1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chung về tổ chức kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm toán Quốc gia Việt nam

74 349 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá chung về tổ chức kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm toán Quốc gia Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 419,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm tổ chức kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm toán Quốc gia Việt nam

Trang 1

Lời mở đầu

Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đến nay, nước ta đóchuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoỏ tập trung sang phỏt triển kinh tế hànghoỏ nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường cú sự quản lý củaNhà nước theo định hướng Xó hội chủ nghĩa Trong bước chuyển đổi này,cỏc doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận trọng yếu của kinh tế Nhà nước

đó bộc lộ nhiều bất cập, hoạt động kộm hiệu quả, chưa thực sự tương xứngvới vai trũ chủ đạo của nú trong nền kinh tế nhiều thành phần Trước tỡnhhỡnh đú, Đảng và Nhà nước đó cú cỏc chủ trương về đổi mới cỏc doanhnghiệp nhà nước Hàng loạt cỏc giải phỏp đó được tiến hành, trong đú cúgiải phỏp chuyển đổi một số doanh nghiệp nhà nước thành Cụng ty cổ phầnhay cổ phần hoỏ cỏc doanh nghiệp nhà nước

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào sau cổ phần hoá cũng cóhoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao cả về tính kinh tế lẫntính xã hội Có những doanh nghiệp gặp vấn đề về vốn, có những doanhnghiệp gặp vấn đề về lao động, cũng có những doanh nghiệp gắp vấn đềtrong sản xuất hay chiếm lĩnh thị trờng kinh doanh.Những vấn đề tuy mớiphỏt sinh nhưng nếu khụng giải quyết sẽ ảnh hưởng khụng chỉ đến cỏcdoanh nghiệp nhà nước đó cổ phần hoỏ mà cũn ảnh hưởng đến tiến trỡnhCPH của cỏc doanh nghiệp nhà nước cũn lại

Để có thể thúc đẩy mạnh mẽ cổ phần hoỏ cỏc doanh nghiệp nhànước, làm cho chỳng thực sự cú hiệu quả cả về kinh tế lẫn xó hội tôi mạnh

dạn đa đề tài “ giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hoá “ để tham khảo và mong muốn có thể áp dụng

nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sau

cổ phần hoá

Chơng 1 Doanh nghiệp sau cổ phần hoá và sự cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp sau cổ phần hoá

1.1 Những vấn đề chung về doanh nghiệp sau cổ phần hoá

Trang 2

1.1.1 Doanh nghiệp sau cổ phần hoá

1.1.1.1 Doanh nghiệp nhà nớc

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhà nớc ở các nớckhác nhau trên thế giới Đó là do cách tiếp cận khác nhau về khoa học hoặc

do để thực hiện các số liệu thống kê với mục đích khác nhau

Từ năm 1995, nhà nớc ta đã ban hành luật doanh nghiệp nhà nớc vớinhiều quan điểm mới về loại hình doanh nghiệp nhà nớc Luật DNNN năm

1995 định nghĩa DNNN nh sau: “ DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu

t vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt độngcông ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nớc giao.DNNN có t cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu tráchnhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanhnghiệp quản lý DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trênlãnh thổ Việt Nam

Khái niệm DNNN theo luật DNNN năm 1995 và các văn bản hớngdẫn có một số điểm mới phản ánh những thay đổi trong chính sách và cơcấu kinh tế ở nớc ta

DNNN do nhà nớc đầu t, thành lập và quản lý Nhà nớc sở hữu 100%doanh nghiệp, ngời quản lý doanh nghiệp chỉ là ngời đại diện cho doanhnghiệp nhà nớc, do nhà nớc chủ sở hữu cử ra chứ không phải là chủ sở hữudoanh nghiệp

DNNN đợc phân thành DNNN hoạt động kinh doanh và DNNN hoạt

động công ích

DNNN có t cách pháp nhân Đây là khía cạnh pháp lý quan trọng thểhiện t cách chủ thể của DNNN trong tất cả các quan hệ pháp lý

Theo quy định của luật DNNN năm 2003 thì khái niệm về DNNN

đ-ợc phát triển tơng đối sâu trong định nghĩa:” DNNN là tổ chức kinh tế doNhà nớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần , vốn góp chi phối, đợc

tổ chức dới hình thức công ty nhà nớc, công ty cổ phần, công ty TNHH”

Với định nghĩa trên đã thể hiện những quan điểm mới, những thay

đổi cơ bản trong chính sách của nhà nớc ta với thành phần kinh tế Nhà ớcvà với các thành phần kinh tế khác

n-Luật DNNN năm 2003 đã đa dạng hoá các DNNN trên tiêu chíquyền chi phối CHính sự đa dạng về hình hức tồn tại của DNNN sẽ làmsinh động thành phần kinh tế công, làm cho nó thích ứng hơn với nền kinh

tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa

Trang 3

1.1.1.2 Khái niệm cổ phần hoá các DNNN

Cổ phần hoá (CPH) là một hình thức chuyển đổi doanh nghiệp từdoanh nghiệp có một hoặc số ít chủ sở hữu sang các doanh nghiệp có nhiềuchủ sở hữu dưới hình thức các công ty cổ phần (CTCP) Thực chất của quátrình này là nhằm chuyển đổi hình thức sở hữu trong các doanh nghiệp cũsang hình thức sở hữu hỗn hợp giữa các cổ đông là tư nhân, pháp nhân;giữa tư nhân với nhà nước; giữa tư nhân với nhau trên cơ sở chia nhỏ tàisản của công ty thành những phần bằng nhau, bán lại cho các cổ đông dướihình thức cổ phiếu Thông qua đó thiết lập hình thức tổ chức quản lý sảnxuất theo mô hình CTCP, hoạt động với tư cách một pháp nhân độc lập.Như vậy cổ phần hoá có thể thực hiện cho bất cứ loại hình doanh nghiệpnào, kể cả doanh nghiệp tư nhân, DNNN và các loại hình doanh nghiệpkhác Mặc dù trong thực tiễn CPH diễn ra cả đối với các doanh nghiệp tưnhân song do số lượng các doanh nghiệp tư nhân CPH là không đáng kể,cho nên khi nhắc đến CPH người ta thường hiểu là CPH DNNN

Cổ phần hoá các DNNN là thuật ngữ xuất hiện và được sử dụng ởViệt Nam gắn liền với quá trình đổi mới tổ chức và quản lý các DNNNtrong những năm gần đây Đổi mới các DNNN là xu hướng có tính phổ biến

ở hầu hết các nước trong quá trình phát triển kinh tế xã hội (kể cả các nước tưbản và các nước theo mô hình của chủ nghĩa xã hội), với mục tiêu giảm thiểuảnh hưởng khu vực kinh tế nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của cácDNNN Đổi mới các DNNN có thể được diễn ra theo những mức độ khácnhau, với những nội dung thực hiện khác nhau như:

+ Đổi mới những nội dung hoạt động bên trong các DNNN theohướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, giảm thiểu sự bao cấpcủa nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN, nâng caohiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

+ Tự do hoá việc tham gia các hoạt động kinh tế cho các thành phầnkinh tế khác ở những khu vực, những hoạt động vốn chỉ dành cho DNNN

Trang 4

Theo đó DNNN sẽ thu hẹp phạm vi hoạt động, các thành phần kinh tếkhác sẽ mở rộng phạm vi Sức cạnh tranh giữa DNNN và các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác sẽ cùng tăng lên Số lượng cácDNNN sẽ giảm, gánh nặng từ ngân sách cũng giảm bớt.

+ Uỷ quyền kinh doanh hoặc cho phép các loại hình kinh doanhngoài nhà nước ký những hợp đồng kinh tế thực hiện những dịch vụ côngcộng hoặc cho khu vực ngoài nhà nước thuê những tài sản công cộng [3, tr42]

+ Chuyển đổi một phần hoặc toàn bộ hình thức sở hữu nhà nướcthành sở hữu tư nhân hoặc tập thể dưới hình thức tư nhân hoá hoặc cổ phầnhoá ở các nước tư bản, các nước có nền kinh tế chuyển đổi (Nga, ĐôngÂu…); cổ phần hoá hoặc bán khoán, cho thuê các DNNN như ở Việt Nam

Cổ phần hoá các DNNN là biện pháp có tính đặc thù của một số nước,trong đó có nước ta trong việc đổi mới các DNNN những năm vừa qua Đểđáp ứng yêu cầu chuyển đổi các DNNN thành các công ty cổ phần qua cổphần hoá, cần phải có những nghiên cứu về lý thuyết và thực tiễn về cổ phầnhoá các DNNN Vì vậy, ở Việt Nam trong những năm qua cũng đã có nhiềunghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước

Theo Đỗ Bình Trọng, “cổ phần hoá chỉ việc chuyển đổi một DNNNthành một công ty cổ phần, trong đó các đơn vị kinh tế phi chính phủ đượcphép mua một phần hoặc toàn bộ quyền sở hữu của doanh nghiệp cổ phầnhoá” Ban đổi mới, phát triển DNNN cho rằng: “Cổ phần hoá là quá trìnhchuyển DNNN thành công ty cổ phần”

Có tác giả lại quan niệm: Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi doanhnghiệp từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu thành công ty cổ phần, tức là doanhnghiệp có nhiều chủ sở hữu

Vì vậy, cổ phần hoá các DNNN là quá trình chuyển đổi DNNNthành công ty cổ phần, trong đó nhà nước có thể vẫn giữ tư cách là một cổ

Trang 5

đông (một cổ đông đặc biệt) Đó là quá trình chuyển sở hữu nhà nước sang

sở hữu của các cổ đông, đồng thời DNNN thực hiện cổ phần hoá có thể thuhút thêm vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu

Nhìn chung các khái niệm về cổ phần hoá đều nói trực tiếp đến cổphần hoá các DNNN, vì vậy, đều nói tới quá trình chuyển đổi doanh nghiệp

từ hình thức DNNN sang hình thức công ty cổ phần, với những góc độkhác nhau Tuy nhiên, các khái niệm chưa đi sâu vào bản chất bên trongcủa quá trình cổ phần hoá các DNNN Vì vậy, từ những khái niệm trên cóthể khái quát và đưa ra khái niệm đầy đủ về cổ phần hoá DNNN như sau:

Cổ phần hoá các DNNN là biện pháp có tính đặc thù của quá trình đổi mới các DNNN, là quá trình chuyển các DNNN thành các công ty cổ phần Đó là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ một chủ sở hữu nhà nước sang sở hữu của nhiều chủ thể- đa sở hữu (hay sang sở hữu hỗn hợp), trong đó tồn tại một phần sở hữu của nhà nước; là quá trình huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất, xử lý và khắc phục những tồn tại hiện thời của DNNN; tạo những điều kiện cho người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp Tất cả nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giảm nhẹ gánh nặng của nhà nước đối với doanh nghiệp

1.1.1.3 Tính tất yếu khách quan của cổ phần hoá các DNNN

Tư nhân hoá và cổ phần hoá các DNNN đã trở thành xu hướng cótính khách quan ở nhiều nước, nhất là ở các nước có nền kinh tế đang pháttriển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi Điều đó bắt nguồn từ những

cơ sở kinh tế xã hội chủ yếu sau:

* Do yêu cầu đòi hỏi của quá trình xã hội hoá sản xuất trên thực tế

Xã hội hoá nền sản xuất là xu hướng có tính quy luật của sự pháttriển kinh tế xã hội Sản xuất bao giờ cũng mang tính chất xã hội Xã hộihoá sản xuất bắt nguồn từ yêu cầu của huy động các nguồn lực xã hội,trước hết là nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội và tính xã hội của

Trang 6

sản xuất phát triển từ thấp đến cao, gắn liền với sự phát triển ngày càng caocủa lực lượng sản xuất Xã hội hoá sản xuất đã mang lại những hiệu quả tolớn trong sự phát triển kinh tế xã hội

Xã hội hoá sản xuất được biểu hiện ở sự thống nhất của hai mặt đốilập là sự phân công và hợp tác lao động Đó chính là sự phân công, chuyênmôn hoá sản xuất ngày càng cao, làm mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị,các chủ thể kinh tế, giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng kinh tế ngàycàng chặt chẽ, do đó sự phụ thuộc vào nhau ngày càng cao trong quá trìnhsản xuất và tiêu thụ sản phẩm Sản phẩm làm ra cũng là kết quả lao độngcủa nhiều người, thậm trí của nhiều quốc gia tức là xã hội hoá mang tínhchất quốc tế hoá

Xã hội hoá sản xuất bao gồm 3 mặt: Xã hội hoá sản xuất về kinh tế

-kỹ thuật, với nội dung xây dựng cơ sở vật chất -kỹ thuật, gắn liền với tiếnhành công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xã hội hoá sản xuất về kinh tế tổ chức,

mà thực chất là tổ chức lại sản xuất xã hội với mục đích làm cho hiệu suất

và năng suất lao động xã hội ngày càng cao; xã hội hoá về kinh tế - xã hội

mà thực chất gắn liền với việc xã hội hoá quan hệ sản xuất, trong đó quantrọng nhất là quan hệ sở hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu trong nền sảnxuất nói chung và trong từng doanh nghiệp nói riêng

Ba mặt trên có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo nên tính toàndiện của xã hội hoá sản xuất Tuy nhiên, xã hội hoá về kinh tế - kỹ thuậtmang tính quyết định và xã hội hoá về kinh tế - xã hội có tính chất mởđường, tạo nên những điều kiện cho xã hội hoá về kinh tế - kỹ thuật và xãhội hoá sản xuất về kinh tế tổ chức Chỉ khi xã hội hoá sản xuất được tiếnhành đồng bộ cả ba mặt nói trên và có sự phù hợp giữa ba mặt đó mới là xãhội hoá sản xuất thực tế Nếu chỉ dừng lại ở xã hội hoá sản xuất về tư liệusản xuất - thiết lập quan hệ sản xuất không tiến hành đồng bộ và không có

sự phù hợp giữa ba mặt nói trên thì đó mới chỉ là xã hội hoá sản xuất hìnhthức

Trang 7

Vấn đề xã hội hoá sản xuất trên thực tế được tiến hành và biểu hiện

cả trong và sau quá trình cổ phần hoá các DNNN Tiêu chuẩn đánh giá,xem xét trình độ của xã hội hoá sản xuất đó là trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, mức tăng năng suất lao động và hiệu quả của nền sản xuất

xã hội

Từ tính chất và yêu cầu trên của xã hội hoá sản xuất cho thấy, xã hội hoásản xuất là quá trình kinh tế khách quan của sự phát triển tính xã hội của sảnxuất Cổ phần hoá các DNNN nói chung và các DNNN trong ngành GTVT nóiriêng là một trong các biểu hiện của xã hội hoá sản xuất trên cả ba mặt, cụ thể là:

Thứ nhất, quá trình cổ phần hoá các DNNN chính là quá trình xây dựng

và hoàn thiện cơ chế quản lý các DNNN một cách tối ưu nhất, qua đó nhằm huyđộng các nguồn lực trong toàn xã hội bao gồm các nguồn vốn, nguồn tài nguyên,trình độ khoa học công nghệ cũng như các nguồn lực khác của tất cả các chủ thểtrong và ngoài nước tham gia vào quá trình cổ phần hoá, thúc đẩy sự nghiệpCNH, HĐH xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế Sau cổ phần hoácác DNNN, xét về mặt đặc điểm sở hữu các nguồn lực trong các công ty cổ phầncũng như đặc điểm tổ chức quản trị doanh nghiệp ta nhận thấy nó mang tính chất

xã hội cao hơn hẳn so với trước khi cổ phần hoá Như vậy quá trình CPHDNNN, chính là quá trình xã hội hoá sản xuất về mặt kinh tế- kỹ thuật

Thứ hai, thực chất CPH DNNN không phải là tư nhân hoá mà là quá

trình tổ chức sắp xếp lại hoạt động của hệ thống các DNNN sao cho có hiệu quảnhất, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao nhất nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăngtrưởng và phát triển Như vậy, nếu xem xét cổ phần hoá DNNN từ mục tiêu đếnkết quả đạt được ta đều nhận tháy: Thực chất của cổ phần hoá DNNN chính làquá trình xã hội hoá sản xuất trên thực tế về mặt kinh tế- tổ chức

Thứ ba, trên thực tế quá trình cổ phần hoá các DNNN ở nước ta thời gian

qua là quá trình chuyển các DNNN từ hình thức một chủ sở hữu sang các doanhnghiệp nhiều chủ sở hữu đó là các cổ đông Chính quá trình chuyển đổi này đãlàm cho các tư liệu sản xuất gắn với các chủ thể sở hữu của nó, vì vậy việc sử

Trang 8

dụng các yếu tố nguồn lực của sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao hơn Mặt khác,khi DNNN chuyển đổi thành công ty cổ phần thì hình thức tổ chức quản lý cũngnhư phân phối kết quả sản xuất cũng có những thay đổi cơ bản Khi còn làDNNN thì việc tổ chức quản lý cũng như phân phối kết quả sản xuất của doanhnghiệp là do Nhà nước quyết định vì Nhà nước là chủ thể sở hữu đối với doanhnghiệp Nhưng khi đã là công ty cổ phần thì Hội đồng quản trị lại là người đạidiện hợp pháp cho quyền sở hữu của các cổ đông đứng ra giải quyết các côngviệc này Tất cả những thay đổi đó khẳng định cổ phần hoá DNNN cũng chính làquá trình xã hội hoá sản xuất trên thực tế về mặt kinh tế- xã hội.

Từ những phân tích trên một lần nữa có thể khẳng định: Cổ phần hoáDNNN là tất yếu khách quan, điều đó hoàn toàn do tính chất và yêu cầu của xãhội hoá sản xuất trên thực tế chi phối

* Do yêu cầu đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền KTTT

DNNN (kể cả các DNNN ở các nước tư bản), đặc biệt là DNNN ởcác nước kế hoạch hoá tập trung là loại hình doanh nghiệp do nhà nước đầu

tư vốn, quản lý theo cơ chế hành chính qua nhiều cấp trung gian Do đó hệthống tài chính kế hoạch tài chính cứng nhắc kém năng động; tính chủđộng trong sản xuất kinh doanh bị ràng buộc bởi nhiều quy chế, quy địnhxuất phát từ nguồn gốc của sở hữu nhà nước của doanh nghiệp

Tình trạng độc quyền của DNNN lại được pháp luật che chở, bảo vệnên đã làm mất đi động lực kinh tế trong hoạt động Với chế độ quản lý đólợi ích của người quản lý và người lao động không gắn với kết quả sản xuấtmột cách chặt chẽ nên hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao CácDNNN thường hoạt động kém hiệu quả hơn các loại hình doanh nghiệpkhác

Như vậy, bản thân DNNN với cách thức tổ chức đã chứa đựngnhững yếu tố kém ưu việt hơn các loại hình doanh nghiệp khác Trongnhiều trường hợp sự tồn tại của DNNN không tạo nên tiềm lực kinh tế cho

Trang 9

nhà nước mà trở thành gánh nặng của ngân sách nhà nước Đây là yếu tốmang tính tự thân của chính các DNNN dẫn đến cần phải đổi mới và hoànthiện chúng.

Mặt khác, do nhiều lý do ở hầu hết các nước đã tổ chức quá nhiềucác DNNN Xu hướng phát triển quá nhiều DNNN đã dẫn đến quản lý kémhiệu quả, ngân sách nhà nước không thể kham nổi, dẫn đến tình trạng bỏmặc DNNN (như tính trạng ở các nước theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung,trong đó có nước ta) Ở các nước đang phát triển và Đông Âu, thâm hụt củacác DNNN tính trung bình khoảng 4% GDP vào những năm 70 của thế kỷ

XX, ở Thái Lan có 57 doanh nghiệp thì có 11 doanh nghiệp bị thua lỗ Sựthâm hụt và thua lỗ của DNNN nhà nước đều phải gánh chịu, có một sốdoanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn vay của các tổ chức tài chính quốc tếnhư ngân hàng thế giới (WB), quỹ hỗ trợ tiền tệ quốc tế (IMF) Một mặt,chính phủ các nước nhận thấy cần phải trút bỏ gánh nặng từ phía các doanhnghiệp, mặt khác các tổ chức tài chính quốc tế đưa ra các biện pháp gâysức ép, buộc các DNNN phải tổ chức lại sản xuất và quản lý, trong đó cóviệc chuyển các DNNN thành các công ty tư nhân hoặc công ty cổ phần.Đây là yếu tố kinh tế và tổ chức đã đẩy các DNNN từ yếu tố mang tính tíchcực trở thành yếu tố tiêu cực, dẫn đến phải đổi mới và hoàn thiện chúng

* Do có sự thay đổi về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, vai trò điều tiết của chính phủ ngàycàng trở nên quan trọng Tính chất quan trọng này không chỉ là những nhậnthức của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn bắt nguồn từ nhận thức củacác tổ chức kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là những nước có nền kinh tếthị trường phát triển ở trình độ cao

Trước hết, đối với các cơ quan quản lý nhà nước, mà đứng đầu là chính phủ: sau quá trình vận hành quản lý người ta nhận ra hiệu lực của

quản lý không chỉ ở tiềm lực kinh tế của chính phủ mà còn ở vai trò xây

Trang 10

dựng các thể chế quản lý, tạo lập các môi trường kinh tế và pháp lý cho sựhoạt động của các đơn vị kinh doanh… Chính việc tạo lập môi trường kinh

tế và pháp lý đã mang lại những lợi ích to lớn cho những người sản xuất,kinh doanh đã là sợi dây liên kết các đơn vị, cá nhân thành hệ thống kinh tếbao gồm những thành phần kinh tế, những ngành, những lĩnh vực kinh tếvới nhau Chúng vừa cạnh tranh với nhau, nhưng lại thống nhất với nhau

Vì vậy, vai trò của các DNNN với tư cách là bộ phận kinh tế của nhànước tạo nên sức mạnh kinh tế của nhà nước thực hiện các chức năng quản

lý nhà nước về kinh tế dễ bị suy giảm Quản lý nhà nước thông qua hệthống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh và các chính sách kinh tế hướng tớitạo lập môi trường kinh tế và pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp ngày càngphát huy tác dụng và trở thành những công cụ quản lý chủ yếu Tiềm lựckinh tế của nhà nước, trong điều kiện đó được xác lập bằng chính sự đónggóp của các doanh nghiệp thay cho việc thành lập các DNNN hoạt độngkém hiệu quả Tiềm lực đó được sử dụng vào những hoạt động mang lại lợiích cho doanh nghiệp, vì vậy việc tạo lập ngày càng trở nên dễ dàng hơn

Ngoài ra trong nền kinh tế thị trường, sự đan xen của các thành phầnkinh tế ngày càng trở nên phổ biến, trong đó có mô hình kinh tế hỗn hợpgiữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân đã làm cho nhậnthức về vai trò của DNNN trong nền kinh tế có những thay đổi

Sự thay đổi phương thức quản lý kinh tế của nhà nước thông qua sựhoàn thiện hệ thống luật pháp và các chính sách kinh tế; sự thay đổi vai tròcủa các khu vực kinh tế, trong đó có vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế

tư nhân đã làm thay đổi tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của các chínhphủ của hầu hết các nước Đây cũng là cơ sở quan trọng dẫn đến sự thayđổi của hệ thống các DNNN mà cổ phần hoá, tư nhân hoá các DNNN làmột trong các giải pháp quan trọng

Đối với các tổ chức kinh tế, trước hết là các doanh nghiệp: Trong

điều kiện của kinh tế thị trường, nhất là khi giao thương quốc tế ngày càng

Trang 11

mở rộng, khi các vấn đề chính trị ngày càng chi phối mạnh mẽ đến các hoạtđộng kinh tế… thì người ta ngày càng nhận ra vai trò quan trọng của nhànước đối với việc quản lý kinh tế.

Sự tuân thủ với tính tự giác cao của các doanh nghiệp đã làm thayđổi phương thức quản lý nền kinh tế Đây cũng là cơ sở khách quan dẫnđến phải đổi mới các DNNN Bởi vì, bản thân các DNNN được tổ chức ra

để tạo tiềm lực kinh tế cho quản lý của nhà nước Hiệu lực này lại giảmxuống, trong khi tổ chức các doanh nghiệp loại này không có hiệu quả vàtrở thành gánh nặng của nhà nước

* Do sức hấp dẫn của công ty cổ phần trong hệ thống các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường

Công ty cổ phần với hình thức thu hút vốn đa dạng, với cách thức tổchức và quản lý một mặt phát huy sự lãnh đạo tập thể của Hội đồng quảntrị, sự chịu trách nhiệm trực tiếp của giám đốc; mặt khác phát huy vai trò tựchủ của các đơn vị thành viên nên có sức sống mạnh hơn, hiệu quả kinh tếcao hơn Vì vậy, công ty cổ phần đã trở thành hình thức doanh nghiệp phổbiến trong nền kinh tế thị trường Trong bối cảnh cần phải đổi mới cácDNNN, việc chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần thông qua cổ phầnhoá các DNNN, vì thế đã trở thành tất yếu

Thật vậy, cổ phần hoá các DNNN là quá trình chuyển hoá sở hữu,trước hết là quyền sở hữu Quyền sở hữu là quyền của tập thể hoặc cá nhângắn với tài sản hoặc quá trình sử dụng tài sản Trong sản xuất kinh doanh,

đó là quyền tổ chức hoạt động kinh doanh, theo đó các quyền về việc làm,được hưởng thụ các kết quả làm ra, cũng như các quyền về thừa kế, chuyểnnhượng, thế chấp chúng được thực hiện Cổ phần hoá DNNN đã giải quyếtthoả đáng mối quan hệ về sở hữu Nhờ đó, quyền sở hữu chung chung, mơ

hồ của nhà nước của DNNN đã thay bằng quyền sở hữu cụ thể của nhữngngười góp vốn, sở hữu cá nhân của những người lao động đã được tôntrọng Vì thế, công ty cổ phần đã trở thành một trong các hình thức doanh

Trang 12

nghiệp cú hiệu quả và sức sống cao trong nền kinh tế thị trường.

1.1.2 Đặc điểm DNNN đã cổ phần hoá

Theo thống kê, đến hết tháng 8-2006, cả nớc có khoảng 3100 doanhnghiệp nhà đã đợc cổ phần hoá trng đó 1100 doanh nghiệp Nhà nớc nắmgiữ trên 50% vốn điều lệ, cha kể khoảng 1200 công ty cổ phần có vốn nhànớc, đại bộ phận là cổ phần chi phối của Nhà nớc Những doanh nghiệp nàythờng có quy mô vừa và lớn, thuộc các ngành then chốt quan trọng của nềnkinh tế nh năng lợng, liuện kim, hoá chất, phân bón, cơ khí điện tử- chế tạo,

bu chính viễn thông, xây dựng, dệt may, chế biến nông, lâm thuỷ sản, giaothông vận tải, quốc phòng, an ninh, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, thơngmại, du lịch Trên thực tế, công ty cổ phần nhà nớc hiện có mặt ở hầu hếtcác ngành kinh tế Trong nhiều công ty cổ phần ở ngành dệt may cổ phầnnhà nớc trên 50% vốn điều lệ Số công tycổ phần nhà nớc chiếm tỷ lệ khácao, tới 33% tổng số doanh nghiệp nhà nớc đã cổ phần hoá, trong đó cónhững công ty cổ phần nhà nớc chiếm tới 71% -75% nh nghành điện lực

Một đặc điểm đáng lu ý, cũng là một thuận lợi lớn đối với loại hìnhdoanh nghiệp này trong việc áp dụng Luật doanh nghiệp năm 2003 là ngaysau khi cổ phần hoá, các doanh nghiệp đều đã chuyển sang thực hiện theoLuật áp dụng cho các doanh ngiệp ngoài khu vực nhà nớc

Cổ phần hoá chuyển sang hoạt động và quản lý theo Luật doanhnghiệp 2005 là một bớc ngoặt rất cơ bản trong quá trình sắp xếp lại, đổi mới

và phát triển doanh nghiệp nhà nớc

Thứ nhất, cổ phần hoá đã tạo ra loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sởhữu, bao gồm Nhà nớc, công nhân viên trong doanh nghiệp và cổ đôngngoài doanh nghiệp kể cả các nhà đầu t nớc ngoài, đã thay đổi rất cơ bản vềhình thức và chế độ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nớc Doanh nghiệp từsau cổ phần hoá đã có đợc ngời chủ đích thực đó là các cổ đông mà đạidiện là đại hội đồng cổ đông, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổphần Nhờ vậy mà có sự thay đổi cơ bản trong tổ chức, quản lý va hạot độngcủa doanh nghiệp.Doanh nghiệp tự chủ trong kinh doanh theo cơ chế thị tr-ờng, tự chịu trách nhiệm toàn diện về các hoạt động kinh doanh theo phápluật, hạch toán kinh doanh thực sự các chi phí gián tiếp và quản lý đã giảm

đợc khoảng 25% , cá biệt có công ty giảm tới 50% so với trớc khi cổ phầnhoá các công ty đã xây dựng mới điều lệ doanh nghiệp, các quy chế quản

lý các mặt nh kế hoạch hpá, quản lý lao động, vật t, tài chính, hạch toánkinh doanh

Trang 13

Thứ hai, cổ phần hóa góp phần cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhànớc Nhờ cổ phần hoá và phần lớn số doanh nghiệp nhà nớc đã khắc phục đ-

ợc một bớc tính trạng quy mô nhỏ lẻ, phân tán, dàn trải, đã tập trung hơnvào 39 ngành, lĩnh vự then chốt mà Nhà nớc cần chi phối để điều tiết nềnkinh tế Nhờ cổ phần hoá, quy mô vốn của doanh nghiệp đã tăng lên đáng

kể Vốn bình quân một doanh nghiệp năm 2001 là 24 tỷ đồng, đến nay đãlên tới khoảng 90 tỷ đồng, hầu nh không còn số doanh nghiệp vốn dới 1 tỷ

đồng Số doanh nghiệp quy mô lớn làm ăn có hiệu quả trong các ngànhkinh tế quan trọng nh điện lực, xi măng, viễn thông, hàng không, dịch vụdầu khí đợc cỏ phần hoá ngày càng tăng Có thể kể đến các doanh nghiệpnh: Công ty Khoan và dịch vụ dầu khí, các nhà máy thuỷ điện Sông Hinh( Vĩnh Sơn) Thác Bà, Phả lại, Điện lực Khánh Hoà, Công ty giấy Tân Mai,Công ty vận tải xăng dầu đờng thuỷ I, công ty sữa Vinamilk, công ty Kinh

Đô Trị giá của công ty Vinamilk lên tới 2500 tỷ đồng, trong đó cổ phầnnhà nớc là 1500 tỷ đồng, chiếm 60% Nhà máy thuỷ điện Sông Hinh trị giá2114tỷ đồng, trong đó cổ phần nhà nớc là 1253 tỷ đồng, chiếm 59,3%

Ba là, khi chuyển sang công ty cổ phần, doanh nghiệp đợc chủ động

đầu t đổi mới công nghệ, mua sắm máy móc, thiết bị tân tiến phu hợp vớiyêu cầu sản xuất kinh doanh Việc mua sắm máy móc công nghệ này đợchội đồng quản trị và và quyết định Do đó, có sự tính toán kĩ lỡng doanhnghiệp cần đổi mới cái gì, mua từ đâu, giá cả nh thế nào, hiệu quả của việc

đổi mới máy móc thiết bị sẽ đem lại so với trớc có cải thiện hơn không, cóphù hợp với những điều kiện hiện tại của doanh nghiệp hay không Do đódoanh nghiệp có điều kiện nâng cao chất lợng sản phẩm và hạ giá thành sảnphẩm, nâng cao sức cạnh tranh và uy tín trên thị trờng

Bốn là, gời lao động- cổ đông trong doanh nghiệp cổ phần nói chung,công ty cổ phần nhà nớc nói riêng đã có địa vị làm chủ thực sự Con ngời lànhân tố không thể thiếu đối với bất kì một doanh nghiệp nào Họ là nhân tốquyết định mọi sự thành bại của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp nhà nớc

cổ phần hóa, quyền làm chủ doanh nghiệp không chỉ thuộc về nhà nớc màcòn thuộc về các cổ đông là ngời lao động và những cổ đông ngoài doanhnghiệp.Ngời lao động trở thành những ngời chủ thực sự và đợc nânng caovai trò làm chủ trong doanh nghiệp Nhờ vậy tạo ra động lực mạnh mẽ vàcơ chế quản lý năng động, hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nớc

Năm là, về mặt tài chính , nhờ cổ phần hoá, Nhà nớc đã thu về ngânsách khoảng 15000 tỷ đồng/năm Số vốn này tuy rất nhỏ so với tổng số vốn

Trang 14

đã và cần phải tiếp tục cổ phần hoá để đầu t tập trung vào những mục đíchcần thiết, song chúng ta đã huy động thêm đợc 21000 tỷ đồn của các tổchức và cá nhân ngoài xã hội cho mở rộng kinh doanh của các doanhnghiệp

Sau cổ phần hóa, quyền tợ chủ về tài chính của doanh nghiệp đợc quy

định rõ ràng, nâng câôc hơn Cũng nhờ cổ phần hoá mà giá trị của doanhnghiệp đợc xác định rõ, làm căn cứ cho việc xây dựng chiến lợc phát triểnkinh doanh và hạch toán chi phí lãi, lỗ Cơ cấu lại các khoản nợ, xử lý tàisản,vật t, hàng hoá tồn đọng lâu ngày, kém phẩm chất , máy móc thiết bịkhông dụng hạch toán vào chi phí kinh doanh, giảm vốn nhà nớc,hoặc báncho các công ty mua bán nợ, tài sản của doanh nghiệp đợc minh bạch, lànhmạnh hơn trớc Cổ phần đã góp phần thúc đẩy hình thành và mở rộng thị tr-ờng chứng khoán.Đến cuối tháng 8-2006 đã có 60 công ty cổ phần hìnhthành từ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc đợc niêm yết trên thị trờngchứng khoán với tổng số vốn hoá thị trờng bằng 7,8 % GDP

Sáu là, bộ máy quản lý của doanh nghiệp đợc cơ cấu lại và hoạt

độngvề cơ bản theo mô hình công ty cổ phần

Bộ máy quản lý của doanh nghiệp sau cổ phần hoá đóng vai trò quyết

định tới sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Mọi hoạt động củadoanh nghiệp nh giải quyết các vấn đề nhân sự, ra quyết định quản lý haykinh doanh, xây dựng chiến lợc, đầu t đều do bộ máy quản lý của doanhnghiệp thực hiện theo pháp luật và yêu cầu của thị trờng

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, các hoạt động quản lý doanhnghiệp cổ phần hoá đề đợc thực hiện bởi: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồngquản trị, Ban kiểm soát và bộ máy điều hành.Đại hội đồng cổ đông là cơquan quyết định cao nhất của công ty, bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm cácthành viên Hội đòng quản trị, các thành viên Ban Kiểm soát, quyết định cacvấn đề về cổ phần, lợi tức, vốn điều lệ, tổ chức lại hoặc giải thể công ty Ban Kiểm soát có chức năng kiểm soát các thành viên trong Hội đồng quảntrị và kiểm soát mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Bộmáy điều hành gồm Tổng gián đốc ( hoặc Giám đốc), các quản trị viên cấpdới đợc thiết kế gọn nhẹ sao cho đạt hiệu quả cao nhất Một thành viêntrong bộ máu điều hành có thể kiêm nhiệm các chức vụ khác nhau, Giám

đốc doanh nghiệp có thể là ngời trong công ty hoặc thuê ngoài để có thểchọn đợc ngời có đủ năng lực, đức,tài điều hành doanh nghiệp.Tất cả nhữngcông việc này nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh

Trang 15

doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hoá và cắt giả chi phí không cần thiết

Bảy là, cổ phần hoá và quản lý doanh nghiệp theo luật doanh nghiệpnăm 19999 đã góp phần rõ rệt vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp

Theo báo cáo các bộ, ngành và địa phơng về tình hình kinh doanhcủa số doanh nghiệp nhà nớc hoàn thành cổ phần hoá đã hoạt động sau mộtnăm trở lên cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá đã hoạt

động có hiệu quả rõ rệt theo tất cả các chỉ tiêu chủ yếu Vốn điều lệ bìnhquân tăng 44%, cố công ty tăng 30 lần, doanh thu tăng bình quân 23,6%trong đó 71,4% số doanh nghiệp có doanh thu tăng, năng suất lao động tăngbình quân 63,9%, lợi nhuận trớc thuế tăng 149,8%, lợi nhuân sau thuế tăng182,3%, trên 90% công ty cổ phần đều có lãi, mức nộp ngân sách tăng bìnhquân 26,53%,mặc dù các doanh nghiệp này đều hởng u đại về thuế thunhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất, tiền thu từ sử dụng vốn nhà nớc, thunhập bình quân /tháng của ngời lao động tăng 34,5%; số lao động khônggiảm mà tăng 6,6% do các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh ,tăngviệc làm, cỏ tức bình quân đạt 17,11% cao hơn nhiều so với lãi suất tiền gửingân hàng

Tám là, cỏ phần hoá đã tạo ra mô hình tổ chức công ty kinh doanhphù hhợp với xu thế kinh tế thị trờng mở cửa, hội nhập kih tế khu vực vàquốc tế Tổ chức quản lý kinh doanh theo các công ty cổ phần lá mô hìnhdoanh nghiệp phổ biến và là xu thế tất yếu của các nền kinh tế thị trờngpháttriển Mô hình doanh nghiệp này sẽ tạo ra điều kiện cho các doanh nghiệpnớc ta dễ dàng liên kết, hợp tác sản xuất, inh doanh với doanh nghiệp củacác nớc trong khu vực và thế giới, thuận lợi trong việc nghiên cứu, vận dụngcác phơng pháp kinh nghiệm tổ chức quản lý điều hành, hạch toán kinhdoanh theo mô hình công ty cổ phần của các nớc phát triển

1.3.3 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới

ở cỏc nước cú nền kinh tế phỏt triển (chủ yếu là cỏc nước Tõy Âu vàHoa Kỳ), cổ phần hoỏ được thực hiện từ lõu và trước tiờn dưới hỡnh thức cổphần hoỏ cỏc doanh nghiệp tư nhõn Cổ phần hoỏ cỏc DNNN được thực hiện

ở cỏc nước này tập trung vào những năm 60-70 của thế kỷ XX

Về thực chất, mục tiờu của cổ phần hoỏ khụng phải xoỏ bỏ nhữngchức năng đặc biệt mà khu vực kinh tế nhà nước mới đảm nhiệm được, mà

Trang 16

nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này Vì vậy khi tiến hành

cổ phần hoá các DNNN, hầu hết chính phủ các nước đều lựa chọn cácphương pháp tiến hành cổ phần hoá sao cho không làm suy yếu khu vựckinh tế nhà nước mà củng cố DNNN cho tương xứng với vị trí quan trọngcủa nó trong nền kinh tế, đặc biệt để nó thực hiện tốt chức năng là công cụquan trọng điều tiết kinh tế vĩ mô vì lợi ích kinh tế của toàn xã hội Chínhphủ các nước thường lựa chọn như sau:

* Về đối tượng và quy mô của cổ phần hoá các DNNN

Hầu hết các nước đều tiến hành cổ phần hoá các DNNN trong cáclĩnh vực không ảnh hưởng quyết định đến nền kinh tế Khu vực kinh tế nhànước vẫn giữ ảnh hưởng quyết định ở những ngành hạ tầng cơ sở như:năng lượng, giao thông vận tải, bưu điện, truyền hình, viễn thông, cácngành có hàm lượng vốn và khoa học công nghệ cao như hàng không, điện

tử Với các đối tượng trên, quy mô của cổ phần hoá các DNNN ở các nước

có nền kinh tế phát triển không mở rộng như các nước đang phát triển, đặcbiệt ở các nước theo xu hướng Xã hội chủ nghĩa như nước Nga, các nướcĐông Âu,…

Tuy nhiên xét trên phạm vi rộng, đến năm 1980 toàn thế giới đã có6.800 DNNN được tư nhân hoá và cổ phần hoá Giai đoạn từ 1984-1991 cókhoảng 250 tỷ USD tài sản của nhà nước được đem bán Đầu những năm

1990, quy mô của tư nhân hoá và cổ phần hoá được mở rộng Đến năm

1995, đã có hơn 100.000 DNNN được tư nhân hoá và cổ phần hoá; hơn 80nước cam kết thực hiện các chương trình tư nhân hoá và cổ phần hoá Cổphần hoá đã chuyển từ một công cụ của chính sách thành một chính sách ởhầu hết tất cả các nưóc, nhất là các nước có nền kinh tế phát triển

Trên thực tế sau khi cổ phần hoá các DNNN, khu vực kinh tế nhànước của các nước này có sự thu hẹp theo các chỉ số việc làm, tỷ trọng tưbản cố định trong tổng tư bản cố định của quốc gia và thu nhập quốc dâncủa các DNNN trong tổng thu nhập quốc dân

Trang 17

Theo số liệu điều tra đưa ra tại Đại hội lần thứ 2 của CEEP họp tạiPháp tháng 10 năm 1990, trong các DNNN có 100% vốn và DNNN có vốnhỗn hợp nhà nước - tư nhân của các nước EC có 7.370.000 người làm việc,chiếm gần 10,6% số việc làm trong các ngành kinh tế, không kể nôngnghiệp Tỷ trọng đầu tư tư bản cố định của các doanh nghiệp này trongtổng đầu tư tư bản cố định là 17,3%, tỷ trọng thu nhập quốc dân của khuvực kinh tế nhà nước là 12%, tính trung bình trong khối EC Đại lượng sốhọc trung bình của 3 đại lượng này là 13,3% (theo tính toán của CEEP về

sự đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân) năm

1990, ở những năm 1982, 1985 là 16,6% và 15,3%

Như vậy, cổ phần hoá có làm giảm bớt tiềm lực kinh tế của khu vựckinh tế nhà nước, nhưng với mức độ nhỏ Hơn nữa, do nhà nước vẫn nắmgiữ các hoạt động kinh tế ở những lĩnh vực then chốt nên vai trò của kinh tếnhà nước không vì thế bị suy giảm Sự chuyển giao kinh tế ở những DNNNkhông quan trọng cho các thành phần kinh tế khác đã làm giảm nhẹ gánhnặng của nhà nước đối với những DNNN này Nhờ đó, nhà nước có điềukiện tập trung đầu tư và kiểm soát những doanh nghiệp còn lại, tạo nhữngđiều kiện cho các doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả hơn

* Về hình thức cổ phần hoá: Quá trình cổ phần hoá các DNNN ở

các nước kinh tế phát triển được thực hiện chủ yếu dưới hình thức mua bán

cổ phiếu của các công ty quốc doanh hay các DNNN qua các sở giao dịchchứng khoán như: bán đấu giá có giới hạn gồm mua, hoặc bán trực tiếp chonhững người mua được lựa chọn một phần hay toàn bộ cổ phần doanhnghiệp Việc bán đấu giá trực tiếp thường được áp dụng với các doanhnghiệp vừa và nhỏ trong các lĩnh vực dịch vụ công cộng và thương mại.Đối với các công ty lớn, phổ biến là cổ phần hoá thông qua bán cổ phiếucủa công ty trên thị trường chứng khoán

Có sự can thiệp của chính phủ vào mức độ cổ phần hoá các DNNN.Mức độ cổ phần hoá ở từng công ty tuỳ thuộc vào ý đồ của chính phủ muốn

Trang 18

duy trì ảnh hưởng đến mức độ nào trong việc kiểm soát các hoạt động củaDNNN sau cổ phần hoá Ví dụ: ở Pháp, Chính phủ đã bán cổ phiếu khốngchế 11% trong số cổ phiếu tham dự 66% của công ty “BLE-Aquitaine”.Công ty cổ phần INI của Tây ban Nha đã được phép bán 38% trong số 94%

cổ phần của mình trong công ty “Gasi Electrisidad”, do đó đã giảm phầnvốn của nhà nước xuống còn 56% Công ty cổ phần của Italia đã bán 26%

cổ phiếu khống chế của nhà nước trong hãng hàng không “AI Italia” chocác nhà đầu tư tư nhân Các hãng hàng không của Anh “British - Ariline”,của Bỉ “Sabena”, của Hà Lan “KLM” đã bán 37,5% tổng số cổ phần cho tưnhân

* Về tác động của cổ phần hoá các DNNN: Quá trình cổ phần hoá

đã mang lại hàng loạt những kết quả về kinh tế, xã hội Đó là:

+ Hàng loạt các công ty cổ phần hỗn hợp nhà nước - tư nhân đượchình thành, trong đó có một số lĩnh vực nhà nước vẫn giữ cổ phần khốngchế còn lại nhà nước chỉ giữ mức độ có thể kiểm soát hiệu quả hoạt độngcủa chúng Như vậy sau cổ phần hoá, nhà nước có những vai trò khác nhauđối với từng công ty cổ phần tuỳ thuộc vào mức độ cổ phần hoá Nhìnchung, nhà nước vẫn nắm vai trò kiểm soát hoạt động của các công ty cổphần Vì vậy, tiềm lực kinh tế của nhà nước không bị suy giảm nhiều, chứcnăng quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước vẫn được giữ vững

+ Nhờ cổ phần hoá chính phủ không bị thâm hụt ngân sách do khôngphải chi các khoản hỗ trợ cho các DNNN hoạt động mà còn có khoản thunhập nhờ việc bán cổ phiếu Chính phủ sử dụng các khoản thu nhập đó vàoviệc xây dựng các cơ sở hạ tầng, mua cổ phần của các công ty làm ăn có lãitrên thị trường chứng khoán nhằm có thêm khoản thu nhập bổ sung Từ đó

có thể thâm nhập và mở rộng quyền chi phối của mình trong các lĩnh vựccần kiểm soát để chống độc quyền Việc sử dụng nguồn vốn có được do cổphần hoá không chỉ mang lại lợi ích xã hội mà còn làm tăng thêm vai trò vàhiệu lực quản lý của chính phủ đối với nền kinh tế của các nước này

Trang 19

+ Đối với các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá: Việc chuyểnDNNN thành các công ty cổ phần đã hình thành dạng công ty cổ phần hỗnhợp nhà nước tư nhân với các phương thức hoạt động kinh doanh mới,trước hết là kinh doanh vốn Từ chỗ nguồn vốn của doanh nghiệp là củanhà nước đã chuyển qua sở hữu của các ngân hàng tư nhân, các nhà đầu tư

tư nhân mua cổ phiếu, các cơ quan như quỹ hưu trí, các công ty bảohiểm… thông qua hoạt động mua bán ở sở giao dịch chứng khoán Điềunày một mặt làm cho nhà nước giảm bớt gánh nặng tài trợ của ngân sách

mà vẫn duy trì khả năng kiểm soát chúng, mặt khác quan trọng hơn là đặtcác doanh nghiệp trong các quan hệ điều tiết của kinh tế thị trường mộtcách đầy đủ Chúng có đầy đủ các điều kiện để cạnh tranh một cách bìnhđẳng với các khu vực kinh tế khác để kinh doanh, để xác lập vị trí trongviệc đáp ứng nhu cầu xã hội với chất lượng cao, giá cả thấp theo đúng thựcchất của nó chứ không phải do vị trí độc quyền mà nhà nước ban cho

* Kinh nghiệm của Trung Quốc:

Trong quá trình chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh

tế thị trường Trung Quốc là một trong các nước sớm nhận thấy những hạnchế của các DNNN như: Hiệu quả kinh tế thấp hơn các loại hình kinh tếkhác, nhiều doanh nghiệp ở tình trạng thua lỗ và tình trạng này có xuhướng ngày càng tăng; tình trạng thất thoát tài sản nhà nước ngày càng tăng

và trở nên nghiêm trọng; máy móc thiết bị nói riêng, trình độ công nghệ nóichung của các DNNN rất thấp, lạc hậu rất nhiều so với các nước kinh tếphát triển; các DNNN ngoài chức năng kinh tế còn phải đảm nhiệm nhiềuchức năng xã hội Hệ thống các DNNN quá lớn với khoảng 348.000 doanhnghiệp nhà nước Tình trạng trên dẫn đến gánh nặng nợ nần của các DNNNngày càng lớn ngân sách nhà nước phải chịu, trong khi đó nguồn ngân sáchnhà nước có hạn và cần chi dùng cho nhiều mục tiêu phát triển kinh tế xãhội khác Trung Quốc cũng sớm nhận thấy con đường thoát khỏi khó khăn

Trang 20

do các DNNN mang lại là mở cửa nền kinh tế, đổi mới hệ thống DNNN,chuyển một số DNNN thành các công ty cổ phần qua tiến hành cổ phần hoácác DNNN Việc tiến hành cổ phần hoá các DNNN ở Trung Quốc đượctiến hành khá khoa học Bởi vì, nó được thực hiện theo một lộ trình tuânthủ các vấn đề mang tính lý thuyết và phù hợp với điều kiện cụ thể củatừng ngành, lĩnh vực Việc triển khai cũng được tiến hành thí điểm trênphạm vi hẹp sau đó rút kinh nghiệm để các đơn vị ở các cấp, các ngànhnghiên cứu học tập Cuối cùng, cổ phần hoá các DNNN mới được triểnkhai trên phạm vị rộng Điều đặc biệt của Trung Quốc so với các nước khitiến hành cổ phần hoá các DNNN là vai trò của nhà nước trong xây dựng

kế hoạch, lộ trình và sử dụng các biện pháp mạnh của quản lý hành chínhnên kết quả của cổ phần hoá các DNNN đạt được rất cao Cụ thể:

+ Trong những năm 1991-1995 đã có tới 13.500 doanh nghiệp đã cổphần hoá xong Việc cổ phần hoá xong một khối lượng lớn các DNNN đãtạo cho chính phủ có nguồn thu ngân sách khá lớn Chỉ tính 700 doanhnghiệp bán cổ phiếu trên thị trường đã thu được 500 tỷ nhân dân tệ, bằng7,3% GDP của Trung Quốc năm 1996 Với 97 công ty bán cổ phiếu loại B

ra thị trường trong nước và 38 công ty bán cổ phiếu ra thị trường quốc tế đãthu được 13 tỷ USD Nhà nước đã sử dụng nguồn vốn quan trọng này vàocác dự án cải tạo và đầu tư vào các công trình trọng điểm của nền kinh tếđất nước Gánh nặng đối với các DNNN sau khi cổ phần hoá đã được loại

bỏ Tạo thêm được 10.000 việc làm mới trên thị trường chứng khoán, 31triệu người đã mua cổ phiếu - một lượng tiền lớn trong dân cư đã được thuhút vào các hoạt động kinh doanh của các DNNN khi cổ phần hoá [ 48,tr.57]

+ Cổ phần hoá đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệpchuyển đổi quản lý, chuyển đổi hướng sản xuất kinh doanh nâng cao hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp Sở hữu nhà nước đã chuyển sang các hìnhthức sở hữu khác, những lý do để nhà nước can thiếp trực tiếp vào quá trình

Trang 21

kinh doanh của doanh nghiệp không còn Công ty cổ phần (sản phẩm của

cổ phần hoá các DNNN) có điều kiện phát huy vai trò tự chủ, tự chịu tráchnhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh, những yêu cầu tối cần thiết củadoanh nghiệp khi chuyển sang nền kinh tế thị trường

+ Sau cổ phần hoá, các doanh nghiệp đã có điều kiện để tổ chức lại

bộ máy quản lý theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, năng động Chỉ riêng Tậpđoàn ô tô số 1 sau cổ phần hoá năm 1996, đến nay đã giảm được 12.000người, 200 đơn vị trong cơ cấu tổ chức [48,tr.48]

+ Theo cơ chế hoạt động của các công ty cổ phần, các DNNN sau cổphần hoá không chỉ tuân thủ pháp luật kinh doanh và các chính sách củachính phủ mà còn chịu sự giám sát chặt chẽ của các cổ đông (những người

bỏ tiền mua cổ phiếu, góp vốn cho doanh nghiệp hoạt động) mà đại diện làHội đồng quản trị Sức ép đó buộc doanh nghiệp phải có những đổi mớitrong quản lý và hoạt động kinh doanh Phải trực tiếp tìm hiểu thị trường,chấp nhận và chủ động trong cạnh tranh, tự tìm cách tồn tại và phát triểnkhi không còn sự nâng đỡ của nhà nước, khi được quyền chủ động Doanhnghiệp đã năng động hơn, thận trọng hơn khi đưa ra những quyết định vềkinh doanh

+ Từ những đổi mới trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệpsau cổ phần hoá đã mạnh lên Cổ phần hoá đã tạo ra những điều kiện đểTrung Quốc thực hiện chiến lược xây dựng các tập đoàn kinh tế lớn, có khảnăng canh tranh mạnh với các tập đoàn kinh tế của nước ngoài

+ Hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá đã nângcao vị thế của nhà nước khi nắm cổ phần chi phối trong doanh nghiệp Vaitrò “chủ đạo” của kinh tế nhà nước từng bước được phát huy

Tuy nhiên để khống chế được các cổ phiếu trong các công ty cổphần, nhà nước phải có cơ chế kiểm tra, kiểm soát thích hợp…Muốn làmđược điều đó, đòi hỏi nhà nước phải có những chính sách hợp lý, năng lựcquản lý của nhà nước phải nâng nên

Trang 22

1.2 Sù cÇn thiÕt n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh cña doanh nghiÖp sau cæ phÇn ho¸

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của các Công ty cổphần sau cổ phần hoá DNNN diễn ra theo chiều hướng tiêu cực và đang đặt

ra những vấn đề cần giải quyết sau:

- Thứ nhất, sự biến động về sở hữu vốn theo những xu hướng khác

nhau, đã và đang đặt ra những vấn đề cần giải quyết khác nhau Việc Nhànước nắm quyền chi phối vốn của DNNN sau cổ phần hoá đối với một sốdoanh nghiệp là cần thiết

Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp nhà nước nắm quyền chi phối quálớn Đối với doanh nghiệp nhà nước thực sự cần thiết nắm quyền chi phốinếu không có cơ chế phối hợp giữa nhà nước với doanh nghiệp sự chuyểnbiến trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không nhiều do sựníu kéo của cơ chế quản lý của các DNNN còn hiện hữu nhiều trong cácdoanh nghiệp loại này, đặc biệt của đội ngũ đại diện cho Nhà nước tạidoanh nghiệp Thực trạng này dẫn đến hiện tượng mô hình doanh nghiệpthì mới , nhưng bộ máy tổ chức và cơ chế hoạt động vẫn không có sự thayđổi cơ bản

Đối với xu hướng thâu tóm cổ phiếu theo hướng tư nhân hoá doanhnghiệp: đây là xu hướng tất yếu sẽ xảy ra, nếu nhà nước không có biệnpháp can thiệp Trên một khía cạnh nào đó, xu hướng này cũng có những

ưu điểm của nó, vì nó tạo cho những người quản lý, những người có đầu óckinh doanh có thực quyền để điều hành doanh nghiệp Tuy nhiên xét trênkhía cạnh tiêu cực, việc thâu tóm cổ phiếu (nhất là trong điều kiện cổ phiếuđược đánh giá với giá trị thấp - thường ở các doanh nghiệp thực hiện cổphần giai đoạn trước) sẽ đẩy người lao động ở các DNNN sau cổ phần hoáđến chỗ bị thua thiệt và biến họ trở thành người làm thuê

- Thứ hai, những vấn đề tài chính của các doanh nghiệp sau cổ phần

hoá vẫn chưa được giải quyết triệt để, nhất là vấn đề công nợ, vấn đề bàn

Trang 23

giao tài sản Đây là trở ngại cho hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phầnhoá Vấn đề này đã được Bộ Giao thông vận tải chú trọng giải quyết Tuynhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại ở các DNNN đã cổ phần hoá và tiếp tụcphát sinh ở các DNNN sẽ cổ phần hoá.

- Thứ ba, trên thực tế cơ chế chính sách đã xoá đi những cách biệt

giữa DNNN với doanh nghiệp ngoài Nhà nước đối với việc vay vốn Tuynhiên, trên thực tế vẫn còn khó khăn nhất định đối với các Công ty cổ trongviệc vay vốn

- Thứ tư, hoạt động quản trị kinh doanh của doanh nghiệp đã có

những biến động tích cực Tuy nhiên, sự chi phối của cơ quan chủ quản đốivới doanh nghiệp còn khá nặng nề Đặc biệt là nhµ níc vẫn chi phối việc bốtrí cán bộ khi cổ phần hoá, sau cổ phần hoá vẫn chi phối mức lương, hệ sốlương của người trực tiếp là đại diện vốn sở hữu của Nhà nước Nói cáchkhác, trong quản lý chưa có sự đổi mới triệt để của Công ty cổ phần - DNNNsau cổ phần hoá như những công ty cổ phần được thành lập mới của các cơquan quản lý vĩ mô

- Thứ năm, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp tuy có những

chuyển biến theo hướng tích cực Nhưng, nhìn chung sự chuyển biến chưathật mạnh mẽ như mong muốn, như ưu việt của hình thức doanh nghiệp màcác DNNN của ngành chuyển đổi sang Hiện tại, sức cạnh tranh của cácCông ty cổ phần - DNNN sau cổ phần hoá chưa thật cao, hiệu quả kinhdoanh của Công ty tuy có tăng, nhưng mức tăng thấp

- Thứ sáu, những vẫn đề xã hội trong các Công ty cổ phần sau cổ

phần hoá DNNN vẫn tiếp tục phát sinh phức tạp các tổ chức chính trị trongdoanh nghiệp chưa phát huy sức mạnh trong hoạt động

Đánh giá chung, bên cạnh những biến động tích cực của các DNNNngành GTVT sau cổ phần hoá, đã xuất hiện 2 xu hướng có tính trái ngượcnhau trong các DNNN của ngành sau cổ phần hoá là: Tình trạng một sốdoanh nghiệp có xu hướng tư nhân hoá và một bộ phận khác lại ở trong

Trang 24

tình trạng “bình mới, rượu cũ” sự chuyển biến không nhiều Cả 2 xu hướngnày đều cần có những biện pháp can thiệp kịp thời.

1.3 Nh÷ng néi dung nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh cña doanh nghiÖp sau cæ phÇn ho¸

Muốn đạt hiệu quả kinh doanh, DN không những chỉ có những biệnpháp sử dụng nguồn lực bên trong hiệu quả mà còn phải thường xuyênphân tích sự biến động của môi trường kinh doanh của DN, qua đó pháthiện và tìm kiếm các cơ hội trong kinh doanh của mình Có thể đề xuất một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN trong nền kinh tếthị trường là:

Một là, nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn trong DN Việc

đảm bảo đầy đủ, kịp thời và sử dụng có hiệu quả vốn sẽ là nhân tố quantrọng tác động đến hiệu quả kinh doanh của DN Vì vậy, DN cần phải có kếhoạch sử dụng hiệu quả và phải có những biện pháp phòng chống nhữngrủi ro; phải xác định cơ cấu vốn hợp lý, chặt chẽ thích ứng với quy mô DN,tránh không lạm dụng vốn vay quá mức, đặc biệt là vốn ngắn hạn…

Hai là, nâng cao hiệu quả tæ chøc bộ máy quản lý DN Xây dựng tốt

mối quan hệ giữa người quản lý và người lao động, luôn tôn trọng vàkhuyến khích tính tự chủ sáng tạo của lực lượng lao động tạo ra sức mạnhtổng hợp phát huy hiệu quả của các yếu tố sản xuất, đặc biệt là yếu tố conngười Cần tăng cường chuyên môn hoá, kết hợp đa dạng hoá cùng vớinhững phương án quy mô hợp lý cho phép khai thác tối đa lợi thế quy môgiảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Việc tổ chức,phối hợp với các hoạt động kinh tế thông qua các hình thức tổ chức liêndoanh, liên kết nhằm phát huy sức mạnh chung, tăng khả năng cạnh tranh

và tiêu thụ trên thị trường là một trong các biện pháp tăng hiệu quả kinhdoanh

Trang 25

Ba là, quan tõm tới việc xõy dựng và phỏt triển đội ngũ lao động của

DN Hiệu quả của mỗi quốc gia, ngành và DN phụ thuộc lớn vào trỡnh độvăn hoỏ, chuyờn mụn, tay nghề, kỹ năng, năng lực của đội ngũ lao động.Muốn vậy phải thường xuyờn tạo điều kiện cho người lao động nõng caotrỡnh độ, kớch thớch tinh thần sỏng tạo và tớnh tớch cực trong cụng việc bằngcỏc hỡnh thức khuyến khớch vật chất và tinh thần

Bốn là, vận dụng khoa học kỹ thuật cụng nghệ tiờn tiến vận dụng

vào sản xuất, kinh doanh Cỏc DN để khẳng định vị trớ trờn thương trường,

để đạt hiệu quả kinh doanh, để giảm thiểu chi phớ, sản lượng cao đồng thời

để thị trường chấp nhận sản phẩm, đũi hỏi sản phẩm phải đạt được cỏc tiờuchuẩn, đạt chất lượng sản phẩm Muốn vậy, cần tiếp cận với khoa học kỹthuật cụng nghệ tiờn tiến vận dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh,phải khụng ngừng cải tiến, đầu tư cụng nghệ để giỳp DN hoạt động hiệuquả hơn

Năm là, chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp phải đợc xây dựng

vững chắc, dựa vào tình hình thực tế của doanh nghiệp cũng nh dựa vào sựcạnh tranh của thị trờng, đa ra nhng bớc đi đúng đắn trong kinh doanh cũngnhìn trớc đợc những khó khăn để có biện pháp xử lý và hạn chế rủi ro tronghoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Chơng 2 Thực trạng hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp nhà nớc sau cổ phần hoá ở nớc ta

2.1 Chủ trơng cổ phần hoá DNNN của Đảng và nhà nớc

Sau Đại hội Đảng lần thức VI, nhận thức về con đờng đi lên chủnghĩa xã hội và đờng lối đổi mới kinh tế ở Việt Nam ngày càng đợc làm rõ.Hội nghị Trung ơng khoá VI đa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hànghoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội Đại hội

Đảng lần thứ VII đã khái quát về phơng hớng phát triển trênlĩnh vực kinh té

là “ Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chếthị trờng, đi dôi với tăng cờng vai trò quản lý của Nhà nớc theo định hớng

Trang 26

xã hội chủ nghĩa”,” phát triển nền kinh té nhiều thành phần, vận hànhtheo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủnghĩa ”Đó chính là một số nhận thức mới về cơ chế quản lý kinh tế ở nớcta

Thứ nhất, sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội Sảnxuất hàng hoá là một nhân tố khách quan, cần thiết của việc xây dựng vàphát triển đất nớc theo con đờng xã hội chủ nghĩa và cần thiết cả khi chủnghĩa xã hội đã đợc xây dựng

Thứ hai, trong nền kinh té hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta, thị ờng là một thể thống nhất với nhiều lực lợng than gia, trong đó kinh tế Nhànớc giữ vai trò chủ đạo Thị trờng trong nớc gắn liến với thị trờng thé giới

tr-Thứ ba, trong nền kinh tế thị trờng ở nớc ta, thị trờng vừa lá căn cứ,vừa là đối tợng của kế hoạch kế hoạch chủ yéu mang tính định hớng và

đặc biệt quan trong trên bình diện vĩ mô Thị trờng có vai trò trực tiếp, hớngdẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phơng án tổ chức sảnxuất kinh doanh

Thứ t, vận dụng cơ chế thị trờng đòi hỏi phảo nâng cao năng lực quản

lý vĩ mô của nhà nớc, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vịsản xuất kinh doanh, nhằm phát huy tác động tích cực to lớn đi đôi với ngănngừa hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trờng Nhà nớcquản

lý thị trờng bằng pháp luật, kế hoạch, cơ chế , chính sách, các công cụ đònbẩy kinh tế và bằng các nguồn lực kinh tế Nhà nớc

Nh vậy, nhận thực về chủ nghĩa xã hội, về con đờng đi lên chủ nghĩaxã hội ở nớc ra theo tinh thần đổi mới đã đợc xác lập và từng bớc đợc bổsung, hoàn thiện dần qua các kì Đại hội Đảng

Cổ phần hoá đợc coi là một trong những giải pháp quan trọng nhằm

đổi mới hoạt đọng của các doanh nghiệp nhà nớc trong công nghiệp kể từkhi có chỉ thị 202/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tích Hội đồng Bộ trởng về thí

điểm cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nớc, đến tháng 4 năm 1999 đã

có 160 doanh nghiệp nhà nớc đợc cỏ phần hoá , trong đó có 5 doanh nghiệp

đợc chuyển thành công ty cổ phần trong giai đoạn thí điểm ( 1992-1995),

25 doanh nghiệp trong giai đoạn mở rộng tháng 5 năm 1996 đến tháng 5năm 1998 theo nghị dịnh 28/CP và 130 doanh nghiệp trong giai đoạn thựchiện nghị định 44/C của Chính phủ từ ngày 29 tháng 6 năm 1998 đếnnay

Đặc biệt, chỉ trong 3 tháng đầu năm 1999, đã có tới 40 doanh nghiệpnhà nớc cổ phần hoá Trong tổng số doanh nghiệp nhà nớc đợc cổ phần hoá

Trang 27

nêu trên, các doanh nghiệp nhà nớc do tỉnh, thành phố quản lý chiếm tới74,4% , chỉ có 9,4% các doanh nghiệp nhà nớc thuộc bộ và 16,3% doanhnghiệp nhà nớc thuộc các tổng công ty Các doanh nghiệp công nghiệpchiếm 44% tổng số doanhnghiệp nhà nớc đợc cổ phần hoá Các doanhnghiệp còn lại thuộc các lĩnh vực giao thông vận tải, thơng mại, dịch vụ vànông nghiệp,

Mục tiêu của cổ phần hoá trong giai đoạn hiện nay là huy động vốncủa các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào phát triển kinh tế và tạothêm động lực làm việc cho ngời lao động để nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa các doanh nghiệp này

sau khi cổ phần hoá, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đềutăng lên Các doanh nghiệp va thu hút thêm nhiều lao đọng, vừa tăng thêmthu nhập cho họ và vừa tăng các khoản nộp ngân sách

Nhìn chung, doanh nghiệp nhà nớc có nhiều tác dụng quan trọng vềkinh tế và xã hội:

- Doanh nghiệp nhà nớc góp phần thúc đẩy trang bị kĩthuật đổi mới công nghệ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đào tạo

đội ngũ cán bộ kĩ thuật , quản lý kinh tế xã hội, công nhân kĩ thuật,hình thành nhiều ngành nghề sản xuất và dịch vụ

- Doanh nghiệp nhà nớc đóng góp vào tăng trởng kinh tế

và tăng kim ngạch xuất nhậpkhẩu, giảm dần nhập siêu

2.2 Kết quả thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc

Biến động về sở hữu trong quỏ trỡnh cổ phần hoỏ là quỏ trỡnh chuyểnhoỏ từ sở hữu của Nhà nước sang sở hữu của cỏc tổ chức và cỏ nhõn mua

cổ phiếu của cỏc doanh nghiệp thụng qua việc bỏn cổ phần của doanhnghiệp Mức độ của sự chuyển biến này một mặt phụ thuộc vào mức ấnđịnh tỷ lệ cổ phần Nhà nước cần nắm giữ (thụng qua cỏc phương ỏn cổphần hoỏ); mặt khỏc phụ thuộc vào mức hấp dẫn của DNNN tham gia cổphần hoỏ Mức hấp dẫn này chủ yếu phụ thuộc vào trạng thỏi kinh doanhcủa DNNN trước khi cổ phần hoỏ, nhưng cũng phụ thuộc vào mức độ đỏnhgiỏ giỏ trị của doanh nghiệp Đỏnh giỏ thấp sẽ cú sự hấp dẫn cao và ngượclại

Vấn đề sở hữu theo đặc trưng của cổ phần hoỏ (tiờu chớ quan trọng

Trang 28

phân biệt với tư nhân hoá các DNNN) đã được chú ý trong quá trình cổphần hoá Tỷ lệ này có tăng lên vào những năm 2003, 2004, 2005 Điềunày một mặt phản ánh tính chất mở trong cổ phần hoá các DNNN củangành; mặt khác sẽ tạo những điều kiện cho sự chuyển biến mạnh hơntrong các hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần sau này Bởi vì, phầnvốn sở hữu Nhà nước và phần vốn của cổ đông là thành viên của DNNN lànhững người gắn với cơ chế hoạt động cũ của doanh nghiệp, phần vốn củanhững người ngoài doanh nghiệp (nhất là những người có lượng vốn lớntham gia trực tiếp hoạt động quản lý của doanh nghiệp) sẽ tạo ra phongcách và nề nếp mới trong hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hoá.

Đi sâu vào xem xét sự biến động về sở hữu theo các năm và theo loạihình doanh nghiệp theo các lĩnh vực kinh doanh của ngành cho thấy:

+ Xét theo năm: Sở hữu vốn của nhà nước trong các doanh nghiệp

cổ phần hoá có xu hướng tăng lên Từ 1990 -1998, trong các doanhnghiệp cổ phần hoá tỷ lệ vốn nhà nước trong doanh nghiệp là 23%, củacán bộ trong doanh nghiệp là 42%, của người ngoài doanh nghiệp là 35%.Năm 1999 các tỷ lệ tương ứng là: 32%, 34% và 34% Đến năm 2000, các

tỷ lệ trên là 44%, 41%, 15% và năm 2001 là: 47%, 32%, 21%; năm 2002là: 42%,,43%, 15% Năm 2003 là 46,26%, 38,2%, 15,54% và năm 2004 là52,2%, 22,6%, 25,2% Nguyên nhân chủ yếu của sự biến động trên là sựtăng dần quy mô và vị trí của các DNNN cổ phần hoá qua các năm Vìvậy, Nhà nước đã nắm giữ vai trò chi phối đối với các DNNN cổ phần hoátrong cổ phần hoá trong các doanh nghiệp này ngày càng tăng

Trang 29

Biểu 1 Biến động sở hữu vốn của các DNNN

do tác động của quá trình cổ phần hoá

Chỉ tiêu

Vốn nhà nước khi cổ phần hoá (Tr.đ)

Vốn điều lệ của doanh nghiệp Tr.đ)

Trong đó tỷ lệ vốn:

Vốn nhà nước trong DN(%)

Vốn người LĐtrong DN(%)

Vốn cổ đông ngoài DN(%)

Đối với sở hữu vốn của các cổ đông ngoài doanh nghiệp: xu hướng

biến động theo chiều ngược lại Đối với các DNNN trong lĩnh vực xây

dựng các công trình giao thông và công nghiệp giao thông vận tải tương

ứng là 12% và 9%, trong khi đó sở hữu vốn của các cổ đông ngoài doanh

nghiệp trong các DNNN trong lĩnh vực vận tải, thương mại và dịch vụ giao

thông vận tải được cổ phần hoá tương ứng là 23%% và 36%

Sở hữu vốn của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp giữ ở

mức trung bình cho tất cả các lĩnh vực hoạt động của ngành, với các tỷ lệ

tương ứng theo các lĩnh vực là: 40%, 37%, 26% và 42%

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên do tính chất quan trọng và

Trang 30

quy mô của các doanh nghiệp xét theo từng lĩnh vực hoạt động Thực trạngtrên là do Nhà nước đã nhận thức được vấn đề này và những tỷ lệ phần vốnNhà nước nắm giữ là hoàn toàn do những quy định của Nhà nước trong cácphương án cổ phần hoá

Sau cổ phần hoá biến động về sở hữu của các Công ty cổ phần vẫndiễn ra Điều đó do sự huy động thêm vốn của Công ty thông qua phát hànhmới cổ phiếu Nhờ phát hành cổ phiếu mới, tổng vốn của Công ty cổ phần

sẽ tăng lên, mối tương quan giữa vốn của nhà nước và vốn của các cổ đôngkhác sẽ có sự thay đổi Đồng thời sự thay đổi về sở hữu còn có thể thay đổi

do chuyển nhượng cổ phiếu của các cổ đông Sự biến động về sở hữu củanhững DNNN sau cổ phần hoá về vấn đề sở hữu của ngành giao thông vậntải được biểu hiện trên những khía cạnh sau:

+ Những biến động tích cực:

Từ DNNN chuyển sang công ty cổ phần là sự thay đổi mọi mặt,trong đó có quyền sở hữu Đó là sự thay đổi hết sức căn bản Trước đây khicòn là DNNN, mọi hoạt động của doanh nghiệp phải tuân thủ Luật DNNN.Bản thân DNNN là một pháp nhân, nhưng không có quyền sở hữu đối vớitài sản, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều tuân thủ sự chỉ đạo của chủ sởhữu nhà nước, thông qua cơ quan chủ quản Khi chuyển thành công ty cổphần, bản thân công ty cổ phần là một pháp nhân đầy đủ nên có quyền sởhữu đối với tài sản, kể cả công ty cổ phần nhà nước nắm cổ phần chi phối(tất nhiên so với doanh nghiệp nhà nước không nắm cổ phần chi phối sẽ cónhững khác biệt hơn) Cơ quan lãnh đạo cao nhất của công ty cổ phần làĐại hội đồng cổ đông Đại hội đồng cổ đông gồm những người chủ sở hữucông ty, có quyền quyết định mọi hoạt động của công ty Công ty hoạt độngtheo Luật doanh nghiệp, Điều lệ công ty, trên công ty không có cơ quan nàochủ quản như DNNN Đây là sự chuyển biến chung của các DNNN sau khithực hiện cổ phần hoá và chuyển thành các công ty cổ phần Đó là sự chuyểnbiến mang tính tích cực, nhưng nó chỉ phát huy tác dụng nếu sự chuyển biến

Trang 31

này được thực hiện một cách đầy đủ.

Trên thực tế, các Công ty cổ phần (sản phẩm của quá trình cổ phầnhoá các DNNN) sự chuyển biến này chỉ mới phát huy ở mức độ nhất định.Nguyên nhân chủ yếu do tỷ lệ Nhà nước nắm giữ phần vốn sở hữu khá lớn.Trong khi đó cơ chế phối hợp giữa phần sở hữu Nhà nước và phần sở hữucủa các thành viên khác trong Công ty chưa được xác lập một cách hợp lý.Tình trạng trên biểu hiện ở những nội dung cụ thể trong quản trị kinhdoanh của Công ty cổ phần và sẽ được phân tích kỹ ở các nội dung sau

+ Những biến động có tính tiêu cực:

* Những phần tích về mặt lý luận đã chỉ ra một xu hướng có tính quyluật về những vấn đề sở hữu của doanh nghiệp sau cổ phần hoá Đó là quátrình chuyển sở hữu DNNN sau cổ phần hoá từ các cổ đông riêng lẻ vàomột số người với mục đích khống chế doanh nghiệp, từng bước chuyểncông ty cổ phần thành các doanh nghiệp tư nhân Những ưu việt của cổphần hoá bị triệt tiêu do xu hướng vận động này Tuy nhiên, đây là xuhướng khá phổ biến trên thực tế đối với các doanh nghiệp có tiềm năng tạolợi nhuận, vai trò chi phối của nhà nước bị hạn chế

Như vậy, vấn đề chuyển sở hữu của các cổ đông cho một số tưnhân là thực trạng đã diễn ra trong các DNNN đã cổ phần hoá Tuykhông có những số liệu cụ thể, vì phần lớn các hoạt động ngầm diễn ra,người ta chỉ có thể nắm được về định tính chứ chưa nắm được về địnhlượng, nhưng đây không phải là tình trạng hiếm mà là khá phổ biến ở cácdoanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có lợi thế trong kinh doanh Nguyênnhân không phải phát sinh sau khi cổ phần hoá mà hiện hữu ngay trongquá trình cổ phần hoá

* Phần vốn của doanh nghiệp sau cổ phần hoá tuy được xác định sauđịnh giá doanh nghiệp, nhưng vấn đề giải quyết liên quan đến sở hữu là rấtphức tạp Nhất là vấn đề xử lý các khoản nợ của doanh nghiệp (kể cả khoảndoanh nghiệp nợ các doanh nghiệp khác, nợ nhà nước và các đơn vị khác

Trang 32

nợ doanh nghiệp) Đây cũng là một trong những vấn đề của hậu cổ phầnhoá và được đánh giá là một trong 7 vấn đề vướng mắc, khó khăn củangành giao thông vận tải khi sắp xếp đổi mới DNNN Cụ thể:

Có những vướng mắc trong việc bàn giao tài sản, nhất là bất độngsản như nhà xưởng, văn phòng làm việc, vật kiến trúc Doanh nghiệp đã cổphần hoá đã đầu tư xây dựng cơ bản trên đất đi thuê của DNNN khác chưa

cổ phần hoá hoặc của các tổ chức khác Tình trạng trên diễn ra ở hầu hếtcác DNNN trong quá trình cổ phần hoá và giải quyết những hậu quả sau cổphần hoá

Có những khoản nợ của doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá, nhữngkhoản nợ này thuộc diện nợ khó đòi cần phải được xử lý Đặc biệt, hiệntượng doanh nghiệp có tài sản không cần dùng và tài sản cần thanh lý đãtrở nên phổ biến ở các doanh nghiệp cổ phần hoá nói chung, của ngànhgiao thông vận tải nói riêng Một tổng kết ở Thành phố Hồ Chí Minh chothấy: có tới 60% số doanh nghiệp cổ phần hoá có tài sản không cần dùng vàtài sản thanh lý Việc mua bán các tài sản thanh lý hay không cần dùng sau

cổ phần hoá diễn ra rất chậm và rất ít, chỉ có khoảng 4% giá trị thanh lýđược thực hiện Với những tài sản là vật tư tồn kho để càng lâu sẽ càng mấtphẩm chất, kể cả máy móc thiết bị mới nếu không bảo dưỡng trong thờigian ngắn cũng không đảm bảo chỉ tiêu kỹ thuật Vì vậy, tình trạng trên sẽcần phải được xử lý nhanh chóng và triệt để Nhất là, khi tiến hành cổ phầnhoá vấn đề công nợ, tài sản không dùng đến hoặc cần thanh lý phải được

xử lý dứt điểm tránh để tồn đọng ở giai đoạn hậu cổ phần hoá, gây tổn thấtcho nhà nước nhận thức được điều này

2.2.1 Tình hình về huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp sau cổ phần hoá

Vấn đề huy động vốn và sử dụng vốn của Công ty cổ phần, DNNNsau cổ phần hoá cũng theo xu hướng chung của các doanh nghiệp sau cổphần hoá và thể hiện theo 2 chiều hướng sau:

Trang 33

- Chiều hướng tích cực: Vốn của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá

đã được tăng lên trong chính quá trình cổ phần hoá nhờ bán cổ phiếu chocác cổ đông ở trong và ngoài doanh nghiệp Qua khảo sát 56 doanh nghiệp

đã cổ phần hoá của ngành giao thông vận tải cho đến trước năm 2003 chothấy:

+ Vốn điều lệ của các Công ty cổ phần - các DNNN sau cổ phần hoátăng lên khá nhiều so với vốn của các DNNN trước khi cổ phần hoá.Không những thế Nhà nước còn rút được phần vốn từ doanh nghiệp ra chocác hoạt động khác Cụ thể:

Các Công ty cổ phần - DNNN cổ phần hoá đến 2007 có vốn trướckhi cổ phần là 338.677 triệu đồng, sau khi cổ phần hoá vốn của doanhnghiệp đã tăng lên đến 459.725 triệu đồng, tăng 1,36 lần Số vốn nhà nướcrút ra là 146.936 triệu, bằng 43,39% tổng vốn của DNNN trước cổ phầnhoá

Như vậy, thực chất nhà nước và doanh nghiệp đã thu hút được267.984 triệu đồng, chiếm 79,13 tổng vốn của doanh nghiệp sau cổ phầnhoá Số vốn đó tương đương với số tiền người lao động trong doanhnghiệp và các cổ đông ngoài doanh nghiệp mua cổ phiếu Tất nhiên, mộtphần tiền bán cổ phiếu DNNN được chuyển vào ngân sách để sử dụng vàomột số mục đích như: đầu tư bổ sung vào các doanh nghiệp khác trongngành, hỗ trợ người lao động mua cổ phiếu và thực hiện các phúc lợi xãhội khác Dù sử dụng vào mục đích nào, lượng tiền thu hút do thực hiện

cổ phần hoá là kết quả của sự tác động tích cực đối với xã hội và vớichính các DNNN sau khi thực hiện cổ phần hoá chúng (biểu 2.5)

Trang 34

Biểu 2 Mức độ huy động vốn từ cổ phần hoá các DNNN

đến tháng 12 năm 2007

n v : T ngĐơn vị: Tỷ đồng ị: Tỷ đồng ỷ đồng đồng

-Nguồn: Tính toán dựa trên báo cáo tµi chÝnh cña DN cæ phÇn ho¸

+ Sau cổ phần hoá, một số doanh nghiệp đã cổ phần vẫn tiếp tụchuy động thêm được vốn, đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất kinh doanh.Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển Gemadept là DNNN được cổphần hoá và đi vào hoạt động tháng 7/1993, với giá trị vốn là 6.257,5 triệuđồng, trong đó vốn cố định là 13,8 triệu đồng (chưa tính khoản vốn vay),

Trang 35

quỹ phát triển sản xuất 554,8 triệu đồng, quỹ vay mua phương tiện4.340,9 triệu đồng, vốn vay của Công ty Gemartrans 1.148,2 triệu đồng,chi phí cổ phần hoá 149,8 triệu đồng Sau 9 năm chuyển thành Công ty cổphần, số vốn của Công ty đã lên đến 90.187 triệu đồng, gấp 14,41 lần(tương đương tốc độ tăng vốn là 1.441%) so với 1993, bình quân mỗi nămtăng 134,5% Đây là mức tăng trưởng rất cao về vốn của doanh nghiệp.Các công ty cổ phần như: Công ty cổ phần Dược và thiết bị y tế Giaothông vận tải (Traphaco), Công ty cổ phần xây lắp công trình (Tổng công

ty đường sông miền Nam)… là những doanh nghiệp sau cổ phần hoá có

số vốn huy động tăng rất nhiều lần so với thời điểm cổ phần hoá

Biểu 3 Đánh giá hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần Kim

Khảo sát tháng 2 năm 2007 cho thấy bức tranh khá sáng sủa về mức

độ huy động vốn tăng của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá Trong số 8doanh nghiệp khảo sát sâu có 7 doanh nghiệp có mức tăng trưởng về vốn,trong đó có doanh nghiệp có mức tăng hơn 6 lần (Công ty cổ phần cảngĐoạn Xá - Hải Phòng: vốn trước cổ phần hoá có 10,502 tỷ đồng, sau 2 nămđến năm 2007 đã tăng lên 62,336 tỷ đồng); chỉ có 1 doanh nghiệp là Công

ty cổ phần dịch vụ tổng hợp cảng Đà Nẵng có mức giảm về vốn đầu tư

Tuy sau cổ phần hoá, các DNNN đã trở thành các Công ty cổ phần

Trang 36

và không còn những ưu đãi (trong đó có ưu đãi về vay vốn) như DNNN,nhưng do sự năng động trong quản lý, do làm ăn có lãi nên sức hấp dẫntrong thu hút của các doanh nghiệp này khá cao Vì vậy, các doanh nghiệp

đã có cơ hội và khai thác các cơ hội đó để tăng thêm nguồn vốn cho cáchoạt động kinh doanh của mình Đó là những ưu việt của các Công ty cổphần - DNNN sau cổ phần hoá cần được phát huy và mở rộng ra toànngành

- Chiều hướng tiêu cực:

+ Một trong các yếu tố tâm lý của các DNNN trước khi thực hiện cổphần hoá là sau khi cổ phần hoá, những ưu đãi như DNNN không còn nữa,nhất là ưu đãi về vốn cũng đã nảy sinh đối với một số doanh

Mặc dù cơ chế và các chính sách đối với việc vay vốn ngày càng xoá

bỏ cách biệt về quy định vay vốn với các loại hình doanh nghiệp, nhưngtrên thực tế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn có những khó khănnhất định trong việc vay vốn, nhất là những doanh nghiệp làm ăn không cólãi

+ Điều đáng lưu tâm là tình trạng nợ đọng vốn của doanh nghiệp nhànước trước khi cổ phần hoá đã không được giải quyết dứt điểm trong quátrình cổ phần hoá, ảnh hưởng tiêu cực nhiều mặt đến các hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp sau cổ phần hoá

Kết quả khảo sát các DNNN khối sản xuất kinh doanh cho thấy: Tổng nguồn vốn của chủ sở hữu là Nhà nước là 8.519,8 tỷ đồng Phân theo lĩnh vực gồm: Khối vận tải có tổng vốn nhà nước sở hữulớn nhất, là 6.877,5 tỷ đồng, chiếm 80,72%; tiếp theo là khối xây dựng cơbản 947,7 tỷ đồng, chiếm 11,12%; khối cơ khí 400,2 tỷ đồng, chiếm4,69%; khối dịch vụ 294,4 tỷ đồng, chiếm 3,47%

Phân theo loại vốn gồm: Vốn cố định là 6.817,8 tỷ đồng, chiếm80,02%; vốn lưu động là 483,7 tỷ đồng, chiếm 5,67%; các quỹ và nguồnthu khác 646,8 tỷ đồng, chiếm 14,31% Trong khi đó, tổng số nợ phải thu

Trang 37

của các doanh nghiệp lên đến 5.720,1 tỷ đồng, bằng 67,1% nguồn vốn củachủ sở hữu Khối có tỷ lệ nợ cao nhất là khối các DNNN xây dựng cơ bảncủa ngành với 3.026,6 tỷ đồng, chiếm 52,91% tổng số nợ phải thu, bằng319,4% tổng số vốn của chủ sở hữu Với thực trạng nợ đọng trên, cácDNNN khối xây dựng cơ bản đang gặp phải rất nhiều khó khăn về vốn sau

KhốiDịch vụ

Khối

Cơ khí

Tổngcộng

1 Nguồn vốn chủ sở hữu 6.877,5 947,7 294,4 400,2 8.519,8

1.1 Vốn cố định 5.759,0 703,0 127,3 228,5 6.817,8

+ Vốn ngân sách 4.439,0 261,7 33,6 180,1 4.914,4 + Vốn tự có bổ sung 1.326,3 441,3 91,6 48,4 1.907,6

Nguồn: Báo cáo dư nợ của DNNN 12/2007.

+ Ngoài ra, một vấn đề đặt ra là: Sự chi phối của cơ quan chủ quản cũđối với DNNN đã cổ phần hoá sẽ như thế nào, khi mà cơ quan chủ quản cũvẫn tiếp tục chi phối doanh nghiệp như quyết định mức lương và hệ số lươngcủa người trực tiếp quản lý cho đaị diện vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.Đây cũng là những vấn đề liên quan đến bộ máy của doanh nghiệp sau cổphần hoá

2.2.2 Tình hình về hoạt động của bộ máy quản lý và lao động của doanh nghiệp sau cổ phần hoá

Những ưu, nhược điểm của cổ phần hoá các DNNN xét về mặt lý

Ngày đăng: 06/08/2013, 10:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. “Nghị định của chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần”, Nghị định chính phủ Số: 187/2004/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của chính phủ về việc chuyển công ty nhà nướcthành công ty cổ phần”
18. "Báo cáo kết quả và phương hướng nhiệm vụ, giải pháp cổ phần hoá DNNN 5 năm 2006- 2010", Báo cáo Chính phủ Số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả và phương hướng nhiệm vụ, giải pháp cổphần hoá DNNN 5 năm 2006- 2010
1. Công ty cổ phần quyền và nghĩa vụ của cổ đông Tác giả Lê Minh Toàn NXB chính trị quốc gia Khác
2. Chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam trực trạng và kinh nghiệmTác giả PGS,TS Phạm Thị Quý NXB chính trị quốc gia Khác
3. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nớc theo luật doanh ngiệp năm 2005 Khác
5. Thời báo kinh tế Việt Nam 6. Tạp chí kinh tế dự báo 7. Báo điện tử Việt Nam net 8. Báo thanh niên9. Báo Hà Nội mới Khác
16. Báo cáo tài chính của Cụng ty cổ phần Dịch vụ tổng hợp cảng Đà Nẵng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w