Sự hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam thông qua cơ chế thị trường là nhu cầu khách quan có tính quy luật. Với vai trò như là chiếc cầu nối giữa kinh tế nội địa với kinh tế thế giới bên ngoài, thì việc hình thành và phát triển thị trường ngoại hối một cách toàn diện và hiện đại theo trình độ quốc tế là rất cần thiết. Thông qua các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối mà hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư quốc tế, dự trữ quốc tế... trở nên linh hoạt và hiệu quả. Trong những năm gần đây, thị trường ngoại hối Việt Nam đã hình thành và từng bước phát triển: chính sách quản lý ngoại hối đang dần dần được hoàn thiện phù hợp với hướng phát triển kinh tế thị trường mở; nhũng nhân tố thị trường ngày càng trở nên quyết định hơn trong việc xác định tỉ giá hối đoái, bước đầu đã đưa một số giao dịch kinh doanh vào cuộc sống. Mặc dù mới ở những bước đầu phát triển, nhưng thị trường ngoại hối Việt Nam đã tạo ra môi trường kinh doanh ngoại hối cho các Ngân hàng Thương mại, đồng thời cung cấp những công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với các công ty Xuất nhập khẩu và những nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, thị trường ngoại hối Việt Nam còn rất non trẻ và sơ khai xét về trình độ, quy mô thực hiện cũng như kĩ năng nghiệp vụ kinh doanh. Đặc biệt xung quanh vấn đề chính sách quản lý ngoại hối còn nhiều vấn đề phải xem xét và tiếp tục hoàn thiện. Xuất phát từ yêu cầu đó, em đã chọn đề tài: “NGOẠI HỐI VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH NGOẠI HỐI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY”
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Kể từ năm 1986, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấpsang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước TạiĐại hội Đại biểu toàn quốc lần VIII, Đảng ta nhận định rằng nước ta đã chuyểnsang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Trong đó mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước ta là: Xây dựngViệt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp có cơ
sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Từ nay đến năm 2020, ra sứcphấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Để thực hiện được những mục tiêu trên thì còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố Đó là việc phát huy những tiềm lực kinh tế trong nước kết hợp với việc "đi tắt,đón đầu" nắm bắt những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới Việt Nam
ở vào khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, lại nằm trên các tuyến giao thôngquốc tế quan trọng có nhiều cửa ngõ thông ra biển thuận lợi Do đó ta có lợi thế để
mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triểnthương mại, dịch vụ, Quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới cộng với quan hệgiao lưu kinh tế và khoa học kỹ thuật đang ngày càng phát triển Với đường lối cởi
mở và đổi mới, ta có thể tận dụng được những khả năng to lớn về vốn, thị trường
và công nghệ để bổ sung và phát huy sức mạnh trong nước
Một trong những nhân tố để phát triển kinh tế chính là việc huy động và sửdụng vốn có hiệu quả Đây có thể coi là một nhân tố cơ bản và vô cùng quan trọngđối với bất kỳ nước nào muốn đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII cũng đã chỉ rõ: "Để công nghiệp hoá,
hiện đại hoá cần huy động nhiều nguồn vốn gắn với việc sử dụng có hiệu quả Trong đó, nguồn vốn trong nước là quyết định và nguồn vốn bên ngoài là quan trọng" Huy động và sử dụng vốn, đó chính là đặc điểm cơ bản nhất của các ngân
hàng thương mại Điều đó có nghĩa là hoạt động của hệ thống ngân hàng đặc biệt
là các ngân hàng thương mại chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong việc thúcđẩy nền kinh tế phát triển
Hệ thống ngân hàng đã xuất hiện từ rất lâu đời và ngay khi mới ra đời nó đãchứng tỏ vai trò quan trọng không thể thiếu của mình trong nền kinh tế Các ngân
Trang 2hàng trung gian trong đó có ngân hàng thương mại ngày càng phát triển và mởrộng với nhiều loại hình phong phú đa dạng Các nghiệp vụ ngân hàng cũngthường xuyên được nâng cấp, đổi mới và tăng thêm nhiều dịch vụ nhằm đáp ứngnhững yêu cầu ngày càng cao của khách hàng bao gồm cả những tổ chức và cánhân thuộc đủ các thành phần kinh tế.
Ở Việt Nam, sau 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế
-xã hội (1991 - 2000), chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quantrọng: tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với năm1990 Đời sốngcủa các tầng lớp nhân dân được cải thiện Đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảngkinh tế - xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hẫng hụt về thịtrường do sự tan rã của hệ thống XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu Đặcbiệt, chúng ta đã không để bị cuốn sâu vào cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ởChâu Á mặc dù hậu quả của nó đối với nước ta cũng khá nặng nề Đạt được nhữngkết quả trên có sự đóng góp không nhỏ của ngành ngân hàng Đó là điều không thểphủ nhận Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng hệ thống ngân hàng nước
ta còn nhiều tồn tại, khó khăn Như dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hànhTrung ương Đảng khoá VIII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng đã
viết: "Hệ thống tài chính - ngân hàng của nước ta còn nhiều mặt yếu kém và chưa
lành mạnh Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và điều chỉnh cơ cấu đầu tư chậm và chưa hợp lý Đầu tư cho phát triển còn bị phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều, làm cho hiệu quả sử dụng đồng vốn, nhất là vốn từ ngân sách Nhà nước, còn thấp Nguồn vốn trong dân chưa được huy động đúng mức Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm nhiều, trong khi công tác quản lý, điều hành lĩnh vực này còn nhiều vướng mắc và khuyết điểm" Điều này một lần nữa khẳng định việc đổi mới
và hiện đại hoá hệ thống ngân hàng đặc biệt là các ngân hàng thương mại là vôcùng cần thiết và cấp bách
Hiện nay, các ngân hàng thương mại với chức năng hoạt động của mình đóngvai trò cực kỳ to lớn trong quá trình điều tiết và phát triển nền kinh tế thị trường,tạo sự cân đối vĩ mô giữa tiết kiệm và tiêu dùng, giữa tích luỹ và đầu tư, giữa thunhập và phân phối trong nền kinh tế Vì lẽ đó, công cuộc đổi mới trong hoạt độngcủa hệ thống ngân hàng thương mại được rất nhiều các nhà kinh tế cũng như cácnhà quản lý quan tâm, nghiên cứu Trên các báo cáo kinh tế như tờ Thời báo kinh
tế hay một số báo chuyên ngành như Tạp chí ngân hàng, Thời báo ngân hàng, Tạpchí khoa học và đào tạo ngân hàng, có đăng rất nhiều bài báo về những ưu điểmcũng như những tồn tại của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay Ngoài
Trang 3ra, họ cũng nêu lên những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượngphục vụ của hệ thống ngân hàng.
Đó cũng chính là những lý do khiến cho em chọn đề tài: "Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" để nghiên
cứu, bài viết của em bao gồm ba nội dung chính:
Chương I: Lý luận chung về ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại ở
Việt Nam hiện nay
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy hiệu quả hoạt
động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do trình độ và khối lượng kiến thức có hạnnên em không thể nêu lên đầy đủ thực tế những gì đang diễn ra trong hệ thốngngân hàng Việt Nam Do đó, bài viết này chắc chắn còn nhiều thiếu sót Vì vậy,
em rất mong nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo cũng như sựgóp ý của các bạn để em có thể hoàn thành tốt hơn những bài viết lần sau Em xinchân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các bạn
Trang 4CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
Gắn liền với sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, hệ thống ngânhàng cũng được hình thành và phát triển đáp ứng nhu cầu tất yếu của đời sống kinh
tế Ngay từ thời thượng cổ, các ngân hàng sơ khai đầu tiên đã xuất hiện và đến nay,phát triển thành cả một hệ thống phong phú, đa dạng và ngày càng hiện đại ở hầuhết các nước trên thế giới Về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của hệ thống ngânhàng gắn liền với tư bản cho vay lấy lãi Hoạt động ngân hàng với các nghiệp vụtruyền thống: nhận gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ cho khách hàng ra đời khiquan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá của xã hội đã phát triển ở mức độ cao Ta cóthể xem xét quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng qua 4 giai đoạn
1 Thời kỳ hoạt động của các ngân hàng sơ khai
Từ 3500 năm trước công nguyên đến 1800 năm trước công nguyên là giaiđoạn của các ngân hàng sơ khai Nghiệp vụ ban đầu của nghề kinh doanh tiền tệ lànhận giữ tiền vàng và các tài sản có giá trị khác được thực hiện bởi các nhà kinhdoanh, các lãnh chúa và nhà thờ Người gửi tiền sẽ nhận được một tờ biên lai làmcăn cứ để xác định quyền sở hữu và trả lệ phí gửi tiền
Dần dần, những người gửi tiền nhận ra rằng: thay vì sử dụng tiền kim loại vớikho bảo quản và vận chuyển khó khăn, họ có thể sử dụng các loại giấy chứng nhậnquyền sở hữu vàng để thanh toán Người nhận các chứng thư này không gặp khókhăn gì trong việc chuyển chúng sang tiền mặt Việc thanh toán cũng dễ dàng hơnnếu hai người gửi tiền ở cùng một nơi Như vậy chức năng ban đầu của ngân hàngchính là người tổ chức trung gian thanh toán Đây cũng là mầm mống đầu tiên củanghiệp vụ phát hành dấu hiệu giá trị Mặt khác, những người nắm giữ tiền cũngnhận thấy rằng: trong cùng một khoảng thời gian, có một số người đến đổi chứngthư lấy tiền nhưng cũng có những người khác gửi tiền vào Sự bổ sung qua lại giữa
Trang 5lưu lượng gửi vào và rút ra làm xuất hiện một lượng tiền nhàn rỗi trong kho Điều
đó chứng tỏ những người thợ vàng giờ đây chỉ cần dự trữ tiền mặt với một tỷ lệnhất định so với tổng số tiền gửi, phần còn lại có thể sử dụng để cho vay Các nhàkinh doanh tiền tệ bắt đầu tập hợp, thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội đểđem cho người khác vay Các hoạt động tương tự như vậy đã tồn tại từ thời Ai Cập
cổ đại Chẳng hạn, ở Ai Cập, các nghiệp vụ ngân hàng đã xuất hiện từ 2700 nămtrước công nguyên, còn ở Hy Lạp thời kỳ chiếm hữu nô lệ, việc quản lý tài chínhgắn liền với thánh đường lớn Ở Roma (Italia) hiện tượng cho vay cầm cố xuất hiệnkhoảng 500 năm trước công nguyên Đến khoảng 200 năm trước công nguyên thìRoma đã trở thành trung tâm tài chính chủ yếu ở vùng Địa Trung Hải Do đó, cóthể nói rằng, xứ sở của lĩnh vực ngân hàng là vùng Bắc Italia Vào thời kỳ này,những ngân hàng có hoạt động mạnh nhất và có ảnh hưởng lớn nhất là những ngânhàng mà hoạt động của nó gắn liền với sự lãnh đạo của giáo hội Thiên chúa giáo.Đến đây, các ngân hàng đã bắt đầu tham gia vào quá trình cung ứng tiền
2 Từ thế kỷ V đến thế kỷ XVII
Đây là giai đoạn phát triển và hoàn thiện các nghiệp vụ của một ngân hàngthương mại Các nghiệp vụ ghi chép sổ sách, hình thành các số hiệu tài khoản, chitiết đến đối tượng cho vay, mục đích cho vay cũng như nguồn vốn cho vay - tiềnthân của kế toán ngân hàng ra đời từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ X Cũng trongthời gian này, hoạt động thanh toán bù trừ ở dạng sơ khai trong cùng một ngânhàng đã bắt đầu phát triển và sau đó là hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng.Vào khoảng cuối thế kỷ thứ X, nghiệp vụ chuyển ngân và bảo lãnh hình thành Sau
đó, vào giai đoạn từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVII nghiệp vụ chiết khấu thương phiếubắt đầu phát triển Cho đến thế kỷ thứ XVII, các nghiệp vụ của một ngân hàng kinhdoanh đã hoàn thiện, bao gồm:
- Nhận gửi, cho vay
- Phát hành tiền
- Chiết khấu thương phiếu
- Chuyển ngân, thanh toán, bù trừ và bảo lãnh
Động lực chủ yếu của quá trình phát triển nhanh chóng này là sự lớn mạnhkhông ngừng của các hoạt động thương mại trong từng quốc gia cũng như quốc tếcùng với việc tìm ra Châu Mỹ và các vùng đất mới Một ngân hàng có hoàn chỉnhcác nghiệp vụ này đã hình thành đầu tiên ở Hà Lan vào năm 1609 Sau đó là ngân
Trang 6hàng Thuỵ Điển 1656, hệ thống ngân hàng Anh vào năm 1694, hệ thống ngân hàngHoa Kỳ vào năm 1791 và ngân hàng Pháp vào năm 1800.
dự trữ vàng, để cho vay, điều này đe doạ dự trữ vàng và khả năng chuyển đổi ratiền mặt của các kỳ phiếu được phát hành Vì tất cả các ngân hàng đều có quyềnphát hành tiền nên Nhà nước không thể kiểm soát được khối lượng tiền trong lưuthông và càng không thể kiểm soát được tính chất đảm bảo của lượng tiền lưuthông đó Mặt khác, mỗi ngân hàng có quy mô hoạt động, uy tín và khả năng ảnhhưởng khác nhau trên công chúng bắt đầu có sự lựa chọn kỳ phiếu được phát hànhbởi những ngân hàng khác nhau Kết quả là, các kỳ phiếu do các ngân hàng lớn có
uy tín phát hành dần dần chiếm lĩnh thị trường và đẩy kì phiếu của các ngân hàngkhác nhỏ hơn ra khỏi lưu thông Đồng thời, sang thế kỷ 18, lưu thông hàng hoángày càng mở rộng và phát triển Việc các ngân hàng cùng thực hiện chức năngphát hành giấy bạc làm cho trong lưu thông có nhiều loại giấy bạc ngân hàng khácnhau gây cản trở cho quá trình lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế Tình trạngnày kéo dài gây sự bất ổn định trong lưu thông tiền tệ và Nhà nước buộc phải canthiệp nhằm thiết lập trật tự và sự thống nhất cho việc phát hành tiền và đảm bảo antoàn cho các giấy chứng nhận nợ của ngân hàng Kết quả của sự can thiệp này là
hệ thống ngân hàng lớn được phép phát hành tiền gọi là ngân hàng phát hành.Nhóm thứ hai bao gồm các ngân hàng không được phép phát hành tiền, chỉ làmtrung gian tín dụng và trung gian thanh toán trong nền kinh tế gọi là các ngân hàngtrung gian Chúng được quyền mở tài khoản và thanh toán bù trừ thông qua ngânhàng phát hành, biến ngân hàng phát hành thành trung tâm thanh toán
4 Từ đầu thế kỷ XX đến nay.
Thời kỳ đầu khi mới thực hiện sự phân hoá hệ thống ngân hàng, các ngânhàng trung gian thực hiện tất cả các hoạt động của nó như nhận tiền gửi, cho vay
Trang 7và làm các dịch vụ thanh toán Ban đầu chúng chủ yếu nhận tiền gửi không kỳ hạn,
có kỳ hạn ngắn và cho vay ngắn hạn Về sau, các ngân hàng này thực hiện cả chovay trung và dài hạn bằng nguồn vốn trung và dài hạn do huy động tiền gửi trunghạn, dài hạn và phát hành trái khoán
Đây cũng là giai đoạn hoàn thiện hoạt động của ngân hàng phát hành về tổchức, chức năng đồng thời là giai đoạn thành lập một loạt ngân hàng trung ươngmới
Trước hết, đó là sự tách rời chức năng độc quyền phát hành ra khỏi chức năngkinh doanh tiền tệ trực tiếp với công chúng, được thực hiện đầu tiên bởi các ngânhàng Anh và sau đó là các ngân hàng của các nước khác, nhằm hoàn thiện chứcnăng quản lý của ngân hàng trung ương Từ năm 1920, hàng loạt các ngân hàngtrung ương mới được thành lập và ngay lập tức đã mang đầy đủ bản chất của mộtngân hàng trung ương vì sự cần thiết của nó đã được chứng minh một cách thuyếtphục qua kinh nghiệm của các ngân hàng trung ương đang hoạt động Trước chiếntranh thế giới thứ 2, phần lớn các ngân hàng phát hành là ngân hàng tư nhân hoặc
cổ phần, vai trò kiểm soát, điều tiết các hoạt động kinh tế của Nhà nước thông quangân hàng là hết sức hạn chế Vì thế sau chiến tranh thế giới thứ hai, phần lớn cácngân hàng trung ương được quốc hữu hoá trở thành ngân hàng của Nhà nước Đây
là thời kỳ bắt đầu hoạt động của các ngân hàng trung ương hiện đại với các chứcnăng: độc quyền phát hành tiền; là ngân hàng của các ngân hàng; là ngân hàng củaChính phủ và thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô: thực hiện chính sách tiền tệ và đảmbảo an toàn cho hệ thống tài chính
Ở giai đoạn này, hệ thống các ngân hàng trung gian cũng phát triển thêmnhiều nghiệp vụ hiện đại: bảo lãnh và uỷ thác, đồng thời có nhiều loại hình mới
ra đời Trước đây, các ngân hàng chỉ có tên gọi chung là ngân hàng thương mại saunày mới gọi là các trung gian tài chính Trước năm 1960, các ngân hàng thươngmại đều có những hoạt động giống nhau nhưng trong đó có một số ngân hàng thìNhà nước quy định không được phép huy động tiền gửi không kỳ hạn Sau năm
1960, tất cả các ngân hàng đều được phép huy động tiền gửi không kỳ hạn Do đó,ranh giới giữa các loại ngân hàng trở nên rất mỏng manh, khó phân định
Trang 8II KHÁI NIỆM NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1 Khái niệm
* Ở một số nước trên thế giới
- Mỹ: ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụtài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính
- Pháp: ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thườngxuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay những hình thức khác các
số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tàichính
- Ấn Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vayhay tài trợ và đầu tư
- Thổ Nhĩ Kỹ: ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn được thiếtlập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp
vụ hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác
* Ở Việt Nam: Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-90 của Hội đồng Nhà nướcViệt Nam xác định: "Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạtđộng chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệmhoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làmphương tiện thanh toán"
Trang 9thương mại ra thành một nhóm riêng trong khi ranh giới phân biệt nó với các tổchức tiết kiệm khác ngày càng bị xoá nhoà.
- Do quy mô hoạt động lớn nên ngân hàng thương mại là đối tượng hàng đầucần kiểm soát của ngân hàng trung ương Mục đích là để ổn định tiền tệ và tránh sựphá sản theo hệ thống của các ngân hàng
III CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Ngân hàng thương mại có 3 chức năng chính:
1 Chức năng trung gian tín dụng.
Xuất phát từ những cơ sở khách quan mà ngân hàng thương mại cũng như cácngân hàng trung gian khác thực hiện chức năng trung gian tín dụng Đó là đặcđiểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tuần hoàn vốn xã hội đã phát sinh hiệntượng trong cùng một lúc có những xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân có vốn tiền
tệ tạm thời chưa sử dụng (như tiền bán hàng chưa mua nguyên vật liệu mới, tiềntrích khấu hao chưa sử dụng, tiền lương chưa đến kỳ trả, ) Ngược lại, có nhữngdoanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vốn cần bổ sung trong một thời gian ngắn (nhưdoanh nghiệp cần mua nguyên vật liệu nhưng chưa bán được sản phẩm, cá nhâncần tiền cho nhu cầu mua sắm tài sản có giá trị nhưng tiền tích luỹ còn hạn chế, ).Mâu thuẫn này cần được giải quyết để tăng hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế
và được thỏa mãn bằng quan hệ tín dụng trực tiếp hoặc gián tiếp Ngoài ra, do đặcthù yêu cầu của tiết kiệm và đầu tư: người tiết kiệm không muốn rủi ro nhưng lạimuốn có thu nhập cao còn người đầu tư lại muốn có nguồn vốn cao và chi phí vayvốn thấp, cho nên cần phải có vai trò của người trung gian để đáp ứng yêu cầu của
cả 2 bên, đồng thời cũng do hạn chế trong việc phân phối vốn một cách trực tiếp
Vì vậy ngân hàng cần đứng ra làm trung gian để chuyển vốn từ nơi thừa sang nơithiếu tạm thời
Sở dĩ ngân hàng làm được chức năng này vì nó là một cơ quan chuyên trách,chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết được tình hình cungcầu tín dụng Đó là nơi mà khách hàng có thể tin tưởng được trong việc gửi tiền.Thông qua việc thu hút tiền gửi với một khối lượng lớn, ngân hàng có thể giảiquyết mối quan hệ giữa cung và cầu cả về khối lượng vốn cho vay và thời gian chovay
Như vậy ngân hàng làm chức năng tín dụng khi nó là cầu nối giữa người cóvốn và người cần vốn Chức năng này được thực hiện bằng cách huy động các
Trang 10khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế hình thành quỹ cho vay của
nó rồi đem cho vay đối với nền kinh tế, bao gồm cả cho vay ngắn hạn và cho vaydài hạn mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn Với chức năng này, ngân hàng thươngmại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay Điều nàycũng có nghĩa là ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bêntrong quan hệ là người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay và đảm bảo lợi ích củanền kinh tế
Đây chính là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phảnánh bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự duytrì và phát triển của ngân hàng Đồng thời nó cũng là cơ sở để thực hiện các chứcnăng sau
2 Chức năng trung gian thanh toán.
Thực chất ngân hàng thương mại thực hiện chức năng thanh toán trên cơ sở
nó thực hiện chức năng trung gian tín dụng Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi,ngân hàng đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu chi
Đó chính là tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng, đặt ngânhàng vào vị trí làm trung gian thanh toán Hơn nữa, do việc thanh toán bằng tiềnmặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế và khó khăn, đó là rủi ro cao do phảivận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn đặc biệt là đối với các khách hàng ở cách
xa nhau đã tạo nên nhu cầu khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng
Nội dung của chức năng trung gian thanh toán là các ngân hàng thương mại
mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng Khi có yêu cầu, ngân hàng sẽ thực hiệnthanh toán cho khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toántiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu dobán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Ngoài ra, các ngân hàng cònphải quản lý tài khoản cho khách hàng của họ Ở đây, ngân hàng đóng vai trò làngười "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tàikhoản của khách hàng, chi tiền cho khách hàng Nền kinh tế thị trường càng pháttriển thì chức năng này càng được phát huy, việc thanh toán qua ngân hàng càngđược mở rộng
Tuỳ theo nhu cầu, khách hàng có thể lựa chọn cho mình những phương thứcthanh toán phù hợp với các công cụ thanh toán thuận lợi như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷnhiệm chi, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, Việc hệ thống ngân hàngthương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với
Trang 11toàn bộ nền kinh tế Đồng thời, đối với bản thân các ngân hàng thương mại, chứcnăng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phíthanh toán Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiệntrên số dư có của tài khoản tiền gửi khách hàng chức năng này cũng chính là cơ sởhình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại Nhìn vào hệ thống thanhtoán của ngân hàng thương mại, người ta có thể đánh giá ngay được hoạt động của
hệ thống ngân hàng thương mại có hiệu quả hay không
Việc thu chuyển tiền tệ hiện nay chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàngthương mại và do vậy chỉ khi chức năng trung gian thanh toán được hoàn thiện thìvai trò của ngân hàng thương mại mới được nâng cao hơn với tư cách là người thủquỹ của xã hội
3 Chức năng tạo tiền
Sự kết hợp giữa chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanhtoán chính là cơ sở để ngân hàng thương mại thực hiện chức năng tạo tiền gửithanh toán Sự ra đời của các ngân hàng đã tạo ra một bước phát triển về chất trongkinh doanh tiền tệ Nếu như trước đây, các tổ chức kinh doanh tiền tệ nhận tiền gửi(tiền vàng, bạc) rồi cho vay bằng chính những đồng tiền đó, thì kể từ khi các ngânhàng ra đời, việc cho vay không nhất thiết phải là tiền vàng, bạc, mà họ nhận được
từ người gửi Trong quá trình kinh doanh tiền tệ, các chủ ngân hàng đã phát hiện ragiấy chứng nhận tiền gửi - tín phiếu được khách hàng sử dụng để chi trả các khoản
nợ Vì vậy, tiền giấy chuyển đổi ra vàng được các ngân hàng đưa vào lưu thôngqua nghiệp vụ tín dụng thay thế cho tiền bàng hoặc bạc Đây là phát minh có giá trịnhất trong lịch sử hoạt động của việc kinh doanh tiền tệ
Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng pháthành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiệnchức năng phát hành giấy bạc ngân hàng Nhưng với chức năng trung gian tín dụng
và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền ghi sổ thểhiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại.Đây chính là một bộ phận của lượng tiền giao dịch
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huyđộng được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để muahàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán củakhách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng đểmua hàng hoá, thanh toán dịch vụ, Khi ngân hàng chỉ thực hiện chức năng nhận
Trang 12tiền gửi mà chưa cho vay, ngân hàng chưa hề tạo tiền, chỉ khi thực hiện cho vay,ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền Đó cũng cũng là một phát minh lớn trong hoạtđộng ngân hàng Ở đây, chính việc cho vay đã tạo ra tiền gửi Từ khoản dự trữ tănglên ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng cókhả năng tạo nên số tiền gửi gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu Mức mởrộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi Hệ số này, đến lượt nó chịu tácđộng bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ dư thừa và tỷ lệ tiền mặt sovới tiền gửi thanh toán Tuy vậy, để tạo ra tiền gửi thanh toán, ngân hàng thươngmại phải làm chức năng trung gian thanh toán, mở tài khoản tiền gửi thanh toáncho khách hàng thì số tiền trên tài khoản này mới là bộ phận của lượng tiền giaodịch.
Trước đây, sự phân biệt giữa ngân hàng thương mại với các ngân hàng trunggian khác chính là chức năng thanh toán và chức năng tạo tiền gửi thanh toán.Ngày nay, hầu hết các ngân hàng trung gian đều được phép nhận tiền gửi không kỳhạn, làm trung gian thanh toán và do vậy có khả năng tạo tiền gửi thanh toán Sựphân biệt các loại hình ngân hàng trung gian chủ yếu dựa vào tài sản có, mục đíchcho vay và đầu tư
Với chức năng tạo tiền, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phươngtiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả xã hội Rõràng khái niệm về "tiền", "tiền giao dịch" không chỉ là giấy bạc do ngân hàng trungương của mỗi nước phát hành ra mà bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do cácngân hàng thương mại tạo ra Ở Việt Nam, tỷ lệ này ngày càng tăng Đến năm
1998, tỷ lệ tiền gửi thanh toán so với tiền giao dịch là 50,2%, tăng gần 3% so vớinăm 97 (47,7%) Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng
và lưu thông tiền tệ Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ralàm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại từ đó làm tăng lượng tiềncung ứng
Có thể nói, các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặtchẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó, chức năng trung gian tín dụng là chứcnăng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau Đồng thời khingân hàng thương mại thực hiện tốt chức năng thanh toán và chức năng tạo tiền thìlại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng và mở rộng hoạt động tín dụng
Trang 13IV NGHIỆP VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Các ngân hàng thương mại có 2 nghiệp vụ chính là: nghiệp vụ thuộc tài sản
nợ và nghiệp vụ thuộc tài sản có
1 Nghiệp vụ thuộc tài sản nợ.
Tài sản nợ của ngân hàng thương mại bao gồm các khoản mục chủ yếu là:vốn tiền gửi, vốn đi vay và vốn của ngân hàng
1.1 Vốn tiền gửi.
Vốn tiền gửi là bộ phận tài sản nợ chủ yếu của ngân hàng thương mại Nghiệp
vụ này là đặc trưng cơ bản trong kinh doanh của ngân hàng Vốn tiền gửi bao gồm:Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúcnào Với khoản tiền này, mục đích chính của người gửi tiền là nhằm đảm bảo antoàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng Do vậy nóthường được coi là tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc tài khoản tiền gửi có thể pháthành séc (nếu các giao dịch thanh toán thông qua tài khoản tiền gửi thanh toánđược thực hiện bằng séc) Tiền gửi không kỳ hạn đảm bảo tổng nguồn vốn cao vàchi phí huy động thấp Vì vậy, ngân hàng thường huy động tiền gửi không kỳ hạn.Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một thờihạn nhất định (một vài tháng đến một vài năm) Mục đích của người gửi tiền là lấylãi và ngân hàng có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này để cho vay Vì vậy ngânhàng phải trả lãi cho loại tiền gửi này Lãi cao hay thấp thường phụ thuộc vào thờihạn gửi tiền và các yếu tố khác trên thị trường Trên thực tế để nâng cao uy tín vàchất lượng dịch vụ, lôi kéo khách hàng, ngân hàng có thể cho phép khách hàngđược rút tiền trước hạn với những khoản phạt (như hưởng lãi thấp hơn quy định).Ngoài tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn, trong bộ phận vốn tiền gửicòn có tiền gửi tiết kiệm Đó là tiền để dành của dân cư được gửi vào ngân hàngnhằm mục đích hưởng lãi Hình thức phổ biến và cổ điển nhất là loại tiền gửi tiếtkiệm có sổ Tức là người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một cuốn sổ dùng đểghi tiền gửi vào và tiền rút ra Loại hình này vẫn tồn tại cho đến nay và trongnhững năm 90, nó có thể chuyển sang tài khoản séc dễ dàng Do vậy nó có khảnăng thanh toán rất cao
Tiền gửi có kỳ hạn và tiền tiết kiệm được gọi là tiền phi giao dịch Chúng cóđặc tính chung là được hưởng lãi và chủ những tài khoản này không được pháthành séc Mức lãi suất của chúng thường cao hơn tiền gửi tài khoản séc bởi vì
Trang 14những người gửi tiền đó không được hưởng nhiều dịch vụ như đối với tài khoảnséc.
Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốncủa ngân hàng thương mại, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh Nóphản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay Chính vì vậy, người ta gọingân hàng thương mại là ngân hàng kí thác hay ngân hàng tiền gửi
Trong quá trình hoạt động, một số ngân hàng thương mại có những ngày chovay quá nhiều dẫn đến sự thiết hụt tại ngân hàng trung ương Trong khi đó lại cómột vài ngân hàng khác thừa dự trữ Để đảm bảo dự trữ theo quy định của ngânhàng trung ương, các ngân hàng thương mại thiếu hụt dự trữ sẽ vay các khoản dựtrữ ngắn hạn của các ngân hàng khác có dự trữ dư thừa Thời hạn của loại cho vaynày rất ngắn, thường không quá 1 tuần
Ngoài ra các ngân hàng thương mại cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạtđộng từ việc phát hành phiếu nợ để vay tiền ở nước ngoài Do loại tiền sử dụngtrong thanh toán quốc tế hiện nay là USD cho nên vay tiền ở nước ngoài thườngvay bằng USD
Trong thời gian qua, vốn vay đã và đang ngày càng trở thành một nguồn vốnquan trọng hơn của các ngân hàng thương mại
1.3 Vốn của ngân hàng.
Đây là khoản mục cuối cùng trong phần tài sản nợ của bảng quyết toán tài sảnngân hàng Thực chất đó chính là của cải thực của ngân hàng đó Nó bằng hiệu sốgiữa tổng tài sản có với tài sản nợ Vốn của ngân hàng hay vốn tự có bao gồm:
Trang 15Vốn điều lệ (hay vốn pháp định): là vốn mà ngân hàng thương mại phải có để
đi vào hoạt động và được ghi trong văn bản pháp quy Tuỳ theo hình thức sở hữu
mà nguồn vốn này được hình thành từ những nguồn khác nhau Đối với ngân hàngthương mại quốc doanh, đó là nguồn vốn do Nhà nước cấp Còn với ngân hàng cổphần, nguồn vốn này được hình thành do phát hành cổ phiếu
Ngoài ra vốn của ngân hàng còn có các quỹ dự trữ trích từ lợi nhuận rònghàng năm hay phần lợi nhuận chưa chia và các quỹ khác chưa sử dụng
Vốn tự có của ngân hàng thương mại mang tính chất ổn định và thường chiếm
1 tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (khoảng dưới 10%) nhưng nólại có 1 vị trí quan trọng, quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng Người tathường ví nó như một cái đệm để chống đỡ sự giảm giá trị của những tài sản cócủa ngân hàng mà có thể đẩy ngân hàng đến tình trạng thiếu khả năng chi trả vàphá sản Đó cũng là cơ sở để ngân hàng tiến hành kinh doanh và huy động vốn chovay
2 Nghiệp vụ thuộc tài sản có.
Nghiệp vụ thuộc tài sản có phản ánh việc sử dụng vốn của ngân hàng thươngmại Nghiệp vụ này mang lại thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu lãi chovay, lãi đầu tư, giúp ngân hàng tạo ra lợi nhuận Nó bao gồm các khoản mục chínhlà: nghiệp vụ ngân hàng, nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ đầu tư và các loại tài sản cókhác
2.1 Nghiệp vụ ngân quỹ.
Khoản mục này bao gồm: tiền mặt tại quỹ (tiền giấy và tiền kim loại) Nhucầu dự trữ tiền mặt cao hay thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng,nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng và còn mang tính thời vụ Tiền gửi ở ngânhàng trung ương gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định và tiền gửi thanh toántại ngân hàng trung ương Hai bộ phận trên hình thành nên phần dự trữ của ngânhàng thương mại Nó không tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng
Thêm vào đó, nghiệp vụ ngân quỹ còn có tiền mặt trong quá trình thu làkhoản phát sinh do quan hệ thanh toán vãng lai giữa các ngân hàng, khi ngân hàng
đã ghi vào bên nợ nhưng thực chất lại chưa nhận được tiền và tiền gửi ở ngân hàngkhác
Trang 16Nói chung, tiền dự trữ, tiền mặt trong quá trình thu và tiền gửi trong các ngânhàng khác đều được coi như những khoản tiền mặt Nó chỉ chiếm 1 tỷ trọng nhỏ vàđang ngày càng giảm dần.
2.2 Nghiệp vụ cho vay.
Tiền cho vay là một món nợ đối với cá nhân hoặc doanh nghiệp đi vay và là 1tài sản có đối với ngân hàng, tạo ra thu nhập cho ngân hàng Tiền cho vay thường
có tính chất kém lỏng hơn so với các tài sản có khác Vì chúng không thể chuyểnthành tiền mặt trước khi các khoản cho vay đó đến hạn Các khoản tiền cho vaycũng có xác suất vỡ nợ cao hơn so với những tài sản có khác Chính vì tính lỏngthấp và mức rủi ro cao nên ngân hàng phải thu lãi cao từ các khoản cho vay và tạo
ra phần lớn thu nhập cho ngân hàng Do đó nghiệp vụ cho vay được xem là hoạtđộng sinh lời chủ yếu của ngân hàng trung gian nói chung và ngân hàng thươngmại nói riêng Nó thường chiếm tỷ trọng lớn trong các khoản mục thuộc tài sản có.Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại thường rất phong phú và đadạng với các loại hình chủ yếu: chiết khấu thương phiếu; cho vay ứng trước; tíndụng uỷ thác hay bao thanh toán; cho vay thuê mua; tín dụng bằng chữ ký; tíndụng tiêu dùng,
2.3 Nghiệp vụ đầu tư.
Hình thức phổ biến trong nghiệp vụ tài sản có của ngân hàng thương mại làđầu tư vào chứng khoán như: trái khoán Chính phủ hoặc trái khoán công ty để thulợi tức đầu tư và do đó mang lại thu nhập cho ngân hàng Nghiệp vụ này cũng nângcao khả năng thanh toán cho ngân hàng, bảo tồn ngân quỹ, đặc biệt khi đầu tư vàotrái khoán Chính phủ vì loại này có tính lỏng rất cao
Đồng thời, nó còn làm đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của ngân hàngnhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trang 17- Dịch vụ đại lý và uỷ thác: phát hành trái phiếu cho kho bạc, quản lý tài sản,vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng.
- Kinh doanh ngoại tệ: mua vào các tài sản ngoại tệ và bán ra khi tỷ giá có lợi.Ngoài ra còn có các dịch vụ khác cùng liên quan đến vấn đề ngoại hối: đổi tiền,chuyển tiền,
Các dịch vụ trên và một số hoạt động ngân hàng khác được thực hiện cũngchỉ nhằm mục đích làm tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng và nâng cao chất lượngcũng như hiệu quả hoạt động của ngân hàng
V VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Vai trò của ngân hàng thương mại nói riêng và của các ngân hàng trung giannói chung được thể hiện qua chính các chức năng của chúng
Với chức năng trung gian tín dụng, nghiệp vụ huy động vốn, cho vay và đầu
tư, ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia
- Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dongân hàng trả lãi tiền gửi cho họ Hơn nữa, ngân hàng còn đảm bảo cho sự an toàn
và cung cấp các phương tiện thanh toán
- Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu,thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơicung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp
- Đối với ngân hàng thương mại, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho bản thânmình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môigiới Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng thươngmại
- Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩytăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng được nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sảnxuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất Với chức năng này, ngânhàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quátrình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
Như vậy, các ngân hàng đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp củanền kinh tế vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Nếu không có ngân hàngtrung gian, việc huy động của cải xã hội vào quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêudùng sẽ chậm đi rất nhiều
Trang 18Với chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng đã thực hiện các dịch vụthanh toán cho nền kinh tế từ đó thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tăngtrưởng kinh tế Đồng thời với việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng
đã giảm được tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiềnmặt như chi phí in ấn, đếm nhận bảo quản tiền, Hơn nữa, ngân hàng còn giám sátđược các hoạt động kinh tế góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh,tạo ra sự ổn định trong đời sống kinh tế xã hội
Ngày nay, có thể nói mọi quan hệ kinh tế đều được thực hiện thông qua quan
hệ tiền tệ và chủ yếu là hoạt động của hệ thống ngân hàng bên cạnh các tổ chức tàichính phi ngân hàng
Với chức năng tạo tiền, ngân hàng thương mại là một trong các chủ thể thamgia vào quá trình cung ứng tiền, tạo ra một khối lượng phương tiện thanh toán rấtlớn trong nền kinh tế
Căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền, ngân hàng trungương thực hiện chính sách tiền tệ để kiểm soát quá trình tạo tiền của ngân hàngthương mại và kiểm soát lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu của nềnkinh tế vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ Phần lớn các công cụ của chínhsách tiền tệ chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực và có hiệu quảcủa các ngân hàng thương mại cũng như các ngân hàng trung gian khác trong việcchấp hành quy định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt vàviệc nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư
Tóm lại, vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng và các ngânhàng trung gian nói chung có thể khái quát thành 2 điểm lớn là:
- Các ngân hàng trung gian trong đó có ngân hàng thương mại là công cụquan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá
- Ngân hàng thương mại (và các ngân hàng trung gian khác) là công cụ thựchiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương
Trang 19CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.
1 Quá trình hình thành và phát triển.
Việt Nam, vào thời kỳ Bắc thuộc và từ thế kỷ XIX trở về trước, là một nướcnông nghiệp lạc hậu nên chưa hề có khái niệm về ngân hàng Sự đô hộ hàng ngànnăm của phong kiến phương Bắc đã làm cho nước ta hầu như không có sự tiếp xúcvới bên ngoài, thương mại ít phát triển cả trong và ngoài nước Do đó, nghề kinhdoanh tiền tệ cũng kém phát triển, mang nặng tính phân tán, chủ yếu là hoạt độngđổi tiền và cho vay nặng lãi
Khoảng giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Việt Nam trởthành thuộc địa và từ đó, các thương giá người Pháp bắt đầu chiếm lĩnh thị trườngViệt Nam (các nhà máy đường, nhà máy sợi, nhà máy dệt, ) Trong bối cảnh ngàycàng phát triển thị trường, trên lãnh thổ Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện hệ thốngngân hàng hiện đại, gồm có ngân hàng Đông Dương với tư cách là ngân hàng pháthành và một số ngân hàng thương mại của người nước ngoài và của người ViệtNam như ngân hàng Pháp - Hoa, ngân hàng Hồng Kông - Thượng Hải, Địa ốcngân hàng, để hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh thương mại
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủcộng hoà ra đời, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng bắt đầu được xây dựng từngbước Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ đây có thể chia làmhai thời kỳ
Từ năm 1951 đến năm 1987, chúng ta có hệ thống ngân hàng một cấp Lúcnày, hệ thống ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà tiền thân là ngân hàng quốc giaViệt Nam được thành lập vào năm 1951 - giai đoạn cuói của cuộc chiến tranhchống Pháp và trong điều kiện nền kinh tế tiểu nông lạc hậu Chức năng chủ yếu
Trang 20của ngân hàng quốc gia Việt Nam là: phát hành giấy bạc và quản lý kho bạc, thựchiện chính sách tín dụng và quản lý tiền tệ Chức năng này được thực hiện thôngqua một mô hình tổ chức gọn, nhẹ, phù hợp với điều kiện thời chiến gồm 3 cấpquản lý: trung ương, liên khu, tỉnh và thành phố.
Sau thời gian này, do sự thay đổi của nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế,
hệ thống ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã được mở rộng và hoàn thiện về cơ chế
tổ chức và hoạt động nghiệp vụ Tuy nhiên cho đến năm 1987, hoạt động của ngânhàng Việt Nam vẫn mang tính chất lưỡng tính Nó vừa thực hiện chức năng quản
lý và điều tiết lưu thông tiền tệ, vừa thực hiện chức năng của các ngân hàng trunggian và được tổ chức thống nhất từ trung ương xuống cơ cở Mặc dù đã góp phầnkhông nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước song ngân hàng Nhànước Việt Nam cũng đã bộc lộ những hạn chế của nó, đặc biệt trong thập kỷ 80,vừa không thể kinh doanh theo đúng nghĩa đồng thời lại không làm tròn chức năngquản lý Nhà nước các hoạt động tiền tệ ngân hàng, nó đã làm cho nền kinh tế ViệtNam trong những năm 80 rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, vừa thiếu tiềnmặt, vừa lạm phát
Vì thế, cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, từ cơ chế quản lý hànhchính và trực tiếp sang việc sử dụng các biện pháp kinh tế theo cơ chế thị trường,
từ năm 1988 đến nay, hệ thống ngân hàng đã được cải cách từng bước Hệ thốngngân hàng hai cấp ra đời
Bước sơ khai của hệ thống ngân hàng 2 cấp được thể hiện trong Nghị định 53ngày 26-3-1988 Theo đó hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm: ngân hàng Nhànước và các ngân hàng chuyên doanh Ngân hàng Nhà nước hoạt động với tư cách
là ngân hàng độc quyền phát hành, là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ, tíndụng và là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước Pháp lệnh ngân hàng Nhànước tháng 5-1990 thực sự đánh dấu bước đổi mới căn bản trong hoạt động của hệthống ngân hàng Việt Nam và khẳng định lại sự đúng đắn của việc cải cách ngânhàng trong Nghị định 53 Các ngân hàng thương mại, ngân hàng chuyên doanh,công ty tài chính, thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ - tín dụng Đặc biệt cácngân hàng thương mại phát triển mạnh và đa dạng Chúng có vai trò là người môigiới trung gian nhằm tập trung tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay cácdoanh nghiệp và dân chúng
Với một hệ thống gồm các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàngthương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hoàntoàn có thể khẳng định rằng, cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế từ tập
Trang 21trung bao cấp sang kinh doanh thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, côngcuộc đổi mới ngân hàng nói chung và sự tồn tại, phát triển của hệ thống ngân hàngthương mại nói riêng đã thành công ở Việt Nam Nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã thực sự làmđổi mới hệ thống ngân hàng thương mại phù hợp với tình hình ngày càng phát triển
về kinh tế của đất nước
2 Phân loại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nếu phân theo hình thức sở hữu thì ở Việt Nam hiện nay có:
- 4 ngân hàng thương mại quốc doanh với số vốn điều lệ là 5.500 tỷ đồng ViệtNam và có hoạt động rông khắp cả nước Các ngân hàng này được thành lập bằng100% vốn ngân sách Nhà nước và giữ vai trò chủ đạo, chỉ huy hoạt động kinhdoanh tiền tệ ở nước ta Về mặt pháp lý, ngân hàng thương mại quốc doanh là mộtpháp nhân, thuộc loại hình doanh nghiệp Nhà nước, do Nhà nước thành lập, đượcNhà nước cấp vốn điều lệ và bổ nhiệm người quản trị và điều hành Các ngân hàngthương mại quốc doanh được tổ chức và hoạt động theo hướng kinh doanh tổnghợp, được quyền kinh doanh tiền tệ, tín dụng với mọi thành phần kinh tế và trongmọi lĩnh vực của nền sản xuất xã hội
- 60 ngân hàng thương mại cổ phần bao gồm ngân hàng thương mại cổ phần
đô thị và ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn có tổng số vốn đạt trên 2.200 tỷđồng Việt Nam, hoạt động rất năng động Các ngân hàng này được thành lập dướihình thức công ty cổ phần trong đó 1 cá nhân hay 1 tổ chức không được sở hữu số
cổ phần của ngân hàng quá tỷ lệ do ngân hàng Nhà nước quy định Về mặt pháp lý,
đó cũng là một pháp nhân được cơ quan có thẩm quyền thành lập trên cơ sở tựnguyện của các cổ đông tham gia góp vốn và cùng hoạt động kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật
- 4 ngân hàng thương mại liên doanh với các ngân hàng thương mại hàng đầucủa Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan Các ngân hàng này được thànhlập bằng vốn góp của bên ngân hàng Việt Nam với bên ngân hàng nước ngoài cótrụ sở tại Việt Nam và hoạt động kinh doanh theo pháp luật Việt Nam
- 24 chi nhánh ngân hàng nước ngoài là những ngân hàng lớn trên thế giới cókinh nghiệm và uy tín cao hoạt động tập trung trên đại bàn Hà Nội và TP Hồ ChíMinh với tổng số vốn điều lệ lên tới trên 460 triệu USD Đây là một bộ phận củangân hàng nước ngoài, hoạt động theo pháp luật Việt Nam Chi nhánh ngân hàng