1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá

230 617 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận văn
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá từ lâu đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu. Cụ thể là trong các cuốn sách Khảo sát văn hoá truyền thống Đông Sơn do Trần Thị Liên - Phạm Văn Đấu biên soạn năm 1988; Địa chí Thanh Hoá, tập II- Văn hoá xã hội/ Nxb KHXH, năm 2004; Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá/ Nxb KHXH, 2006 đều có giới thiệu một vài văn bia tiêu biểu của huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Trong Tạp chí Hán Nôm, số 3 - 2000, Trần Thị Băng Thanh có bài Thanh Hoá vườn văn bia, ở đó tác giả giới thiệu khái quát sự phong phú đa dạng về số lượng và nội dung văn bia trong cả mảng khắc thơ đề vịnh và bi ký của tỉnh Thanh Hoá, trong đó bao gồm cả giới thiệu về một số văn bia huyện Đông Sơn. Năm 2000, trong Thông báo Hán Nôm học, Phạm Thị Hoa đã có bài viết Văn khắc Hán Nôm ở Đền thờ Nguyễn Nghi có giới thiệu tóm tắt về ngôi đền thờ Nguyễn Nghi cùng với ba tấm bia được đặt tại đền, thuộc xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Phần Phụ lục trong cuốn Văn khắc Hán Nôm do GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng chủ biên cũng có giới thiệu khoảng 20 văn bia của huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài

Việt Nam là một trong những nước nằm trong khu vực chịu ảnhhưởng của văn hoá Hán, và cũng là nước có những yếu tố đặc thù về thờitiết khí hậu, lại luôn xảy ra chiến tranh, nên người Việt đã dựng bia đá từhơn 1000 năm nay như là một phương thức hữu hiệu để lưu giữ các ghichép và truyền tải thông tin ở thời cổ và trung đại

Huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá là một trong những địa phươngcòn lưu giữ được bia đá tương đối dồi dào về số lượng, phong phú về nộidung và nghệ thuật Đến bất cứ thôn làng nào ở huyện Đông Sơn đều có thểbắt gặp những tấm bia đá được dựng ở đình, chùa, đền, miếu, từ đường, lăng

mộ, hoặc ngoài cánh đồng, trong hang động,… thậm chí bia đá còn có mặttrong các ngõ xóm, tư gia với kích thước và hình dáng khác nhau, tạo nên một

vẻ đẹp cổ kính cho cảnh quan và toát lên một màu sắc văn hoá khá độc đáocủa Việt Nam nói chung và huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá nói riêng

Văn bia huyện Đông Sơn có một lịch sử lâu dài vào loại nhất nước

Bia sớm nhất được đặt tại xã Đông Minh, huyện Đông Sơn là Đại Tuỳ Cửu

Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn 大 隨 九 真 郡 寶 安 道 場 之 隨 九 真 郡 寶 安 道 場 之 九 真 郡 寶 安 道 場 之 真 郡 寶 安 道 場 之 郡 寶 安 道 場 之 寶 安 道 場 之 安 道 場 之 道 場 之 場 之 之

碑 文 文, khắc năm Đại Nghiệp thứ 14 (618) nhà Tuỳ Nội dung bia ca tụng

giáo lý nhà Phật và ca ngợi đạo học cùng sự nghiệp của Viên thứ sử CửuChân họ Lê Bia đã bị mờ nhiều chữ, tác phẩm không còn nguyên vẹn,nhưng nó là văn bản văn bia cổ nhất còn lại ở Việt Nam Tấm bia tiêu biểu

có niên đại muộn nhất của đầu thế kỷ XX là bia Ngọc Tích bi ký.玉 積 碑 文

記, tạo năm Việt Nam dân quốc năm Bính Tuất thứ 2 (1946) thuộcxã ĐôngThanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá Với lịch sử trải dài trên 13 thế

kỷ tồn tại, văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã góp phần quantrọng trong việc tìm hiểu niên đại và nghiên cứu các vấn đề lịch sử, địa lý, tín

Trang 2

ngưỡng của Việt Nam nói chung và huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá nóiriêng.

Cùng với đó, văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá còn hàmchứa trong nó những giá trị về ngôn ngữ, là cứ liệu quan trọng góp phầnvào việc nghiên cứu chung về quá trình phát triển của tiếng Việt Đồngthời, qua văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, nhất là ở phương diệnvăn xuôi còn thể hiện một cách chính xác và rõ ràng về sự phát triển củatiếng Việt, văn phong tiếng Việt thông qua quá trình chuyển đạt ngôn ngữnói thành ngôn ngữ viết

Với khá nhiều bài thơ đề vịnh phong cảnh, văn bia huyện ĐôngSơn, tỉnh Thanh Hoá còn mang trong nó những giá trị văn học Đó lànhững bài thơ ngự đề của vua chúa Việt Nam, của các bậc danh nho khoabảng,… Từ những bài thơ vách đá này có thể giúp cảm nhận được phầnnào sự hưng suy của thế cuộc, sự cùng thông của vận nước, sự biến đổi củanhân tâm trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đồng thời cũng phần nàođóng góp cho việc tìm ra tác giả đích thực của một số bài thơ bị tồn nghi

Có thể nói, đây là những tài sản văn hóa rất quý giá đáng được trân trọng,giữ gìn

Văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá còn phán ánh sinh độngnhững sinh hoạt văn hoá, tình hình vận động và phát triển của làng xã, cũngnhư đời sống tôn giáo tín ngưỡng của người dân địa phương trải qua cácthời kỳ lịch sử Nội dung văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá chứađựng nhiều nét dân gian phán ánh sinh hoạt làng xã như tập tục bầu Hậu,lập Hậu; việc sửa đình, chùa, xây dựng đường xá, cầu cống; việc lập khoánước, tinh thần khuyến học; … Với nội dung hết sức phong phú đa dạng đó

là những tư liệu góp phần bổ sung những chi tiết mà chính sử không ghi,đồng thời giúp nghiên cứu khá hữu hiệu về phong tục tập quán cùng sự vậnđộng phát triển của địa phương nói riêng, của xã hội Việt Nam thời cổ vàtrung đại nói chung

Trang 3

Có thể nói, văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá là loại hìnhvăn bản mang đầy đủ những đặc trưng của văn bia Việt Nam nói chung.Hơn nữa, văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá tuy từ lâu đã đượcnhiều nhà nghiên cứu Hán học lưu tâm, dịch và công bố, song đến nay,chúng tôi vẫn chưa thấy có một công trình nghiên cứu nào mang tính chấtbao quát, tổng hợp Những công trình nghiên cứu trước đây, hoặc là chỉnghiên cứu, giới thiệu mang tính độc lập cho từng di tích lịch sử văn hoá;hoặc là chỉ hướng tới mục đích công bố một số văn bia tiêu biểu của huyệnĐông Sơn Vấn đề số lượng bia đá, số lượng thác bản văn bia hiện có vàđịa điểm đặt bia của huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá ngày nay vẫn cònchưa mang tính đích xác, văn bia còn bị xếp nhập nhằng giữa xã này với xãkhác, giữa huyện Đông Sơn với huyện khác Tình trạng này đã gây ít nhiềukhó khăn cho các nhà nghiên cứu khi muốn sử dụng, khai thác văn biahuyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá

Huyện Đông Sơn là địa phương chứa đựng nhiều bia cổ, nhiềuchủng loại, nhiều bài văn bia đạt đến trình độ nghệ thuật, là một kho tácphẩm quý của thể loại văn bia Việt Nam Ở đây, chúng ta có thể khai thácnhiều tư liệu quý về sử học, phong tục học, dân tộc học, văn học và nhiềuvấn đề kinh tế chính trị khác Vì vậy, việc nghiên cứu nghiên cứu văn biahuyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá là việc cần thiết và có ý nghĩa Trong đó,việc tập hợp đầy đủ, chính xác số lượng văn bia, đưa văn bia về đúng vị tríđươc đặt của nó, cũng như việc khảo cứu tổng quan để tìm hiểu đặc điểm,nội dung và giá trị văn bia, đồng thời tiến hành phiên âm, dịch nghĩa cácvăn bản văn bia tiêu biểu của huyện Đông Sơn để nghiên cứu và phục vụcho việc nghiên cứu là công việc thiết thực, nằm trong chuyên môn củangành Hán Nôm

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài : Nghiên cứu văn bia

huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn

-chuyên ngành Hán Nôm

Trang 4

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá từ lâu đã thu hút đượcnhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Cụ thể là trong các cuốn sách

Khảo sát văn hoá truyền thống Đông Sơn do Trần Thị Liên - Phạm Văn

Đấu biên soạn năm 1988; Địa chí Thanh Hoá, tập II- Văn hoá xã hội/ Nxb KHXH, năm 2004; Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá/ Nxb KHXH,

2006 đều có giới thiệu một vài văn bia tiêu biểu của huyện Đông Sơn, tỉnhThanh Hoá

Trong Tạp chí Hán Nôm, số 3 - 2000, Trần Thị Băng Thanh có bài

Thanh Hoá vườn văn bia, ở đó tác giả giới thiệu khái quát sự phong phú đa

dạng về số lượng và nội dung văn bia trong cả mảng khắc thơ đề vịnh và bi

ký của tỉnh Thanh Hoá, trong đó bao gồm cả giới thiệu về một số văn biahuyện Đông Sơn

Năm 2000, trong Thông báo Hán Nôm học, Phạm Thị Hoa đã có

bài viết Văn khắc Hán Nôm ở Đền thờ Nguyễn Nghi có giới thiệu tóm tắt

về ngôi đền thờ Nguyễn Nghi cùng với ba tấm bia được đặt tại đền, thuộc

xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá

Phần Phụ lục trong cuốn Văn khắc Hán Nôm do GS.TSKH Nguyễn

Quang Hồng chủ biên cũng có giới thiệu khoảng 20 văn bia của huyệnĐông Sơn, tỉnh Thanh Hoá

Có thể thấy, những bài viết nêu trên chỉ nghiên cứu, giới thiệumang tính độc lập cho từng di tích lịch sử văn hoá; hoặc là chỉ hướng tớimục đích công bố một số văn bia tiêu biểu của huyện Đông Sơn, tỉnhThanh Hoá Hoàn toàn chưa có một công trình nào trình bày về văn biahuyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá một cách hệ thống

3 Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi tư liệu - Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu hệ thống các bài văn bia của huyện Đông Sơnhiện sưu tầm được Do điều kiện khuôn khổ luận văn, chúng tôi không đi

Trang 5

sâu nghiên cứu về mặt văn tự trên bia đá, vì đó là một đối tượng nghiên cứu

ở phạm vi rộng Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là các bài vănbia của huyện Đông Sơn tính theo địa lý hành chính hiện nay, cụ thể là tất

cả những đoạn văn, bài thơ được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm chuyển tảiđầy đủ một nội dung hoàn chỉnh được khắc trên bia đá

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi tập trung tiến hành khảosát hơn 160 thác bản văn bia huyện Đông Sơn có khắc chọn bài thơ, bàivăn, đoạn văn được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm do người bản huyện sángtác Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thông qua các văn bia hiện vật được thựchiện trong quá trìn đi điễn dã để tham chiếu và khảo chứng

Để hoàn thành Luận văn, chúng tôi có sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu cơ bản sau:

3.3.1. Phương pháp văn bản học.

Thông qua mô tả văn bản về các mặt như kích cỡ bia, độ dài bàivăn bia, đặc điểm trang trí trên bia, đặc điểm viết chữ,… chúng tôi đưa ramột số nhận định về đặc điểm của văn bia huyện Đông Sơn, về vấn đề niênđại, về thời đại và tác giả Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng phương phápđối chiếu văn bản giữa văn bản được khắc trên bia đá và văn bản được chéptrong thư tịch cổ để đính chính những chỗ sai sót, nhẫn lẫn

3.3.2. Phương pháp thống kê định lượng.

Chúng tôi tiến hành một loạt các thao tác thống kê định lượng đốivới tư liệu văn bia huyện Đông Sơn thu thập được theo các tiêu chí: sựphân bố theo không gian và thời gian, tác giả biên soạn, và các vấn đề cóliên quan, v.v… Thông qua các kết quả đó, chúng tôi đưa ra những nhậnxét tổng quát về tình hình và đặc điểm của văn bia huyện Đông Sơn

Trang 6

3.3.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu.

Cùng với thao tác thống kê định lượng, chúng tôi còn tiến hành sosánh đối chiếu với các yếu tố: đồng đại, đồng thể, đồng tự dạng v.v…

3.3.4. Phương pháp tổng hợp.

Phương pháp tổng hợp liên ngành là phương pháp quan trọng trongquá trình tiến hành nghiên cứu của chúng tôi Chúng tôi dựa vào phươngpháp này để bước đầu đưa ra những nhận định tổng quát về văn bia huyệnĐông Sơn

Ngoài những phương pháp trên, chúng tôi còn tiến hành phươngpháp nghiên cứu điền dã để khảo chứng, xác minh, và bổ sung tư liệu mới

về văn bia huyện Đông Sơn

4 Đóng mới của luận văn

- Bước đầu khảo sát văn bản, xác định được chính xác vị trí đặt bia,thống kê tương đối đầy đủ về mặt số lượng văn bia huyện Đông Sơn đượcsưu tầm trong những năm qua, hiện đang được lưu trữ ở Thư viện Việnnghiên cứu Hán Nôm Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành thu thập thêm một

số văn bản văn bia huyện Đông Sơn thông qua các tài liệu khác, và qua quátrình điền dã

- Lần đầu tiên văn bia huyện Đông Sơn được trình bày một cách có

hệ thống và tương đối đầy đủ về tình trạng và đặc điểm

- Trình bày cụ thể một số giá trị cơ bản, riêng có của văn bia huyệnĐông Sơn như: vấn đề văn học, vấn đề văn hoá, vấn đề nghệ thuật tạo hình.Tất cả những giá trị đó được đề cập một cách cụ thể

- Phần Phụ lục giới thiệu những bài văn bia huyện Đông Sơn tiêu

biểu, bao gồm có nguyên văn kèm phiên âm, dịch nghĩa và chú thích

- Đưa ra Danh mục văn bia huyện Đông Sơn mà chúng tôi thu thập

và làm lược thuật theo 8 tiêu chí

Trang 7

5 Bố cục của luận văn

- Luận văn gồm có 4 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kếtluận và Phần phụ lục

- Phần Nội dung được chia làm 3 chương:

+ Chương 1:Giới thiệu khái quát về huyện Đông Sơn.

+ Chương 2: Tìm hiểu về văn bia huyện Đông Sơn.

+ Chương 3: Giá trị của văn bia huyện Đông Sơn.

- Phần Phục bao gồm:

+ Phụ lục 1 Danh mục văn bia huyện Đông Sơn.

+ Phục lục 2 Phiên âm, dịch nghĩa giới thiệu một số văn bia huyện

Đông Sơn.

+ Phụ lục 3 Nguyên văn một số bài văn bia giới thiệu.

6 Quy ước trình bày

- Trong phần danh mục văn bia tóm lược, kích thước văn bia được

đo theo hình thức: chiều ngang x chiều cao, đơn vị tính là cm

- Những chữ trên thác bản bị mờ, chúng tôi chưa chắc chắn vềphương án phiên âm sẽ được đặt trong dấu []

- Trong luận văn, chúng tôi có sử dụng một số ký hiệu viết tắt như sau:

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐÔNG SƠN

Đông Sơn là một huyện đồng bằng của châu thổ Sông Mã, nằm ởtrung tâm của tỉnh Thanh Hoá, cách 5 km về phía Tây Thành Phố ĐôngSơn là một vùng đất được kiến tạo trên một địa hình tương đối ổn định, cóđồng bằng mầu mỡ phì nhiêu, có hệ thống núi đồi gò bãi phong phú, và còn

có cảnh quan rất đẹp, hài hoà Đông Sơn là huyện có nhiều tiềm năng đấtđai và con người, có vị trí quan trọng về kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnhThanh Hoá

Về địa giới.

Phía Đông giáp Thành phố Thanh Hoá, gồm các xã, thị trấn: ĐôngHưng, Đông Tân, Đông Lĩnh và Thị trấn Rừng Thông; Phía Tây giáphuyện Triệu Sơn, gồm các xã: Đông Hoàng, Đông Ninh, Đông Hoà, ĐôngYên, Đông Văn, Đông Phú; Phía Nam giáp huyện Quảng Xương, gồm cácxã: Đông Nam và Đông Vinh; Phía Bắc giáp huyện Thiệu Hoá, gồm cácxã: Đông Lĩnh, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Khê, Đông Hoàng

Về địa hình.

Địa hình huyện Đông Sơn tương đối bằng phẳng, thấp, trũng,hướng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam; có núi, đồi xen lẫn đồng bằng

Về đất đai, thổ nhưỡng.

Trang 9

Đất đai huyện Đông Sơn hình thành chủ yếu do quá trình trầm tích,

là kết quả của lắng đọng các mẫu chất, đất từ nơi khác do nước chuyển tới.Đồng đất của Đông Sơn hình thành chủ yếu do phù sa của sông Chu vàsông Mã bồi đắp nên có độ mùn khá cao, các chất dinh dưỡng trong đấtphong phú, phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là thuận lợi cho canh tácnông nghiệp Ngoài ra, Đông Sơn còn có một diện tích đất không nhỏthường bị úng nước mưa mùa hè, phân bố ở địa hình thấp, trũng hoặc lòngchảo của vùng châu thổ

Nhìn chung, đất Đông Sơn tốt cả về hoá tính và lý tính, khôngchua, thích hợp với các loại cây lương thực và cây công nghiệp.(1)

Về khí hậu, sông ngòi.

Khí hậu của huyện Đông Sơn cũng như các huyện trong vùng đồng bằngThanh Hoá, đều chịu sự ảnh hưởng, chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa

Sông ngòi của Đông Sơn gồm có 2 sông chính là sông Hoàng vàthuỷ nông sông Chu Ngoài ra còn có trên 325ha ao hồ phân bố hầu hết các

xã trong huyện.(2)

Về tài nguyên, khoáng sản.

Đông Sơn là một trong những huyện của Thanh Hoá có đồi, núi đávôi phong phú, nằm rải rác ở các xã trong huyện với trữ lượng khoảng 20triệu m3 Phần lớn các núi đá này có chất lượng tốt, đáp ứng cho nhu cầuxây dựng các công trình vĩnh cửu, làm đá mỹ nghệ, ôplat có giá trị cao

Đặc biệt là đá núi Nhồi: “Ở phía Tây Nam huyện, có một quả núi lớn và

cao gọi là núi An Hoạch,… Sắc đá óng ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo đá làm khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia văn chương thì còn mãi ngàn đời ” (Bia “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký”.) Đá núi Nhồi được hình thànhcách ngày nay khoảng 200 – 300 triệu năm, là loại đá không liền tấm, cứng

1 Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Nxb KHXH, 2006, tr.17.

2 Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Nxb KHXH, 2006, tr.11-12.

Trang 10

nhưng không giòn, không có tạp chất, mịn, các khối đá tạo thành từng lớp

có độ dày mỏng khác nhau

Ngoài ra, huyện Đông Sơn còn có các tài nguyên khác như: đất sét(dùng làm gạch, ngói, gốm, sứ, tiêu biểu là đất sét Đông Ngàn, xã ĐôngVinh); than bùn; nước ngầm;…

1.1.2 Địa lý hành chính

1.1.2.1 Tên huyện và Lỵ sở huyện Đông Sơn

- Tên huyện

Thời thuộc Hán - Tam Quốc - Lưỡng Tấn, “Đông Sơn là miền đất

thuộc huyện Tư Phố và một phần thuộc huyện Cư Phong Theo “Di Biên của Cao Biền” thì lúc này có huyện Đông Dương, sau gọi là Đông Cương tức là Đông Sơn sau này”(1) Thời Tuỳ Đường đến thời Đinh - Tiền Lê - Lý,Đông Sơn vẫn là vùng đất thuộc vào huyện Cửu Chân (2)

Thời Trần - Hồ, phủ lộ Thanh Hoá gồm có 7 huyện và 3 châu Cụthể là: huyện Cổ Đằng, Cổ Hoằng, Đông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, YênĐịnh, Lương Giang, châu Thanh Hoá, châu Ái, châu Cửu Chân Tên gọiĐông Sơn bắt đầu từ đây

Thời thuộc Minh, Trấn Thanh Đô đổi thành phủ Thanh Hoá, lãnh 4châu và 11 huyện, trong đó có Đông Sơn (3)

Thời Lê - Nguyễn Thanh Hoa lãnh 4 phủ, 16 huyện và 4 châu.Huyện Đông Sơn lúc này thuộc vào phủ Thiệu Thiên Năm Gia Long thứ

14 (1815) đổi phủ Thiệu Thiên thành phủ Thiệu Hoá

Năm 1928, huyện Đông Sơn được đổi gọi là phủ Đông Sơn

Trang 11

Năm Gia Long thứ 7 (1808) dời về xã Thạch Khê (tức Ke Rủn),tổng Thạch Khê, nay là xã Đông Khê Đến năm Minh Mệnh thứ 4 (1823),

lỵ sở huyện dời đến xã Thọ Hạc (nay thuộc Thành phố Thanh Hoá), gọi làphủ Đông (địa điểm ga Thanh Hoá ngày nay) (1)

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tên huyện Đông Sơn vẫngiữ nguyên Huyện lỵ Đông Sơn đóng ở Rừng Thông (nay là Thị trấn RừngThông)

1.1.2.2 Địa danh làng xã.

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, nhất là Khảo

cổ học và Sử học cho thấy, Đông Sơn là một trong những vùng đất cổ nhất

của Thanh Hoá và cương vực lúc đó rộng gấp nhiều lần hiện nay “Kẻ”

-một từ chỉ địa danh cổ nhất nước ta, còn lưu danh ở nhiều vùng ở ĐôngSơn, như: Kẻ Trổ, Kẻ Dậu, Kẻ Môi, Kẻ Thìa, Kẻ Trầu, Kẻ Chiếu, Kẻ Rủn,

Kẻ Bôn, Kẻ Chẻo, Kẻ Bụt, … Và những từ chỉ địa danh như: xá, trang, ấp,phường, vạn, … cũng xuất hiện và có không ít ở vùng đất này như: Nguyên

Xá, Lê Xá, Ngô Xá, Quảng Xá, Bồ Lồ trang, phường Vạn Niên, … lànhững bằng chứng sinh động về sự phong phú và đa dạng của một vùng đất

cổ nổi tiếng của Thanh Hoá Theo tiến trình phát triển của xã hội, những từchỉ địa danh hành chính đó đã sự thay đổi như: Kẻ Bôn chuyển thành CổBôn; Kẻ Rủn chuyển thành làng Rủn (nay là xã Đông Khê); Kẻ Bụt chuyểnthành thôn Cửa Bụt; Kẻ Lậu chuyển thành thôn Ngọc Lậu; …

Theo sách “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX”, vào thời kỳ này

Đông Sơn gồm có 6 tổng (Thọ Hạc, Thạch Khê, Đại Bối, Vận Quy, QuangChiếu, Lê Nguyễn), 145 xã, thôn, trang, vạn, giáp, sở, phường (2)

Dưới thời vua Minh Mệnh, một số tên tổng, làng, xã của huyệnĐông Sơn được đổi tên, như: tổng Lê Nguyễn đổi thành tổng Thanh Hoa;

xã Nguyễn Xá (tổng Vận Quy) đổi thành tổng Quy Xá; xã Ngọc Đôi (tổngThạch Khê) đổi thành xã Ngọc Tích;… chia tổng Thọ Hạc thành 2 tổng

1 Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Nxb KHXH, 2006, tr.28-29.

2 Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, Nxb KHXH, Hà Nội.1981, tr.111.

Trang 12

(Thọ Hạc và Bố Đức); tổng Quang Chiếu thành 2 tổng (Quang Chiếu vàQuảng Chiếu) Lúc này, huyện Đông Sơn gồm có 8 tổng.

Đến nửa sau thế kỷ XIX, dưới thời Tự Đức, tên gọi một số thôn,

làng của huyện Đông Sơn đã thay đổi Theo Đồng Khánh dư địa chí, cuối

thế kỷ XIX, hai tổng Thạch Khê và Tuyên Hoá được chia làm 3 tổng(Tuyên Hoá, Thạch Khê và Thanh Khê) Đông Sơn gồm có 9 tổng (ThọHạc, Đại Bối, Bố Đức, Vận Quy, Thạch Khê, Thanh Khê, Tuyên Hoá,Quang Chiếu, Quảng Chiếu), bao gồm 147 xã, phường, giáp, vạn

Đầu thế kỷ XX, tổng Thanh Khê sau đổi thành Kim Khê, tổngQuang Chiếu đổi thành Viễn Chiếu Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900),nhà Nguyễn cắt 2 tổng Vận Quy và Đại Bối nhập vào huyện Thuỵ Nguyên(nay thuộc huyện Thiệu Hoá) Huyện Đông Sơn còn lại 7 tổng: Thọ Hạc,

Bố Đức, Viễn Chiếu (Quang Chiếu), Quảng Chiếu, Tuyên Hoá, Kim Khê(Thanh Khê), Thạch Khê

Đến năm Bảo Đại thứ 3 (1928), huyện Đông Sơn đổi thành phủĐông Sơn, gồm có 7 phủ với 115 làng và 5.794 xuất đinh

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1946, huyện ĐôngSơn đã chia 7 tổng cũ thành 22 xã

Từ sau năm 1954 đến nay, huyện Đông Sơn nhiều lần thay đổi tênhuyện và các cuộc tách nhập giữa các xã của huyện Đông Sơn với các xã ởcấp huyện khác, cùng với đó là các quyết định thành lập thị trấn RừngThông (năm 1992) và thị trấn Nhồi (năm 2006)

Hiện nay, huyện Đông Sơn bao gồm 19 xã và 2 thị trấn Đó là: Thị

trấn huyện lỵ Rừng Thông, thị trấn Nhồi và các xã Đông Anh, Đông Hoà, Đông Hoàng, Đông Hưng, Đông Khê, Đông Lĩnh, Đông Minh, Đông Nam, Đông Ninh, Đông Phú, Đông Quang, Đông Tân, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Thịnh, Đông Văn, Đông Vinh, Đông Xuân, Đông Yên.

BẢNG TRA TÊN TỔNG TRƯỚC NĂM 1945 VÀ XÃ HIỆN NAY (1)

1 Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Nxb KHXH, 2006, tr.48-49.

Trang 13

STT Tên tổng Tên xã

phần Đông Yên, và Thị trấn Rừng Thông

2 Kim Khê (Thanh Khê) Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Minh

Đông Khê, một phần Đông Yên

1.1.3 Dân cư và các ngành nghề truyền thống

1.1.3.1 Dân cư

Vùng đất Đông Sơn không chỉ là nơi đầu tiên phát hiện được di vậtcủa văn hoá Đông Sơn có niên đại cách ngày nay khoảng 2.820 năm, mànơi đây còn phát hiện được nhiều dấu tích cư trú, hoạt động vật chất củachủ nhân văn hoá Đông Sơn Trên lưu vực sông Mã, người ta đã phát hiệnđược nhiều di tích khảo cổ thuộc về văn hoá Đông Sơn với đủ các loạihình: di tích cư trú, mộ táng, di chỉ - xưởng, quan trọng hơn cả là việc pháthiện công xưởng chuyên chế tác các công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang sứctrên đất Đông Sơn Các di tích này chủ yếu tập trung ở khu vực ngã basông trên địa bàn Đông Sơn Từ kết quả khảo cổ, người ta cho rằng: vùngđất này không những chỉ là địa bàn gốc, mà còn là một trung tâm kinh tế -chính trị quan trọng của cư dân Đông Sơn trong buổi đầu dựng nước

Từ đó có thể thấy vào thời kỳ các vua Hùng trên đất Đông Sơnngày nay, dân cư đã khá đông đúc, khoảng 400 người/1km2 và có đời sốngvật chất, tinh thần tương đối cao, góp phần hình thành và phát triển của bộCửu Chân - Thanh Hoá

Trang 14

Hiện nay,dân số của các xã trong huyện khá đông đúc và tỉ lệ tăngnhanh Theo số liệu năm 2003, dân số huyện Đông Sơn là 109.797 người,bao gồm 24.880 hộ, mật độ dân số trung bình 1.030 người/km2.

1.1.3.2.Các ngành nghề truyền thống

Nghề chế tác đồ đá

Nghề chế tác đá ở Đông Sơn là một trong những nghề cổ truyềnđược bảo lưu và phát triển lâu đời nhất ở Đông Sơn, nó được nảy sinh vàphát triển trên cơ sở của một nguồn nguyên liệu địa phương sẵn có, và tiếpthu truyền thống kỹ thuật từ xưa

Núi An Hoạch nằm ở phía Tây Nam huyện Đông Sơn, trên địa bànhai xã Đông Tân và Đông Hưng là một trong những trung tâm khai thác đá nổitiếng của nước ta, được người thợ đá rất ưa dùng Núi cao, thoải, đá mịn, tiếngkêu trong, có thể dùng làm bia, làm khánh cùng các vật dụng khác

Từ thời Lý, tổng trấn Thanh Hoá lúc bấy giờ là Lý Thường Kiệt đãbiết đến tiếng đá núi Nhồi, nên đã cho người đến núi Nhồi khai thác để sửdụng Đến đời Trần, nghề đục đá ở núi An Hoạch (núi Nhồi) đã nổi tiếng,được triều đình biết tới, thợ đá An Hoạch được huy động vào việc đục đá ởcác núi Thiên Kiện và Khuân Mai Triều Lê, từ những miếu điện ở LamKinh (huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá) đến Lăng Quận công (Đông Sơn) đều

do thợ đá núi Nhồi góp phần tạo dựng

Làng Nhồi chủ yếu vẫn sống bằng nghề nông Đục đá, sản xuất cácsản phẩm từ đá là một nghề phụ quan trọng ở đây Nghiên cứu về các nghềthủ công ở Thanh Hoá, Robequain - một người Pháp cho biết: vào cuốitriều Nguyễn, ở làng Nhồi có khoảng 300 hộ làm nghề đục đá (1)

Người thợ chế tác đá ở Nhồi không chỉ chủ yếu sản xuất các loạisản phẩm dân dụng thông thường, họ còn bộc lộ sự tài hoa, điêu nghệ củamình qua những đường nét chạm khắc hoa văn uyển chuyển, sống động,thanh thoát và sự tạo dáng tinh vi trên các diềm bia đá, các con rồng đá, voi

1 Địa chí Thanh Hoá, Tập 2, Nxb KHXH, 2004, tr.971-972.

Trang 15

đá có kích thước rất lớn, … tạo nên những sản phẩm mang tính văn hoánghệ thuật cao

Hiện nay, nghề đục đá ở Đông Sơn, mà chủ yếu là ở làng Nhồi vẫntiếp tục phát triển đa dạng, phong phú nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càngcao của công tác xây dựng và đời sống

Nghề Gốm:

Đông Sơn là nơi có nguồn nguyên liệu đất sét tốt, có hệ thống giaothông đường thuỷ thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi Do vậy, nghề sảnxuất gốm ở đây đã sớm hình thành và nhanh chóng trở thành một trongnhững trung tâm sản xuất đồ gốm của xứ Thanh (1)

Tài nghệ của những người thợ gốm xưa thể hiện chủ yếu ở việcchuốt dáng và tạo ra các hoạ tiết hoa văn trang trí trên đồ gốm Bằng cáccách thức đơn giản như: in, đập, chải,… người thợ gốm xưa đã tạo nênnhiều kiểu hoa văn đẹp Các mô típ hoa văn thường là: hoa văn hình sóngnước, hoa văn hình chữ S, hoa văn hình tròn, …

Trung tâm sản xuất đồ gốm là vùng Đức Thọ và một số nơi vensông Chu, sông Mã, như Vồm, Thổ Phương, Là vùng có đầy đủ các yếu

tố về nguồn nguyên liệu tốt, chất đốt dồi dào, cùng với việc tiếp thu kinhnghiệm sản xuất từ xưa, nghề làm đồ gốm ở Đức Thọ phát triển tương đối

nhanh trở thành “vùng gốm quan trọng nhất tỉnh Thanh Hoá, và cũng là

gốm ở Đức Thọ sản xuất chủ yếu là đồ dân dụng như chum, vại, lọ, hũ,chĩnh, chậu, ấm, bình vôi, tiểu sành,…

Ngày nay, nghề sản xuất đồ gốm sành ở Thanh Hoá vẫn đang duytrì và phát triển Trên vùng đất Đức Thọ xưa đã hình thành một khu vựcsản xuất đồ gốm - sành khá sầm uất, đó là khu gốm Lò Chum được nhândân khắp nơi biết đến

1 Trần Thị Liên - Phạm Văn Đấu (bs), Khảo sát Văn hoá truyền thống Đông Sơn, Nxb KHXH, 1988,

tr.31-32.

2 Phan Gia Bền, Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, tr.85.

Trang 16

Nghề đúc đồng:

Nghề đúc đồng là một trong những nghề thủ công cổ truyền khánổi tiếng ở Thanh Hoá, được tập trung chủ yếu ở làng Trà Đông, xã ThiệuTrung, Đông Sơn (này thuộc huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá), xưa còn

có tên là Trà Sơn Trang, tên Nôm là Kẻ Chè Làng này chủ yếu sống bằngnghề đúc đồng, đơn vị sản xuất chủ yếu là gia đình Mỗi gia đình là một cơ

sở sản xuất, là một lò riêng, chủ gia đình đồng thời cũng là chủ lò đúc

Đúc đồng là một quy trình kỹ thuật phức tạp, bao gồm nhiều khâu.Mỗi khâu lại có các bước, các thao tác kỹ thuật khác nhau và đều có liênquan đến chất lượng sản phẩm mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nghềnghiệp truyền từ đời này qua đời khác

Sản phẩm ở Trà Đông được khắp nơi ưa chuộng, không chỉ chủyếu là các đồ dùng dân dụng như: nồi đồng, bát hương, đèn, chân đèn,…

mà với sự tích luỹ kinh nghiệm phong phú, người thợ đúc đồng còn tạo ranhững sản phẩm mang tính nghệ thuật cao, như các loại: tượng, chuông,con giống, con rồng,… Nghề đúc đồng ở Trà Đông chủ yếu tập hợp nguyênliệu từ việc tận dụng các nguồn đồng thứ phẩm

Ngoài ra, ở Đông Sơn còn có nghề dệt, cũng là một nghề cổ truyềnxuất hiện sớm Trong số những làng dệt được biết đến ở Đông Sơn, nổitiếng là làng dệt Hồng Đô, xã Thiệu Đô, huyện Đông Sơn (nay thuộc huyện

Thiệu Hoá) với nghề dệt nhiễu Dấu ấn của nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt

vải còn để lại trong một số hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian, như hátphường vải, trong các lễ hội thi dệt vải,…

1.2 Văn hoá – Xã hội.

Đông Sơn là một trong những vùng đất cổ của đồng bằng ThanhHoá Bằng tinh thần lao động cần cù, trí thông minh sáng tạo và lòng yêuquê hương đất nước, người dân Đông Sơn đã tạo dựng cho mình một đời

Trang 17

sống tinh thần vô cùng phong phú và đa dạng Trải qua hàng nghìn nămlịch sử, những tinh hoa trên các lĩnh vực kinh tế và xã hội, cùng với nhữngđặc điểm của hoàn cảnh thiên nhiên, hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh conngười đã tạo nên các đặc trưng văn hoá của vùng đất này, trở thành những

di sản văn hoá không chỉ của riêng Đông Sơn mà còn là của Thanh Hoá và

cả nước

1.2.1 Văn hoá làng xã và những phong tục tập quán, tín ngưỡng.

1.2.1.1.Văn hoá làng xã.

Văn hoá làng chủ yếu được thể hiện trên các phương diện văn hoá

xã hội, văn hoá tư tưởng và văn hoá nghệ thuật Văn hoá làng chứa đựngtrong nó những biểu trưng mang giá trị truyền thống, như hình ảnh máiđình, con đê, giếng nước, ngôi chùa, bãi mía nương dâu,…; những gia phảhương ước, tập tục,…; những di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ, bia đá, và cảnhững hội hè đình đám, hát hò, phong tục tín ngưỡng, âm nhạc, mỹ thuật,

… tất cả đều có ở làng Đất nước Việt Nam luôn tồn tại văn hoá làng,huyện Đông Sơn - tỉnh Thanh Hoá cũng vậy

Làng ở Đông Sơn có từ lâu đời, dân cư đông, thuần chất, sống chủyếu bằng nghề nông, người dân Đông Sơn rất gắn bó với làng của mình Và

dù có di cư đến các vùng đất khác, người dân Đông Sơn vẫn có dấu ấn củaquê hương bằng cách lấy tên làng cũ đặt cho nơi mới Văn hoá làng ở ĐôngSơn cũng bình dị, thân thuộc mà sống động như những làng quê khác vớihình ảnh mái đình, cây đa, ruộng đồng bát ngát,… Song, văn hoá làngĐông Sơn còn mang những nét độc đáo riêng có được thể hiện qua các sảnphẩm văn hoá nghệ thuật của từng địa phương như ở làng Rủn, làng Bônvới những màn diễn xướng sôi nổi mà tế nhị, hay những sinh hoạt phongtục tín ngưỡng, cũng có khi là một di chỉ hay một di tích lịch sử làm nên sự

tự hào của lịch sử quê hương,… Văn hoá làng ở Đông Sơn là một trongnhững nét bản sắc văn hoá của Xứ Thanh

1.2.1.2 Phong tục tập quán, tín ngưỡng trong làng xã huyện Đông Sơn.

Trang 18

Cũng như cư dân trong làng xã ở mọi miền đất nước, cư dân ĐôngSơn có nhiều phong tục, tập quán Các phong tục tập quán đó mặc nhiêntồn tại và trở thành điều không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày vàtrong sinh hoạt cộng đồng làng xã.

Tập tục sinh hoạt tiêu biểu:

- Thờ cúng tổ tiên

“Chim có tổ, người có tông”

Quan niệm về cội nguồn được hình thành cùng với quá trình hìnhthành và phát triển của dân tộc Nó đã ngấm vào máu thịt và trở thành mộtphong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của con người Việt Thờ cúng cha

mẹ, tổ tiên, dòng họ từ trong mỗi cá nhân đã hoà thành cái chung của cảmột cộng đồng, trở thành giá trị tinh thần cao cả mà không phải dân tộc nàocũng có được

Cũng như bao miền quê khác, người dân Đông Sơn rất coi trọngphong tục thờ cúng tổ tiên Ở Đông Sơn hiệncó đến hơn 60 nhà thờ họ và

từ đường (1) Mỗi nhà thờ họ thường gắn liền với một cá nhân nổi tiếng củadòng họ đó, là những người khoa bảng đỗ đạt, có công lao to lớn với dân,với nước Đấy không chỉ là niềm tự hào của riêng dòng họ mà còn là niềm

tự hào chung của cả cộng đồng cư dân làng và cả một vùng rộng lớn Cócác nhà thờ họ như: Nhà thờ Nguyễn Chích (xã Đông Ninh); nhà thờNguyễn Văn Nghi, Nguyễn Khải (xã Đông Thanh); Lăng mộ Quận công LêTrung Nghĩa (xã Đông Hưng); Từ đường họ Lê Khả (xã Đông Khê);…

Họ lớn thì có nhà thờ riêng, họ nhỏ thì lấy nhà Tộc trưởng làm nhàthờ họ, do Tộc trưởng đảm trách việc hương khói, giỗ tết và có phần ruộnghương hoả để chi dùng Vào ngày giỗ họ, con cháu trong họ “đơm cỗ” độiđến cúng ở nhà thờ họ rất nghiêm cẩn Cũng trong những dịp này, người tathường kết hợp bàn việc quan trọng khác của dòng họ, như: lập hoặc bổsung gia phả, xây mộ tổ, xây dựng nhà thờ họ,…

1 Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Nxb KHXH, 2006, tr.435- 442.

Trang 19

Cũng như gia đình Việt nói chung, trong mỗi gia đình ở huyệnĐông Sơn đều có một bàn thờ gia tiên (thờ ông bà, cha mẹ đã khuất),thường được đặt ở gian giữa nhà chính Đây là nơi rất thiêng liêng trongmỗi gia đình Cứ đến ngày giỗ tết, con cháu lại tụ họp lại làm cỗ cúng ông

bà, cha mẹ để tưởng nhớ và báo đáp công ơn của ông bà cha mẹ

Ngoài ra, có một số người không có con để kế nối việc thờ cúngông bà, cha mẹ thì họ cúng ruộng, góp tiền cho nhà chùa, hoặc làm từ thiện

các công trình công cộng của làng xã để khi “khuất núi” làng xã tiếp tục

thay họ làm nhiệm vụ thờ cúng tổ tiên

- Tín ngưỡng thành hoàng

Là một phong tục không thể thiếu trong các làng xã Đông Sơn Do

quan niệm “đất có thổ công” nên phần nhiều các làng đều có thờ một vị thần “bảo trợ”, mỗi vị một thần điện Tuỳ theo quy mô kiến trúc và chức

năng mà các vị thần được thờ ở Đình, Đền, Nghè, Miếu, Thành hoàng cóthể là nhân vật thần thoại; có thể là một con người thực có công tích lớn laovới cộng đồng làng, được cả làng suy tôn; có thể là nhân vật lịch sử của địaphương hay của dân tộc Vị thần đó được dân làng kính ngưỡng thờ cúng

Ở Đông Sơn, trong các nhân vật được tôn là “Thành hoàng” thì nhiều nhất

là những người có công lao trong các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc vànhững người đỗ đạt, giữ những trọng trách quan trọng trong xã hội Cụ thểnhư: Đền thờ Nguyễn Nghi, Đền thờ Cao Cử (xã Đông Thanh); Đền thờNguyễn Đăng Khoa (xã Đông Hoà); Đình Xuân Lưu (xã Đông Xuân) - thờQuận công Nguyễn Đình Thuần;…

Bên cạnh đó, ở Đông Sơn còn thờ cúng nhiều vị thần khác nhưthần: Cao Sơn, Đông Hải, công chúa Liễu Hạnh, Thiên Lội, Thiên Cương,Long Uyên,… Có thể nói, tục thờ cúng tổ tiên, thần thánh từ lâu đã trở

thành truyền thống đạo đức dân tộc “uống nước nhớ nguồn” của con người

Đông Sơn nói riêng và của người Việt Nam nói chung

Trang 20

Một số tục lệ tiêu biểu (1):

Đông Sơn là vùng đất cổ, nên còn lưu truyền và bảo lưu đượcnhiều phong tục tập quán cổ Đó là các tục lệ quy định về sinh hoạt cộngđồng làng xã, các tục lệ tín ngưỡng, cưới xin, ma chay, đình đám và về cơbản không khác nhiều so với các địa phương khác trong tỉnh Nhiều tục lệkhá nặng nề, song vẫn có những tục lệ mang tính tích cực, thể hiện cácthuần phong mỹ tục mà đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị

- Tục kết chạ Kết chạ là một tục lệ phổ biến ở Đông Sơn Kết chạ

là hình thức để tăng cường tinh thần đoàn kết, thân thiện láng giềng Trước

kia hầu hết các làng ở Đông Sơn đều kết chạ với nhau Một làng có thể kếtchạ với một hoặc nhiều làng khác nhau Trong các lễ hội của làng thì lễ kếtchạ, đi chạ, hội chạ là một lễ quan trọng và các làng thường tổ chức cáchình thức sinh hoạt văn hoá khá sôi nổi Hiện nay tục lệ này không còn phổbiến và các làng cũng không mấy áp dụng

- Tục khảo thí Đông Sơn là vùng đất khoa bảng của xứ Thanh Tụckhảo thí là tục kiểm tra các học trò trong làng, mỗi năm được tổ chức mộtlần Trong các làng xã của Đông Sơn phần lớn có tục này và được duy trìthường xuyên, nhất là các làng có nhiều người đỗ đạt, có truyền thống khoabảng, tiêu biểu như làng Cổ Bôn (xã Đông Thanh) Tục này được tổ chứcnhư sau:

+ Hàng năm cứ đến rằm tháng Giêng làng tổ chức khảo thí

+ Những người tham gia là những học trò đang học trường lànghoặc học nơi khác về nghỉ Tết

+ Người trong hội đồng khảo thí là những người trong hội Tư văn,

đỗ đạt cao, học giỏi nổi tiếng trong làng và vùng

+ Địa điểm tổ chức thường ở đình làng

+ Nội dung thi thường là Thơ, Phú, văn sách,… mỗi năm có mộtthể loại khác nhau không tuân theo một quy định nào cả

1 Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Nxb KHXH, 2006, tr.455-459.

Trang 21

+ Thời gian làm bài trong một ngày Làm bài xong giao cho hộiđồng chấm và được làng khao một bữa

+ Các bài thi sau khi chấm có xếp loại Bài điểm cao được phầnthường tuy không lớn nhưng rất có giá trị trong việc khuyến học ở làng xã

- Tục khảo rể Ở Đông Sơn, tục này được tổ chức nhằm đề cao việchọc và trình độ văn chương của chú rể Trước khi nhà trai đến đón dâu, nhà

gái chuẩn bị sẵn các “trạm” bằng vài cành lá hoặc dây ngăn đường từ đầu

làng đến nhà cô dâu Khi nhà trai và chú rể đền từng trạm thì chú rể phải đốiđáp được các câu đố do nhà gái đặt ra Trả lời được thì đi tiếp bằng khôngphải trả một số tiền thì mới được đi Thông thường số trạm và câu đố do cáclàng tự tổ chức và quy định lấy nên tạo ra một không khí rất vui vẻ

- Tục gánh nước đầu năm Tục này mang ý nghĩa cầu chúc cho mộtnăm mới dồi dào no đủ Ở Đông Sơn, tục này còn mang ý nghĩa là mộtkinh nghiệm dự báo thời tiết trong năm Nếu gánh nước vừa gánh về cânlên mà đa số có trọng lượng cao hơn năm ngoái thì người ta dự đoán nămnay sẽ mưa to, lụt lớn Còn thấp hơn thì ngược lại Từ đó bàn nhau cácphương pháp phòng chống lụt, hạn,…và thời vụ gieo trồng

- Tục đi chợ Chuộng (còn có tên gọi là chợ Hoàng) Là một chợđặc biệt chỉ họp một lần trong một năm và thường tổ chức vào ngày mùng

6 hoặc mùng 9 tháng Giêng âm lịch Đến chợ Chuộng người đi chợ chủ yếu

là để “mua may, bán rủi” Phiên chợ này rất đông vui, thu hút nhân dân ở

Trang 22

- Phật giáo Trước đây Đông Sơn là một trong những trung tâmPhật giáo lớn của tỉnh Thanh Hoá Vào thế kỷ X, ở vùng này có hai ngôichùa nổi tiếng là chùa Hương Nghiêm (nay thuộc xã Thiệu Trung, huyệnThiệu Hoá) và chùa Báo Ân (nay thuộc xã Đông Tân) do chính Thái uý LýThường Kiệt xây dựng (1)

Trải những biến cố lịch sử, đến nay hệ thống chùa ở Đông Sơnkhông còn nhiều, nhưng qua các bia ký và các di tích còn lại vẫn cho thấymột thời kỳ phồn thịnh của Phật giáo trên đất Đông Sơn

- Thiên chúa giáo Người Đông Sơn theo đạo Thiên chúa khôngnhiều Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cả huyện chỉ có làng PhúBình (xã Đông Ninh) là một làng công giáo toàn tòng Làng có khu thánhđường riêng được xây dựng từ năm 1927 Nhìn chung, đạo Thiên chúa không

có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của người Đông Sơn và số lượngngười theo đạo này cũng không đáng kể Họ đa số không theo tôn giáo

Bức tranh phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội ở Đông Sơn cóthể nói là đa dạng, phong phú, tuy còn những nét tiêu cực, trong đó cónhiều yếu tố cổ xưa bị mai một, che lấp hoặc được nhào nặn lại Song nhìntổng thể thì đó là thuần phong mỹ tục, là thô phác song lành mạnh, biểuhiện những mong ước của người dân hướng tới cuộc sống yên ả trong lành

và ít bị xáo trộn Nó là linh hồn của nền văn hoá dân gian (folkore) xứThanh

1.2.2 Di tích lịch sử văn hoá.

- Quần thể di tích núi Nhồi Thuộc làng Nhồi (còn gọi là Nhuệ

thôn, An Hoạch), thị Trấn Nhồi Núi Nhồi cách thành phố Thanh Hoá 3km

về phía Tây Nam, có độ cao hơn 100m

Trên đỉnh núi Nhồi có một hình tượng khá đặc sắc, đó là một trụ đácao khoảng 25m, do kiến tạo tự nhiên mà thành Nhìn từ xa giống như hình

1 Theo bia An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký, soạn năm Canh Thìn (1100) ở làng Đống, xã Đông Hưng,

huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá Bia do Chu Văn Thường làm quan quận Cửu Chân thời Lý soạn.

Trang 23

một người mẹ đang bồng con mà mắt đang hướng trông về phía Đông, nên

được dân gian đặt tên là hòn “vọng phu”

Dưới chân núi Nhồi là ngôi chùa cổ Hinh Sơn Đây là một ngôichùa nằm trong hang đá nên nó còn có tên gọi là chùa Hang Chùa Hinh

Sơn cửa quay về hướng Bắc Trên cửa có khắc 3 chữ “Hinh Sơn động” Tất

cả các cấu trúc trong chùa cùng các vật làm đồ thờ cúng đều được làm bằng

đá với một nghệ thuật độc đáo

Cách chùa Hinh Sơn khoảng 100m là núi Khế có chùa Tiên Sơn

hay còn gọi là chùa Quan Thánh Sách Đại Nam nhất thống chí ghi chép về chùa này như sau: “Chùa Tiên Sơn ở trong động núi Khế, thuộc Nhuệ thôn,

xã An Hoạch Phía Bắc chùa ở sườn núi có một hang đá, có 2 lỗ tả, hữu rộng 5 - 6 thước, dài chừng 2 trượng xây làm cửa, vách đá khắc tượng quân Đế, bên cạnh khắc tượng Chu Xương, cùng với tả hữu, tất cả 5 pho tượng Trên đầu chỗ thờ có khắc hai chữ “Nghiêm nhiên”, cả hai bên vách

đá có người đá, voi đá, ngựa đá Phía trên vách đá khắc chìm 4 chữ

“Thiên cỗ vĩ nhân” và một chữ “Thần” nổi Chùa Tiên Sơn do Lê Định Truyền người sở tại dựng năm Hoằng Định thứ 10 (1609)”.

Đình Thượng là nơi thờ thành hoàng “Ông tổ nghề đục đá” Hiện

còn lại nhiều tác phẩm điêu khắc bằng đá rất sinh động

Lăng Quận Mãn Đây là một công trình kiến trúc độc đáo bằng đávào loại bậc nhất Thanh Hoá Tất cả các hiện vật trong khu vực thờ QuậnMãn từ các con giống, lính hầu, điện thờ, ngai thờ,… đều được làm bằng đávới một kỹ thuật tinh xảo mà ít nơi có được

- Khu căn cứ Hoàng Nghiêu của Nguyễn Chích

Vào đầu thế kỷ XV, Nguyễn Chích quê ở làng Vạn Lộc, tổngThạch Khê nay là xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, đã quyết định chọn khuvực núi Hoàng, núi Nghiêu (nay thuộc các xã Đông Nam, huyện ĐôngSơn; xã Đồng Thắng, huyện Triệu Sơn và xã Hoàng Sơn, huyện NôngCống) làm căn cứ của nghĩa quân Đây là nơi có núi cao, sông sâu, có

Trang 24

nhiều hang động và thung lũng Nguyễn Chích đã huy động lực lượng đàohào, đắp luỹ, xây dựng Hoàng Nghiêu thành một khu căn cứ quân sự lợihại, gây cho quân Minh nhiều tổn thất nặng nề Thanh thế của nghĩa quânNguyễn Chích lan rộng khắp vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ.

- Nhà thờ Nguyễn Nhữ Soạn

Đền thờ Nguyễn Nhữ Soạn có tên là “Quốc công từ”, được xây

dựng ngay sau khi ông mất (ông mất ngày 8 tháng 4 năm Mậu Thìn-1448).Lần trùng tu gần đây nhất là vào năm 1787 Hiện nay các kiến trúc của nhàtiền đường, hậu cung còn tương đối nguyên vẹn, mang đậm phong cáchkiến trúc thế kỷ XVIII Trong nhà thờ còn lưu giữ bộ long ngai, bài vị vàcòn 22 đạo sắc phong của các triều đại, các câu đối ca ngợi công đức củaNguyễn Nhữ Soạn cùng gia phả dòng họ Nguyễn Nhữ

- Đền thờ Nguyễn Văn Nghi.

Đền thờ Nguyễn Văn Nghi còn được gọi là nghè Phúc, miếu Phúc,

tên chữ là “Phúc Khê tướng công từ” ở phía Bắc thôn Phúc Triền, xã Đông Thanh Nguyễn Văn Nghi là “ bậc danh nho đỗ cao, được ba vua tri ngộ

(Trung Tông , Anh Tông , Thế Tông), đức nghiệp và tiếng tăm hơn cả các nho thần đầu thời Trung Hưng”(1) Khi ông mất, dân làng lập đền thờ ông,

đặt tên là “Phúc Khê tướng công từ”.

Theo văn bia, đền thờ Nguyễn Văn Nghi được xây dựng vào năm

1617 Đến năm 1628, niên hiệu Hoằng Định thứ 18, đời vua Lê Kính Tông,con trai thứ hai của ông là Đăng Quận công Nguyễn Khải mở rộng quy mônhà thờ Đến năm 1631, cháu ngoại ông là Lê Khắc Tuy, tri phủ Hà Trungcùng nhân dân trong huyện Đông Sơn tu bổ hoàn chỉnh thêm

Đền thờ Nguyễn Văn Nghi là một quần thể kiến trúc bao gồmnhiều thành phần kiến trúc với chức năng khác nhau được bố cục theo kiểu

“nội công, ngoại quốc” Bên trong thành nội là các cụm kiến trúc gỗ được xây dựng theo hình chữ “công”, “tam”, “nhị”, “nhất” Đặc biệt là nhóm các

1 Phan Huy Chú, Lịch triều Hiến chương loại chí, Tập 1, Nxb Sử học, 1960.

Trang 25

tác phẩm nghệ thuật điêu khắc bằng đá được bài trí bên ngoài và hai bêntrục đường hiện còn như các tượng chó đá, ngựa đá, voi đá, võ sĩ, giếng đá,bia đá,… với kỹ thuật tinh xảo, thể hiện tài năng của nghệ nhân điêu khắc

đá ở thế kỷ XVII Đlà một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc ở thế kỷXVII của Đông Sơn và tỉnh Thanh Hoá (1)

Cùng với các di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu trình bày ở trên, theo

số liệu thống kê, trên đất Đông Sơn hiện có 125 di tích lịch sử, văn hoá.Trong đó có 15 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, 15 di tích xếp hạngcấp tỉnh

1.2.3 Lễ hội truyền thống.

Lễ hội trong truyền thống dân tộc trở thành một nhu cầu tinh thần, nhucầu tâm linh không thể thiếu trong mỗi tâm hồn người dân đất Việt Lễ hội đểmong cầu cuộc sống yên bình, nhân khang vật thịnh, đất nước phát triển

Tết Nguyên Đán.

Từ xa xưa đến nay, Tết Nguyên Đán là ngày Tết cổ truyền quantrọng và thiêng liêng nhất của cộng đồng người Việt trên mọi miền đấtnước Cũng giống như các miền quê khác, khi mùa xuân về, người ĐôngSơn lại náo nức chuẩn bị đón một năm mới với nhiều kỳ vọng và ước mơtốt đẹp Từ ngày 20 tháng Chạp, không khí chuẩn bị đón Tết đã đến vớitừng gia đình ở các làng xã, hay vùng Cái Tết qua nhanh, từ ngày mùng 3

đến hết ngày mùng 7 Tết, tuỳ từng gia đình mà làm cỗ tiễn “ông bà ông

vải” và những ngày tháng lao động mới lại bắt đầu.

Các ngày Tết khác.

Trong một năm, ngoài Tết Nguyên Đán, người dân Đông Sơn còn

những ngày Tết khác như: Tết Thanh minh (ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch); Tết mùng 5 tháng năm (còn gọi là Tết giết sâu bọ); Tết Rằm tháng 7 (còn gọi là ngày Xá tội vong nhân); Tết Rằm tháng 8 (còn gọi là Tết Trung thu –

ngày Tết dành giêng cho thiếu nhi)

1 Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Nxb KHXH, 2006, tr.432-433.

Trang 26

“Dù ai đi ngán, đi ngưn (2)

Đến kỳ trò diễn Nghè Sâm thì về.

Dù ai công việc bề bề, Việc nhà gác lại, kéo về Nghè Sâm”.

Lễ hội Nghè Sâm, theo tục lệ cứ 3 năm tổ chức một lần, vào cácnăm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi Thời gian tổ chức lễ hội Nghè Sâm là vàonhững ngày cuối tháng Giêng âm lịch và kéo dài từ 7 đến 10 ngày

Ăn Tết Nguyên Đán xong, 9 làng xã của 3 tổng kể trên có trò thamgia Lễ hội, mỗi làng dựng một áng thờ ở khu đất được hàng tổng quy địnhtrên cánh đồng trước Nghè Sâm Áng thờ dựng đơn giản bằng tre, nứa, máilợp ra,… Trong áng thờ bày bàn thờ, kiệu, long ngai, bài vị của thần làng

và hương đèn suốt thời gian lễ hội Các vị hương lão, chức sắc của làngđược cử đi lễ hội túc trực ngày đêm Trong áng thờ còn đặt thêm một cáigiá, trên để một quả hộp sơn son thiếp vàng, phủ vải điều để người xem bỏtiền thưởng khi xem trò Các làng tham gia lễ hội vào ngày kết thúc thườnglàm lễ tạ thần và tổ chức ăn uống linh đình

1 Địạ chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Nxb KHXH, 2006, tr.464 - 474.

2 Tiếng địa phương: “ngán” là xa, “ngưn” là gần.

Trang 27

Trong lễ hội nghè Sâm, trung tâm của phần hội là sự công diễn cácdiễn trò của các làng xã sau khi đã được Hội đồng hàng tổng và đại biểu

của các làng về khảo trò lựa chọn, trở thành một lễ hội lớn trong vùng, thu

hút nhân dân khắp nơi trong huyện Đông Sơn và các vùng lân cận tấp nậpkéo về Viên Khê xem hội Sân khấu để diễn trò là sân Nghè Sâm

Các trò diễn trong Lễ hội Nghè Sâm tiêu biểu như các trò: XiêmThành (không có lời ca, chỉ có vũ điệu); Tô Vũ (múa theo trống phách);Múa đèn (12 cô gái đầu đội đèn, hai tay cầm 2 đèn vừa múa vừa hát) Cáctrò có lời ca có trò: Tiên Cuội (12 nàng tiên cùng chú Cuội vừa múa hátvừa diễn); trống mõ (gồm 4 nhân vật: Trống, Mõ, mẹ Mõ và cu Nhớn); trò

Hà Lan (múa hát, chúc tụng); trò Thiếp (đánh đồng thiếp, hát các bài thỉnh,bài sai); trò Thuỷ (trò rước nước, hát các điệu chèo cạn, chèo đua);…

Trong Lễ hội còn có các trò diễn mang đậm dấu ấn của các làngxung quanh khu vực Nghè Sâm như các trò: Chạy gậy của làng Đại Từ,Ngọc Lậu (xã Đông Thịnh); Tô Vũ chăn dê; múa Lào; Đường Tăng thỉnhkinh của làng Cáo;…

- Lễ hội Cổ Bôn

Cổ Bôn, xưa có tên gọi là Kẻ Bôn, gồm có 4 làng: Ngọc Tích, PhúcTriền, Kim Bôi và Quỳnh Bôi (gọi chung là Tứ Bôn), nay là xã ĐôngThanh, huyện Đông Sơn Đây được xem là nơi lưu giữ một kho tàng vănhoá, văn nghệ dân gian đặc sắc

Cổ Bôn có 4 làng, mỗi làng có một vị thành hoàng riêng (Thànhhoàng làng Ngọc Tích thờ Đế Thích, hiệu là Đức Thánh Cả; Thành hoànglàng Phúc Triền thờ Phúc Khê tướng công Nguyễn Văn Nghi; Thành hoànglàng Kim Bôi thờ Đăng Quận công Nguyễn Khải, là con trai của Phúc Khê

tướng công Nguyễn Văn Nghi; Thành hoàng làng Quỳnh Bôi thờ “Hắc

Bạch Đại vương” - thờ con cáo trắng và đám mây đen)

Tập tục tế lễ ở Cổ Bôn được tiến hành thành một chuỗi từ gia đìnhđến họ hàng, làng nước

Trang 28

Phần lễ được tiền hành như sau:

+ Lễ Triều quan Vào sáng ngày mùng 2 tháng Giêng âm lịch, các

vị trong hội Tư văn tứ xã, khăn áo chỉnh tề tập trung ở nhà Thánh làm lễĐức Khổng Tử và thất thập nhị hiền Sau đó cử từ 10 đến 12 người mặc áothụng xanh hoặc đen, đội mũ tế, đi giày tế đến tận gia đình những vị đỗ đạikhoa để cúng lễ các vị ấy, như: Hoàng giáp Lưu Ngạn Quang, đỗ năm

1481, chức Tả Thị lang; Tiến sĩ Lê Khả Trù, đỗ năm 1628, chức Hộ khoa đôcấp sự trung; Thám hoa Thiều Sĩ Lâm, đỗ năm 1670, chức Tham chính sự;Tiến sĩ Lê Khả Trịnh, đỗ năm 1676, chức Hiến sứ;…

+ Lễ khảo học trò (khảo thí) vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch.+ Lễ giỗ chung cả làng ngày 19 tháng Giêng âm lịch Đó là giỗchung những người bị giặc sát hại cùng một ngày, cùng với những vonglinh 5 đời không ai thờ cúng, người không có hậu tự

+ Mở hội tế làng Cổ Bôn ngày 20 tháng Giêng Trước đó, chiềungày 19 tháng Giêng, cả bốn làng đều rước kiệu đưa bốn vị thành hoàngđến áng tế Cuộc rước kiệu diễn ra rất trang Nghiêm, lộng lẫy cờ lọngnhưng cũng rất tưng bừng, rộn rã của tiếng trống chiêng và bát âm

Áng tế được xây dựng thành 2 cấp: nền cấp cao đặt bệ thờ bốn vịThành hoàng của bốn làng; Nền cấp thấp, chính giữa là sân tế lễ Hai bên

là hai hàng chiếu ngồi của các quan viên, nha môn, văn trưởng, hương lão.Trong đó, Nha môn và văn trưởng của 4 làng chủ việc tổ chức và điềukhiển Lễ hội

Sáng ngày 20 tháng Giêng, sau khi kiệu và các lễ phẩm đã chuẩn bịxong, đặt đúng vị trí quy định thì Nha môn mới mời các quan viên, tư văn,hương lão vào chiếu ngồi theo một quy định rất cụ thể

Các tế quan gồm 4 Bồi tế, 2 Đông và Tây xướng, 1 chuyển chúc, 1đọc chúc đều là Tư văn cử ra; còn chủ tế bao giờ cũng là Lý trưởng

Trình tự cuộc Đại tế cũng giống các nơi Tế xong, mọi người vẫnngồi tại chỗ Một vị đại diện hàng quan viên (có hàm lục phẩm trở lên và

Trang 29

hưu quan tại làng) ngân nga cao giọng cất tiếng hỏi về tình hình mùa màng,sưu dịch, giá cả Tiếp sau, một vị Nha môn (phải là Lý hương đang làmviệc), Tư văn (Văn trưởng) nhắc lại câu hỏi trên Sau cùng, một vị đại diệnhội hương lão đứng lên trả lời theo đúng tình hình của làng trong năm qua.Qua đó, quan viên nghị định để chọn lấy một trong ba chữ Thượng - Trunghoặc Hạ để quyết định việc mở hội diễn trò.

Mùa màng tươi tốt, xóm làng yên bình quan viên thông ra chữThượng, hoặc chữ trung thì dân các làng chuyền nhau, vỗ tay reo hò

Phần hội Trong lễ hội Cổ Bôn có các trò diễn như sau: 1 Trò đánh

cờ; 2 Trò Tiên cuội; 3 Trò Thuỷ phường; 4 Trò Ngô phường; 5 Trò LanPhường; 6 Trò Lăng ba khúc Trò diễn trên sân áng tế kéo dài 5 - 7 ngày.Suốt thời gian hội hè, các gia đình đón khách, tiếp đãi; nhà thờ các bậc đạikhoa hương đèn không tắt, các cuộc yết lễ ở 4 đền thờ ở 4 làng cũng liêntục diễn ra tuỳ theo các làng

Nhìn chung, Lễ hội truyền thống Đông Sơn cùng với các trò diễnphán ánh nhiều mặt trong cuộc sống hàng ngày cũng như tâm tư nguyệnvọng của quần chúng nhân dân Có thể nói, lễ hội Nghè Sâm và Cổ Bôn làmột nét đặc sắc trong lễ hội dân gian vùng Đông Sơn

1.3 Văn học - Giáo dục

1.3.1 Văn học dân gian và Văn học viết.

1.3.1.1 Văn học dân gian.

Văn học dân gian Đông Sơn là một bộ phận của dòng văn học dângian Thanh Hoá Nó xuất hiện trước khi có chữ viết và song hành cùng vớivăn học thành văn Các thể loại văn học dân gian được lưu hành trong cảnước đều được bắt gặp ở đây, như thơ ca dân gian (tục ngữ, ca dao, dân ca,

…) và văn xuôi dân gian

- Truyện kể dân gian (1) Gồm có các loại chủ yếu như: Thần thoại,

cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn,… được truyền tụng trong các thế hệ

1 Dẫn theo Khảo sát Văn hoá truyên thống Đông Sơn, Nxb KHXH, Hà Nội.1988.

Trang 30

cư dân, được ghi rải rác trong các thần phả, thần tích, có khi ở các đình,chùa, đền, miếu cũng có truyền thuyết về sự tích xây dựng,… Trong cáctruyện kể dân gian, tiêu biểu là truyện:

“Núi Quảy, sông Cày” Truyện kể về một chàng trai với sức khoẻ

lạ thường đã vào rừng Nưa thuần phục được con voi chéo ngà, chặt mộtcây gỗ lim xanh nghìn tuổi làm đòn gánh, gánh hai ngọn núi đặt chỗ khác.Chàng còn dùng cây gỗ lim làm cày, voi chéo ngà làm trâu cày một đườngdài thành sông – sông Cày

Sự tích núi Vọng phu Truyện kể về người vợ thương nhớ chồng,

cứ chiều chiều lại bồng bế đàn con lên núi ngóng chờ chồng và lâu ngày

mẹ con đều hoá đá Dân gian gọi hòn đá có hình dáng giống người trênđỉnh núi An Hoạch là Hòn vọng phu

Vợ chồng anh Kình Truyện kể về hai vợ chồng anh Kình khảng

khái lên trời hỏi kiện, nhưng bị Trời từ chối không gặp Cuối cùng, ngườichồng bị ốm nặng, người vợ phải đi xa tìm thuốc cho chồng Khi về đến nhà thìthấy chồng bị tướng Hổ lén giết hại, vợ Kình lên Trời bắt đền Trời cho hai vợchồng biến thành núi Kim Đồng và Ngọc Nữ để họ mãi mãi bên nhau

Trương Ba đánh cờ Xưa ở xứ Bồ Lồ (nay thuộc xã Đông Thanh),

có người tên là Trương Ba rất giỏi đánh cờ Một hôm, có một cụ già đếnxin đánh cờ cùng Trương Ba Trương Ba bị thua, ông già hẹn năm sau cứđến ngày 18 tháng 8 thì đến chơi cờ Nhưng không bao giờ thấy ông trở lại.Người ta cho rằng ông lão đó là Đế Thích

Ông đồ Bôn hay chữ Truyện kể về ông đồ làng Cổ Bôn hay chữ,

khéo đối đáp nên đã cưới được cho cháu trai ngu dốt của mình một cô vợdịu hiền nết na, xinh xăn nhất vùng

Ba mươi tuổi mới đi học mà đỗ Hoàng giáp Chuyện kể về Lưu

Ngạn Quang là con trai của một gia đình nghèo, phải đi làm thuê, đi buônnhưng vẫn không đủ sống Khi đó gặp được người con gái khuyên bảo,Lưu Ngạn Quang quyết chí vừa đi làm thuê vừa đi học Đến năm ba mươi

Trang 31

tuổi, nhà vua mở kỳ thi, ông thi đỗ Hoàng Giáp, Khoa Tân Sửu, năm 1481,đời vua Lê Thánh Tông

- Phương ngôn, ngạn ngữ, tục ngữ

Là những nhận thức, kinh nghiệm của cư dân Đông Sơn về thiênnhiên, lịch sử, xã hội và con người đã được sàng lọc qua thời gian Có thểnói, đó là tấm gương phản ánh theo cách dân gian về thiên nhiên, lịch sửcon người ở trực tiếp vùng quê Đông Sơn

+ Phương ngôn, ngạn ngữ Là những câu tiêu biểu chỉ địa danh, sảnvật và danh nhân quê hương:

“Buôn bông là xã Làng Đà

Dệt cửi trong nhà là xã Bến Quan

Nấu rượu là xã Làng Chan

Cử nhân tiến sĩ thì sang Phúc Triền

Bánh đúc đỗ lộn (lẫn) cháo chiên

Củ từ khoai nướng đưa viền (về) Quỳnh Bôi”…

+ Tục ngữ

Về thời tiết: - Đói thì ăn ráy, ăn khoai

Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng.

- Gió đông là chồng lúa chiêm, Hiu hiu gió bắc là duyên lúa mùa…

Về đời sống, sinh hoạt:

- Bên thẳng thì bên phải chùng Hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây.

- Chim tham ăn sa vào mồi lưới,

Cá tham mồi mắc phải lưỡi câu …

- Ca dao

Ca dao nơi đây không chỉ đề cập đến tên đất, tên làng của vùng đấtnày mà còn cho ta thấy thấp thoáng trong đó đời sống kinh tế, các hoạtđộng văn hoá - xã hội mang đậm dấu ấn của cư dân Đông Sơn

Trang 32

+“Năm làng bắt mái chèo bơi

Chèo từ làng Phú tới nơi làng Hồng Nức lên như cánh chim tung Năm làng, năm lá cờ chung cột lèo Trên bờ trống thúc, người reo Dưới sông dô huậy tiếng chèo lanh lanh”.(1)

+“Làng Nhồi đục đá, nung vôi

Hương Bào trồng cải cho người ta mua.

Lấy chồng làng Rủn làm quan, Ngã năm Tuyên Hoá đốt than nhọc nhằn” (2)

- Dân ca

Đông Sơn là một vùng dân ca nổi tiếng của xứ Thanh mà trung tâm

là vùng Đông Anh (nay là một xã trong huyện Đông Sơn) Dân ca ĐôngAnh mang nội dung phong phú, trữ tình

Trong dân ca Đông Sơn nói chung, thể loại hát đối đáp(3) giữa nam

và nữ, hay còn gọi là hát trao duyênrất phổ biến Đây là một hình thức sinh

hoạt “văn nghệ” phổ biến trong các làng xã trong những đêm trăng thanh,

gió mát; trong các lễ hội,… tạo nên một nét văn hoá truyền thống đặc sắccủa Đông Sơn

Mở đầu cuộc hát trao duyên là những lời giới thiệu làm quen:

“Phượng hoàng chắp cánh bay qua

Thấy cây tươi tốt liền xà xuống chơi”

Tiếp theo nội dung hát ngoài thăm hỏi về quê quán, gia đình, chủyếu là hỏi thăm về tình duyên đã được ước hẹn hay chưa:

“Đã mời không lẽ không vào

Sông sâu chẳng biết có sào cắm chưa?

Biết anh là ở mô đây ?

1 Làng Phú nay thuộc xã Đông Nam; Viên Khê nay thuộc xã Đông Anh.

2 Làng Nhồi nay thuộc xã Đông Hưng; làng Rủn nay thuộc xã Đông Khê; ngã năm Tuyên Hoá nay thuộc

xã Đông Minh; Hương Bào nay thuộc Tp Thanh Hoá.

3 Dẫn theo Khảo sát Văn hoá truyền thống Đông Sơn, Nxb KHXH, Hà Nội.1988.

Trang 33

Cớ sao lại hỏi sông này sâu nông, Phận em là gái chưa chồng Làm chi mà biết nông sâu thế nào?” ….

Sau đó là những nội dung hát mang tính chất thử tài đối đáp.Thường bên nữ hát trước, nam hát sau Mỗi bên hát một câu cùng một đềtài: “Trèo lên chót vót ngọn sồi

Anh bao nhiêu tuổi mà đòi lấy em?

Trèo lên chót vót ngọn chanh,

Em hai mươi tuổi lấy anh cũng vừa” …

Trước lúc chia tay, hai bên lại hát những câu đầy bâng khuâng lưuluyến, hẹn ngày gặp lại, dặn dò, thề thốt:

“Chàng đà có dạ sắt son

Thiếp đâu có dám thiệt hơn những lời Xin chàng hãy tạm trở lui

Nước non còn đó, còn lời thuỷ chung”.

Ngoài dân ca Đông Anh, ở Đông Sơn còn có các làn điệu hát ru,hát cửa đình rất phong phú

- Trò diễn dân gian

Là nét đặc sắc trong kho tàng văn hoá dân gian truyền thống ĐôngSơn Là một huyện đồng bằng trung tâm của Thanh Hoá, ở Đông Sơn nghềnông là nghề cơ bản Vậy nên, nội dung của các trò diễn dân gian ĐôngSơn cơ bản là phản ánh đời sống sản xuất nông nghiệp, phục vụ nhà nông,phản ánh phong tục, lịch sử, đời sống xã hội,…

Trung tâm trò diễn nổi tiếng là Lễ hội Nghè Sâm và lễ hội Cổ Bôn

Gồm có các trò diễn tiêu biểu sau: Trò Xiêm Thành Là trò múa theo nhịp

trống có mặt nạ, không có lời ca chỉ có vài lời thoại để đưa đẩy cho hành

động; Trò múa đèn Là một tổ khúc rất nổi tiếng Đội múa gồm có 12 người, đèn dầu được thắp sáng và đội lên đầu, vừa hát, vừa múa; Trò Tô

Vũ, còn gọi là trò “Tô tượng đúc chuông”, gồm các nhân vật đeo mặt nạ,

Trang 34

vừa múa vừa hát; Trò Tiên cuội, có các vai diễn gồm 12 tiên nữ và 1 chú cuội; Trò Trống mõ Trò rất dài, như một vở kịch, lời thoại nhiều hơn hát

(chủ yếu là đối đáp giữa Trống và Mõ), sử dụng rất nhiều làn điệu khác

nhau Nhạc cụ đệm là trống và mõ; Trò Hà Lan (còn có tên gọi là trò Huê

Lang, Hoa Lang) Trò này hoá trang rất công phu Lời ca trò Hà Lan cónhiều câu chúc vua, quan, chúc cuộc sống an bình, âm điệu khoẻ và nhịp

nhàng; Trò Thiếp Nội dung biểu diễn là lời đối thoại giữa Tín chủ và thầy

cả Nhạc đệm có trống lớn, trống con, thanh la, Các làn điệu gồm: hát

chúc, hát chầu văn, làn thỉnh,…; Trò “Đấu cờ người”, được tổ chức ngay

trên sân đền Đế Thích Mỗi làng chọn ra một đội gồm 16 người, trọng tài làmột người cao tuổi có tiếng là cao cờ và có uy tín trong làng Đội đượcnhất thì thưởng một tấm lụa tốt và một quan tiền Trong suốt quá trình diễn

ra đánh cờ người ta vừa đánh cờ vừa hát

Ngoài ra, còn có các trò như trò Thuỷ; trò ngô; trò Hùm; trò Tú

Huần; ….

1.3.1.2 Văn học viết.

Mỗi nền văn học, văn hoá của một đất nước thường bao gồmnhững thành tựu tiêu biểu của các vùng, miền trong cả nước Huyện ĐôngSơn với những thành tựu văn học riêng có của mình, cũng đã góp một phần

để chung đúc thành tinh hoa cho nền văn học, văn hoá nước nhà

Về sử học Đông Sơn có Lê Hy (1), là một trong những sử gia có

nhiều đóng góp quan trọng cho Quốc sử quán Việt Nam Theo lời Tựa Đại

Việt sử ký toàn thư do chính Lê Hy viết năm1697, niên hiệu Chính Hoà thứ

18 thì nhà vua đã có sắc chỉ sai Lê Hy cùng 12 người nữa “khảo đính sử cũ,chỗ nào sai thì sửa lại, chỗ nào đúng thì chép lấy Về thế thứ, phàm lệ niênbiểu, hết thảy đều theo như trước đã thuật Lại sưu tầm sự tích cũ, thamkhảo các dã sử, biên chép từ Huyền Thông Mục hoàng đế niên hiệu Cảnh

1 Lê Hy (1646 - 1702), hiệu là Trạm Khê, quê ở xã Thạch Khê, nay là xã Đông Khê, huyện Đông Sơn, đỗ Tiến sĩ năm 1664 Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới triều Lê.

Trang 35

Trị năm đầu (1665), đến Gia Tông Mỹ hoàng đế niên hiệu Đức Nguyên thứ

2 (1675), tất cả thực sự trong 13 năm, gọi là Bản kỷ tục biên” (1)

Như vậy, công lao của nhóm Lê Hy mà ông là người đứng đầu, đốivới Quốc sử là ngoài việc biên soạn phần tục biên gồm 13 năm từ 1663 -

1675, còn giữ vai trò kết thúc công việc biên soạn kéo dài qua nhiều đời và

do đó quyết định bộ mặt của bộ Đại Việt sử ký toàn thư bản Chính Hoà như

chúng ta có hiện nay

Về văn bia

Văn bia là một thể loại đặc biệt của văn học, là điểm nổi bật trongmảng văn học viết của huyện Đông Sơn Mỗi tác phẩm (bài văn bia)thường được ra đời sau một hoàn cảnh, điều kiện nhất định Tác phẩm vănbia nhờ được khắc giữ trên chất liệu bền (chủ yếu là bằng đá, đồng) nên

tránh được tình trạng “tam sao thất bản” và do vậy nó có giá trị lịch sử,

khảo cổ rất cao

Căn cứ vào Ái Châu bi ký (2) do Hồ Đắc Dự chép năm Duy Tân thứ

3 (1909), các công trình Thơ văn Lý Trần (3) do Nguyễn Huệ Chi chủ biên,

thác bản văn khắc Hán Nôm của Viện nghiên cứu Hán Nôm, cùng nhiều tài

liệu khác cho thấy văn bia Thanh Hoá chủ yếu tập trung vào hai huyện ThọXuân và Đông Sơn Theo thống kê hiện có, Đông Sơn có hơn 160 văn bia.Nhưng còn bao nhiêu tác phẩm đã bị mất không tìm ra tăm tích thì vẫn khó

có câu trả lời đích xác

Văn bia huyện Đông Sơn nằm ở gần khắp các xã trong huyện,trong đó chủ yếu là ở hai xã Đông Hưng và xã Đông Tân Văn bia huyệnĐông Sơn phong phú về số lượng, đa dạng về nội dung và nghệ thuật (5).Văn bia huyện Đông Sơn còn có một lịch sử lâu dài vào loại nhất nước

1 Phan Huy Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập I, tr.35.

2 Kí hiệu VHv.1739 tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, gồm 208 trang, bản chép tay.

3 Thơ văn Lý Trần, Tập 1, Nxb KHXH, Hà Nội 1977.

4 Nguyễn Quang Hồng, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tuyển chọn - lược thuật, Nxb KHXH, 1992.

5 Xem chi tiết ở Chương 2 và 3 của Luận văn.

Trang 36

Tiêu biểu có bia Đại Tuỳ Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn,

khắc năm Đại Nghiệp thứ 14 (618) nhà Tuỳ, là bia sớm nhất được đặt tại xãĐông Minh, huyện Đông Sơn Và bia muộn nhất có niên đại thập kỷ 40 của

thế kỷ XX, tiêu biểu là Viễn Chiếu tổng Văn chỉ bi ký, tạo năm Bảo Đại thứ

13 (1938) thuộc xã Đông Phú, huyện Đông Sơn Với lịch sử trải dài đếntrên 13 thế kỷ tồn tại, văn bia huyện Đông Sơn đã góp phần quan trọng vàoviệc tìm hiểu các vấn đề về lịch sử, địa lý, tín ngưỡng, ngôn ngữ,… củahuyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá nói riêng và của Đất nước nói chung

Về thơ, huyện Đông Sơn cũng những tác phẩm thơ đề vịnh thiên

nhiên của thi nhân Đông Sơn, như Nguyễn Mộng Tuân (1) vịnh mai lan cúctrúc,… Nhưng nhìn chung là không nhiều lắm

Về Phú, Nguyễn Mộng Tuân còn là một trong những “phú gia” viết

phú rất tài hoa, là một tác gia quan trọng góp phần làm nên nét đặc sắc củaphú thời Lê Sơ Phú của ông mang xu hướng ngợi ca - ngợi ca chiến côngđánh đuổi giặc Minh xâm lược dành được độc lập dân tộc, ngợi ca sựnghiệp cứu nước, dựng cơ đồ cùa Lê Lợi

Trong số các “phú gia” kiệt xuất, Nguyễn Mộng Tuân của ĐôngSơn có số lượng bài phú nhiều nhất với 41 bài, trong đó không dưới 10 bàitrực tiếp hoặc gián tiếp nói về cuộc kháng chiến, ngợi ca, hoặc nêu gương,

cỗ vũ cho việc xây dựng đất nước sau hoà bình: Lam Sơn phú, Lam Sơn

giai khí phú (Phú khí tốt đất Lam Sơn), Nghĩa kỳ phú (Phú cờ nghĩa), Tẩy binh vũ phú (Phú trận mưa rửa vũ khí), Xuân đài phú (Phú đài xuân), Hậu Bạch Đằng giang phú (Bài phú viết sau về sông Bạch Đằng), Kim giám lục phú (Phú ghi tên gương sáng), Quân chu phú (Phú khuyên vua), … Cũng

như các tác giả cùng thời, ông khai thác ý tưởng “địa linh nhân kiệt” để cangợi nơi phát tích Lam Sơn và căn cứ địa Chí Linh, nhưng cũng chính là để

ca ngợi con người đã khơi dậy từ đất

1 Nguyễn Mộng Tuân, tự là Văn Nhược, hiệu là Cúc Pha, người làng Viên Khê, huyện Đông Sơn Ông đỗ Thái học sinh 1400, giữ chức Tả nạp ngôn.

Trang 37

Có thể nói, Nguyễn Mộng Tuân là người “viết phú có bản lĩnh,

xứng đáng giữ vị trí quán quân” (1) trong làng phú Việt Nam Bởi khôngchỉ số lượng bài phú, mà còn cả ở khả năng đưa phú vào những đề tài thời

sự nóng bỏng với một giọng điệu hào hùng, những hình ảnh, thành ngữ đặcsắc có sức sống, đã trở thành điển cố của Văn học Việt Nam,… Ông đã gópphần làm nên một thời thịnh đạt của thể phú Việt Nam

Văn học Đông Sơn tuy không phát triển đều đặn, liên tục nhưngvới sự xuất hiện của các tác gia như Lê Hy, Nguyễn Mộng Tuân,… cũng lànhững “cột mốc” cho biết sự thay đổi và phát triển của nền văn học, họcthuật Đông Sơn nói riêng và cả Thanh Hoá nói chung

1.3.2 Giáo dục thời phong kiến.

Đông Sơn là vùng đất trung tâm của xứ Thanh với những điều kiện

tự nhiên và xã hội thuận lợi, người dân Đông Sơn lại có chí hướng khôngngừng vươn lên, nên giáo dục ở Đông Sơn được hình thành khá sớm vàkhông ngừng phát triển, trở thành một trong những trung tâm giáo dục và

có truyền thống hiếu học nổi tiếng của Thanh Hoá:

Tổ chức trường lớp

Từ thế kỷ XVII, XVIII trở đi, Nhà nước mới lập các trường học ởcác phủ, huyện miền xuôi nhưng không nhiều Cả huyện Đông Sơn chỉ cómột trường huyện, nên phần lớn học sinh đều học ở các trường lớp tư docác ông đồ Nho, các hưu quan mở trường dạy học hoặc do dân các làng xã

tự đóng góp xây dựng

Trường học trong các làng xã ngày xưa gọi là trường, song thực rachỉ là một lớp, gồm nhiều thế hệ học sinh với nhiều trình độ khác nhau vàchỉ có một thày dạy Tất cả giờ giấc, nội dung học tập và phương phápgiảng dạy đều do thầy quyết định Trong một năm học thường được nghỉ 3

kỳ, mỗi kỳ 1 tháng vào dịp thu hoạch vụ chiêm, vụ mùa và tết Nguyên Đán

Chế độ học tập.

1 Nguyễn Huệ Chi, Từ điền Văn học, Tập 2, Nxb KHXH, Hà Nội.1984, tr.75.

Trang 38

Chế độ học tập ngày xưa hầu như chỉ dựa vào các khoa thi làmchuẩn đích, không định thời gian học tập Chương trình học tập thường tuỳtheo trình độ và khả năng của thầy cũng như sức học của học sinh

Ở các kỳ thi không chính thức, kỳ bình văn, sát hạch, sau khi thầygiáo điểm duyệt xong bài, định ngày rằm hay mùng một đầu tháng, họp tất

cả các trò lại để bình những bài văn hay Việc này do các viên Huấn đạo,Giáo thụ, Đốc học chủ trì, có mời các nhà khoa bảng ở địa phương đến

tham dự Vài năm huyện tổ chức sát hạch học sinh các “trường làng” một lần, chọn ra học trò đạt một trình độ nào đó vào học“trường huyện” hay

“trường phủ” Đến gần kỳ thi Hương, quan Đốc học ở tỉnh lại tổ chức một

cuộc sát hạch nữa ở các phủ, huyện cho tất cả thí sinh để chọn ra người đủtrình độ học vấn nhất định tham dự kỳ thi Hương Những người được dự kỳ

khảo hạch này đều được gọi là “Ông học” hay “khoá sinh” không phân biệt

tuổi tác và có thể được làng xã trợ cấp tiền cho việc chuẩn bị dự kỳ thi và

đi thi

Để cổ vũ cho việc học tập, hầu hết các làng xã trong huyện ĐôngSơn đều có Văn chỉ, có hội Tư văn, có ruộng khuyến học… và hầu hết cácHương ước của các làng đều có mục quy định về việc học

Làng Cổ Bôn nay thuộc xã Đông Thanh là một vùng đất học nổi

tiếng của Đông Sơn Làng này hàng năm có “Lễ triều quan” diễn ra vào

sáng ngày mùng 2 Tết để tôn vinh, tưởng nhớ các vị khoa bảng đỗ đạt và

“Lễ khảo thí” được tổ chức vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch(1) để kiểm tratrình độ học trò Những ông thầy giạy học của làng được mọi người hết sứctrọng vọng và lưu truyền danh tiếng

Người mở đầu cho nền khoa bảng Đông Sơn là Lê Văn Hưu, quê ởlàng Phủ Lý, tổng Vận Quy, nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá.Ông thi đỗ Bãng nhãn khoa Đinh Mùi (1427) đời vua Trần Thái Tông khimới 18 tuổi Từ đó đến khi nhà Nguyễn bãi bỏ việc thi cử vào năm 1919,

1 Xem chi tiết ở mục 1.2.2 Lễ hội truyền thống trong Luận văn.

Trang 39

Đông Sơn đã có 32 người đỗ Đại khoa Tính riêng trên phạm vi địa giớingày nay thì huyện Đông Sơn có 18 người, trong đó 17 người đỗ dưới triềuTrần, Hồ, Lê và 1 người đỗ thời Nguyễn Còn trong các kỳ thi Hương, theo

thống kê của “Thanh Hoá đăng khoa lục”, Đông Sơn có 156 người đỗ

Hương cống (Cử nhân) Trong đó, xã có số người đỗ đạt nhiều nhất là xãĐông Thanh, xã Đông Ninh,…

“Thi Hoằng Hoá, khoá Đông Sơn” là sự thừa nhận của nhiều thế hệ

trong cả nước nói chung và Thanh Hoá nói riêng về thành tích học hànhkhoa bảng của huyện Đông Sơn và Hoằng Hoá trong thời phong kiến Bởivới nền giáo dục được đề cao, riêng ở Đông Sơn đã xuất hiện những cánhân tài cao đức trọng, trình độ uyên bác, khoa bảng đỗ đạt trong hệ thốnggiáo dục thời bấy giờ như: Lê Văn Hưu, Nguyễn Mộng Tuân, Lê Hy,

Nguyễn Văn Nghi,…góp phần đưa Đông Sơn trở thành một vùng “đất học”

nổi tiếng của xứ Thanh

1.3.3 Một số danh nhân tiêu biểu

1.3.3.1 Lê Cốc.

Lê Cốc tự là Ngọc, tổ tiên làm quan đời Tấn ở Trung Quốc đượcphong tước hầu Đời nhà Tuỳ, Lê Cốc được bổ làm Tuyên uý tướng quân,Thái thú quận Nhật Nam Đến niên hiệu Đại Nghiệp nhà Tuỳ, ông được đổi

là Thái thú quận Cửu Chân Lê Cốc lấy vợ người quận Nhật Nam (nay làNghệ An), sinh được ba trai, một gái

Sau khi nhà Đường lên thay nhà Tuỳ, Lê Cốc không chịu thuầnphục nhà Đường, đã chia phái các con ra đóng giữ các địa phương chống

lại quân nhà Đường Tại Đồng Pho, Lê Cốc đã cho xây sinh phần, lập Bảo

an đạo trường làm nơi tu tĩnh và xây dựng thành trì Trong cuộc chiến đấu

đó, Lê Cốc cùng vợ và các con lần lượt hy sinh Tôn kính ông và nhữngngười con đã hy sinh, nhân dân các làng trong các tổng của huyện ĐôngSơn đều lập đền thờ, tôn vợ con ông làm phúc thần

I.3.3.2 Thiều Thốn (1326 - 1380)

Trang 40

Thiều Thốn quê ở làng Nhuận Thạch, xã Thọ Sơn nay là làngNhuận Thạch, xã Đông Tiến Thân phụ ông là Thiều Kim Tình, sau được

phong tặng là “Trung hậu Quận công” Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Ngọc Nga, được phong tặng là “Tiết phụ ý đức, thuận mỹ quận phu nhân”.

Theo gia phả, Thiều Thốn lúc “bảy tuổi khai tâm nhập học, tư chất

thông minh, đọc thông kinh sử hơn các nho sinh, tuổi thiếu thời, mà lời nói

đã anh hùng chí khí Lớn lên ông theo đường “cung kiếm” dốc lòng giúp vua Trần Dụ Tông (1341 - 1369) dẹp giặc, giữ yên bờ cõi, nổi tiếng là thanh liêm, công danh trùm thiên hạ, trung dũng khắp triều đình”, nên

được vua Dụ Tông phong là “Khai quốc công thần, Phụ quốc Thượng

tướng quân, Thượng tể kiêm Trưởng Kim ngô vệ” và gả cho ông công chúa

thứ hai là Trần Thị Ngọc Chiêu

Thiều Thốn có năm người con (3 trai, 2 gái) Sau khi mất (Canh

Thìn - 1380), Thiều Thốn được các triều đại vua sau phong là “Thượng

đẳng Phúc thần Đại vương”, mộ táng ở núi Đào quê nhà, cho phép dân địa

phương lập đền thờ, tế lễ theo “điển phép nhà nước”

I.3.3.3 Nguyễn Mộng Tuân (? - ?).

Nguyễn Mộng Tuân tự là Văn Nhược, hiệu là Cúc Pha quê ở làngViên Khê, xã Đông Anh, huyện Đông Sơn Theo sử liệu, vào thời Hồ Quý

Ly, năm Thánh Nguyên thứ 1 (1400), nhà Hồ mở khoa thi, Nguyễn MộngTuân thi đỗ Thái học sinh, được cử giữ chức Tả nạp ngôn (Ngự sử) Cùngthi đỗ với ông còn có Nguyễn Trãi và Lý Tử Tấn

Nguyễn Mộng Tuân là một nhà nho yêu nước đã sớm tìm đến vớikhởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo và rất được trọng dụng Ôngphụng sự ba đời vua Lê: Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông Dưới thời TháiTông, ông từng giữ chức Trung thư lệnh và Đô uý

Nguyễn Mộng Tuân để lại nhiều tác phẩm lớn, được đánh giá cao

Đó là “Cúc Pha thi tập” gồm 143 bài thơ chữ Hán, và 41 bài phú đặc sắc.

Thơ văn của Nguyễn Mộng Tuân tràn đầy khí thế hào hùng, sôi sục của

Ngày đăng: 06/08/2013, 10:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Sự phân bố bia huyện Đông Sơn - Thanh Hoá theo không gian - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Bảng 1.1. Sự phân bố bia huyện Đông Sơn - Thanh Hoá theo không gian (Trang 56)
Bảng 1.2. Sự phân bố bia theo loại hình di tích Stt Loại hình di tích Số lượng - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Bảng 1.2. Sự phân bố bia theo loại hình di tích Stt Loại hình di tích Số lượng (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w