1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số định hướng và giải pháp để nâng cao vai trò điều tiết tiền tệ của ngân hàng trung ương

21 456 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số định hướng và giải pháp để nâng cao vai trò điều tiết tiền tệ của ngân hàng trung ương
Trường học Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Kinh tế tiền tệ
Thể loại Báo cáo, luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 132,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngân hàng trung ương là một cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, được độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng ngân hàng, với mục tiêu cơ bản là ổn định giá trị đồng tiền, duy trì sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng trung ương nắm giữ một trong những công cụ quan trọng nhất để quản lý nền kinh tế vĩ mô, đó là chính sách tiền tệ. Bởi vậy, Ngân hàng trung ương có vị trí đặc thù trong bộ máy điều hành và quản lý vĩ mô của nhà nước. ở Việt Nam, Ngân hàng trung ương là cơ quan của chính phủ, có trách nhiệm chủ trì và xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia, kế hoạch cung ứng lượng tiền bổ sung cho lưu thông hàng năm. Điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, thực hiện việc đưa tiền ra lưu thông và rút tiền từ lưu thông về theo tín hiệu của thị trường trong phạm vi lượng tiền cung ứng đã được chính phủ phê duyệt. Chính vì vậy ngân hàng có vai trò to lớn trong điều tiết, kiểm soát thị trường tiền tệ. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, trong những năm qua. thị trường tiền tệ Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện theo xu hướng năng động, tích cực, phù hợp với xu thế phát triển năng động của nền kinh tế. Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ khá phong phú với các cách khác nhau, nhưng đều hoạt động với mục tiêu duy nhất là phát triển thị trường tiền tệ tạo điều kiện cho kinh tế phát triển trong thời kì mới. Mặc dù đến nay qui mô của thị trường này còn rất khiêm tốn nhưng nó đã đóng góp vai trò nhất định trong việc kết nối cung cầu về vốn ngắn hạn cho các ngân hàng, doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh ... Thị trường nội tệ liên ngân hàng được hình thành từ năm 1993, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hình thành năm và hoạt động khá hiệu quả đã chứng minh cho sự lớn mạnh của thị trường tiền tệ Việt Nam. Đặc biệt, thị trường tiền tệ Việt Nam đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho các ngân hàng trong việc bảo đảm khả năng thanh toán, an toàn hệ thống, cũng như mở rộng nguồn vốn cho vay. Trong những kết quả đó, không thể không kể đến vai trò điều tiết của NHNN Việt Nam.

Trang 1

Một số định hướng và giải pháp để nâng cao vai trò điều tiết tiền tệ của

ngân hàng trung ương

I LỜI MỞ ĐẦU

Ngân hàng trung ương là một cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, được độcquyền phát hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện chức năng quản lý nhànước về hoạt động tiền tệ, tín dụng ngân hàng, với mục tiêu cơ bản là ổnđịnh giá trị đồng tiền, duy trì sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng.Ngân hàng trung ương nắm giữ một trong những công cụ quan trọng nhất đểquản lý nền kinh tế vĩ mô, đó là chính sách tiền tệ Bởi vậy, Ngân hàngtrung ương có vị trí đặc thù trong bộ máy điều hành và quản lý vĩ mô củanhà nước ở Việt Nam, Ngân hàng trung ương là cơ quan của chính phủ, cótrách nhiệm chủ trì và xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia, kế hoạchcung ứng lượng tiền bổ sung cho lưu thông hàng năm Điều hành các công

cụ chính sách tiền tệ, thực hiện việc đưa tiền ra lưu thông và rút tiền từ lưuthông về theo tín hiệu của thị trường trong phạm vi lượng tiền cung ứng đãđược chính phủ phê duyệt Chính vì vậy ngân hàng có vai trò to lớn trongđiều tiết, kiểm soát thị trường tiền tệ

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, trong những năm qua thị trường tiền tệ ViệtNam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện theo xu hướng năng động,tích cực, phù hợp với xu thế phát triển năng động của nền kinh tế Các chủthể tham gia thị trường tiền tệ khá phong phú với các cách khác nhau, nhưngđều hoạt động với mục tiêu duy nhất là phát triển thị trường tiền tệ tạo điềukiện cho kinh tế phát triển trong thời kì mới Mặc dù đến nay qui mô của thịtrường này còn rất khiêm tốn nhưng nó đã đóng góp vai trò nhất định trongviệc kết nối cung cầu về vốn ngắn hạn cho các ngân hàng, doanh nghiệp,các tổ chức kinh doanh Thị trường nội tệ liên ngân hàng được hình thành

từ năm 1993, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hình thành năm và hoạtđộng khá hiệu quả đã chứng minh cho sự lớn mạnh của thị trường tiền tệViệt Nam Đặc biệt, thị trường tiền tệ Việt Nam đã góp phần tháo gỡ khó

Trang 2

khăn cho các ngân hàng trong việc bảo đảm khả năng thanh toán, an toàn hệthống, cũng như mở rộng nguồn vốn cho vay Trong những kết quả đó,không thể không kể đến vai trò điều tiết của NHNN Việt Nam.

Tuy nhiên TT trường tiền tệ của Việt Nam vẫn phát triển ở mức độ thấp xéttrên cả góc độ qui mô, chủng loại hàng hoá và công cụ giao dịch Các thànhviên tham gia thị trường tiền còn có nhiều hạn chế, bản thân một số tổ chứcchưa quản lý vốn một cách linh hoạt và hiệu quả, chưa chủ động tham giathị trường tiền tệ để sinh lời nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình Nhất làhiện nay hệ thống ngân hàng còn đang trong giai đoạn cải cách, củng cố nêncũng ảnh hưởng đến khả năng tham gia của các tổ chức tổ chức, cá nhân vàothị trường tiền tệ Luật pháp về ngân hàng còn nhiều vấn đề chưa phù hợpvới tình hình thực tế, công nghệ ngân hàng chưa hiện đại đảm bảo khả năngthanh toán cũng như sự luân chuyển vốn nhanh giữa các tổ chức tín dụng.Ngân hàng chưa phát huy tốt vai trò hướng dẫn thị trường, khuyến khích cácthành viên tham gia các giao dịch ngân hàng và sử dụng nguồn vốn Chế độlãi suất chưa hoàn toàn linh hoạt nhằm thu hút lượng vốn nhàn rỗi trong dâncũng như thu hút vốn đầu tư của nước ngoài Một số mô hình định chế tàichính khá thành công trong việc đầu tư trên thị trường tiền tệ ở các nướccũng chưa được tạo điều kiện giới thiệu và hình thành

Chính vì thế trong bài viết này, tôi muốn đề cập đến một số vấn đề về vai tròđiều tiết thị trường tiền tệ của ngân hàng trung ương Việt Nam trong nềnkinh tế thị trường hiện nay, qua đó cũng xin mạn phép đưa ra một số giảipháp để ngân hàng nhà nước phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình

Trang 3

II VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TRONG VIỆC KIỂM SOÁT THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

1 Khái niệm

1.1 Thị trường tiền tệ

Thị trường tiền tệ là một loại hình thị trường tài chính Sứ mệnh của nó làthực hiện sự trao đổi vốn ngắn hạn giữa các tác nhân trong nền kinh tế,thông qua việc trao đổi các giấy tờ có giá ngắn hạn

Theo nghĩa cổ điển, thị trường tiền tệ là thị trường thuần tuý liên ngânghàng, với hai chức năng cơ bản là: cân đối điều hoà nguồn vốn vay và chovay giữa các ngân hàng TW và các ngân hàng thương mại, cân đối điều hoàkhả nảng chi trả giữa các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, từ thập 70 trở

đi thị trườmg tiền tệ đã mở rộng với sự tham gia của nhiều tác nhân kinh tế

Do vậy, TTTT ngày nay được hiểu như là nơi thực hiện toàn bộ nhữngkhoản cho vay và những khoản đi vay của các chủ thể, trên cơ sở một hợpđồng nhất định, theo một giá nhất định và theo một thời hạn cụ thể, nhằmtạo ra sự cân bằng cung cầu tiền tệ

1.2 Vai trò của thị trường tiền tệ

Thị trường tiền tệ tạo ra môi trường sinh lời cho các cá nhân, các doanhnghiệp hiện đạng nắm giữ trong tay một số lượng tiền nhàn rỗi vào việc muanhững công cụ tín dụng ngắn hạn và được lời do không để tiền trong kéthoặc kí gửi vào tài khoản không kì hạn ở ngân hàng nếu tài khoản nàykhông được hưởng lãi Thị trường tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho cácngân hàng kinh doanh nói chung, đặc biệt là các ngân hàng thương mạitrong việc điều chỉnh mức dự trữ, các phương tiện chi trả, để ứng phó vớinhững nhu cầu muôn màu của khách hàng Thị trường tiền tệ là nơi thực thinghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương Bằng việc mua bán cácloại chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, ngân hàng trung ương tácđộng đến sự phát triển kinh tế Khi cần khuyến khích kinh tế tăng trưởng,

Trang 4

ngân hàng trung ương mua vào các chứng khoán ngắn hạn bơm thêm tiềnvào chu chuyển kinh tế dẫn đến tăng sức mua kích thích kinh tế tăng trưởng.Ngược lại nếu ngân hàng trung ương bán các chứng khoán ngắn hạn, sẽ rúttiền khỏi chu chuyển kinh tế, dẫn đến sự thu hẹp sức mua xã hội, làm chậm

đà tăng trưởng cuả nền kinh tế

1.3 Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ

Các doanh nghiệo sản xuất kinh doanh khi bán sản phẩm của họ nhận đượcgiấy nợ hối phiếu,thường đem chúng ra thị trường tiền tệ để nhận được tiềngiao dịch, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Mặt khác, khi họ làngười mua hàng hoá và dịch vụ, họ lại có thể mau lại giấy tờ có giá trị thíchhợp tại thị trường tiền tệ để sau này chi trả cho người bán Các ngân hàngkinh doanh đóng vai trò chủ lực trên thị tiền tệ Các ngân hàng này tham giathị trường tiền tệ để điều hoà nhanh nhậy mức dự trữ ngân quỹ Đồng thờiqua thị trường tiền tệ, các ngân hàng thực hiện việc môi giới chứng khoán.Các tổ chức trung gian tài chính phi ngân hàng, như các công ty bảo hiểm,quỹ tín dụng, các công ty tài chính coi thị trường tiền tệ như là nơi kiếmthu nhập qua việc bỏ vốn tạm thời vào mua các giấy tờ có giá ngắn hạn,hoặc vay vốn tạm thời qua việc bán các giấy tờ có giá ngắn hạn

Các nhà môi giới chuyên nghiệp tham gia thị rường tiền tệ với tư cách làngười trung gian trong việc mua các giấy tờ có giá ngắn hạn của các hãngsản xuất kinh doanh, giữa các ngân hàng và các tổ chức tà chính trung gianphi ngân hàng

Bộ tài chính thông qua kho bạc Nhà nước tham gia thị trường tiền tệ với tưcách là người bán các tín phiếu kho bạc nhà nước ngắn hạn, dưới hình thứcbán đấu giá cho các ngân gàng kinh doanh và các tổ chức trung gian tàichính phi ngân hàng

Các nhà môi giới chứng khoán tham gia thị trường tiền tệ với tư cách làngười trung gian trong việc mua bạn các giấy tờ có giá ngắn hạn của các

Trang 5

hãng kinh doanh sản xuất, giữa các ngân hàng và các tổ chức tài chính trunggian phi ngân hàng Qua nghiệp vụ này họ hưởng hoa hồng môi giới

Ngân hàng trung ương tham gia thị trường tiền tệ với tư cách là người chỉđạo của thị trường, thông qua việc mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, xácđịnh lãi suất và tăng, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc NHTW cung ứng tiền chonền kinh tế, điều hành lưu thông tiền tệ cho nền kinh tế và quản lí hệ thốngngân hàng bảo đảm lưu thông tiền tệ ổn định tạo điều kiện phát triển kinh tế,tạo việc làm, kiềm chế lạm phát

1.4 Hoạt động của thị trường tiền tệ và sự can thiệp của ngân hàng trung ương

Nghiệp vụ vay mượn giữa các ngân hàng trung ương với các ngân hàngthương mại, cũng như các ngân hàng thương mại với nhau được tiến hànhtheo những kì hạn nhất định, theo ngành, theo tháng, theo năm Các chủ thểvay có thể và không cần giao các giấy tờ có giá để đảm bảo

Nghiệp vụ mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn do ngân hàng trung ươngthực hiện và đối tác thường là các ngân hàng kinh doanh, trong đó chủ yếu

là các ngân hàng thương mại Khi thị trường tiền tệ ở trạng thái cân bằng,các ngân hàng trung ương xuất hiện với tư cách là người tổ chức đơn thuần.Song khi thị trường tiền tệ mất cân bằng, ngân hàng trung ương lại xuất hiệnvới tư cách là người cac thiệp chủ yếu: thực hiện đưa tiền ra, rút tiền vào,điều chỉnh lãi suất, dự trữ bắt buộc Ngân hàng trung ương can thiệp vàothị trường tiền tệ thông qua chính sách tiền tệ - đó là một bộ phận cấu thànhquan trọng trong tổng thể các chính sách kinh tế vĩ mô có tác động mạnh mẽ

và hết sức nhạy cảm với toàn bộ hoạt động của nền kinh tế Thông qua việcđịnh hướng và điều chỉnh kịp thời mọi hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngânhàng, chính sách tiền tệ luôn duy trì sự ổn định của hệ thống tiền tệ, kiểmsoát lạm phát và góp phần bảo đảm sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế.Chính sách tiền tệ thường sử dụng các công cụ chính:

Trang 6

Ngiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ NHTW mua và bán các loại chứngkhoán có giá, mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc nhà nước, nhằm duy trì lượngtiền cung ứng mục đích chính là tác động vào thị trường tiền tệ Ngân hàmgtrung ương mua bán các chứng khoán trên thị trường tiền tệ sẽ làm thay đổi

cơ số tiền tệ( tiền đang lưu hành trong hệ thống ngân hàng và ngoài hệ thốngngân hàng) Đó là nguồn gốc chính gây nên sự biến độngtrong cung ứng tiềntệ

a Khi ngân hàng trung ương mua chững khoán trên thị trường tiền

tệ, làm tăng cơ số tiền tệ, qua đó làm tăng lượng tiền cung ứng ng mua chứng

b Khi ngân hàng trung ương bán chứng khoán, thu hẹp cơ số tiền tệ, qua đó giảm lượng tiền cung ứng.

Thị trường mở là công cụ quan trọng nhất của ngân hàng trung ương trongviệc điều tiết lượng tiền cung ứng.Ngân hàng trung ương có thể kiểm soátđược hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị trường tự do linh hoạt, chính xác, có thểđược sử dụng ở bất cứ mức độ nào, điều chỉnh một lượng tiền cung ứng lớnhay nhỏ bằng cách mua hoặc bán 1 lượng lớn hay nhỏ chứng khoán để phùhợp với lượng dự trữ lớn hay nhỏ Ngân hàng trung ương có thể dễ dàng đảongược lại tình thế của mình, nếu Ngân hàng trung ương mắc sai sót có thểsửa chữa ngay lập tức Ví dụ, khi Ngân hàng trung ương nhận thấy lãi suấttrên thi trường tiền tệ hiện đang quá thấp do vừa qua ngân hàng trung ươngthực hiện mua quá nhiều trên thị trường mở, thì có thể ngay tức khắc sửachữa nó bằng cách bán ngay các giấy tờ có giá cho ngân hàng

Công cụ chính sách chiết khấu Ngân hàng trung ương cho các ngân hàngkinh doanh vay tiền, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng Khi ngân hàngtrung ương nâng lãi suất tái chiết khấu, tức làm cho giá của khoản vay tăng,hạn chế cho các ngân hàng kinh doanh vay, làm cho khả năng cho vay vốnđối với nền kinh tế của ngân hàng kinh doanh giảm xuống, lượng tiền cungứng giảm xuống Ngược lại, khi ngân hàng trung ương giảm lãi suất cho vaytái chiết khấu, giá của khoản vay rẻ hơn khuyến khích cho vay các ngân

Trang 7

hàng kinh doanh, làm cho khả năng hco vay của ngân hàng kinh doanh tănglên, lượng tiền cung ứng tăng lên Chính sách tái chiết khấu không chỉ điềutiết lượng tiền cung ứng, mà còn thực hiện vai trò người cho vay cuối cùngvới các tổ chức tín dụng và tác động đến việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư vớinền kinh tế Bằng cách giảm hoặc tăng mức cầm cố hoặc tỉ lệ chiết khấuNgân hàng trung ương tác động vào việc bảo đảm tiền tệ cho hệ thống kinh

tế Thông thường mức cầm cố cao hơn mức chiết khấu là 1% trong cáctrường hợp ngoại lệ có thể tăng từ 0,5% lên 2%.Ví dụ tháng 3/1989 do nhịp

độ phát triển kinh tế nhanh để kìm bớt tốc độ NHTW Đức nâng mức chiếtkhấu và mức này đạt kỉ lục 7,5% vào tháng 3/1980 Đến giữa năm 1981 dotăng trưởng kinh tế bị chậm lại lẽ ra phải giảm mạnh mức chiết khấu, songđiều này đã không diễn ra vì từ năm 1979 việc Mỹ áp dụng chính sách lãisuất cao đã có ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ, vốn Tây Âu Chỉ tới giữanăm 1982, khi mức lãi suất ở Mỹ giảm mạnh, việc giảm mức chiết khấu củaĐức mới được thực hiện ở Mỹ để duy trì tỷ giá đô la và chống lạm phátmạnh, NHTW Mỹ nâng mức chiết khấu lên tới 14% Các ngân hàng thươngmại phản ứng tình hình trên bằng cách nâng lãi suất lên tới 20% và cao hơn

Dự trữ bắt buộc là một trong ba công cụ của chính sách tiền tệ Đó là số tiềnbắt buộc mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại mà không được cho vay hoặcđầu tư Mức dự trữ này do NHTW qui định và tỉ lệ nhất định so với tổngtiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng Dự trữ bắt buộc tác độngđến cơ chế tạo tiền gửi của các ngân hàng thương mại vì tác động đến lãisuất cho vay của các ngân hàng thương mại từ đó ảnh hưởngđến lượng tiềncung ứng của ngân hàng thương mại với nền kinh tế Ví dụ ở thời điểm nhấtđịnh, với mức dự trữ tối thiểu trung bình là 8% tiền gửi, thì trong tay ngânhàng thương mại còn lại 92%, trong khi đó họ phải trả lãi theo giá trị toàn

bộ 100% số tiền gửi của khách hàng Nếu NHTW năng mức dự trữ tối thiểulên 10% lúc đó ngân hàng chỉ còn được sử dụng 84% tiền gửi của bạn hàng,nhưng họ vẫn phải trả lãi 100% tiền gửi như trước đây Sức mạnh tác độngcủa NHTW với các ngân hàng thương mại nhờ nâng mức dự trữ tối thiểu sẽgây ra việc nâng lãi suất cho vay lên cao

Trang 8

Tuy nhiên, hiện nay dự trữ bắt buộc đóng vai trò kém quan trọng trongchính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương vì kém linh hoạt, phức tạp ảnhhưởng tới lợi nhuận của các ngân hàng.

Thực tế đã chứng minh vai trò quan trọng của ngân hàng trung ương cácnước trong quá trình sử dụng chính sách tiền tệ để tác động đến thị truườngtiền tệ, vị trí và vai trò của ngân hàng trung ương đã được đề cập đến trong

hệ thống luật pháp của các nước:

Theo qui định tại “Luật về ngân hàng liên bang đức”, Ngân hàng liên bangĐức có nhiệm vụ “điều tiết hoạt động lưu thông tiền tệ và cung ứng tín dụngcho nền kinh tế với mục đích ổn định tièn tệ trong đối nội, đối ngoại và đảmnhận nhiệm vụ ngân hàng đối với hoạt động thanh toán trong ước và nướcngoà” Ngân hàng Pháp có nhiệm vụ “ Thiết lập và thực hiện chính sách tiền

tệ với mục đích đảm bảo sự ổn định giá cả, có trách nhiệm ban hành cácchính sách tiền tệ và kiểm soát sự thay đổi về cung ứng tiền tệ, các nhân tốkéo theo sau cung ứng tiền tệ Hệ thống dự trữ Liên bang Mỹ (FED): Cóquyền xác định chính sách tiền tệ và sử dụng các công cụ của chính sáchtiền tệ: nghiệp vụ thị trương mở, dựu trữ bắt buộc và lãi suất chiết khấu.FED đã tác động rất lớn đến thị trương tiền tệvà góp phần vào sự tăng trưởnkinh tế Ví dụ: trong thập kỉ vừa qua, FED đã góp phần vực dậy nền kinh tế

Mỹ từ cuộc khủng hoảng nặng nề bằng việc giảm láI suất ( Từ 9,8% năm

1989 xuống còn 2,9% năm 1993) mf không can thiệp vào cơ chế thị trườngxác định tỉ giá đồng USD ( Thực tế từ 5/1989 đến 9/1992, đồng USD bị phágiá 17%) Trong các năm 1993-1995, FED đã năng lãi suất từ 3% lên 6%,sau đó đồng USD đã phục hồi vị trí của mình trên các thị ngoại hối thế giới.Vào đầu năm 1995 khi sức ép lạm phát đã giảm, FED đã cắt giamr lãi suất

để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Như vậy, FED đã cân đối một cách linhhoạt giữa kiềm chế lạm phát và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhờ vậybảo đảm cho nền kinh tế tương đối an toàn mà không lạm phát cao trongthời gian dài Mới đây ngân hàng trung ương Nhật đã quyết định giữ nguyênchính sách tiền tệ khi bộ tài chính can thiệp vào thị trường tiền tệ lần thứ hai

Trang 9

để hạn chế sự tăng gia mạnh của đồng YÊN Sau một cuộc họp kéo dài 1ngày NHTW Nhật đã quyết định bỏ phiếu giữ mức dự trữ trong tài khoảnvãng lai của mình bằng khoảng 70,9-119,5 tỉ YSD và cho biết nếu nhu cầutiền mặt tăng lên, họ sẽ cung cấp lượng tiền mặt nhiều hơnkhông tuân theochỉ đạo tăng giá đồng YÊN Trước khi bộ tài chính quyết địng can thiệpđồng YÊN dao động quanh 120,1 Yên/USD và 120.58 Yên/USD sau khican thiệp.

Qua những gì đã trình bày ở trên ta thấy được vai trò của ngân hàng trungương trong việc kiểm soát thị trường tiền tệ Tuỳ theo hoàn cảnh của mỗinước mà ngân hàng trung ương của nước đó có chính sách phù hợp để cho

sự can thiệp đạt hiệu quả cao nhất trong mỗi thời kì khác nhau của mộtnước thì biện pháp của ngân hàng trung ương cũng khác nhau Ngay trong

sự lựa chọn giả pháp nào trong chính sách tiền tệ cũnglà một vấn đề cần bàn

để cuối cùng là nâng cao tính độc lập tự chủ của ngân hàng trungương, hạnchế tối đa những biện pháp tình thế, tuỳ tiện để chính sách tiền tệ có thể đạyđược mục tiêu dài hạn như mong muốn là lạm phát thấp, môi trường kinh tế

ổn định và một nền kinh tế phát triển bền vững lành mạnh Trong phần tiếptheo chúng ta sẽ tìm hiểu về vai trò điều tiết thị trường tiền tệ của ngân hàngnhà nước Việt Nam

2 Vai trò của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong việc kiểm soát thị trường tiền tệ

2.1 Một vài nét về thực trạng thị trường tiền tệ Việt Nam

Trước hết, đánh giá một cách sơ bộ có thể thấy rằng mặc dù thị trường tiền

tệ của Việt Nam chưa thực sự phát triển nhưng các bộ phận cấu thành của nócũng đã hình thành ở một mức độ nhất định Trước tiên phải kể đến thịtrường nội tệ và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nơi thực hiện việc điềutiết vốn ngắn hạn bằng VND và ngoại tệ còn bao gồm hoạt động cho vaycủa NHNN dưới các hình thức: tái cấp vốn, tái chiết khấu ; hoạt động thịtrường mở, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ nhằm mục đích điều tiết, cung ứng

Trang 10

vốn khả dụng ngắn hạn cho các ngân hàng; hoạt động mua bán giấy tờ cógiá ngắn hạn.

Thực tế thị trường nội tệ liên ngân hàng được hình thành từ năm 1993 dướihình thức ban đầu là một thị trường tập trung, có tổ chức qua NHNN Tuynhiên, từ năm 1997, hoạt động của thị trường này diễn ra theo hình thức cácngân hàng trực tiếp vay mượn lẫn nhau không thông qua trung gian là ngânhàng nhà nước Các ngân hàng thường có các quan hệ với nhau được dựatrên mức độ tín nhiệm để thoả thuận các phương thức giao dịch, thời hạn ,lãi suất cũng như các điều kiện đảm bảo Cho đến nay, phần lớn các giaodịch liên ngân hàng thực hiện dưới hình thức tín chấp, hoặc bảo đảm bằng

số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay Một số ngân hàng đã thực hiệnquan hệ vay mượn dưới hình thức gửi Tiền lẫn nhau Một điểm đáng lưu ý

là trên thị trường đã hình thành nhóm các ngân hàng thường cung ứngnguồn tiền Đồng mà chủ yếu là các NHTMQD; mà ngược lại nhóm cácNGTMCP và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanhthường có nhu cầu vay tiền đồng Các NHTMCP có qui mô nhỏ, chưa tạolập được uy tín, sở hữu rất ít các giấy tờ có giá ngắn hạn để có thể mua bántrên thị trường , lại thường gặp khó khăn về nguồn vốn tiền Đồng Từ thực

tế trên cho thấy mặc dù, thị trường nội tệ liên ngân hàng đã thực hiện việcđiều tiết vốn ngắn hạn cho các ngân hàng, nhưng chức năng phân phối, đIềuchuyển vốn khả dụng của thị trường chưa được thực hiện một cách hiệu quả.Việc đIều chuyển vốn chỉ diễn ra đối với một số ngân hàng có quan hệ vaymượn thường xuyên và thường chỉ theo một chiều với nhóm ngân hàngthường cho vay và nhóm ngân hàng thường đi vay Thậm chí ở một vài ngânhàng việc điều chuyển vốn trong hệ thống chưa linh hoạt, điều này cũng làmhạn chế sự phát triển của thị trường Lãi suất thị trường liên ngân hàngViệtNam chưa thực sự phản ánh cung cầu vốn khả dụng ngắn hạn trên thịtrường Chính vì vậy lãi suất thị trường nội tệ liên ngân hàng, cũng như cáchoạt động trên thị trường chưa thực sự là nguồn cung cấp thông tin hiệu quảphục vụ cho việc đIều hành chính sách tiêng tệ (CSTT) Về phía NHNN,việc thực hiện vai trò điều tiết tền tệ cũng còn có một số hạn chế nhất định

Ngày đăng: 06/08/2013, 09:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w