.3 Điều kiện khấu trừ thuế GTGT
Điều kiện để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được pháp luật hiện hành quy định như sau:
- Có hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá
Trang 19- Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng
- Đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 12 Luật thuế GTGT thì phải có hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hoá, cung ứng dịch vụ, hoá đơn bán hàng hoá, dịch
vụ, chứng từ thanh toán qua ngân hàng, tờ khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu
- Việc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu dưới hình thức thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, trả nợ thay Nhà nước được coi là thanh toán qua ngân hàng
1.2.1.4 Điều kiện hoàn thuế GTGT
Điều kiện hoàn thuế GTGT được quy định tại Điều 19 Thông tư BTC như sau:
219/2013/TT Phải là cơ sở kinh doanh nộp theo phương pháp khấu trừ
- Đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép đầu tư (giấy phép hành nghề) hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền
- Có con dấu theo đúng quy định của pháp luật
- Lập và lưu giữ sổ kế toán, chứng từ kế toán theo đúng quy định của pháp luật
Việc kê khai hồ sơ thuế GTGT theo tháng hay theo quý phụ thuộc vào doanh thu liền kề của năm trước Những doanh nghiệp có tổng doanh thu năm trước liền kề lớn
Trang 20hơn 50 tỷ đồng thì kê khai GTGT theo tháng Ngược lại, những doanh nghiệp có tổng doanh thu năm trước liền kề dưới 50 tỷ thì kê khai GTGT theo quý Riêng người nộp thuế mới bắt đầu sản xuất kinh doanh thì khai thuế GTGT theo quý Sau khi sản xuất
đủ 12 tháng thì năm dương lịch tiếp theo sẽ căn cứ doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ của năm liền kề để xác khai thuế GTGT theo tháng hay quý Về chu kỳ kê khai theo tháng/quý, việc thực hiện khai thuế theo quý hay theo tháng được ổn định trọn vẹn năm dương lịch và ổn định theo chu kỳ 3 năm
Các doanh nghiệp tự kê khai, tính toán và cân đối khoản thuế phải nộp và khoản thuế được khấu trừ Sau đó tự thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, truy thu, xử phạt đối với các doanh nghiệp có hành vi gian lận, trốn thuế
1.2.1.6 Thủ tục hoàn thuế GTGT
Lập và gửi hồ sơ hoàn thuế :
- Hồ sơ hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu bao gồm: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; hợp đồng mua bán, gia công; Tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu; Chứng từ thanh toán qua ngân hàng; Hóa đơn thương mại
- Hồ sơ hoàn thuế GTGT dự án đầu tư bao gồm: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; tờ khai thuế GTGT dành cho dự án đầu tư; Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào
- Hồ sơ hoàn thuế với dự án ODA: Thứ nhất, đối với chủ dự án và nhà thầu
chính: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; Bảng kê hóa đơn, chứng
từ hàng hóa dịch vụ mua vào; Quyết định của cấp có thẩm quyền về việc phê duyệt dự
án sử dụng vốn ODA không hoàn lại, dự án sử dụng vốn ODA vay ưu đãi ngân sách
Nhà nước cấp phát; Xác nhận của cơ quan chủ dự án ODA Thứ hai, đối với Văn
phòng đại diện nhà tài trợ dự án ODA: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào; Văn bản thỏa thuận giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với nhà tài trợ về việc thành lập văn phòng đại diện; Văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc thành lập văn phòng đại diện
Trang 21- Hồ sơ hoàn thuế đối với tổ chức Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào; Văn bản phê duyệt các khoản viện trợ của cấp có thẩm quyền; Văn bản xác nhận của Bộ tài chính hoặc Sở tài chính về khoản tiền viện trợ của tổ chức phi chính phủ nước ngoài
- Hồ sơ hoàn thuế đối với đối tượng được hưởng ưu đãi ngoại giao: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; Bảng kê thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào dùng cho cơ quan đại diện ngoại giao; Bản gốc kèm 2 bản chụp hóa đơn GTGT có đóng dấu của cơ quan đại diện
- Hồ sơ hoàn thuế, phí nộp thừa đối với người nộp thuế sát nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sỡ hữu, chấm dứt hoạt động: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; Quyết định của cấp có thẩm quyền về việc sát nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu, chấm dứt hoạt động; Hồ sơ quyết toán thuế hoặc hồ sơ khai thuế đến thời điểm sát nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu, chấm dứt hoạt động
- Hồ sơ hoàn thuế GTGT đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước trong đó ghi rõ số thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu của thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng…
để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp và cam kết của doanh nghiệp; Bảng kê hồ sơ hàng hóa nhập khẩu
Thủ tục gải quyết yêu cầu hoàn thuế GTGT hồ sơ hoàn thuế:
- Nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT
- Tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế
- Phân loại hồ sơ hoàn thuế
- Giải quyết hồ sơ hoàn thuế
1.2.1.7 Quyền và nghĩa vụ của đối tượng được khấu trừ, hoàn thuế GTGT
Nghĩa vụ của những đối tượng thuộc trường hợp khấu trừ, hoàn thuế GTGT bao gồm: Đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; Thực hiện đầy đủ chế độ
kế toán, hóa đơn, chứng từ làm căn cứ xét khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT; Lập hồ sơ
Trang 22đề nghị khấu trừ, hoàn thuế GTGT; Bổ sung hồ sơ hoặc giải trình, cung cấp hồ sơ bổ sung hoặc giải trình theo yêu cầu của cơ quan thuế; Lưu giữ đầy đủ hồ sơ tại cơ sở… Song song với nghĩa vụ phải thực hiện, người nộp thuế GTGT được hưởng những quyền cơ bản của người nộp thuế nói chung mà bất kỳ người nộp thuế hay công dân nào cũng có được thông qua việc nộp thuế, đó là những chính sách phúc lợi xã hội, những tiện ích cộng đồng… Bên cạnh đó, các quyền lợi trực tiếp từ việc nộp thuế được khái quát trong Điều 6 của Luật Quản lý thuế năm 2006 sửa đổi bổ sung năm
2012, cụ thể như: Quyền được hướng dẫn thực hiện việc nộp thuế, cung cấp thông tin tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi về thuế; Quyền yêu cầu cơ quan quản lý giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế; Quyền giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật; Quyền được khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của công chức quản lý thuế và tổ chức, cá nhân khác…
1.2.1.8 Trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc hoàn thuế GTGT
Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế: tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra sơ lược tính hợp pháp, đầy đủ của
hồ sơ, cơ quan quản lý phải thông báo cho đối tượng nộp thuế đến hoàn thiện hồ sơ Thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế hồ sơ được xét duyệt hoặc lý do từ chối kèm theo hồ sơ trả lại nếu hồ sơ không đủ điều kiện Kho bạc Nhà nước các cấp có trách nhiệm thực hiện việc chi hoàn thuế cho các đối tượng đủ điều kiện trong thời hạn
ba ngày kể từ ngày nhận quyết định của cơ quan thuế
Trang 231.2.2 Các yếu tố chi phối nội dung điều chỉnh của pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT
Pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT chịu ảnh hưởng của những yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, cơ chế quản lý thuế được nhà nước lựa chọn áp dụng
Cơ chế quản lý là sản phẩm của ý thức chủ quan của con người, do chủ thể quản lý định ra, nên nó mang tính chủ quan phụ thuộc vào ý chí và lợi ích của chủ thể quản lý Tuy nhiên, việc định ra cơ chế quản lý có hiệu quả thì Nhà nước không thể không dựa trên cơ sở các quy luật khách quan và phù hợp với xu thế phát triển kinh tế
- xã hội của từng giai đoạn lịch sử cụ thể Việc định ra cơ chế quản lý hợp lý, khoa học
là sự biểu hiện rõ nhất về trình độ, khả năng vận dụng các quy luật khách quan vào quá trình quản lý
Pháp luật là yếu tố cơ bản cấu thành trong cơ chế quản lý Mỗi cơ chế quản lý thuế khác nhau đòi hỏi pháp luật điều chỉnh khác nhau cho phù hợp cơ chế quản lý thuế đó
Trước đây, Việt Nam đã thực hiện cơ chế quản lý thuế “chuyên quản” trực tiếp theo từng
đối tượng, theo từng sắc thuế thì pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT phải ban hành
ra những quy định phù hợp để thích ứng với cơ chế quản lý thuế này, có như vậy cơ chế quản lý thuế mới có thể vận hành được và đạt được những hiệu quả Khi Việt Nam
chuyển sang áp dụng quản lý thuế theo cơ chế “tự khai, tự nộp thuế” (Khi Luật Quản lý
thuế năm 2006 ban hành có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007) thì pháp luật thuế nói chung
và pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT phải thay đổi
Đây là cơ chế hiện đại, hiệu quả được nhiều nước trên thế giới áp dụng Cơ quan quản lý thuế sẽ không phải mất quá nhiều nguồn lực trong việc thực hiện công tác thu, nộp thuế mà tập trung nguồn lực trong việc giám sát, kiếm tra hoạt động nộp thuế của doanh nghiệp Điều này làm tăng minh bạch trong quản lý thuế, đồng thời làm giảm chi phí quản lý, thúc đẩy cải cách hành chính thuế
Thứ hai, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước
Pháp luật là sự phản ánh dưới hình thức pháp lý các quan hệ xã hội, một sự phản ánh lệ thuộc vào những biến đổi của xã hội Do đó, việc nghiên cứu đánh giá không chính xác, không đầy đủ những yếu tố khách quan khi ban hành pháp luật cũng
Trang 24dẫn đến pháp luật không phù hợp với những đòi hỏi của cuộc sống và pháp luật không thể phát huy được tác dụng Để pháp luật phản ánh đúng, đầy đủ thực tiễn khách quan, những tiến trình đang diễn ra trong đời sống xã hội thì phải thường xuyên hoàn thiện pháp luật trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội, thực trạng pháp luật hiện hành Từ thực trạng đó phát hiện ra những điểm không phù hợp trong các quy định của pháp luật để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn khách quan Đồng thời, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng kinh tế - xã hội mà phát hiện ra những nhu cầu điều chỉnh mới của pháp luật để kịp thời xây dựng và ban hành pháp luật Nếu không có những khảo sát, đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội thì không thể có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn xác đáng để xây dựng và thực hiện pháp luật, pháp luật không thể phát huy vai trò của nó trong đời sống, thậm chí pháp luật chỉ nằm trên giấy
Để pháp luật đi vào cuộc sống, việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về khấu trừ và hoàn thuế GTGT cần xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn để đặt ra các quy định pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT cho phù hợp
Thứ ba, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các bộ phận pháp luật khác trong hệ thống pháp luật trước hết là các bộ phận khác của pháp luật quản lý thuế và pháp luật về nội dung các sắc thuế Muốn xử lý có hiệu quả các hành vi phạm pháp luật thuế thì công tác phát hiện sớm, đầy đủ các hành vi phạm pháp luật thuế phải làm tốt, công tác này phụ thuộc mức độ hoàn thiện của pháp luật
về thủ tục hành chính thuế, pháp luật về quản lý thông tin về NNT, pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế, pháp luật về cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế, pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế Hành vi gian lận thuế GTGT nảy sinh nhiều hay ít do nhiều nguyên nhân, nếu chỉ chú trọng đến quy định mức xử phạt cao để trừng phạt và răn đe người vi phạm thì đôi khi tạo ra hành vi tiêu cực mới như mua chuộc, hối lộ cơ quan, công chức thuế, tạo ra hành vi vi phạm pháp luật mới… Thực tiễn hiện nay ở nước ta cho thấy, chủ thể kinh doanh chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế là các DN vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh tư nhân, cá thể, mà hầu hết các đối
Trang 25đủ chế độ hoá đơn, chứng từ trong mua bán hàng hoá, dịch vụ nên việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp sẽ gặp nhiều khó khăn Xuất phát từ thực trạng nêu trên, pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT cần tính đến để có quy định phù hợp với các đối tượng là DN vừa và nhỏ, tránh tình trạng thất thu thuế, không gây khó khăn phiền hà cho NNT Giải pháp mà pháp luật thuế GTGT phải tính đến để hạn chế các hành vi gian lận thuế GTGT là nội dung pháp luật về chính sách thuế phải cụ thể rõ ràng, không có nhiều lỗ hổng để lợi dụng, quy định về thủ tục hành chính thuế phải đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện, giảm tần suất kê khai, nộp thuế, tiết giảm tối đa chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi tối đa cho NNT tự thực hiện đầy đủ, đúng nghĩa vụ thuế Đồng thời, cần có quy định nhằm khuyến khích, mở rộng các hoạt động tư vấn, cung cấp dịch vụ về thuế, về kế toán giúp cho tổ chức, cá nhân nộp thuế hiểu rõ quy định của các luật thuế, từ đó tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Bên cạnh đó cần có chế tài thật nghiêm khắc để xử lý các hành vi lợi dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế và những yếu kém trong quản lý của cơ quan quản
lý thuế để vi phạm trục lợi tiền thuế của nhà nước
Pháp luật quản lý thuế nói chung và pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT GTGT nói riêng được xây dựng, ban hành để bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của luật thuế Pháp luật về nội dung các sắc thuế là cơ sở, là tiền đề cho xây dựng pháp luật phòng chống gian lận thuế Xu hướng cải cách phát triển hệ thống thuế ở các nước đều cho thấy: Cải cách hệ thống thuế được kết hợp chặt chẽ và tương thích giữa nội dung pháp luật thuế với công tác quản lý thuế Bởi vì, một hệ thống pháp luật về nội dung các sắc thuế dù có tiên tiến đến đâu cũng không phát huy được tác dụng nếu thiếu vắng quy định của pháp luật quản lý thuế và ngược lại, cải cách quản lý công tác quản lý thuế cần được dựa trên nền tảng một hệ thống pháp luật về nội dung các sắc thuế ổn định và rõ ràng, phù hợp, ít có lỗ hỗng để lợi dụng
Pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT về thuế còn có mối quan hệ và chịu
sự chi phối của các các bộ phận pháp luật khác như: pháp luật về quản lý đất đai, quản
lý đăng ký DN, quản lý xuất nhập khẩu, quản lý xuất nhập cảnh, thanh toán không dùng tiền mặt, chế độ, chuẩn mực kế toán; quản lý sử dụng hoá đơn chứng từ…pháp luật dân sự, pháp luật về tố tụng, pháp luật về thanh tra, pháp luật hải quan, pháp luật
Trang 26hình sự, pháp lụât hành chính v.v Vì vậy, khi ban hành, sửa đổi các quy định của pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT cần đảm bảo tính phù hợp và thống nhất với các bộ phận pháp luật trên
Thứ tư, văn hoá tuân thủ thuế của NNT (hay còn gọi tinh thần và đạo đức thuế của NNT )
Văn hoá tuân thủ thuế thể hiện ở nhận thức về trách nhiệm của NNT về nghĩa
vụ thuế, ở ý thức chấp hành pháp luật thuế Văn hoá tuân thủ thuế là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nội dung điều chỉnh của pháp luật Khi NNT có kiến thức, hiểu biết đầy đủ về pháp luật thuế có tinh thần đạo đức thuế tốt thì khi đó mới đảm bảo rằng họ tự giác thực hiện được đúng, đầy đủ nghĩa vụ thuế của mình, họ thấy trách nhiệm của mình phải tham gia vào công tác quản lý thuế và mới giám sát quá trình thực hiện pháp luật thuế Trái lại, sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT còn thấp thì tình trạng trốn thuế, lậu thuế còn diễn ra, những tiêu cực trong quản
lý thuế vẫn còn có “đất” để tồn tại Do vậy, việc quy định trong pháp luật thuế phải
tính đến yếu tố này, bởi vì, ở nước ta hiện nay, ý thức trách nhiệm về nghĩa vụ thuế, sự hiểu biết về các luật thuế và quy trình thủ tục thực hiện các nghĩa vụ thuế của NNT nói riêng và người dân nói chung còn hạn chế
Thứ năm, trình độ quản lí của cơ quan quản lí thuế, cán bộ ngành thuế
Trình độ năng lực quản lí của cơ quan QLT, cán bộ ngành thuế là một yếu tố quan trọng chi phối pháp luật QLT Trình độ năng lực quản lí của cơ quan QLT được thể hiện thông qua việc phân công, phân cấp quản lý, bố trí cán bộ, năng lực còn thể hiện thông qua bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác QLT và thước
đo là kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn Trình độ, năng lực của đội ngũ cán
bộ, công chức QLT thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng ứng dụng công nghệ tin học trong công việc, tính chuyên nghiệp hoá, chuyên môn hoá quản lí, thái độ và phong cách làm việc Trong pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT, các quy định về quy trình, thủ tục, cách thức thực hiện, thời gian giải quyết công việc liên quan đến các nội dung về khấu trừ và hoàn thuế GTGT phải dựa trên trình độ, năng lực thực tế và điều kiện cơ sở vật chất hiện có Đặc biệt, trong tiến trình phát triển kinh
Trang 27hành cải tiến công tác quản lý, ứng dụng khoa học công nghệ là mục tiêu quan trọng Cần tăng cường trang thiết bị hiện đại, nâng cao cả trình độ chuyên môn cũng như trình độ sử dụng công nghệ, thiết bị trong công tác quản lý của cán bộ thuế
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, đánh trên bình diện rộng, mang bản chất liên hoàn có cơ chế vận hành phức tạp nên đòi hỏi một trình độ quản lý cao và phương tiện, công nghệ hỗ trợ hiện đại đủ khả năng để quản lý, giám sát hoạt động của các đối tượng nộp thuế Bởi vậy, trình độ, năng lực quản lý thuế cũng như đạo đức của cán bộ quản lý thuế tốt thì chắc chắn việc thực thi luật thuế GTGT sẽ đạt hiệu quả cao, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Ngược lại, nếu trình độ quản lý chưa tương xứng với yêu cầu của công tác quản lý thuế hay thiếu sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng như giữa cơ quan đăng ký kinh doanh với cơ quan thuế, giữa cơ quan hải quan với cơ quan thuế, hoặc giữa cơ quan thuế với cơ quan công an… thì các DN
sẽ dễ dàng thực hiện hành vi gian lận thương mại, trốn thuế
Thứ sáu, tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
Pháp luật thuế nói chung và pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT nói riêng
ở mỗi quốc gia bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của chính quốc gia đó Tuy nhiên, do tác động của xu thế phát triển là cần mở cửa hợp tác
và hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia muốn phát triển không thể đóng cửa, biệt lập với thế giới bên ngoài Để mở rộng hợp tác kinh tế với quốc gia và hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, các nước đều phải nỗ lực điều chỉnh chính sách, pháp luật của quốc gia mình cho phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực của luật pháp quốc tế Khi tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, các quốc gia đều đưa ra cam kết của mình với các tổ chức kinh tế quốc tế mà mình là thành viên Để thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế, các quốc gia đều phải sửa đổi hoàn thiện pháp luật để tạo cơ sở pháp
lý cho việc thực hiện cam kết đó Hơn nữa, pháp luật thuế nói chung và pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT nói riêng là một trong những yếu tố quan trọng để tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn của quốc gia để thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển Với yêu cầu này, pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT ở nước ta cần hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời nâng cao hiệu quả về khấu trừ và hoàn thuế GTGT của Việt Nam ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực
Trang 28Trong điều kiện nước ta đang xây dựng và hoàn thiện các thể chế của nền KTTT thì việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT nói chung và thuế GTGT nói riêng cần thiết phải tham khảo, tiếp thu có chọn lọc pháp luật
về khấu trừ và hoàn thuế GTGT của các nước tiên tiến trên thế giới nhằm bảo đảm pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT của Việt Nam nhanh chóng tiếp cận được chuẩn mực của quốc tế, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam
Những yếu tố nói trên là những yếu tố chính ảnh hưởng, tác động chi phối đến pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT ở nước ta, giữa chúng có mối liên hệ tác động qua lại với nhau rất lớn Để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT ở Việt Nam thì không thể không chú trọng đến các yếu tố này
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM
2.1 Các quy định về khấu trừ và hoàn thuế GTGT theo pháp luật Việt nam hiện hành
2.1.1 Các quy định của pháp luật về khấu trừ thuế GTGT
* Đối tượng được khấu trừ thuế GTGT
Theo quy định của pháp luật về thuế GTGT hiện hành thì những đối tượng sau được áp dụng phương pháp khấu trừ GTGT:
Thứ nhất, Cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ một tỷ
đồng trở lên từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ hộ,
cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp
Thứ hai, Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ
thuế, bao gồm [4]
- DN, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới một tỷ đồng đã thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ;
- DN mới thành lập từ dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh đang hoạt động nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ;
- DN, hợp tác xã mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm, nhận góp vốn bằng tài sản cố định, máy móc, thiết bị, công cụ, dụng cụ hoặc có hợp đồng thuê địa điểm kinh doanh;
- Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ
- Tổ chức kinh tế khác hạch toán được thuế GTGT đầu vào, đầu ra không bao gồm DN, hợp tác xã
Các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế nêu trên phải gửi Thông báo về việc áp dụng phương pháp tính thuế
Trang 30GTGT tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước ngày 20 tháng 12 của năm trước liền kề năm người nộp thuế thực hiện phương pháp tính thuế mới (cơ sở kinh doanh không phải gửi các hồ sơ, tài liệu chứng minh nhưng phải lưu giữ và xuất trình cho cơ quan thuế khi có yêu cầu) Trong thời gian 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Thông báo về việc áp dụng phương pháp khấu trừ, cơ quan thuế phải có văn bản thông báo cho DN, hợp tác xã, cơ sở kinh doanh biết việc chấp thuận hay không chấp thuận Thông báo về việc áp dụng phương pháp khấu trừ thuế
Thứ ba, Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành
hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam kê khai khấu trừ nộp thay
Trường hợp cơ sở kinh doanh có hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý thì cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng hoạt động này để nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
* Cách tính thuế theo phương pháp khấu trừ:
- Số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp khấu trừ bằng số thuế GTGT đầu ra rừ (-) số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
- Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn GTGT
+ Thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó
+ Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì thuế GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ (-) giá tính thuế được xác định theo công thức sau:
Giá chưa có thuế GTGT = Giá thanh toán
1 + thuế suất của hàng hóa, dịch vụ
- Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ được xác định căn cứ vào: Số thuế GTGT ghi trên Hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ; chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng chứng từ ghi
Trang 31giá thanh toán đã bao gồm thuế GTGT thì số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ xác định bằng giá thanh toán trừ (-) giá tính thuế được xác định theo công thức sau:
Giá chưa có thuế GTGT =
Giá thanh toán
1 + thuế suất của hàng hóa, dịch vụ
*Khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế được khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế GTGT đầu vào không được bồi thường của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bị tổn thất;
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ % giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra;
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ bán cho tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn vốn viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại được khấu trừ toàn bộ;
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu, khí được khấu trừ toàn bộ;
- Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định
số thuế phải nộp của tháng đó Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế
* Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào được quy định như sau:
- Có Hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu;
Trang 32- Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hóa, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng;
- Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định trên còn phải có: hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hóa, cung ứng dịch vụ; hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ; chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu
Việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu dưới hình thức thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, trả nợ thay Nhà nước được coi là thanh toán không dùng tiền mặt
Thủ tục khấu trừ thuế GTGT
Hồ sơ khai thuế GTGT theo tháng/quý, áp dụng phương pháp khấu trừ thuế bao gồm: Tờ khai thuế GTGT; Bảng kê hóa đơn, hàng hóa, dịch vụ bán ra; Bảng kê hàng hóa, dịch vụ được áp dụng thuế suất 0%; Bảng phân bổ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào được khấu trừ trong tháng, quý; Bảng kê số thuế GTGT đã nộp của doanh thu kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh; Bảng phân bổ thuế GTGT cho địa phương nơi đóng trụ sở chính và cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán
Việc kê khai hồ sơ thuế GTGT theo tháng hay theo quý phụ thuộc vào doanh thu liền kề của năm trước Những DN có tổng doanh thu năm trước liền kề lớn hơn 50
tỷ đồng thì kê khai GTGT theo tháng Ngược lại, những DN có tổng doanh thu năm trước liền kề dưới 50 tỷ thì kê khai GTGT theo quý Riêng NNT mới bắt đầu sản xuất kinh doanh thì khai thuế GTGT theo quý Sau khi sản xuất đủ 12 tháng thì năm dương lịch tiếp theo sẽ căn cứ doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ của năm liền kề để xác khai thuế GTGT theo tháng hay quý Về chu kỳ kê khai theo tháng/quý, việc thực hiện khai thuế theo quý hay theo tháng được ổn định trọn vẹn năm dương lịch và ổn định theo chu kỳ 3 năm
Các DN tự kê khai, tính toán và cân đối khoản thuế phải nộp và khoản thuế được khấu trừ Sau đó tự thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, truy thu, xử phạt đối với các DN có hành vi
Trang 332.1.2 Các quy định của pháp luật về hoàn thuế GTGT
* Đối tượng, trường hợp được hoàn thuế
Pháp luật về thuế GTGT hiện hành quy định về Các đối tượng và các trường hợp được hoàn thuế như sau:
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng (đối với trường hợp kê khai
theo tháng) hoặc trong quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo
- Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế đối với dự án đầu tư như sau:
+ Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng
ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu
tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu
tư theo từng năm, trừ trường hợp pháp luật quy định không được hoàn thuế GTGT Trường hợp, nếu số thuế GTGT lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT Trường hợp dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, kiểm toán thì cơ quan thuế có thể sử dụng kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán để quyết định việc hoàn thuế GTGT và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình;
+ Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở
chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh,
chưa đăng ký thuế thì số thuế GTGT đầu vào bù trừ với số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính, sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư, (trừ trường hợp pháp luật là đối tượng không được hoàn thuế GTGT ) Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế riêng đối với dự án đầu tư;
Trang 34Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:
+ Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động;
+ Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư
- Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý, trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật hải quan Thực hiện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đối với người nộp thuế sản xuất hàng hóa xuất khẩu không vi phạm pháp luật về thuế, hải quan trong thời gian hai năm liên tục; người nộp thuế không thuộc đối tượng rủi ro cao theo quy định của Luật quản lý thuế
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế được
hoàn thuế GTGT khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi DN, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế GTGT nộp thừa hoặc số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết
- Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được hoàn thuế đối với hàng hóa mua tại Việt Nam mang theo người khi xuất cảnh
- Việc hoàn thuế GTGT đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo được quy định như sau:
Trang 35+ Chủ chương trình, dự án hoặc nhà thầu chính, tổ chức do phía nhà tài trợ nước ngoài chỉ định việc quản lý chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại được hoàn số thuế GTGT đã trả cho hàng hóa, dịch vụ mua tại Việt Nam để phục vụ cho chương trình, dự án;
+ Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ không hoàn lại, tiền viện trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam thì được hoàn số thuế GTGT đã trả cho hàng hóa, dịch vụ đó
- Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của pháp luật về ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam để sử dụng được hoàn số thuế GTGT đã trả ghi trên hóa đơn GTGT hoặc trên chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán đã có thuế GTGT
- Cơ sở kinh doanh có quyết định hoàn thuế GTGT của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và trường hợp hoàn thuế GTGT theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
* Điều kiện hoàn thuế GTGT
Điều kiện hoàn thuế GTGT được pháp luật quy định như sau [3]:
- Phải là cơ sở kinh doanh nộp theo phương pháp khấu trừ;
- Đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký DN hoặc giấy phép đầu tư (giấy phép hành nghề) hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
- Có con dấu theo đúng quy định của pháp luật;
- Lập và lưu giữ sổ kế toán, chứng từ kế toán theo đúng quy định của pháp luật
về kế toán
- Có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng theo mã số thuế của cơ sở kinh doanh
* Thủ tục hoàn thuế GTGT
Lập và gửi hồ sơ hoàn thuế :
- Hồ sơ hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu bao gồm: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; hợp đồng mua bán, gia công; Tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu; Chứng từ thanh toán qua ngân hàng; Hóa đơn thương mại
Trang 36- Hồ sơ hoàn thuế GTGT dự án đầu tư bao gồm: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; tờ khai thuế GTGT dành cho dự án đầu tư; Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào
- Hồ sơ hoàn thuế với dự án ODA:
Thứ nhất, đối với chủ dự án và nhà thầu chính: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu
ngân sách Nhà nước; Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào; Quyết định của cấp có thẩm quyền về việc phê duyệt dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại, dự án sử dụng vốn ODA vay ưu đãi NSNN cấp phát; Xác nhận của cơ quan chủ dự
án ODA
Thứ hai, đối với Văn phòng đại diện nhà tài trợ dự án ODA: Giấy đề nghị hoàn
trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào; Văn bản thỏa thuận giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với nhà tài trợ về việc thành lập văn phòng đại diện; Văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc thành lập văn phòng đại diện
- Hồ sơ hoàn thuế đối với tổ chức Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; Bảng
kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào; Văn bản phê duyệt các khoản viện trợ của cấp có thẩm quyền; Văn bản xác nhận của Bộ tài chính hoặc Sở tài chính về khoản tiền viện trợ của tổ chức phi chính phủ nước ngoài
- Hồ sơ hoàn thuế đối với đối tượng được hưởng ưu đãi ngoại giao: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; Bảng kê thuế GTGT của hàng hóa, dịch
vụ mua vào dùng cho cơ quan đại diện ngoại giao; Bản gốc kèm 2 bản chụp hóa đơn GTGT có đóng dấu của cơ quan đại diện
- Hồ sơ hoàn thuế, phí nộp thừa đối với NNT sát nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sỡ hữu, chấm dứt hoạt động: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách Nhà nước; Quyết định của cấp có thẩm quyền về việc sát nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu, chấm dứt hoạt động; Hồ sơ quyết toán thuế hoặc hồ sơ khai thuế đến thời điểm sát nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu, chấm dứt hoạt động
Trang 37- Hồ sơ hoàn thuế GTGT đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu NSNN trong đó ghi rõ số thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu của thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng… để tạo tài sản cố định của DN và cam kết của doanh nghiệp; Bảng kê hồ sơ hàng hóa nhập khẩu
Thủ tục gải quyết yêu cầu hoàn thuế GTGT hồ sơ hoàn thuế:
- Nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT
- Tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế
- Phân loại hồ sơ hoàn thuế
- Giải quyết hồ sơ hoàn thuế
* Trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc hoàn thuế GTGT
Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế: tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra sơ lược tính hợp pháp, đầy đủ của hồ sơ
2.2.Thực trạng pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT
Pháp luật thuế GTGT kể từ khi ra đời cho đến nay đã có nhiều lần được sửa đổi
bổ sung với nhiều nội dung được thay đổi trong đó có các quy định về khấu trừ vf hoàn thuế GTGT, nhằm tạo cơ sở pháp lý để quản lý chặt chẽ nguồn thu, phòng chống gian lận thuế thuế GTGT cụ thể:
Luật thuế GTGT đầu tiên ban hành năm 1997 có hiệu lực thi hành từ 01/01/1999 Sau hơn 04 năm thực hiện Luật thuế GTGT, về cơ bản các mục tiêu đặt ra khi ban hành đã đạt được Tuy nhiên, do Luật thuế GTGT là một Luật thuế mới được
áp dụng ở nước ta trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế còn thiếu ổn định và chưa đồng bộ Trong thời gian đầu áp dụng có phát sinh nhiều vướng mắc mà trong quá trình xây dựng Luật thuế GTGT không thể
dự liệu hết được Để từng bước tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tăng cường công tác quản lý thuế, hạn chế việc lợi dụng những kẽ hở để trốn lậu thuế, gian lận tiền thuế của Nhà nước Ngày 17/6/2003, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT (năm 1997) trong đó có nội dung bãi bỏ việc quy định khấu trừ khống tỷ lệ % thuế GTGT đầu vào của một số loại hàng hoá, dịch vụ…nhằm hạn chế, ngăn ngừa một số hành vi tiêu cực như: Lợi dụng kẽ hở của luật để gian lận tiền thuế
Trang 38của Nhà nước trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT và tình trạng mua, bán hoá đơn GTGT bất hợp pháp…
Ngày 03/6/2008, Quốc hội đã ban hành Luật thuế GTGT mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới; Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước; Đảm bảo chính sách thuế đơn giản, rõ ràng, minh bạch, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, tính tuân thủ pháp luật về thuế và bảo đảm sự đồng
bộ với Luật quản lý thuế mới được ban hành; Trong Luật thuế GTGT năm 2008 có sửa đổi bổ sung một số quy định liên quan đến khấu trừ, hoàn thuế nhằm phòng chống gian lận thuế GTGT như: quy định thêm điều kiện để khấu trừ thuế GTGT là: Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng; Trường hợp mua hàng của một nhà cung cấp có giá trị dưới 20 triệu đồng, nhưng mua nhiều lần trong cùng ngày có tổng giá trị trên 20 triệu đồng thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ
thanh toán qua NH.Việc thanh toán qua ngân hàng trở thành điều kiện để khấu trừ, hoàn thuế đầu vào có tác dụng ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh và tuân
thủ pháp luật đối với cộng đồng DN
Về ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ: tính đến ngày 01/01/2012, số lượng DN tăng lên khoảng 162.000 DN so với thời điểm năm 2008 khi ban hành Luật Số lượng DN tăng thêm này đều phải kê khai nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, trong đó có nhiều DN có quy mô nhỏ, rất nhỏ khiến chi phí, thời gian kê khai, nộp thuế GTGT đối với người nộp thuế và chi phí quản lý của cơ quan thuế đều tăng tương ứng Một số DN lợi dụng cơ chế thông thoáng trong việc thành lập DN để thành lập DN chỉ nhằm mua bán hoá đơn, lợi dụng hoá đơn “khống”
để khấu trừ, hoàn thuế làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh, gây thất thu cho NSNN Thực tế này đòi hỏi phải có cơ chế ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ để khắc phục những vướng mắc cũng như học hỏi kinh nghiệm của nhiều nước đã thực hiện và đạt kết quả tốt Về phương pháp tính thuế: cùng với việc áp dụng ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ cần thiết
Trang 39hộ, cá nhân kinh doanh đang được lựa chọn nộp thuế theo phương pháp khấu trừ nếu thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ đầy đủ theo quy định của pháp luật Thực tế qua kiểm tra, thanh tra cho thấy hầu như không có hộ, cá nhân kinh doanh nào đáp ứng được điều kiện này Do vậy, quy định lựa chọn phương pháp tính thuế vừa không phù hợp với thực tiễn, vừa dẫn đến vướng mắc trong việc xác định phương pháp tính thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh… Về khấu trừ, hoàn thuế: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế năm 2012 cho phép DN nhỏ được lựa chọn kê khai theo quý (thay cho theo tháng) nên các quy định về khấu trừ, hoàn thuế tại Luật thuế GTGT chưa bao quát được những trường hợp kê khai theo quý mới
bổ sung Quá trình thực hiện các quy định về khấu trừ thuế đã phát sinh vướng mắc trong việc khấu trừ thuế đối với hàng hoá, dịch vụ bị tổn thất, thời hạn tự điều chỉnh trong trường hợp có sai sót về kê khai khấu trừ
Vì vậy, để kịp thời khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước cũng như yêu cầu hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả quản lý thuế trong giai đoạn tới thì việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT (2008) là cần thiết Ngày 19/6/2013, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT Tiếp đó, ngày 26/11/2014, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế (trong đó có sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT) Trong đó có nội dung sửa đổi liên quan đến khấu trừ, hoàn thuế nhằm phòng chống gian lận thuế GTGT đó là: Quy định phương pháp tính thuế trực tiếp theo tỷ lệ %/doanh thu áp dụng cho các đối tượng:
DN, hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới một tỷ đồng, Hộ, cá nhân kinh doanh; Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ; và tổ chức kinh tế khác, trừ trường hợp đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế Việc quy định các DN
có doanh thu năm dưới 1 tỷ và cá nhân hộ kinh doanh là đối tượng chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp có ý nghĩa lớn trong phòng chống gian lận thuế GTGT Bởi qua thực tế kiểm chứng thì đây là đối tượng có nguy cơ rủi ro cao về gian lận thuế GTGT thông qua thành lập DN để in bán hóa đơn cho DN khác để gian lận thuế, đồng thời là đối tượng mua hóa đơn khống để gian lận trong khấu trừ và hoàn
Trang 40thuế GTGT Khi quy định này của Luật được thực hiện tình trạng DN ma, tình trạng mua bán hóa đơn GTGT giảm rất nhiều
Thực hiện chủ trương của Đảng về tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cũng như cải cách hành chính để tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phát triển, Ngày 6/4/2016 Quốc hội khóa XIII thông qua Luật số 106/2016/QH13 (sửa đổi,
bổ sung Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật Quản lý thuế) Luật này
có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016, trong đó, nhiều quy định mới liên quan đến kháu trừ
và hoàn thuế GTGT nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo cơ sở pháp lý quản lý chặt chẽ nguồn thu từ thuế GTGT, đồng thời góp phần phòng chống gian lận thuế GTGT Cụ thể: Luật số 106/2016/QH13 đã bổ sung 2 đối tượng thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau, đó là: (i) Người nộp thuế (NNT) sản xuất hàng hóa xuất khẩu không vi phạm pháp luật thuế trong 2 năm liên tục; (ii) NNT không thuộc diện rủi ro cao theo quy định của Luật Quản lý thuế Quy định này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho NNT tuân thủ tốt pháp luật thuế được nhanh chóng giải quyết hoàn thuế và đơn giản hóa thủ tục giải quyết hoàn thuế, mặt khác, thúc đẩy NNT tuân thủ pháp luật thuế để được hưởng những thuận lợi về thủ tục thuế Quy định này cũng quán triệt nguyên tắc quản lý rủi ro trong Luật Quản lý thuế, đảm bảo vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển, vừa quản lý thuế chặt chẽ, chống gian lận qua hoàn thuế GTGT Ngoài ra, Luật số 106/2016/QH13 đã sửa đổi một số nội dung quy định về đối tượng không chịu thuế, đối tượng áp dụng thuế suất 0% và hoàn thuế GTGT nhằm khắc phục những bất hợp lý của Luật Thuế GTGT trước đó, đảm bảo quản lý chặt chẽ nguồn thu, phòng chống gian lận thuế GTGT như: bổ sung vào Điều 5 “Đối tượng không chịu thuế” quy định: “DN, hợp tác
xã mua nông sản chưa chế biến hoặc mới sơ chế thông thường bán cho DN, hợp tác xã thì không phải tính, nộp thuế GTGT nhưng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào” Điểm sửa đổi này xuất phát từ thực tế là, trong thời gian vừa qua, lợi dụng quy định
“Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì thuộc diện chịu thuế GTGT với thuế suất 5%”, nhiều DN đã mua nông sản của nông