Đánh giá tác động môi trường khai thác mỏ dầu khí
Trang 1Chương
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
Trang 2Chương này xác định và đánh giá các tác động tiềm ẩn chính đến môi trường và xãhội liên quan đến Dự án Phát triển Lô 12W, cụ thể là các giàn và tuyến ống ngoàikhơi, các công trình tạm thời và các hoạt động có liên quan Quy trình đánh giá cáctác động này được thực hiện tuân thủ các yêu cầu của luật pháp hiện hành tại ViệtNam và Hệ thống quản lý ATSKMT&AN của POVO.
Các tác động tiềm ẩn được trình bày theo từng giai đoạn như hoạt động lắp đặt, kếtnối và nghiệm thu, hoạt động khoan, hoạt động khai thác, hoạt động tháo dỡ và cáctrường hợp sự cố và các biến cố bất thường
Để đánh giá mức độ của các tác động môi trường và kinh tế - xã hội có khả năngxảy ra, POVO đã thiết lập Hệ thống định lượng tác động để xác định mức độ củacác tác động
Hệ thống định lượng tác động (IQS)
IQS được xây dựng dựa trên sự kết hợp các hướng dẫn ĐTM của các tổ chức như:Diễn đàn Thăm dò Khai thác Dầu khí (E&P Forum), Chương trình Môi trường Liênhiệp quốc (UNEP), Ngân hàng thế giới (World Bank) và quy trình xác định yếu tố môitrường trong Hệ thống quản lý ATSKMT&AN của POVO Trong hệ thống IQS, mỗitác động sau khi xác định sẽ được đánh giá dựa trên các đặc điểm sau:
Mỗi thông số được xác định dựa vào hệ thống xếp loại được liệt kê trong Bảng 3.1
1
Tác động
Tác động nghiêm trọng
Làm biến đổi lớn hệ sinh thái, gây hại cho sức khỏe
Trang 3Hình 3.1 Thang đo Mức độ Tác động của IQS
Không có quy định về luật pháp đối với các tác
Chi phí
(C)
Chi phí trung bình
Các tác động sẽ được phân tích và gán các điểm số tương ứng dựa trên các đặctrưng của tác động Tổng số điểm sẽ được tính toán dựa trên công thức:
Tổng số điểm (TS) = (M + S + R) x F x (L + C + P) = Mức độ tác động tổng thể
Các giá trị của mỗi thông số sẽ được chia làm 5 mức như sau: cực tiểu, thấp, trungbình, cao và cực đại được thể hiện ở bảng dưới đây Tổng số điểm của mỗi giá trịliên quan đưa vào cũng được tính toán từ công thức trên
Với các kết quả trên, thang giá trị mức độ tổng thể tác động được xác định như
được trình bày trong Hình 3.1.
Dựa trên thang đo này, các đặc điểm quan trọng của một mức độ tác động có thểđược tóm tắt như sau:
Trang 4Các tác động nghiêm trọng đến môi trường:
Làm thay đổi nghiêm trọng hệ sinh thái hoặc hoạt động dẫn đến sự tổn hạilâu dài (VD: có thể kéo dài 5 năm hoặc hơn nữa);
Phạm vi ảnh hưởng có thể đạt đến cấp vùng và toàn cầu;
Khả năng phục hồi về mức ban đầu kém
Nhiều khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng;
Đòi hỏi chi phí cao trong việc quản lý/giảm thiểu, gây thiệt hại hoặc làm thayđổi lâu dài đến cộng đồng dân cư và kinh tế
Các tác động đáng kể đến môi truờng
Làm thay đổi đáng kể hệ sinh thái hoặc hoạt động tại khu vực cục bộ hoặclớn hơn trong khoảng thời gian trung bình, cùng với khả năng phục hồi trungbình (trong vòng 2-5 năm);
Có thể ảnh hưởng đến sức khỏe;
Chi phí quản lý/giảm thiểu của công ty từ trung bình đến cao
Có thể gây khó chịu cho một số cơ sở/người dân xung quanh
Các tác động nhỏ đến môi trường
Làm thay đổi một phần hệ sinh thái hoặc các hoạt động tại khu vực cục bộhoặc bé hơn trong khoảng thời gian ngắn, cùng với khả năng hồi phục tốt(trong vòng 1-2 năm);
Mức độ ảnh hưởng tương tự như sự biến đổi tự nhiên của môi trường hiệnhành nhưng có thể có các tác động tích lũy liên quan;
Có thể tác động đến sức khỏe nhưng hiếm;
Có thể gây khó chịu cho một số cơ sở/người dân xung quanh
Có tác động không đáng kể đến môi trường (gồm cả không tác động):
Không thể nhận biết được sự thay đổi, hoặc có thể nhận biết sự thay đổi nhỏnhưng được phục hồi nhanh chóng về trạng thái ban đầu;
Không tác động đến sức khỏe;
Không gây sự khó chịu đối với cộng đồng;
Bên cạnh đó, các tác động tích cực mang lại sự cải thiện đối với hệ sinh thái, lợi ích của
IQS này sẽ được áp dụng để đánh giá các tác động có thể xảy ra theo phân loại dựatrên các hoạt động chính của dự án phát triển Lô 12W dưới đây
Trang 53.1.1 Giai đoạn lắp đặt, kết nối & nghiệm thu các công trình của Dự án
Hoạt động lắp đặt trong dự án phát triển Lô 12W bao gồm vận chuyển hệ thống chân
đế và các thiết bị trên giàn, lắp đặt các giàn đầu giếng, lắp đặt các hệ thống đườngống nội bộ mỏ giữa các giàn đầu giếng và FPSO, lắp đặt đường ống dẫn khí đồnghành vào bờ và lắp đặt công trình phụ trợ ngầm dưới biển (đầu giếng & ống góp)
Các công trình khai thác trong khu vực Lô 12W
Các nguồn gây tác động chính có thể xảy ra trong quá trình lắp đặt, kết nối vànghiệm thu các công trình khai thác sẽ bao gồm:
Xáo trộn vật lý và hệ sinh thái do quá trình lắp đặt cấu trúc thượng tầng và lắpđặt đường ống trong khu vực mỏ;
Chất thải lỏng phát sinh từ tàu kéo, xà lan vận chuyển và xà lan cần trục, tàudich vụ và tàu hỗ trợ thợ lặn như: nước sàn tàu và nước thải sinh hoạt, đặcbiệt là nước thử thủy lực thải ra trong giai đoạn nghiệm thu, đây chính lànguyên nhân gây tác động lên chất lượng cột nước;
Các chất thải rắn phát sinh từ hoạt động lắp đặt các Giàn đầu giếng, FPSObao gồm chủ yếu là chất thải sinh hoạt (rác thải nhà bếp) và chất thải xâydựng (rác và phế thải) và một số chất thải nhiễm dầu mỡ cũng là nguyênnhân gây ảnh hưởng đến môi trường;
Khí thải từ các máy phát điện, động cơ đặt trên xà lan rải ống và tàu dịch vụ gây tác động đến môi trường không khí;
Cản trở hoạt động tàu thuyền và hoạt động đánh bắt hải sản
Tuyến ống dẫn khí từ mỏ Chim sáo tới KP75 (Chim sáo - KP75)
Giống như hoạt động lắp đặt, kết nối và nghiệm thu các đường ống nội mỏ, việc lắpđặt đường ống dẫn khí đồng hành từ mỏ Chim Sáo vào bờ thông qua đường ốngNam Côn Sơn (tại điểm kết nối KP75 – Sơ đồ vị trí tổng thể của đường ống dẫn khíđược thể hiện trong Hình 1.6 của Chương 1) cũng sẽ có các nguồn gây tác độngmôi trường như sau
Xáo trộn vật lý và hệ sinh thái từ các hoạt động như: neo xà lan, neo tàu hỗ trợ/dịch vụ và lắp đặt, kết nối tuyến ống;
Chất thải lỏng bao gồm nước sàn tàu và nước thải sinh hoạt phát sinh từtàu/xà lan rải ống, tàu hỗ trợ/dịch vụ, việc thử thủy lực tuyến ống dẫn khí;
nhiễm dầu, đầu que hàn, v.v
Khí thải từ các động cơ đặt trên xà lan rải ống và tàu dịch vụ;
Hoạt động vận tải hàng hải và đánh bắt hải sản
3.1.2 Hoạt động khoan
Như hầu hết các hoạt động công nghiệp khác, các hoạt động khoan có thể liên quan
đến thải bỏ, xáo trộn vật lý và rủi ro do sự cố có thể xảy ra (xem Hình 3.2) Các tác
động môi trường tiềm ẩn của chương trình khoan được đánh giá dựa vào kinh nghiệm quốc tế của các hoạt động khoan ngoài khơi
Trang 6Theo kế hoạch khoan, có 12 giếng khai thác sẽ được khoan từ giàn đầu giếng CSNam (8 giếng), và giàn đầu giếng CS Bắc (4 giếng) trong dự án phát triển Lô 12W.Các giếng khoan phát triển sẽ được khoan bằng một giàn khoan tự nâng
Các nguồn gây tác động môi trường trong các hoạt động khoan bao gồm:
Khí thải: Các nguồn khí thải chính phát sinh từ các hoạt động khoan bao gồmkhói thải từ các thiết bị khoan, động cơ, máy phát điện, tàu dịch vụ, các cụmthiết bị khoan, cũng như việc đốt dầu thử vỉa;
Các chất thải khoan: Trong chiến dịch khoan phát triển này, POVO sẽ chỉ sửdụng dung dịch khoan (DDK) gốc nước cho hoạt động khoan của mình Tất
cả mùn khoan (MK) được đi qua một quy trình tuần hoàn trong suốt quá trìnhkhoan của một giếng Do sử dụng công nghệ khoan theo “mẻ” để khoan pháttriển, nên sau khi kết thúc khoan của một đoạn thân giếng, bùn khoan được
sử dụng lại cho đoạn thân giếng đó của giếng tiếp theo Đến giếng cuối cùngtrên giàn đầu giếng đó DDK gốc nước sẽ được làm sạch để dùng cho đoạnthân giếng sau hoặc loại bỏ để sử dụng DDK gốc nước mới Việc thải bỏ bùnkhoan ướt/bùn khoan đã qua sử dụng được hạn chế bởi việc sử dụng lại DDKgốc nước này cho các đoạn hoặc giếng tiếp theo nếu có thể;
Các loại nước thải: nước thải sinh hoạt, nước làm mát, nước rửa/vệ sinh trênsàn tàu Nước thải sinh hoạt và nước thải nhiễm dầu sẽ được xử lý thích hợptrước khi thải xuống biển;
Chất thải rắn: Rác thải nói chung bao gồm vật liệu đóng gói, đồ thừa, rác thảinhà bếp, chai lọ rỗng, thùng chứa và các loại vật liệu vụn khác phát sinh từcác hoạt động khoan và rác thải nhà bếp là những chất thải rắn chính từ hoạtđộng khoan; và
Các tác động vật lý
3.1.3 Giai đoạn khai thác
Trong giai đoạn này, các khí thải được xem là nguồn gây tác động chính có thể xảy
ra từ các hoạt động khai thác trong suốt dự án phát triển Lô 12W
Trang 7 Khí thải: chủ yếu là từ khí thải của các động cơ chạy nhiên liệu khí trên cácgiàn đầu giếng CS Nam và CS Bắc, FPSO, các tàu dịch vụ;
Nước thải: chủ yếu là nước thải nhiễm dầu sinh ra trên FPSO và nước thảisinh hoạt thải từ các hoạt động của nhân viên trên FPSO;
Chất thải rắn: như cát khai thác, chất thải từ quá trình bảo trì bảo dưỡng thiết
bị và các loại chất thải sinh hoạt;
Tương tác vật lý: sự có mặt của các công trình dầu khí ngoài khơi sẽ là mộttrở ngại cho tàu bè qua lại trong các khu vực phát triển mỏ cũng như sẽ chiếmmột diện tích nhỏ trong khu vực đánh bắt hải sản
Theo thiết kế, đường ống dẫn khí Chim sáo – KP75 sẽ không tiến hành phóng thoi định
kỳ trong quá trình vận hành bình thường Do vậy, nguồn gây tác động chủ yếu trong giaiđoạn này bao gồm: đốt/xả một lượng nhỏ khí dư và condensat trong quá trình bảo
dưỡng Tác động gây ra do các sự cố bất ngờ sẽ được đề cập chi tiết ở Phần 3.3.7 3.1.4 Giai đoạn tháo dỡ các công trình của dự án phát triển Lô 12W
Quy trình tháo dỡ các công trình khai thác dầu khí ngoài khơi của dự án phát triển lô12W sẽ được thực hiện theo Quyết định số 40/2007/QD-TTg, ngày 21/03/2007 của
Thủ tướng chính phủ về “Tháo dỡ các công trình cố định, thiết bị và phương tiện sử dụng trong các hoạt động dầu khí” nhằm ngăn chặn sự ô nhiễm từ các hoạt động
dầu khí của dự án
Khi hoạt động Lô 12W đi vào giai đoạn vận hành trong vòng một năm, POVO sẽ xâydựng các phương án tháo dỡ các công trình của dự án Các phương án này sẽ được
đệ trình lên các cơ quan có chức năng trước khi tiến hành tháo dỡ theo đúng quy định
Hoạt động tháo dỡ các công trình khai thác
Các hoạt động tháo dỡ mỏ sẽ liên quan đến các công việc như:
Làm sạch và tháo rời các thiết bị trên hai giàn đầu giếng CS Nam và CS Bắc,
Hủy và trám xi măng các giếng khai thác,
Tháo dỡ các giàn đầu giếng và vận chuyển vào bờ,
Mỏ neo và dây neo FPSO sẽ được đưa ra khỏi khu vực dự án và có thể đưađến các dự án khác
Cấu trúc chân đế và các ống chống sẽ được cắt bỏ xuống thấp hơn mặt đáy biển
Các cụm phân nhánh cuối ống khai thác (PLEM), các ống đứng mềm giữaPLEM và FPSO, các đoạn ống kết nối giữa các đường ống nội mỏ (khí nâng,bơm ép và lưu thể khai thác) và PLEM, các đường ống nội mỏ sẽ được làmsạch, thu hồi và nút lại Việc tháo dỡ tuyến ống dẫn khí từ mỏ Chim Sáo đếnđiểm kết nối KP75 sẽ được trình bày cụ thể dưới đây
Hoạt động tháo dỡ tuyến ống dẫn khí Chim Sáo-KP75
Khi kết thúc dự án, POVO sẽ lên kế hoạch tháo dỡ tuyến ống sau khi đã xem xétkhả năng sử dụng tiếp cho việc phát triển các mỏ khác trong khu vực Lô 12W hoặc
Trang 8làm điểm kết nối cho các Lô lân cận trong tương lai Kế hoạch này sẽ được trình cho
cơ quan chức năng phê duyệt Công việc tháo dỡ tuyến ống sẽ bao gồm việc làmsạch và nút lại các ống đứng mềm giữa FPSO và cụm van ngầm, đoạn ống kết nốigiữa tuyến ống dẫn khí và Modul/đầu chờ kết nối trên đường ống KNOC và tuyếnống dẫn khí
3.1.5 Các hoạt động cung ứng giữa bờ với ngoài khơi
Để phục vụ cho dự án phát triển Lô 12W, cần thiết phải có các căn cứ trên đất liềnnhằm cung cấp tất cả các dịch vụ cho các hoạt động ngoài khơi Và tương tự cácnhà thầu khác, POVO cũng sẽ sử dụng những phương tiện hậu cần hỗ trợ từ cáccăn cứ trên bờ, tàu, và dịch vụ của PTSC
Những căn cứ trên bờ không chỉ là nguồn cung ứng cho việc lắp đặt ngoàikhơi mà còn là nơi tiếp nhận các chất thải từ ngoài khơi chuyển về;
Tàu dịch vụ và tàu dịch vụ kỹ thuật sẽ cung cấp vật liệu, thực phẩm và hỗ trợ
kĩ thuật cho các hoạt động ngoài khơi; và vận chuyển các chất thải về các căn
cứ trên bờ
Các hoạt động này sẽ gây các ảnh hưởng đến khu vực trên bờ trong phạm vi củacăn cứ cung ứng; tuy nhiên các tác động đến môi trường, kinh tế xã hội và các biệnpháp giảm thiểu các tác động từ các hoạt động cung ứng này đã được đánh giátrong Báo cáo Đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt của công ty Căn cứhậu cần PTSC
3.1.6 Nguồn gây tác động liên quan đến sự cố bất thường
Trong dự án khai thác dầu khí của POVO, việc phòng tránh các sự cố bất ngờ có vaitrò quan trọng trong tất cả các quá trình từ thiết kế, xây dựng, lắp đặt, vận hành thử vàvận hành thường xuyên của dự án Bên cạnh rủi ro về con người, sự cố bất ngờ cóthể dẫn đến những tác động đến môi trường trong vùng lân cận và cả bên ngoài khuvực Dự án Mức độ tác động còn tùy thuộc vào chủng loại và quy mô của sự cố, kếthợp với các yếu tố ngoại vi, chẳng hạn như các điều kiện môi trường Nguồn gây tácđộng liên quan đến sự cố bất thường bao gồm:
Rò rỉ bất ngờ và phun trào dầu khí;
Cháy nổ;
Sự cố gây đứt gãy/vỡ tuyến ống dẫn khí tới đường ống Nam Côn Sơn;
Sự cố hỏng hóc các thiết bị tự động trên giàn;
Thiết bị và vật liệu nguy hiểm rơi xuống biển;
Điều kiện thời tiết thiên tai
Do dự án phát triển Lô 12W thuộc loại dự án phát triển mỏ dầu khí ngoài khơi vàcách xa bờ (trên 350 km), nên hầu như toàn bộ các hoạt động trong phạm vi dự án
sẽ chỉ gây ra các tác động đến môi trường biển xung quanh khu vực dự án Không
Trang 9kể đến sự cố tràn dầu (sẽ được thảo luận kỹ dưới đây), trong các hoạt động bìnhthường của Dự án thì nguồn duy nhất gây tác động đến khu vực trên bờ là việc vậnchuyển và xử lý các chất thải được chở về từ các công trình ngoài khơi
Tuy nhiên, quy mô ảnh hưởng của các hoạt động này là rất nhỏ do chất thải sẽ đượcvận chuyển vào bờ bằng các tàu của POVO và PTSC Marine Tất cả các tàu nàyđều có giấy phép vận chuyển chất thải nguy hại phù hợp do sở TN-MT Bà Rịa Vũngtàu cấp Giấy phép vận chuyển chất thải nguy hại của POVO và PTSC Marine được
đính kèm trong Phụ lục 2.
Đối với việc lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải trên bờ, POVO đảm bảo tất cảcác nhà thầu đảm nhiệm công tác này có giấy phép và hiệu quả làm việc phù hợpvới luật Việt Nam Cụ thể, Công ty Cung ứng Hậu cần PTSC phải có giấy phép lưugiữ chất thải nguy hại phù hợp Từ căn cứ này tất cả chất thải phát sinh từ hoạtđộng ngoài khơi của POVO gồm cả chất thải nguy hại và không nguy hại sẽ đượcvận chuyển và xử lý bởi các công ty có giấy tờ hợp lệ Hiện tại, POVO đang xem xét
sử dụng một trong hai nhà thầu xử lý chất thải nguy hại bao gồm GeoCycle ở KiênGiang và Việt Xanh ở Bình Dương Cả hai nhà thầu này đều đã được POVO đếnkiểm tra trong thời gian tiến hành chiến dịch khoan thăm dò và đều có giấy phép phù
hợp Giấy phép vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại của các Công ty này sẽ được đính kèm ở Phụ lục 2 của Báo cáo.
Như vậy, các yếu tố môi trường tự nhiên ngoài khơi bao gồm nước biển, trầm tích đáybiển, sinh vật biển trong khu vực lân cận Dự án chính là đối tượng bị ảnh hưởng chủyếu trong suốt thời gian thực hiện Dự án Các yếu tố trong bờ như dân cư địa phương,
cơ sở hạ tầng, và các công trình văn hóa - di tích lịch sử của khu vực trên bờ sẽ bị ảnhhưởng ở mức độ không đáng kể
Bên cạnh việc mang lại rất nhiều lợi ích về mặt kinh tế, quá trình thực hiện dự án cũnggây ra những tác động tiêu cực đến môi trường Mức độ nghiêm trọng của các tácđộng này khác nhau đối với từng giai đoạn cụ thể của dự án Do đó trong phần này sẽđánh giá các tác động đến môi trường tương ứng với từng giai đoạn của dự án
3.3.1 Giai đoạn lắp đặt, kết nối và nghiệm thu các công trình của Dự án
Nguồn phát sinh khí thải duy nhất từ các hoạt động lắp đặt, kết nối và nghiệm thucác công trình của Dự án là khói xả từ các tàu hoạt động trong khu vực dự án
cơ bay hơi (VOC)
Các công trình khai thác trong khu vực Lô 12W
Việc lắp đặt chân đế của hai giàn đầu giếng được thông qua một xà lan lắp đặt (cóphòng ở) Quá trình lắp đặt cần 2 tàu thả neo, 1 tàu hỗ trợ và 1 tàu cảnh giới Tổng
Trang 10quát, có 4 tàu được sử dụng cho giai đoạn lắp đặt, kết nối và nghiệm thu các côngtrình khai thác trong khu vực dự án phát triển Lô 12W Theo kinh nghiệm hoạt độngtrước đây, mỗi tàu kéo hoặc tàu chuyên chở sẽ tiêu thụ khoảng 5 tấn dầu DO/ngày khihoạt động ngoài khơi như trong dự án phát triển Lô 12W [29].
Trên cơ sở này, việc ước tính tải lượng khí thải được thực hiện theo phương pháphướng dẫn của Hiệp hội các nhà khai thác ngoài khơi của Vương Quốc Anh(UKOOA) và Diễn đàn Thăm dò Khai thác Dầu khí (E&P Forum) [27, 28] Tải lượng
ước tính của khí thải được trình bày trong Bảng 3.2a.
nghiệm thu các công trình khai thác trong khu vực lô 12W
Ghi chú: Hàm lượng lưu huỳnh trong dầu DO được giả thiết chiếm 0.25% khối lượng [29];
Trong suốt giai đoạn lắp đặt, kết nối và nghiệm thu, lượng khí thải sẽ phát sinh trongkhoảng hơn 4 tháng Lượng khí thải này được xem như rất nhỏ so với lượng khí thảiphát sinh trong giai đoạn khai thác và các ảnh hưởng của chúng chỉ mang tính cục
bộ và ngắn hạn
Tuyến ống dẫn khí Chim sáo - KP75
Giống như quá trình lắp đặt, kết nối và nghiệm thu các công trình khai thác trongkhu vực Lô 12W, việc lắp đặt, kết nối và nghiệm thu tuyến ống dẫn khí Chim sáo –KP75 cũng phải huy động các nguồn lực như: 1 xà lan rải ống, 2 tàu kéo xà lan, 1tàu chở ống và 1 tàu dịch vụ Thời gian lắp đặt tuyến ống vào khoảng 40 ngày.Lượng nhiên liệu tiêu thụ ước tính cho mỗi tàu vào khoảng 5 tấn/ngày Theo phươngpháp tính của UKOOA, lượng khí thải phát sinh từ hoạt động này được ước tính
như trong Bảng 3.2b sau
tuyến ống Chim Sáo - KP75
Ghi chú: Hàm lượng lưu huỳnh trong dầu DO được giả thiết chiếm 0.25% khối lượng [29];
Trang 11Do thời gian lắp đặt, kết nối và nghiệm thu tuyến ống dẫn khí tương đối ngắn, nênlượng khí thải phát sinh từ các hoạt động này nhỏ hơn so với hoạt động lắp đặt, kếtnối và nghiệm thu các công trình khai thác, do vậy phạm vi ảnh hưởng cũng nhỏhơn Hơn nữa, khả năng phân tán khí rất nhanh tại khu vực tiến hành dự án cũnggóp phần làm giảm tác động của khí thải phát sinh trong quá trình lắp tuyến ống Tóm lại, mức độ tác động tổng thể của khí thải từ hoạt động lắp đặt và nghiệm thucác công trình trong khu vưc lô 12W và công trình tuyến ống dẫn khí của dự án pháttriển Lô 12W có tính cục bộ, ngắn hạn và được đánh giá ở mức không đáng kể.
Các công trình khai thác trong khu vực Lô 12W
Bảng 3.3a dưới đây liệt kê tải lượng ước tính của nước thải sàn tàu và nước thải
sinh hoạt từ các tàu phục vụ cho giai đoạn lắp đặt, kết nối và nghiệm thu các côngtrình khai thác của dự án phát triển Lô 12W Tải lượng nước thải sinh hoạt được ướctính dựa trên số người và số ngày làm việc đối với từng công trình, bao gồm tối đa
là 200 người làm việc trong giai đoạn lắp đặt trên các giàn đầu giếng & đường ốngnội mỏ và 150 người tham gia kết nối FPSO [29]
trong giai đoạn Lắp đặt, kết nối và nghiệm thu các công trình khai thác Chất
Tải lượng (m 3 )
Nước
Ghi chú: Lượng nước thải sinh hoạt được giả thiết là 125 lít/người/ngày [29].
Tuyến ống dẫn khí Chim sáo-KP75
Đối với các hoạt động lắp đặt, kết nối và nghiệm thu tuyến ống dẫn khí Chim KP75, lượng nước thải sàn tàu và nước thải sinh hoạt từ các tàu phục vụ được ước
sáo-tính như trong Bảng 3.3b sau.
giai đoạn Lắp đặt, kết nối & nghiệm thu tuyến ống dẫn khí Chim Sáo-KP75
thu đường ống Chim sáo – KP75 trong 40 ngày
Ghi chú: Lượng nước thải sinh hoạt được giả thiết là 125 lít/người/ngày [30].
Tóm lại, theo thiết kế của Dự án, các tàu sử dụng trong giai đoạn lắp đặt và nghiệmthu các thiết bị, công trình và tuyến ống dẫn khí đều là tàu hiện đại của các nhà
Trang 12thầu Các tàu này đều được trang bị các thiết bị xử lý nước thải sinh hoạt và nướcthoát sàn tàu lẫn dầu thích hợp nhằm đảm bảo nước thải ra đạt các tiêu chuẩn quyđịnh của pháp luật Việt Nam và MARPOL Ngoài ra, tổng lượng nước thải ra tronggiai đoạn lắp đặt, nghiệm thu là rất nhỏ và chỉ trong thời gian ngắn Hơn nữa, chế độdòng chảy và yếu tố pha loãng ngoài khơi tại vị trí tiến hành dự án cũng góp phầngiảm thiểu tác động của nước thải đối với môi trường
Do đó tác động của nước thải sàn tàu và nước thải sinh hoạt trong quá trình lắp đặt,kết nối và nghiệm thu các thiết bị, công trình và tuyến ống của Lô 12W được đánhgiá mang tính cục bộ, ngắn hạn và không đáng kể
Sau khi hoàn tất quá trình lắp đặt đường ống và tất cả các đầu chờ đã được lắp đặthoàn chỉnh, toàn bộ hệ thống đường ống của dự án phát triển Lô 12W gồm đườngống nội mỏ và tuyến ống dẫn khí Chim Sáo – KP75 sẽ được thử thủy lực để kiểm tra
rò rỉ trước khi vận hành Để hoàn thành công tác thử thủy lực, đường ống sẽ đượcnạp đầy nước thử thủy lực cho đến khi nghiệm thu đường ống chấm dứt thì toàn bộlượng nước thử thủy lực sẽ được thải ra môi trường Quy trình thử thủy lực đối vớituyến ống này sẽ được tiến hành liên tục trong vòng 24 giờ
Thể tích ước tính của nước thử thủy lực của hệ thống đường ống nội mỏ và tuyến
ống dẫn khí Chim Sáo – KP75 được trình bày trong Bảng 3.4a
tuyến ống dẫn khí Chim Sáo – KP75
Số
Độ dài (km)
Đ Kính (Inch)
Thể tích (m 3 )
trong Bảng 3.4b.
O-3670R:
Ammonium bisulphite (10-30%)
Champion Technologies
Trang 13Các hợp chất quaternary
ammonium (10-30%)
khuẩn và Khử oxy
Việc thải nước thử thủy lực từ hệ thống đường ống của Dự án sẽ có thể làm tănggiá trị pH và làm giảm lượng ôxy hòa tan trong nước biển tại khu vực xung quanhđiểm thải Theo nhiều nghiên cứu, nồng độ của các hóa chất ức chế ăn mòn trongnước thải thủy lực có thể gần bằng ngưỡng có thể gây độc cho cá và ấu trùng ngaytại điểm thải Tuy nhiên, các hóa chất ức chế ăn mòn được POVO lựa chọn để sửdụng (chất diệt khuẩn, chất loại bỏ ôxy và chất nhuộm màu) đều có độ độc thấp
Mặt khác, do lưu lượng nước thải là không lớn, cộng với điều kiện dòng chảy khámạnh, điểm xả được đặt sâu dưới đáy biển (90m) nên có thể tận dụng hệ số phaloãng theo chiều thẳng đứng và theo chiều ngang tạo khả năng phân tán và phaloãng tức thời dòng nước xả sẽ cao, các tác động có thể xảy ra do việc thải nướcthử thủy lực sẽ chỉ ở mức nhỏ và diễn ra trong thời gian ngắn
tính tải lượng các chất thải này được trình bày trong Bảng 3.5a
kết nối và nghiệm thu các công trình khai thác
Kết nối FPSO Lắp đặt các giàn đầu giếng CS & đường ống nội mỏ
Ghi chú: - Rác thải thực phẩm ở mức khoảng 0,58 kg/người/ngày [30, 31]
- Rác sinh hoạt ở mức khoảng 0,85 kg/người/ngày [30, 31]
- Tải lượng chất thải dính dầu mỡ và phế liệu ở mức khoảng 0,5 tấn/tuần [30, 31].
Hoạt động lắp đặt, kết nối và nghiệm thu tuyến ống dẫn khí Chim sáo - KP75
Ngoài một số rác thải sinh hoạt, một số chất thải phát sinh từ quá trình làm sạch vàhàn nối ống như vật liệu kim loại dư, đầu que hàn, nguồn phóng xạ (thử không pháhủy các mối hàn),v.v Khối lượng các chất thải này được ước tính trong Bảng 3.5b
trong giai đoạn Lắp đặt, kết nối và nghiệm thu tuyến ống dẫn khí
Trang 14Ghi chú:
Rác thải thực phẩm ở mức khoảng 0,58 kg/người/ngày [30, 31];
Rác sinh hoạt ở mức khoảng 0,85 kg/người/ngày [30, 31];
Tải lượng chất phế liệu ở mức khoảng 0,5 tấn/tuần [30, 31].
Thực phẩm thừa sẽ được nghiền vụn đến kích thước nhỏ hơn 25 mm trước khi thải
bỏ xuống biển, chúng sẽ trở thành nguồn thức ăn cho các sinh vật biển hay bị phânhủy sinh học hoàn toàn Do đó, tác động nguồn thải này tới chất lượng nước biển làkhông đáng kể
Chất thải xây dựng gồm kim loại, các vật liệu không kim loại cũng như các loại chấtthải công nghiệp khác Chúng có thể là chất bôi trơn, sơn thải hoặc sơn không còn sửdụng, chất pha loãng/dung môi, chất che phủ, nhựa, giấy, gỗ, thùng, kim loại, hạt hút
ẩm và xỉ hàn Rác thải xây dựng và các chất thải khác sẽ được phân loại, thu gomvào trong các côngtennơ để vận chuyển vào bờ xử lý nên không gây ảnh hưởng đếnmôi trường ngoài khơi
POVO đã xây dựng một quy trình quản lý chất thải ngoài khơi, trong đó hướng dẫn
cụ thể quy trình phân loại chất thải không nguy hại và chất thải nguy hại (ví dụ nhưchất thải nhiễm dầu và hóa chất, chất thải sơn và các pin đã sử dụng) Quy trình này
được trình bày cụ thể ở Phần 4.2.3 và Phần 6.2.9
POVO đảm bảo các tàu vận chuyển chất thải nguy hại từ ngoài khơi vào bờ và lưugiữ tạm thời tại căn cứ hậu cần của PTSC phải có giấy phép vận chuyển phù hợp.POVO đã đăng ký chủ vận chuyển chất thải nguy hại với Sở TN-MT tỉnh BR-VT, và
đã được cấp phép vào tháng 3 năm 2008 Trong trường hợp POVO có sử dụng tàudịch vụ của PTSC Marine để vận chuyển chất thải nguy hại vào bờ, POVO sẽ kiểmtra giấy phép vận chuyển của nhà thầu này nhằm đảm bảo giấy phép còn hiệu lực vàphù hợp với các chất thải của POVO
Đối với việc xử lý chất thải nguy hại, các nhà thầu xử lý chất thải nguy hại sẽ đượcPOVO kiểm tra trước khi ký hợp đồng POVO đảm bảo chỉ ký hợp đồng quản lý chấtthải nguy hại với nhà thầu có giấy phép hoạt động phù hợp với quy định pháp luật vàloại chất thải phát sinh từ các hoạt động của POVO POVO đang xem xét sử dụngmột trong hai nhà thầu xử lý chất thải nguy hại bao gồm GeoCycle ở Kiên Giang vàViệt Xanh ở Bình Dương Cả hai nhà thầu đều đã được POVO đến kiểm tra giấyphép cũng như hiệu quả làm việc xét về khía cạnh an toàn, môi trường, sức khỏetrong thời gian tiến hành chiến dịch khoan thăm dò năm 2008
Chất thải rắn nguy hại và không nguy hại sẽ được kiểm soát và xử lý theo đúng quytrình đã đề ra để giảm thiểu tối đa tác động đến môi trường Hơn nữa lượng chấtthải phát sinh trong quá trình lắp đặt, kết nối và nghiệm thu các công trình khai thác
và tuyến ống dẫn khí Chim Sáo – KP75 là không đáng kể, và chỉ xảy ra trong thờigian ngắn Như vậy, xử lý thải bỏ chất thải rắn sẽ không có các tác động đến môitrường biển và có tác động rất nhỏ đến đất cũng như nước ngầm do chất thải rắn sẽđược xử lý và thải bỏ, chôn lấp một cách phù hợp
Các hoạt động của dự án phát triển 12W sẽ không sản sinh ra chất thải phóng xạ mặc
dù POVO sẽ sử dụng các nguồn phóng xạ để tiến hành thử không phá hủy (NDT) cácmối hàn Quy trình bảo quản và sử dụng các nguồn phóng xạ này sẽ được nhà thầu cóchức năng tuân thủ nghiêm ngặt (các nguồn phóng xạ yếu được vận chuyển ra nướcngoài để nạp nguồn, các nguồn dư sẽ được bảo quản cẩn thận)
Trang 153.3.1.4 Các tác động liên quan đến tương tác vật lý
Hoạt động lắp đặt gồm việc cố định các giàn đầu giếng, neo cố định hệ thống FPSO,neo các tàu vận hành, lắp đặt các đường ống nội mỏ và tuyến ống dẫn khí Chim sáo– KP75
Các hoạt động lắp đặt sẽ gây xáo trộn trầm tích cục bộ ở xung quanh các vị trí đặtthiết bị Ví dụ, các hạt mịn hơn sẽ bị xáo trộn và khi chúng lắng xuống sẽ gây ra cácthay đổi nhỏ trong việc phân bố độ hạt của trầm tích Ngoài ra, sự hiện diện cáccông trình sẽ ảnh hưởng đến dòng chảy tầng đáy, dẫn đến sự phân bố lại trầm tíchxung quanh các công trình này
Các đường ống nội mỏ và tuyến ống dẫn khí Chim sáo – KP75 được thiết kế đặttrực tiếp xuống nền đáy mà không phải đào rãnh hay chôn lấp, sự xáo trộn do hoạtđộng lắp đặt các đường ống đối với trầm tích là tương tự như các xáo trộn của cáccông trình trên
Thêm vào đó, hoạt động của các tàu dịch vụ cũng sẽ gây xáo trộn vật lý nền đáy.Khi các tàu hoạt động, đặc biệt là trong quá trình lắp đặt tuyến ống dẫn khí Chimsáo – KP75, chúng sẽ tạo thành các "dấu neo" trên nền đáy tại khu vực dự án mỗikhi thả neo Neo sẽ được kéo lên khỏi lớp sét/ bùn và thường để lại các hố trên nềnđáy Các tác động vật lý này sẽ được phục hồi nhờ sự tái sa lắng của trầm tích vàảnh hưởng của các dòng chảy tầng đáy trong khu vực Quá trình sa lắng sẽ lấp đầycác hố và các "dấu neo" trong khi dòng chảy tầng đáy sẽ làm xói mòn dần mô Mặc
dù chưa thể biết chính xác khoảng thời gian để các quá trình phục hồi trên xảy rahoàn toàn, đã có báo cáo cho thấy các điểm "dấu neo" tạo thành từ các hoạt độngkhoan thăm dò vẫn có thể dễ dàng nhận ra sau đó 5-6 năm [39]
Tất cả sự thay đổi cục bộ về sự phân bố độ hạt của các hạt trầm tích có thể gây ra sựthay đổi cục bộ của quần thể sinh vật đáy Do mật độ sinh vật đáy của khu vực dự án
chương 2), nên ảnh hưởng này là rất nhỏ Vì vậy, sự thay đổi của quần thể sinh vậtđáy chỉ mang tính tạm thời do các sinh vật sẽ tái định cư một cách nhanh chóng ngaytại địa điểm đó hoặc đơn giản hơn là tái định cư ở các khu vực gần kề
Một lượng sinh vật đáy nhỏ có thể bị chết tại ngay chân các công trình của Dự án.Tuy nhiên, sự phục hồi các quần thể sinh vật sẽ nhanh chóng diễn ra ngay sau cáchoạt động lắp đặt hoàn tất
Do cá và các động vật nổi di động có thể di chuyển ra xa và tránh khỏi các thiết bịkhi hạ thủy, nên các hoạt động lắp đặt sẽ không gây các ảnh hưởng vật lý đến cáccộng đồng sinh vật sống trong cột nước
Hoạt động lắp đặt các công trình của Dự án sẽ làm tăng mật độ giao thông đường biểnđáng kể tại khu vực triển khai Dự án POVO sẽ có thông báo kịp thời và trao đổi với các
tổ chức cũng như các nhà chức trách có liên quan về kế hoạch hoạt động của Dự án đểhạn chế ảnh hưởng đến các hoạt động hàng hải, và phòng tránh nguy cơ va đụng giữacác phương tiện tàu bè qua lại khu vực dự án với các công trình khai thác ngoài khơicủa POVO cũng như các tàu dịch vụ hỗ trợ hoạt động lắp đặt, kết nối và nghiệm thu.Ngoài việc gửi thông báo chính thức, POVO cũng đã tiến hành nghiên cứu khả năng vađụng tàu trong khu vực Dự án và đang xem xét thực hiện các đề xuất của nghiên cứunhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ va đụng tàu Chi tiết của nghiên cứu này sẽ được trình
bày chi tiết hơn trong Phần 3.3.7.3
Trang 16Trong giai đoạn lắp đặt, các hoạt động thả đặt ống nội mỏ, xà lan rải ống nội mỏ và hệthống neo của chúng có thể gây trở ngại cho các hoạt động đánh bắt thủy sản Tuynhiên, các tàu đánh cá sẽ bị giới hạn hoạt động trong vòng bán kính 500m từ vị trí lắpđặt công trình Các ảnh hưởng gây ra cho hoạt động đánh bắt được xem như nhỏ Tuy nhiên giới hạn bán kính 500m này chỉ áp dụng đối với công trình nổi cố định nênkhông áp dụng đối với hoạt động lắp đặt tuyến ống dẫn khí Chim Sáo – KP75 Vì chiềudài tuyến ống sẽ kéo dài từ khu vực dự án đến điểm đấu nối với hệ thống đường ốngNam Côn Sơn hiện hữu với chiều dài 98 km nên hoạt động lắp đặt này sẽ gây ảnhhưởng đến hoạt động hàng hải và hoạt động đánh bắt cá dọc khu vực rải ống Tuy nhiênngoài biện pháp thông báo cho các cơ quan hữu quan như đã trình bày ở trên, POVOcũng sẽ sắp xếp hai tàu bảo vệ để giám sát hoạt động này trong suốt thời gian lắp đặt,đấu nối và nghiệm thu tuyến ống Hơn nữa thời gian lắp đặt chỉ diễn ra trong thời gianngắn dự kiến 40 ngày Do đó tác động này được đánh giá là nhỏ và ngắn hạn
Các biện pháp ngăn chặn việc thả neo trong vùng lân cận của tuyến ống cũng đãđược thiết lập do thả neo có thể gây hư hỏng đường ống Khả năng hư hỏng có thểxảy ra khi neo tàu kéo ngang qua đường ống
3.3.2 Các hoạt động Khoan
3.3.2.1 Các tác động từ Khí thải
Các nguồn phát sinh khí thải chính chủ yếu từ các nguồn phát sinh khí thải trên giànkhoan (động cơ và máy phát điện) và quá trình thử vỉa và đốt – xả khí đồng hànhtrong trường hợp khẩn cấp Ngoài ra, các hoạt động của tàu trực chiến, tàu dịch vụcũng như các trực thăng vận chuyển hỗ trợ cho giàn khoan trong suốt thời giankhoan cũng sinh ra một lượng đáng kể khí thải Tải lượng khí thải được ước tínhdựa theo tài liệu hướng dẫn của UKOOA và E&P Forum
Theo chương trình khoan của POVO, có 12 giếng khai thác sẽ được khoan trong dự
án phát triển Lô 12W, với thời gian khoan tại khu vực Chim sáo Bắc là 200 ngày vàChim sáo Nam là 380 ngày [29] Vì vậy, tổng lượng khí thải phát sinh từ các hoạt
động khoan được ước tính trong Bảng 3.6.
Trang 17Ghi chú: Ước tính dựa trên:
Dầu DO tiêu thụ tại giàn là 9 tấn/ngày [32], hàm lượng lưu huỳnh trong dầu DO là 0,25% trọng lượng;
Giả thiết 6.000 thùng dầu/ngày được đốt trong thời gian thử của các giếng khai thác, với thời gian thử vỉa tối đa của mỗi giếng là 3 ngày [29] Dựa vào đặc tính của dầu thô Việt Nam thì hàm lượng lưu huỳnh rất nhỏ - coi như không đáng kể;
Mức tiêu thụ dầu DO của tàu dịch vụ là khoảng 5 tấn/ngày/tàu, hàm lượng lưu huỳnh trong
DO là 0,25% khối lượng;[32]
Trực thăng hoạt động 3 chuyến/tuần với lượng dầu DO tiêu thụ là 2,5 tấn/chuyến [32]
Với tải lượng các khí thải đã được ước tính trong bảng trên, cộng với điều kiệnnhiều gió trong khu vực Lô 12W, gió và các quá trình khuếch tán tự nhiên trong khíquyển sẽ làm phân tán khí thải nhanh chóng Khí thải tại giàn khoan cũng như khuvực gần đó trong suốt quá trình đốt đuốc trong thời gian thử vỉa, dẫn đến ảnh hưởngnhỏ đến chất lượng không khí ngay tại khu vực đó Tuy nhiên, do việc đốt khí chỉdiễn ra trong thời gian ngắn và sự phát tán khí thải nhanh chóng và toàn diện, nêncác khí thải được dự báo sẽ không gây các ảnh hưởng xấu đến sức khỏe các nhân
góp phần không đáng kể đến hiệu ứng nhà kính trong khí quyển
Việc lựa chọn loại DDK cũng như các thông số của chúng phụ thuộc vào các điềukiện về địa chất và các phức tạp có thể xảy ra trong quá trình thi công giếng Kinhnghiệm khoan thăm dò các giếng ở khu vực Lô 12W cho thấy DDK gốc nước là sựlựa chọn tối ưu, phù hợp với chi phí và thân thiện với môi trường
DDK và MK thải gốc nước
Theo “Hướng dẫn thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường liên quan đến sử dụng và thải hóa chất, dung dịch khoan trong các hoạt động dầu khí ngoài khơi Việt Nam” của Petrovietnam ban hành tháng 06/2006, DDK gốc nước hết khả năng sử dụng trong quá trình khoan cuối đoạn thân giếng của giếng cuối cùng và MK thải
phát sinh trong quá trình khoan sẽ được thải trực tiếp xuống đáy biển.
Lượng MK thải sẽ phụ thuộc vào đường kính giếng và chiều sâu khoan trong dự án
phát triển Lô 12W Thể tích mùn khoan thải được ước tính ở Bảng 3.7
Trang 18kính thân
Độ sâu khoan (m)
Độ dài đoạn khoan (m)
Thể tích Mùn khoan
các thành phần được thể hiện trong Hình 3.3 [33]
DDK gốc nước đã được công nhận trên toàn thế giới là DDK có độ độc thấp nhấtđối với môi trường Các thông tin về độ độc của các chất phụ gia điển hình trong
DDK gốc nước được trình bày trong Bảng 3.8.
Trang 19STT Phụ gia Phân loại theo OCNS Thông tin bổ sung
Phân loại hóa phẩm sử dụng ngoài khơi Anh Quốc của Hội đồng Oslo và Paris (OSPAR)
1 Các hoá phẩm PLONOR được xác định Ít gây Rủi ro hoặc Không gây Rủi ro cho môi trường biển
là các hoá phẩm được sử dụng và thải ngoài khơi Các hoá chất trong danh mục này không cần phải kiểm soát chặt chẽ;
2 Các hóa chất không áp dụng mô hình tính mức nguy hại “Charm” được phân loại thành 5 loại OCNS từ A đến E, với loại E là các chất ít gây nguy hại nhất đến môi trường;
3 Các hóa chất được áp dụng mô hình “Charm” được phân loại thành 6 nhóm HOCNF, với nhóm Vàng là các chất ít gây nguy hại nhất đến môi trường.
Để đáp ứng yêu cầu cho quá trình thử độ độc MK và các phụ gia ở các vùng khác
tiến hành so sánh thử nghiệm độ độc của ba khu vực như: Nga, Hoa Kỳ và các
nước biển Bắc Tại Hoa Kỳ, sinh vật Americamysis (Mysidopsis) bahia được sử
dụng để thử nghiệm độ độc pha lơ lửng của DDK Tại các nước biển Bắc, các thànhphần riêng biệt của dung dịch khoan được thử nghiệm trên ít nhất 3 loài sinh vậtkhác nhau: tảo, loài giáp xác, cá Tại Nga, luật pháp quy định thử nghiệm độc tố phảiđược tiến hành trên vài loài sinh vật [34] Mặc dù có nhiều phương pháp khác nhau
để thử độ độc, kết quả cho thấy độ độc của DDK gốc nước rất ít hoặc không gâyđộc đến các sinh vật biển Mặc dù ở Hoa Kỳ đòi hỏi thử nghiệm độc tính trên dungdịch khoan đã pha chế, Nga và các nước biển Bắc yêu cầu trên từng cấu tử củadung dịch khoan, tuy nhiên kết quả độ độc cuối cùng là rất giống nhau [35]
Theo nhóm chuyên gia giải pháp kỹ thuật bảo vệ môi trường biển (GESAMP), DDK gốcnước được xếp vào loại có độc tính thấp và có gần đến 80% dung dịch khoan có 96-
dung dịch khoan thải được xem như không độc theo phân loại của GESAMP (Bảng 3.9) và không gây tác động đáng kể đến môi trường sinh vật biển (sinh vật trong tầng
nước), đặc biệt là khu vực ngoài phạm vi 100m tính từ điểm thải
Bảng 3.9 Phân loại độ độc của các hóa chất lên cột nước theo GESAMP (2002) [33]
Trang 20Độ độc cấp tính của các thành phần điển hình trong DDK gốc nước dựa vào nồng
vật khác được tóm tắt trong Bảng 3.10 Nồng độ gây độc này được biểu diễn bằng
đơn vị mg/l và được xác định trong pha lơ lửng của các thành phần trong dung dịch
Bảng 3.10 Phân loại độ độc cấp tính của các phụ gia theo GESAMP
khác nhau (mg/l)
Chú ý: a – thử trên tảo; b – thử trên sinh vật nước ngọt
Khả năng phân tán của DDK và MK thải gốc nước
Khi DDK và MK gốc nước thải xuống biển, các hạt MK rắn chiếm khoảng 90% khốilượng của MK thải sẽ kết thành một vệt/dãy rồi lắng nhanh xuống đáy biển (hoặc chođến khi đủ trọng lực để lắng xuống) Trong khoảng 10% khối lượng của các hạt rắn baogồm các hạt có kích thước nhỏ, mịn, không kết dính và một phần các hợp chất tan củaDDK cũng sẽ kết thành một vệt/dãy khác trong cột nước, vệt/dãy này sẽ trôi theo dòngchảy nước biển xa dần giàn khoan và bị pha loãng nhanh chóng vào môi trường nướctiếp nhận, các hạt rắn nhỏ mịn trong vệt trôi dạt này sẽ lắng đọng từ từ theo dòng chảy
nước biển, hình thành nên một lớp rộng lớn dưới đáy biển (Hình 3.4) [33]
Trang 21Một vài kết quả thực nghiệm về DDK gốc nước cho thấy, DDK thải xuống biển sẽ bịpha loãng rất nhanh trong vòng bán kính 1.000-2.000 m (từ điểm thải) theo phươngdòng chảy của nước biển trong khoảng thời gian 1 giờ Tại các khu vực biển có dòngchảy mạnh, khả năng pha loãng của DDK và MK gốc nước thải là rất cao, chẳng hạnnhư mức độ pha loãng có thể đạt đến 10.000 lần trong vòng bán kính 100 m (từ điểmthải) [33], Đối với DDK gốc nước biển thì khả năng pha loãng từ 3 đến hơn 100 lầntrong vòng bán kính 10 m Thật vậy, các thực nghiệm ở bờ biển Nam California-Hoa
Kỳ cho thấy, DDK gốc nước biển bị pha loãng 183 lần trong vòng bán kính 10 m và1.049 lần trong vòng bán kính 100 m tính từ điểm thải [36]
Các tác động của DDK gốc nước tới môi trường biển
Mặc dù thể tích của MK gốc nước thải xuống biển trong suốt quá trình khoan phát triển
nước thì rất nhỏ, bởi vì việc thải bỏ này không liên tục và độc tính của chất thải đến môitrường là thấp Do vậy, nồng độ các hạt rắn trong MK thải sẽ tăng lên không đáng kểtrong cột nước và chỉ gây ảnh hưởng đến phần nhỏ môi trường nước Sau khi thải bỏxuống biển, các hạt MK phân tán trong cột nước sẽ làm tăng độ đục và nồng độ cácchất lơ lửng trong nước, do đó sẽ làm giảm khả năng quang hợp của các loài thực vậtphiêu sinh, và làm cản trở sự di chuyển hoặc tìm mồi của các loài động vật phiêu sinh.Khi MK sa lắng tại đáy biển sẽ gây nên tác động như: chôn lấp và gây ngạt cho quầnthể sinh vật đáy Do các tác động này chỉ tập trung cục bộ xung quanh khu vực khoannên mức độ ảnh hưởng được đánh giá ở mức rất nhỏ
Các loại nước thải phát sinh từ hoạt động khoan bao gồm nước thải sàn khoan,nước làm mát và nước thải sinh hoạt Dựa trên số công nhân làm việc tối đa trêngiàn khoan là 112 người [29], tải lượng nước thải sinh hoạt trong giai đoạn khoan
được tóm tắt trong Bảng 3.11.
Hình 3.4 Khả năng lan truyền và phân tán của mùn khoan gốc nước dưới
biển
Trang 22Hàng ngày Cả giai đoạn khoan
Ghi chú:
Lượng nước thải trong một ngày cho một người là 125 lít [30, 31];
Tổng thời gian khoan: 200 ngày đối với mỏ CS Bắc và 380 ngày đối với mỏ CS Nam.
Các dòng thải khác bao gồm nước mưa và nước vệ sinh sàn khoan được thu gomtại các khu vực không lẫn dầu được phép thải trực tiếp xuống biển Các nguồn thảinày được xem là không đáng kể và không gây ảnh hưởng đến môi trường
Nước nhiễm dầu như nước thải tổng hợp có nhiễm dầu phát sinh từ các sàn tàu, cácthiết bị máy móc và các khu vực vệ sinh máy móc/thiết bị, nước bẩn đáy tàu,… tất
cả sẽ được dẫn tới một hệ thống xử lý nước nhiễm dầu - SKIT/S DEB để xử lý Hàmlượng dầu còn lại trong dòng ra của hệ thống xử lý đảm bảo không vượt quá 15 mg/l
theo “Quy chế bảo vệ môi trường trong việc tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ, khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến dầu khí và các dịch vụ liên quan” trước khi thải
xuống biển
Một vấn đề liên quan đến nước thải sinh hoạt đặc biệt nước vệ sinh là tạo ra các hợpchất hữu cơ có hại Đây là hệ quả của việc sử dụng các chất tẩy rửa có gốc chlorine cókhả năng gây độc hoặc có khả năng tích lũy sinh học Tuy nhiên, nước thải sinh hoạt sẽđược dẫn qua một hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt - Hamworthy Super Trident ST10
và được xử lý theo đúng tiêu chuẩn MARPOL 73/78 trước khi thải bỏ
Sơ đồ nguyên lý hoạt động của hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt và hệ thống xử lý
nước thải nhiễm dầu trong giai đoạn khoan sẽ được trình bày ở Chương 4 “CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM” Do đó các tác động môi trường từ việc thải bỏ
các nước thải này được xem là rất nhỏ hoặc là không đáng kể đối với sinh vật nổi vàsinh vật đáy
Hơn nữa, do môi trường xung quanh khu vực cụm mỏ Chim Sáo có khả năng đồnghoá cao, các tác động đáng kể lên chất lượng nước biển và các sinh vật biển làkhông xảy ra
Chất thải rắn sinh ra từ các hoạt động khoan sẽ bao gồm:
Các chất thải nguy hại là chất thải có chứa dầu, mỡ, các vật liệu nhiễm dầu,pin đã sử dụng, sơn, thùng sơn, dung môi, hóa chất đã sử dụng, rác thải y tế,
… được phát sinh từ các hoạt động khoan;
Chất thải rắn không nguy hại, gồm rác thực phẩm và các rác thải có nguồngốc từ vật liệu không nguy hại như giấy, bìa, thủy tinh, nhựa và phế liệu kimloại (hộp, chai lọ, bóng đèn, thủy tinh, bao bì, chi tiết máy hỏng )
Ước tính tải lượng chất thải rắn và các biện pháp xử lý tương ứng được tóm tắt
trong Bảng 3.12
Trang 23Đơn vị: tấn
CS Bắc CS Nam
Chất thải dễ cháy
Thu gom, phân loại đốt bỏ ngoài giàn hoặc vận chuyển vào bờ để thải bỏ, tái sinh, tái sử dụng hoặc thải bỏ
Chất thải không cháy,
Ghi chú: Dựa vào chất thải rắn sinh ra từ các hoạt động khoan trong Lô 12W hiện nay; số người trên giàn khoan là 112 người, kinh nghiệm hoạt động của POVO và tổng thời gian khoan: 200 ngày đối với
mỏ CS Bắc và 380 ngày đối với mỏ CS Nam.
Chất thải thực phẩm ở mức khoảng 0,58 kg/người/ngày [30, 31];
Chất thải sinh hoạt ở mức khoảng 0,85 kg/người/ngày [30, 31];
Chất thải nguy hại ở mức khoảng 0,1 tấn/ngày [29];
Chất thải dễ cháy, không nguy hại khoảng 0,5 tấn/ngày [29];
Chất thải không cháy, không nguy hại khoảng 0,9 tấn/ngày [29].
Các biện pháp thải bỏ các chất thải sinh hoạt và công nghiệp bao gồm các biênpháp thiêu hủy, nghiền nhỏ và thải trực tiếp xuống biển, nén và vận chuyển tới bờ.Các biện pháp này sẽ được áp dụng theo từng loại chất thải và tuân theo các quyđịnh/quy chế cho phép
Chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động khoan sẽ được phân loại thành chấtthải không nguy hại và chất thải nguy hại Việc phân loại này sẽ dựa trên hướng dẫn
theo Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT về “Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại” ban hành
ngày 26/12/2006, Quyết định số 23/2006/QĐ - BTNMT về “Ban hành danh mục chất
thải nguy hại” ngày 26/12/2006 và theo quy trình phân loại chất thải ngoài khơi của
POVO
Chất thải không nguy hại
Thực phẩm thừa được nghiền đến kích thước nhỏ hơn 25mm trước khi thải xuốngbiển theo quy định của luật Việt Nam và Công ước Marpol 73/78
Các chất thải rắn khác sẽ được phân loại thành các chất thải dễ cháy và không dễcháy Các chất thải dễ cháy như giấy vụn, bìa cứng,…sẽ được xử lý trên giàn khoanbằng cách đốt bỏ Các chất thải không dễ cháy sẽ được chứa trong container đểvận chuyển vào bờ xử lý
Chất thải nguy hại
Bất cứ nguồn thải nguy hại nào cũng gây tác động đến môi trường và sức khỏe conngười, do đó các nguồn thải này sẽ được thải bỏ thích hợp thông qua các thiết bị xử
lý trên đất liền Công tác thu gom, vận chuyển sẽ dựa vào chủng loại và khối lượngcủa chúng
Trang 24POVO đã xây dựng một quy trình quản lý chất thải ngoài khơi, trong đó hướng dẫn
cụ thể quy trình phân loại chất thải không nguy hại và chất thải nguy hại Quy trình
này được trình bày cụ thể hơn ở Phần 4.2.3 và Phần 6.2.9
Như đã trình bày ở trên, POVO đảm bảo các tàu vận chuyển chất thải nguy hại từngoài khơi vào bờ và lưu giữ tạm thời tại căn cứ hậu cần của PTSC phải có giấyphép vận chuyển phù hợp và sẽ tiến hành kiểm tra thường xuyên để giám sát hiệuquả hoạt động AT-SK-MT của các nhà thầu này
Đối với việc xử lý chất thải nguy hại, các nhà thầu xử lý chất thải nguy hại sẽ đượcPOVO kiểm tra trước khi ký hợp đồng POVO đảm bảo chỉ ký hợp đồng quản lý chấtthải nguy hại với nhà thầu có giấy phép hoạt động phù hợp với quy định pháp luật vàloại chất thải phát sinh từ các hoạt động của POVO POVO đang xem xét sử dụngmột trong hai nhà thầu xử lý chất thải nguy hại bao gồm GeoCycle ở Kiên Giang vàViệt Xanh ở Bình Dương Cả hai nhà thầu đều đã được POVO đến kiểm tra giấyphép cũng như hiệu quả làm việc xét về khía cạnh AT-SK-MT trong thời gian tiếnhành chiến dịch khoan thăm dò năm 2008
Chất thải rắn nguy hại và không nguy hại sẽ được kiểm soát và xử lý theo đúng quytrình đã đề ra để giảm thiểu tối đa tác động đến môi trường Hơn nữa, chất thải phátsinh trong quá trình khoan phát triển có khối lượng nhỏ Như vậy, việc xử lý và thải
bỏ chất thải rắn sẽ không có các tác động đến môi trường biển và có tác động nhỏđến đất cũng như nước ngầm do chất thải rắn sẽ được xử lý và thải bỏ, chôn lấpmột cách phù hợp
Tóm lại, tác động đến môi trường biển liên quan đến việc vận chuyển chất thải từgiàn vào bờ được đánh giá là không đáng kể Tác động đối với môi trường đất vànước ngầm trên bờ cũng được đánh giá là nhỏ vì POVO sẽ giám sát chặt chẽ cáchoạt động lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại của các nhà thầu Cụ thể,POVO sẽ giám sát quy trình xử lý khí thải, nước thải trong quá trình xử lý chất thảinguy hại, và đảm bảo phương tiện đi thu gom chất thải nguy hại tại căn cứ hậu cầnPTSC phải là xe chuyên dụng và tuân thủ các quy định của luật Việt Nam Ngoài ratất cả các nhà thầu quản lý chất thải nguy hại của POVO đều đã có báo cáo ĐTM đãđược phê duyệt
Các xáo trộn vật lý ở đáy biển phát sinh từ hoạt động khoan là do:
Việc đặt các chân đế của giàn khoan tự nâng xuống đáy biển;
Quá trình làm việc của giàn khoan, và
Quá trình lắng đọng và phân bố MK trên nền đáy biển;
Trong giai đoạn khoan phát triển, giàn khoan sẽ được di chuyển đến/đi khỏi các giànđầu giếng khi cần thiết Mỗi khi di chuyển và lắp đặt lại, chân giàn sẽ gây xáo trộnvật lý tại nền đáy Các xáo trộn xảy ra sẽ gần giống như các xáo trộn xảy ra trongquá trình lắp đặt, kết nối và nghiệm thu như sự thay đổi trong phân bố kích thướchạt trầm tích, dẫn đến sự xáo trộn cục bộ trong quần thể sinh vật đáy Tuy nhiên cácxáo trộn này chỉ tạm thời và cục bộ do vị trí và khu vực chiếm giữ của giàn khoan chỉdiễn ra trong thời gian ngắn, khu vực ảnh hưởng có diện tích nhỏ và khả năng phụchồi cao của khu vực này
Trang 25Các xáo trộn chính xảy ra trong giai đoạn này có liên quan đến mùn khoan và đã
được thảo luận trong Phần 3.3.2.2 nêu trên.
Sự hiện diện về mặt vật lý của giàn và các thiết bị phụ trợ sẽ gây ra các tác động nhấtthời ảnh hưởng đến giao thông đường biển cũng như hạn chế hoạt động đánh bắtngay trong khu vực khoan Tuy nhiên, khu vực này khá nhỏ so với toàn bộ ngư trườngtrong vùng và do đó sẽ không gây ra thiệt hại kinh tế đáng kể nào
Mặc dù đã có khu vực an toàn với bán 500m xung quanh giàn khoan, nhưng vẫn cầnthiết có các biện pháp giảm thiểu rủi ro do ảnh hưởng qua lại giữa các tàu bè POVO sẽhết sức lưu tâm đến khả năng gây rủi ro này và đang triển khai các quy trình hoạt độngnhằm giảm thiểu các rủi ro có liên quan Các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro sẽ đượctrình bày cụ thể trong Chương 4
3.3.3 Giai đoạn khai thác mỏ Chim sáo và vận hành tuyến ống Chim sáo-KP75
Dòng lưu thể khai thác từ các mỏ Chim Sáo sẽ được dẫn về và xử lý trên FPSO.Nước khai thác sẽ được xử lý đạt tiêu chuẩn thiết kế trước khi bơm ép lại vỉa (giớihạn hàm lượng dầu trong nước khai thác đã qua xử lý là 30 mg/l) Khí đồng hành sẽđược sử dụng làm khí nâng và khí nhiên liệu cho các hoạt động của dự án, phầncòn lại được chuyển vào bờ qua đường ống kết nối giữa mỏ Chim Sáo và đườngống Nam Côn Sơn nhằm giảm thiểu các tác động của khí thải tới hiệu ứng nhà kính
và bảo vệ môi trường Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận với KNOC hoặc
BP trong việc kết nối vào hệ thống đường ống hiện hữu, khí đồng hành sẽ được đốt
bỏ ngoài khơi trong một khoảng thời gian ngắn Phần đánh giá tác động của việc đốt
bỏ khí ngoài khơi sẽ được tóm tắt trong phần phụ lục Phần đánh giá tác động củaviệc đốt khí này cũng sẽ cung cấp dữ liệu cho POVO trong quá trình thực hiệnchương trình Cơ chế Phát triển Sạch (CDM) cho dự án dẫn khí vào bờ
Các hoạt động khai thác mỏ Chim sáo
Khi thực hiện dự án phát triển lô 12W, POVO sẽ dẫn khí đồng hành vào bờ thôngqua việc tuyến ống dẫn khí kết nối với hệ thống đường ống Nam Côn Sơn hiện hữu.Các nguồn phát sinh khí thải chính của dự án bao gồm:
Khí thải từ việc đốt cháy khí nhiên liệu của các máy phát điện, máy nén khínâng và các thiết bị sử dụng khí khác trên FPSO, khí xả từ bể chứa và khíthất thoát
Khí thải sinh ra từ sử dụng nhiên liệu cung cấp năng lượng hoạt động của cáctàu dịch vụ, máy bay trực thăng
Khí nhiên liệu, với hiệu suất cháy cao hơn so với dầu diesel, sẽ được sử dụng làmnhiên liệu chính cho máy phát điện trong khu vực mỏ Do vậy, lượng khí thải sinh rakhi sản xuất một đơn vị điện năng từ việc đốt cháy khí nhiên liệu ở mức thấp hơn sovới dầu diesel Ngoài ra, do dùng khí đồng hành để làm nhiên liệu ở mỏ Chim Sáo
Thêm vào đó, những thiết bị sử dụng dầu Diesel không thường xuyên trên FPSOchẳng hạn như cần cẩu, không cần thiết phải ước tính tải lượng khí thải trong giai