1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lí ngoại hối trong tương lai

26 305 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lí Ngoại Hối Trong Tương Lai
Tác giả Nguyễn Thu Hiền
Người hướng dẫn Cô Giáo Nguyễn Thanh Nhàn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Lý Ngoại Hối
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 152,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nhân tố vô cùng quan trọng đưa nền kinh tế của một quốc gia hoà nhập với nền kinh tế thế giới là phát triển thị trường ngoại hối .Khi các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra thường xuyên và phức tạp thì diễn biến của thị trường ngoại hối cũng càng trở nên phức tạp hơn.Do vậy, để có thể phát triển thị trường ngoại hối một cách lành mạnh và bền vững đòi hỏi công tác ngoại hối phải luôn sửa đổi, bổ sung phù hợp với những biến động trên thị trường nhằm kiểm soát được thị trường. Đối với VN là 1 đất nước đang trong thời kì quá độ lên CNXH, chúng ta đang hoà mình vào xu hướng toàn cầu hoá của nền kinh tế nhân loại.Do vậy phát triển thị trường ngoại hối là 1 yêu cầu cấp bách.Tuy nhiên, gắn liền với phát triển thị trường ngoại hối đòi hỏi công tác quản lí ngoại hối ở VN cũng phải được nâng cao.Nếu chúng ta không quản lí ngoại hối để các đồng ngoại tệ mạnh trên thị trường quốc tế xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường ngoại hối VN, khi đó lòng tin của người dân vào đồng nội tệ sẽ giảm, họ sẽ có su hướng cất giữ đồng ngoại tệ;nội tệ mất giá, từ đó ảnh hưởng đến tỉ giá, gây gia lạm phát dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế quốc dân.Quản lí ngoại hối sẽ giúp NHNN kiểm soát được các luồng ngoại tệ chảy ra chảy vào đất nước;điều tiết được tỉ giá sát với tỉ giá trên thị trường phù hợp với cung- cầu ngoại hối…tránh xảy ra tình trạng trên. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lí ngoại hối, em xin có một số ý kiến đóng góp của mình qua đê tài nghiên cứu với tựa đề: ”HOẠT ĐỘNG NGOẠI HỐI Ở VN.THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP” Đề tài có kết cấu 3 chương ngoài phần mở đầu và kết luận Chương I: ý luận chung về quản lý ngoại hối. I.I.Mục đích của quản lí ngoại hối. I.II.Cơ chế quản lí ngoại hối. I.III.Hoạt động quản lí ngoại hối của NHTW. Chương II: Thực trạng quản lí ngoại hối ở Việt Nam II.I:Sơ lược về hoạt động quản lí ngoại hối ở VN. II.II:Thực trạng hoạt động quản lí ngoại hối ở VN. Chương III:Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lí ngoại hối trong tương lai.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Một trong những nhân tố vô cùng quan trọng đưa nền kinh tế của một quốcgia hoà nhập với nền kinh tế thế giới là phát triển thị trường ngoại hối Khi cácquan hệ kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra thường xuyên và phức tạp thì diễnbiến của thị trường ngoại hối cũng càng trở nên phức tạp hơn.Do vậy, để có thểphát triển thị trường ngoại hối một cách lành mạnh và bền vững đòi hỏi công tácngoại hối phải luôn sửa đổi, bổ sung phù hợp với những biến động trên thịtrường nhằm kiểm soát được thị trường

Đối với VN là 1 đất nước đang trong thời kì quá độ lên CNXH, chúng tađang hoà mình vào xu hướng toàn cầu hoá của nền kinh tế nhân loại.Do vậyphát triển thị trường ngoại hối là 1 yêu cầu cấp bách.Tuy nhiên, gắn liền vớiphát triển thị trường ngoại hối đòi hỏi công tác quản lí ngoại hối ở VN cũng phảiđược nâng cao.Nếu chúng ta không quản lí ngoại hối để các đồng ngoại tệ mạnhtrên thị trường quốc tế xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường ngoại hối VN, khi đólòng tin của người dân vào đồng nội tệ sẽ giảm, họ sẽ có su hướng cất giữ đồngngoại tệ;nội tệ mất giá, từ đó ảnh hưởng đến tỉ giá, gây gia lạm phát dẫn đếnkhủng hoảng nền kinh tế quốc dân.Quản lí ngoại hối sẽ giúp NHNN kiểm soátđược các luồng ngoại tệ chảy ra chảy vào đất nước;điều tiết được tỉ giá sát với tỉgiá trên thị trường phù hợp với cung- cầu ngoại hối…tránh xảy ra tình trạngtrên

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lí ngoại hối, em xin cómột số ý kiến đóng góp của mình qua đê tài nghiên cứu với tựa đề:

”HOẠT ĐỘNG NGOẠI HỐI Ở VN.THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢIPHÁP”

Đề tài có kết cấu 3 chương ngoài phần mở đầu và kết luận

Chương I: ý luận chung về quản lý ngoại hối

I.I.Mục đích của quản lí ngoại hối

I.II.Cơ chế quản lí ngoại hối

I.III.Hoạt động quản lí ngoại hối của NHTW

Trang 2

Chương II: Thực trạng quản lí ngoại hối ở Việt Nam

II.I:Sơ lược về hoạt động quản lí ngoại hối ở VN

II.II:Thực trạng hoạt động quản lí ngoại hối ở VN

Chương III:Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lí ngoại hốitrong tương lai

Em xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy và hướng dẫn tận tình của cô giáoNguyễn Thanh Nhàn đã giúp em có kiến thức để hoàn thành đề tài này.Rấtmong nhận được ý kiến đánh giá và góp ý của thầy cô về những thiếu sót và hạnchế trong đề tài của em

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2004

Sinh viên

Nguyễn Thu Hiền

Trang 3

CHƯƠNG I :LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÍ NGOẠI HỐI

I MỤC ĐÍCH QUẢN LÍ NGOẠI HỐI

I.1 Khái niệm:

Ngoại hối là tiền nước ngoài, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có giá vàcác công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài, trong đó đặc biệt là ngoại tệ có vaitrò quan trọng.Nó là phương tiện dự trữ của cải, phương tiện để mua, phươngtiện thanh toán và hạch toán quốc tế, được các nước chấp nhận là đồng tiền quốc

tế như USD, GBP…Khi nền kinh tế phát triển, quan hệ kinh tế quốc tế mở rộng,việc dự trữ ngoại hối trở thành một trong những mục tiêu kinh tế có ý nghĩachiến lươc quan trọng-là công cụ quan trọng để Nhà Nước thực hiện các mụctiêu kinh tế vĩ mô

Với tư cách là cơ quan duy nhất có nhiệm vụ phát hành tiền, xây dựng vàthực thi CSTT, lập và theo dõi cán cân thanh toán quốc tế, NHTƯ đã được giaonhiệm vụ quản lí Nhà nước và kiểm soát ngoại hối trên thị trường ở Việt Nam,vấn đề này được đè cập trong Pháp lệnh NHNN năm 1990(đ.30), Luật NHNNnăm 1997(đ.38) quy định :Nhà nước giao cho NHNN Việt Nam quản lí ngoạihối

Quản lí ngoại hối là việc Nha nước áp dụng các chính sách, biện pháp tácđộng vào quá trình nhập, xuất ngoại hối ( đặc biệt là ngoại tệ ) và việc sử dụngngoại hối theo những mục đích nhất định

I.2 Mục đích của quản lí ngoại hối

I.2.1 Điều tiết tỉ giá thực hiện CSTT quốc gia

NHTƯ tập trung các nguồn ngoại tệ nhằm sử dụng một cách hợp lí, có hiệuquả cho các nhu cầu phát triển kinh tế và hoạt động đối ngoại.Đồng thời sử dụngchính sách ngoại hối như một công cụ có hiệu lực để thực hiện CSTT:thông quamua bán ngoại hối trên thị trường để can thiệp vào tỉ giá khi cần thiết nhằm ổnđịnh giá trị đối ngoại của đồng tiền, tác động vào lượng tiền cung ứng

I.2.2 Bảo tồn quỹ ngoại hối Nhà nước

Nhiệm vụ của NHTƯ là đảm bảo an toàn, chống thất thoát sói mòn quỹ dựtrữ ngoại hối của Nhà nước, đồng thời phải biết sử dụng để phục vụ cho nhu cầuphát triển kinh tế nhằm phát triển quỹ, bảo vệ độc lập chủ quyền về tiền tệ

Trang 4

I.2.3 Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện quan hệ thu chi quốc tế của một nướcvới nước ngoài.Nó phản ánh đầy đủ những xu hướng cung và cầu về ngoại tệtrong các giao dịch quốc tế nên nó tác động lớn đến tỷ giá hối đoái của đồngtiền

Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, tỉ giá vận động theo xu hướnggiảm.Ngược lại khi cán cân thanh toán bội chi, tỉ giá sẽ vận động theo xu hướngtăng.Nếu NHTƯ muốn xác lập một tỉ giá ổn định nghĩa là giữ cho tỉ giá khôngtăng không giảm theo cung cầu ngoại hối trên thị trường, NHTƯ sẽ mua vàohoặc bán ngoại tệ ra làm cho quỹ dự trữ ngoại hối tăng hoặc giảm một lượngtương ứng, từ đó duy trì tỉ giá ổn định

II CƠ CHẾ QUẢN LÍ NGOẠI HỐI

II.1 Cơ chế tự do ngoại hối

Theo chế này ngoại hối được tự do lưu thông trên thị trường, cân bằngngoại hối do thị trường quyết định mà không có sự can thiệp của Nhà nước, dovậy tỉ giá- giá cả ngoại hối sẽ phù hợp với sức mua của đồng tiền trên thịtrường.Tỉ giá thả nổi dẫn đến lãi suất, luồng vốn vào và ra hoàn toàn do thịtrường chi phối

II.2 Cơ chế Nhà nước thực hiện quản lí hoàn toàn

Theo cơ chế này Nhà nước thực hiện độc quyền ngoại thương và độc quyềnngoại hối.Tỉ giá do Nhà nước quy định mà tất cả các giao dịch ngoại hối phảichấp hành, các tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nếu bị lỗ

do tỉ giá thì sẽ được Nhà nước cấp bù, ngược lại nếu lãi thì nộp cho Nhànước.Cơ chế này thích hợp với nền kinh tế kế hạch hoá tập trung

II.3 Cơ chế quản lí có điều tiết

Nhà nước tiến hành điều tiết tỉ giá nhưng gắn với thị trường.Nhà nước kiểmsoát một mức độ nhất định nhằm phát huy tính tịch cực của thị trường, hạn chếnhược điểm do thị trường gây ra, tạo điều kiện cho kinh tế trong nước phát triển

và ổn định, ngăn chặn ảnh hưởng rư bên ngoài

Hiện nay ở Việt Nam đang áp dụng cơ chế quản lí này.Đảng và Nhà nước

ta đã có rất nhiều cố gắng để áp dụng một cách phù hợp nhất với điều kiện thực

tế ở nước ta

Trang 5

III HOẠT ĐỘNG QUẢN LÍ NGOẠI HỐI CỦA NHTƯ

NHTƯ quản lí ngoại hối thông qua việc thực hiện chính sách tỉ giá(canthiệp bằng cách mua bán ngoại hối trên thị trường trong nước và trên thị trườngquốc tế nhằm giám sát và điều tiết thị trường theo mục tiêu của chính sách tiền

tệ, đồng thời theo dõi diễn biến tỉ giá đồng bản tệ để chủ động trong việc duy trìmột tỉ giá ổn định và có lợi).Để làm được điều này NHTƯ phải đảm bảo mộtlượng dự trữ ngoạI hối nhất định Bên cạnh đó NHTƯ còn thực hiện các hoạtđộng về ngoại hối như:

- Quản lí, điều hành thị trường ngoại hối, thị trường ngoại tệ liên ngân hàngbằng cách đưa ra các quy chế gia nhập thành viên, quy chế hoạt động, quy địnhgiới hạn tỉ giá mua bán các ngoại tệ trên thị trường…

- Tham gia xây dựng các dự án pháp luật và ban hành các văn bản hướngdẫn thi hành luật về quản lí ngoại hối

- Cấp giấy phép và thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối.Dựa vào luậtpháp và điều kiện cụ thể trong từng thời gian.NHTƯ đưa ra các quy định cầnthiết để cấp giấy phép cho các C đơn vị, tổ chức, cá nhân có hoạt động ngoạihối

- Kiểm tra, giám sát việc xuất nhập khẩu ngoại hối, kiểm soát các hoạtđộng ngoại hối của các tổ chức tín dụng

- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác về quản lí ngoại hối

- Biên lập cán cân thanh toán

Trang 6

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÍ NGOẠI HỐI Ở VIỆT

NAM

I SƠ LƯỢC VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÍ NGOẠI HỐI Ở VIỆT NAM

I.1 Thời gian trước khi ban hành luật ngân hàng

Đây là thời kì nền kinh tế nước ta theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung.Nhànước nắm độc quyền ngoại thương và ngoại hối.Mọi nguồn thu chi ngoại tệ đềuđược tập trung vào Nhà nước, chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh mới đượcphép tham gia xuất nhập khẩu hàng hoá theo tỉ giá ấn định dẫn đến hiện tượngthu bù chênh lệch ngoại thương.Nhà nước áp dụng chế độ tỉ giá cố định và đa tỉgiá, công bố tỉ giá chính thức Các NHTM được phép kinh doanh ngoại tệ chủđộng quy định tỉ giá mua – bán, trao đổi cụ thể của mình trong biên độ 5%, 7%,10% so với tỉ giá chính thức.Tuy nhiên tỉ giá chính thức lại không phản ánhquan hệ cung – ngoại hối trên thị trường NHTƯ quy định trạng thái ngoại tệ đốivới các NHTM, quy định giới hạn tối đa số dư tiền gửi ngoại tệ của doanhnghiệp trên tài khoản tại ngân hàng, quy định cá nhân mang ngoại tệ qua cửakhẩu khi xuất nhập cảnh từ dưới mức 1000 USD, sau đó được điều chỉng lên

3000 USD rồi 5000 USD và 7000 USD không phải khai báo…

Từ năm 1989 Nhà nước có chủ trương và giải pháp đổi mới đồng bộ trongquan hệ kinh tế đối ngoaị và trong chính sách tỉ giá.Tháng 3.1989 Nhà nước ta

đã áp dụng chế độ tỉ giá được điều chỉnh thường xuyên gần sát với tỉ giá thịtrưoừng.Ngay sau đó NHNN Việt Nam thành lập 2 trung tâm giao dịch hối đoái

ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội để làm thí điểm cho việc tiến tới thành lập một thịtrường hối đoái trong cả nước, đã thành lập và tổ chức hoạt động thị trườngngoại tệ liên ngân hàng.Tỉ giá hối đoái dần dần phản ánh được thực tiễn quan hệcung- cầu ngoại hối trên thị trường, góp phần ổn định VND, làm cơ sở cho sự ổnđịnh môi trường kinh tế và phục vụ tốt cho các hoạt động đối ngoại.Sau khi thựchiện chuyển đổi nền kinh tế, thực hiện Pháp lệnh ngân hàng, NHNN đã banhành các quy chế về quản lí ngoại hối

I.2 Sau khi ban hành Bộ luật ngân hàng

Luật NHNN Việt Nam ban hành tháng 12 năm 1997 Điều 37 đã quy định:Nhiệm vụ và quyền hạn của NHNN Việt Nam về quản lí ngoai hối

Trang 7

1.Xây dựng các dự án luật, Pháp lệnh và các dự án khác về quản lí ngoạihối; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lí ngoại hối theo thẩmquền, các văn bản hướng dẫn thi hành luật về quản lí ngoại hối.

2 Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối

3 Tổ chức, điều hành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trườngngoại hối trong nước

4 Kiểm tra, thanh tra thực hiện các quy định của pháp luật về quản lí ngoạihối, kiểm soát việc xuất nhập ngoại hối

5 Kiểm soát hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng

6 Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác về quản lý ngoại hối theoquy định của pháp luật

Điều 38: Quy định về quản lí ngoại hối nhà nước

1.Dự trữ ngoại hối nhà nước bao gồm:

a.Ngoại tệ tiền mặt, số dư ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi nước ngoài;

b Hối phiếu và các giấy chứng nhận nợ nước ngoài bằng ngoái tệ ;

c Chứng khoán nợ do Chính phủ, ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệhuặc ngân hàng quốc tế phát triển và bảo lãnh

d.Vàng

e.Các loại ngoại hối khác của Nhà nước

2.NHNN quản lí quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước của nước CHXHCNVNtheo quy định của chính phủ nhằm thực hiện CSTT quốc gia, đảm bảo khả năngthanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước

3.Sử dụng dự trữ ngoại hối Nhà nước cho các nhu cầu đột xuất cấp bác củaNhà nước do Thủ tướng CP quết định

4.NHNN báo cáo Chính phủ và UBTV quốc hội về tình hình biến động dựtrữ ngoại hối nàh nước

5.Bộ tài chính kiểm tra việc quản lí ngoại hối nhà nước

Điều 39: Quy định về hoạt động ngoại hối của NHNN:

Trang 8

NHNN thực hiện mua bán ngoại hối trên thị trừơng trong nước vì mục tiêuCSTT quốc gia;mua bán ngoại hối trên thị trường quốc tế và thực hiện các giaodịch ngoại hối khác theo quy định của chính phủ.

Ngày 17-8-1998 Chính phủ đã ban hành nghị định số 63/1998 /NĐ-CP quyđịnh về quản lí ngoại hối.Sau đó, ngày 16-4-1999 NHNNcó thông tư số01/1999/NHNN7 hướng dẫn thi hành nghị định 63/1998 /NĐ-CP về quản língoại hối

II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ NGOẠI HỐI Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY.

II.1 Diễn biến thị trường ngoại hối

Trước năm 1999, trên thị trường ngoại hối nước ta, tiền nước ngoài chủ yếu

là các ngoại tệ mạnh như đồng Phờ-răng của Pháp, đồng Mác Đức, đồng Lia củaItalia.Nhưng kể từ khi đồng EURO được chính thức lưu hành đến nay, các giaodịch tài chính với thị trường quốc tế được tập trung chủ yếu về USD, EURO,Yên Nhật và vàng…Việc quản lí ngoại hối cũng có yêu cầu đổi mới theo cơ cấungoại tệ trên thị trường thay đổi.Trong điều kiện nền kinh tế mở hội nhập kinh tếvới khu vực và quốc tế, các giao dịch, chu chuyển về vốn, tiền tệ của việt Namvới bên ngoài đang có xu hướng phát triển mạnh và ngày càng được tự do hoáhơn vì Vậy thị trường ngoại hối ngày càng phức tạp

Trong thời gian qua, USD, EURO, Yên Nhật và vàng…có những biếnđộng lớn.Xu hướng khái quát qua nghiên cứu được rút ra là USD mất giá so vớiEURO, Yên Nhật, Bảng Anh và 1 số ngoại tệ mạnh chủ chốt khác.Lãi suất USD

và EURO ở mức thấp.trong 2 tháng cuối năm 2002, lãi suất tiền gửi USD chỉ có

2, 0%-2, 2%/năm.Tỉ giá tăng thấp nằm ngoài dự đoán, giữa tháng 12 năm 2002chỉ xoay quanh mức 15100-15400VND/USD

Cũng trong năm 2002 luồng ngoại tệ thu hút vào và chu chuyển qua hệthống ngân hàng tăng cao và ổn định.Tại Hà Nội ước tính đến hết năm 2002tổng tiền gửi và vốn huy động của các NHTM quy đổi đạt 53.865 tỉ VND, tươngđương khoảng 3, 5 tỉ USD, chiếm 43, 9% tổng nguồn vốn huy động của cácTCTD trên địa bàn và vẫn đạt tốc độ tăng 24, 3% so với năm 2002, gần tươngđương với tốc độ tăng vốn huy đọng VND là 25, 5%.Tại TP Hồ chí Minh, cũngước tính đến hết tháng 12-2002, tổng ngoại tệ quy đổi đạt 35.869 tỉ đồng, tươngđương 2, 33 tỉ USD, chiếm 40% tồng nguồn vốn huy động của các TCTD trênđịa bàn và đạt mức tăng tới 29, 1% so với năm trước.Như vậy nguồn vốn ngoại

Trang 9

tệ của dân cư, của các tổ chức và các doanh nghiệp thu hút được và đang do cácNHTM quản lí chỉ ở riêng 2 trung tâm này đã lên tới 5, 83 tỉ USD và vẫn tăng

ổn định.Đáng lưu ý là dư nợ cho vay ngoại tệ ở cả 2 trung tâm lớn này đến thờiđiểm tương tự chỉ khoảng 2, 51 tỉ USD.nghĩa là cung ngoại tệ lớn hơn cầu,chênh lệch 3, 32 tỉ USD được NHTM đầu tư trên thị trường tiền gửi và cho vay

ở địa phương khác

Bước sang năm 2003, đây là 1 năm đày biến động của thị trường ngoại hối.Đối với diễn biến của USD, chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm 2003, USD mấtgiá tới 13, 9% so với EURO, gần 1% so vối Yên Nhật…vào thời điểm ngày 27-5-2003, 1 EURO lên tới đinhe cao đổi được tới 1, 1932 USD.Nhưng từ đầutháng 6 /2003 đến nay thì USD có xu hướng tăng giá trở lại.Trong tháng 8/2003vừa qua, USD đã lên giá 3, 2% so với EURO, 2, 1% so với Bảng Anh nhưng lạimất giá tới 2, 86% so với Yên Nhật

Đối với diễn biến của đồng EURO, kể từ khi chính thức lưu hành trongvòng 4 năm qua có thể thấy thời điểm lên giá cao nhất của nó là vào ngày 27-5-

2003 với tỉ giá trên thị trường thế giới là 1 EURO đổi được 1, 1931-1, 1932USD.Thời điểm đó tỉ giá trong nước là 18.492, 69VND/EURO.Nhưng trong 4tháng qua:tháng 6, 7, 8 và 9/2003 thì quan hệ giữa 2 đồng tiền này diễn biến kháphức tạp, có tuần thì đồng tiền này lên giá hay xuống giá tới mức 2, 5%-3% sovới đồng tiền kia.Theo sát diễn biến đó, tỉ giá mua vào của Vietcombank ngày 1-9-2003 là mua vào 16.935 VND/EUROvà bán ra là 17.139 VND/EURO.Tuynhiên, nhìn rộng ra kể từ đầu năm 2002 đến lúc đỉnh điểm cuối tháng 5/2003,EURO len giá tới 33% so với USD, còn tính đến đầu tháng 9/2003 thì lên giá tới24% so với USD

Biến động lớn nhất là giá vàng được bắt đầu sau sự kiện khủng bố ngày 9-2001, tăng mạnh từ đầu năm 2002 cho đến suốt giai đoạn trước và trong khixảy ra cuộc chiến tranh I-raq.Sau đó giá vàng có giảm nhưng kể từ giữa năm

11-2002 lại tiếp tục tăng.Thị trường vàng trong nước đã lên “cơn sốt”.Tháng 6 –

2002 giá vàng tăng từ 490.000đ/chỉ lên 600.000đ/chỉ.Giữa tháng 12-2002 giávàng trong nước có sự gia tăng đột biến khoảng 20% so với mức giá đầunăm.Bước sang đầu năm 2003 giá vàngtrong nước phổ biến ở mức 670.000đ/chỉđến 680.000đ/chỉ(tăng 22, 2% so với cùng kì 2002).Tính đến tháng 6-2003 chỉ

số giá vàng 136% so với năm 2000;113, 2% so với tháng 6-2002, bằng 110, 1%

so với 12-2002 và bằng 103, 8% so với tháng 5-2003 Sang tháng 9-2003 giávàng tăng đột biến.Ngày 10-9-03 vàng 9999 bán ra ở mức 705.000đ/chỉ, cuối

Trang 10

tháng 9 là 719.000đ/chỉ.Nhìn vào diễn biến giá vàng từ đầu năm 2003 đến nay

có thể thấy rằng những biến động theo chu kì hình Sin đã diễn ra

Trên đây là một số điểm nổi bật về diễn biến của thị trường ngoại hối, từ đó

ta có cái nhìn tổng thể để có thể đánh giá được công tác quản lí ngoại hối ở VNtrong những năm vừa qua

Trang 11

II.2 Thực trạng công tác quản lí ngoại hối ở Việt Nam trong những năm gần đây.

Trong những năm qua, mặc dù thị trường ngoại hối diễn biến khá phức tạpsong có thể khẳng định, 1 thành công quan trọng trong quản lí Nhà nước về điềuhành hoạt động ngân hàng và điều hành CSTT đó chính là chính sách quản língoại hối không ngừng được đổi mới và hoàn thiện, phù hợp với tiến trìnhchung của nền kinh tế, sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam, hướmgtới phù hợp với thông lệ quốc tế và nguyên lí của kinh tế thị trường.Nhưng bêncạnh đó chúng ta cũng còn 1 số hạn chế cần khắc phục.Nhìn từ thực trạng hoạtđộng quản lí ngoại hối ở Việt Nam có thể thấy nổi bật lên 1 số điểm sau:

- Về cơ chế điều hành tỉ giá:

Từ đầu năm 1999 NHNN đã chính thức bỏ cơ chế điều hành tỉ giá theokiểu bao cấp như trước đây, chuyển sang chỉ công bố tỉ giá giao dịch bình quânhàng ngày trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, thay vì công bố tỉ giá chínhthức như trước.Các NHTM chủ động quy định tỉ giá theo biên độ quy điịnh trên

cơ sở tỉ giá do NHNN công bố và yêu cầu kinh doanh của mình, cung cầu ngoại

tệ trên thị trường

Biên độ quy định tỉ giá các NHTM được phép giao dịch cũng không ngừngđược điều chỉnh phù hợp với diễn biến cung cầu ngoại tệ trong nền kinh tế vàtrên thị trường tiền tệ liên ngân hàng theo hướng khuyến khích xuất khẩu.Nếunhư trong giai đoạn đầu 1999-2000, khi mới thực hiện cơ chế này, NHNN cònquy định quá chi tiết các mức biên độ và biên độ quá hẹp, được coi là vẫn canthiệp quá sâu vào công việc kinh doanh của các NHTM, thì nó cũng dần dầnđược chỉnh sửa theo hướng nới rộng hơn và ít kì hạn chi tiết hơn; cụ thể nhưsau:

+ Trong giai đoạn từ 26-2-1999 đến 30-8-2001, NHNN quy định tới 12 kìhạn khác nhau: không kì hạn, kì hạn 30 ngày, từ 31 đến 44 ngày, … với biên độtương ứng từ 0, 10%, …, đến 3, 5%

+ Trong giai đoạn từ 1-9-2000 đến 17-9-2001; NHNN vẫn quy định 12 kìhạn, với mức biên độ bình quân giảm 1/2 so với trước

+ Trong giai đoạn từ 18-9-2001 đến 30-6-2002, NHNN chỉ còn quy định 4

kì hạn: không kì hạn, kì hạn 30 ngày, kì hạn từ 31 ngày đến 104 ngày, kì hạn từ

Trang 12

105 ngày đến 179 ngày; với các mức biên độ được nới rộng gấp gần 2 lần so vớitrước.

+ Trong giai đoạn từ 1-7-2002 đến nay, NHNN quy định có 5 kì hạn; vớicác mức biên độ tiếp tục được nới rộng: tăng lên +/- 0, 25% so với mức +/- o,10% trước đó đối với nghiệp vụ giao ngay; lên +/- 0, 50% so với mức +/- 0,40% của nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn 30 ngày; nên +/- 2, 5% so với mức 2, 35%của nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn trên 90 ngày… Việc điều chỉnh tăng này đápứng được yêu cầu của các TCTD cũng như các doanh nghiệp có nhu cầu muabán ngoại tệ với các ngân hàng, không bị gò bó trong khuôn khổ chật hẹp nhưtrước đây

- Về quản lý ngoại hối

Từ đầu năm 1999, sau khi Luật ngân hàng được ban hành vấn đề quản lýngoại hối đã có nhiều thay đổi:

+ Các doanh nghiệp phải thực hiện kết hối, thay vì chỉ được để số dư tốithiểu tiền gửi ngoại tệ trên tài khoản, đó là phải bán ngay cho ngân hàng sốngoại tệ có được trong một khoảng thời gian xác định cho TCTD Tỷ lệ kết hốithời gian đầu quy định là 100%, sau giảm xuống 80%, rồi xuống 40% và hiệnnay còn 0%

+ Quy định về giới hạn tối đa ngoại tệ cá nhân mang theo khi xuất cảnhkhông phải khai báo lúc đầu ở mức dưới 1000USD, sau đó được điều chỉnh lên3000USD, rồi 5000USD, 7000USD và hiện giờ giảm xuống còn 3000USD.+ Trạng thái ngoại tệ của các NHTM cũng có sự thay đổi:

Đối với các NHTM trong nước, trạng thái ngoại hối được quy định mởrộng, tăng gấp đôi từ 15% lên 30%

Đối với các ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại ViệtNam:

* Việc quản lý trạng thái ngoại tệ của ngân hàng mẹ với chi nhánh tại ViệtNam được thể hiện rất chặt chẽ:

Ngân hàng Citibank quy định chi nhánh tại Việt Nam chỉ được kinh doanhcác đồng tiền khác với hạn mức: đồng Việt Nam:  3, 5 triệu USD; EURO:  500ngàn USD; AUD: 100 ngàn USD và các ngoại tệ khác không quá  50 ngànUSD đối với mỗi loại

Trang 13

Ngân hàng Deutsche bank quy định chi nhánh tại Việt Nam không được sửdụng quá  10 triệu USD để kinh doanh các đồng tiền khác, trong đó đồng ViệtNam không được vượt mức quy định của NHNN

 Về phía NHNN Việt Nam, không có văn bản nào quy định vềtrạng thái ngoại tệ đối với ngân hàng liên doanh Các chi nhánh ngân hàng nướcngoài chỉ bị điều chỉnh về trạng thái đồng Việt Nam theo Quyết định số380/1997/QĐ-NHNN 1 ngày 11-11-1997 và Quyết định số 20/1998/QĐ-NHNN

1 của Thống đốc NHNN với mức  15% so với số vốn cấp và quỹ dự trữ màkhông bị điều chỉnh về mức tổng trạng thái ngoại tệ dương và tổng trạng tháingoại tệ âm đối với các ngoại tệ khác (trừ đồng tiền hạch toán vốn cấp, vốn điều

lệ của ngân hàng, đó là đồng USD được quy định tại Điều 5 và Điều 6 Quyếtđịnh số 1081

+ Quy đinh về quản lý Bàn đại lý thu đổi ngoại tệ

Tính đến hết năm 2002, tại Hà Nội có 250 bàn thu đổi ngoại tệ được phéphoạt động với doanh số thu đổi trong năm 2002 ước tính đạt 210 triệu USD, tăng

17, 5% so với năm 2001 Đồng thời chi nhánh NHNN TP Hà Nội cũng cấp 1200giấy phép chuyển ngoại tệ ra nước ngoài cho ngươì cư trú là công dân ViệtNam, với doanh số 15 triệu USD Trên địa bàn TP HCM, chi nhánh NHNN đãcấp phép cho 191 bàn uỷ nhiệm thu đổi ngoại tệ, xác nhận 70 bàn thu đổi trựctiếp, nâmg tổng số bàn hiện đang hoạt động thu đổi ở đây nên 382 bàn, vớidoanh số thu đổi đạt 902 triệu USD

Cuối năm 2003 NHNN đã ban hành quyết định số 1216/2003/QĐ-NHNN,ngày 9-10-2003 của Thống đốc NHNN “Về việc ban hành Quy chế hoạt độngcủa bàn đổi ngoại tệ” Theo quy định này, các bàn đổi ngoại tệ tiền mặt của cánhân không được bán tiền mặt cho cá nhân trừ người mang hộ chiếu được phépmua quy định Các bàn đại lý phải bán toàn bộ số ngoại tệ tiền mặt đổi được choTCTD uỷ nhiệm theo quy định Quyết định của Thống đốc NHNN cũng quyđịnh cụ thể về phạm vi đặt bàn đổi ngoại tệ của TCTD, uỷ nhiệm làm đại lý đổingoại tệ, điều kiện, thủ tục cấp giấy phép

+ Để khuyến khích thu hút nguồn kiều hối về nước, những quy định về vấn

đề này cũng dần dần được sửa đổi, hoàn thiện Từ chỗ người nhận kiều hối ởtrong nước bắt buộc phải bán ngoại tệ cho ngân hàng theo tỷ giá quy định, chỉđược nhận nội tệ đã được sửa đổi bằng việc họ được tự chủ nhận ngoại tệ haybán cho ngân hàng lấy tiền đồng Viêt Nam Người nhận kiều hối không phải

Ngày đăng: 06/08/2013, 09:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng dự trữ ngoại hối Việt Nam từ 1993-2006. - Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lí ngoại hối trong tương lai
Bảng d ự trữ ngoại hối Việt Nam từ 1993-2006 (Trang 15)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w