Bên cạnh hai nguồn nước có ý nghĩa lớn về mặt cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp là nước mưa và nước ngầm, nguồn nước mặt trên cơ sở hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn được
Trang 2Những vấn đề bức xúc nêu trên đã được nhấn mạnh tại Hội nghị Chủ tịch UBND các tỉnh/thành phố trên lưu vực sông Đồng Nai lần thứ nhất vào tháng 12/2001 và đã thu hút được sự quan tâm sâu sắc của các Bộ ngành trung ương và các cấp lãnh đạo của các địa phương trên lưu vực Trước những vấn đề bức bách đó, ngày 21/3/2002 vừa qua, Chính
phủ đã ký công văn số 291/CP-KG chỉ đạo việc xây dựng Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Đồng Nai Tiếp sau đó, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã đã tổ chức Hội nghị “Hợp tác giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước ở lưu vực sông Sài Gòn, sông Đồng Nai” vào ngày
23/04/2002 với sự tham gia của đại diện 11 tỉnh, thành phố trên lưu vực và các Bộ ngành hữu quan Tại Hội nghị này, các thành viên tham gia đã nhất trí 8 nội dung cơ bản hợp
tác lưu vực, trong đó có 02 nội dung liên quan trực tiếp đến đề tài này là: 1) Xây dựng
Qui chế bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Đồng Nai và 2) Quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước ngầm, nước mặt trên lưu vực sông Đồng Nai
Nhiều bộ luật hiện hành ở Việt Nam liên quan đến tài nguyên và môi trường nước đã có những quy định về khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước, tuy nhiên các quy định và hướng dẫn cụ thể cho từng đoạn sông, dòng sông hay lớn hơn là ở cấp lưu vực sông đến
Trang 3thay đổi cách thức quản lý từ chỗ quản lý theo đơn vị hành chánh như trước đây sang quản lý thống nhất và tổng hợp theo lưu vực sông là vấn đề hết sức cần thiết và sẽ phải làm trong nay mai Và để làm tốt việc đó, cần phải có những quy định cụ thể đối với các vấn đề cốt lõi như:
1 Khai thác và vận hành các công trình đầu nguồn (hồ chứa, đập dâng) sao cho tối đa nhất các lợi ích và giảm thiểu các bất lợi;
2 Điều hòa và phân phối nước giữa các tiểu lưu vực sông;
3 Phân vùng môi trường nước, phân loại chất lượng nước (kèm theo các tiêu chuẩn phù hợp) và phân đoạn quản lý sử dụng nguồn nước;
4 Kiểm soát ô nhiễm nước, giám sát chất lượng nước;
5 Sử dụng hợp lý tài nguyên đất;
6 Sử dụng mặt nước để nuôi thủy sản, giao thông vận tải thủy;
7 Các hướng dẫn cho phép khai thác cát sỏi trong sông hoặc các hướng dẫn bảo vệ thảm phủ thực vật ven sông; và
8 Các hướng dẫn cho phép khai thác sử dụng nước ngầm
Các quy định trên cần có sự thống nhất chung nhằm đem lại kết quả công bằng cho các địa phương trên lưu vực sông Đồng Nai Dựa trên cơ sở thống nhất chung, các quy định có thể được dùng để định ra những vấn đề như:
• Các ưu tiên đầu tư và cách thực hiện các ưu tiên này như thế nào;
• Chính sách định giá tài nguyên nước của quốc gia và chính sách hoàn vốn áp dụng cho lưu vực sông Đồng Nai hay các vùng của lưu vực này như thế nào;
• Các lệ phí ô nhiễm nước,…
Liên quan đến thực hiện đề tài này, đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu trước đây có thể kế thừa và bổ sung cho nhau Một số công trình tiêu biểu nhất, liên quan mật thiết nhất, có thể kể đến là:
1) Đề tài cấp nhà nước KHCN.07.17 “Xây dựng một số cơ sở khoa học phục vụ cho việc quản lý thống nhất và tổng hợp nguồn nước lưu vực sông Đồng Nai” do Viện Môi trường và Tài nguyên - Đại học Quốc gia TPHCM chủ trì (GS Lâm Minh Triết là chủ nhiệm đề tài), thực hiện trong 2 năm 1999 – 2000;
2) Dự án cấp quốc gia “Môi trường Lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai” do Viện Môi trường và Tài nguyên - Đại học Quốc gia TPHCM chủ trì (GS Lâm Minh Triết là chủ nhiệm đề tài), thực hiện từ tháng 9/2001 và kéo dài đến 9/2003; 3) Đề án tổng thể Bảo vệ môi trường Lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai sẽ được triển khai vào tháng 6/2002 (đề án liên tỉnh/thành phố);
4) Đề án “Quy hoạch Môi trường vùng Đông Nam bộ” cũng sẽ được triển khai vào tháng 6/2002 và kết thúc vào quí I năm 2003 do Cục Môi trường tổ chức thực hiện;
Trang 45) Đề tài cấp nhà nước KC.08.08 “Ứng dụng kinh tế môi trường để nghiên cứu và
đánh giá diễn biến tài nguyên, môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” do Viện Môi trường và Tài nguyên
- Đại học Quốc gia TPHCM chủ trì (GS Lâm Minh Triết là chủ nhiệm đề tài),
thực hiện từ tháng 9/2001 đến 12/2003
1.2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu của đề tài:
Xây dựng quy định về khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước sông Đồng Nai có cơ sở khoa học, phù hợp với các quy định hiện hành và khả thi trong điều kiện cụ thể của vùng lãnh thổ lưu vực sông Đồng Nai, phục vụ cho việc quản lý thống nhất và tổng hợp nguồn nước toàn lưu vực
1.2.2 Nội dung của đề tài
Trên cơ sở kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu đã và đang thực hiện, đề tài tiếp tục các nghiên cứu bổ sung để cung cấp các luận cứ khoa học tốt nhất có thể cho việc đề xuất các quy định về khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước sông Đồng Nai Các nội dung sau đây sẽ được đề tài tiếp tục nghiên cứu làm rõ:
Nội dung 1: Đánh giá tình hình hiện nay và dự báo những thách thức trong tương lai liên
quan tới việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai
Nội dung 2: Nghiên cứu xây dựng các luận cứ khoa học cho việc đề xuất các quy định
về khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai Nội dung 3: Nghiên cứu soạn thảo Quy định về khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước
sông Đồng Nai
Nội dung 4: Xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài và chuẩn bị các sản phẩm khoa học của đề tài
Trang 5CHƯƠNG 2HIỆN TRẠNG VÀ DỰ BÁO NHỮNG THÁCH THỨC TRONG TƯƠNG LAI LIÊN QUAN ĐẾN KHAI THÁC,
SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC
HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
2.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI TRONG PHÁT TRIỂN KT – XH
Nguồn nước ở lưu vực sông Đồng Nai giữ vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của 11 tỉnh/thành phố trên lưu vực, đặc biệt là đối với Vùng phát triển kinh tế năng động nhất cả nước: Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN) Hình 2.1 trình bày ranh giới hành chính các tỉnh thành/phố trên lưu vực
Bên cạnh hai nguồn nước có ý nghĩa lớn về mặt cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp là nước mưa và nước ngầm, nguồn nước mặt trên cơ sở hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn được xem là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho hầu hết các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội trên toàn lưu vực Tổng lượng dòng chảy bề mặt của các sông suối trong hệ thống sông Đồng Nai trung bình hàng năm đổ ra biển trên 36 tỷ m3 Trên lưu vực hiện đã có 4 hồ chứa nước lớn đang được khai thác sử dụng cho các công trình thủy điện, thủy lợi và điều tiết lưu lượng dòng chảy ở phiá hạ lưu: (1) hồ Đơn Dương và Nhà máy thủy điện Đa Nhim (thượng nguồn sông Đồng Nai), (2) hồ Trị An và nhà máy thủy điện Trị An (trung lưu sông Đồng Nai), (3) hồ Thác Mơ và nhà máy thủy điện Thác Mơ (thượng nguồn sông Bé) và (4) hồ Dầu Tiếng và đập thủy lợi Dầu Tiếng (thượng nguồn sông Sài Gòn) và các công trình đang được triển khai như Cần Đơn (sông Bé), Srok Phu Miêng (sông Bé) Ngoài ra còn có nhiều hồ chứa nước nhỏ và một số hồ đang được quy hoạch xây dựng nhằm khai thác tiềm năng thủy điện và thủy lợi của nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai
Với dân số hiện tại khoảng gần 15 triệu người, các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội trên lưu vực sông Đồng Nai rất đa dạng, phức tạp và đang diễn ra với một nhịp độ cao Các hoạt động đó, một mặt gắn liền với việc khai thác, sử dụng nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai cho nhiều mục đích khác nhau: thủy điện, thủy lợi, tưới tiêu, cấp nước, giao thông, du lịch, nuôi trồng thủy sản, v.v…, mặt khác, tạo ra các chất thải và/hoặc vận chuyển các chất thải vào nguồn nước Trong số nhiều chức năng quan trọng của hệ
thống sông Đồng Nai, quan trọng hơn cả là chức năng cung cấp nước cho sinh hoạt của
hàng triệu người dân đang sinh sống ở các khu đô thị và khu công nghiệp tập trung ở vùng hạ lưu của chúng, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Biên Hòa, và Thị xã Thủ Dầu Một Khu vực hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn cũng chính là nơi tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp hàng đầu của cả nước, do đó vai trò cung cấp nước cho công nghiệp của hệ thống sông Đồng Nai cũng không kém phần quan trọng Việc chuyển tải một phần nước ngọt từ tiểu lưu vực sông này đến tiểu lưu vực sông khác
Trang 6vốn đang gặp khó khăn về nguồn nước (Ninh Thuận, Bình Thuận, các khu vực Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh ở phía Tây Thành phố Hồ Chí Minh) cũng là một chức năng quan trọng của hệ thống sông Đồng Nai nhờ sự can thiệp của con người
Qua thăm dò ý kiến đánh giá của 11 tỉnh/thành phố trên lưu vực sông Đồng Nai về tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với phát triển kinh tế – xã hội ở từng địa phương, có thể rút ra những con số quan trọng như được thể hiện trong Bảng 2.1
Bảng 2.1 : Đánh giá tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với phát triển kinh tế – xã hội của 11 tỉnh, thành phố trên lưu vực sông Đồng Nai
Mức độ quan trọng (Tỉ lệ % được các tỉnh đánh giá) Chức năng
Rất quan trọng Quan trọng Ít quan trọng Không quan trọng
Nguồn: Tổng hợp ý kiến từ các tỉnh, thành phố trên lưu vực [1]
Ngày càng rõ ràng rằng, nước là một dạng tài nguyên đặc biệt quan trọng đối với sự sống, là điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển không chỉ đối với các hệ thống tự nhiên mà còn đối với các hệ thống kinh tế, xã hội và nhân văn Tài nguyên nước phải được nhìn nhận như là một loại hàng hóa kinh tế và xã hội đặc biệt
Cũng như nhiều dạng tài nguyên khác, tài nguyên nước, một mặt, có những giá trị kinh tế nhất định của có và mặt khác cũng có thể gây ra những hậu quả làm tổn thất lớn về mặt kinh tế, xã hội và môi trường một khi chúng đã bị suy thoái Các khía cạnh kinh tế trong việc khai thác, sử dụng và quản lý nguồn nước ở các sông lớn chủ yếu liên quan đến:
• Tiềm năng kinh tế của nguồn nước được khai thác, sử dụng cho dân sinh và các ngành kinh tế;
• Các vấn đề về cơ chế đầu tư vào lĩnh vực khai thác và phát triển tài nguyên nước;
• Các vấn đề về cơ chế quản lý và các chính sách về giá và thuế đối với Tài nguyên nước;
• Hiệu quả kinh tế của việc khai thác và vận hành các công trình về nước;
Trang 7• Chi phí sử dụng nước trong cơ cấu giá thành của một đơn vị sản phẩm;
Trang 8Hình 2.1 trình bày ranh giới hành chính các tỉnh thành/phố trên lưu vực
Trang 9• Các tổn thất về mặt kinh tế và xã hội do ô nhiễm, suy thoái tài nguyên nước và do lũ lụt gây nên, v.v
Tiềm năng kinh tế của nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai có thể nói là rất lớn, đặc biệt đối với một số lĩnh vực, ngành nghề kinh tế quan trọng như sau:
1) Khai thác sử dụng nguồn nước trên các sông Đồng Nai, La Ngà và sông Bé để phát điện cho 5 nhà máy thủy điện trên lưu vực (Đa Nhim, Trị An, Hàm Thuận, Đa Mi, Thác Mơ) với tổng công suất lắp máy là 1.185 MW, cung cấp sản lượng điện trung bình hàng năm khoảng 4.941 GWh (năm 2000) Dự kiến tiềm năng này còn sẽ được phát triển mạnh hơn trong tương lai đến năm 2025 với tổng số 11 nhà máy thủy điện có tổng công suất lắp máy 2.287 MW, cung cấp sản lượng điện trung bình hàng năm khoảng 8.972 GWh;
2) Cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp với 1.842.576 ha đất canh tác trên toàn lưu vực, trong đó tưới trực tiếp cho 205.000 ha diện tích cây trồng với lượng nước tưới hàng năm lên đến 2.878 triệu m3 (năm 2000) Dự báo đến năm 2025, diện tích cây trồng được tưới bằng nguồn nước sông Đồng Nai lên đến 324.000 ha với lượng nước tưới hàng năm lên đến 4.823 triệu m3;
3) Cung cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ tại các khu đô thị, khu công nghiệp tập trung trên lưu vực với lượng nước cấp ước tính khoảng 1.400.000 m3/ngày và cấp nước cho sinh hoạt ở khu vực nông thôn khoảng 260.000 m3/ngày (năm 2000) Dự báo các con số tương ứng đến năm 2025 là 4.390.000 m3/ngày và 654.000
m3/ngày;
4) Khai thác mặt nước cho giao thông vận tải thủy, đặc biệt là trên tuyến luồng hàng hải Sài Gòn – Vũng Tàu với tổng lượng hàng hóa khô thông qua cụm cảng Sài Gòn lên đến 20,5 ÷ 21,5 triệu tấn/năm (năm 2000) và dự báo sẽ tăng lên 30,5 triệu tấn/năm đến năm 2010 Nếu xét trên toàn vùng Đông Nam bộ, khối lượng vận tải hàng hóa bằng đường thủy dự báo sẽ đạt mức 90 triệu tấn/năm vào năm 2010 Các con số này cho thấy rằng, nguồn nước ở vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn có tiềm năng kinh tế rất lớn;
5) Tiềm năng kinh tế của nguồn nước ở lưu vực sông Đồng Nai còn được thể hiện qua việc khai thác sử dụng mặt nước để nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, năm 1997, tổng diện tích nuôi cá nước ngọt của 4 tỉnh vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai (TPHCM, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương) là 27.349 ha với sản lượng cá nước ngọt nuôi đạt 12.997 tấn/năm; diện tích nuôi tôm là 2.828 ha với sản lượng tôm nuôi đạt 1.079 tấn/năm Trong đó, nổi bật nhất là việc sử dụng mặt nước để nuôi cá bè (hiện nay ở hồ Trị An có 867 bè, hồ Dầu Tiếng – 20 bè, hồ Thác Mơ – 50 bè, trên kênh Tây có 150 bè, khu Bến Gỗ – Biên Hòa có 50 bè)
Chính nhờ các tiềm năng kinh tế có thể nói là rất lớn của nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai nên thực tế chúng đã được khai thác rất mãnh liệt và dự báo sẽ còn tiếp tục khai thác ráo riết hơn trong tương lai tương ứng với các chỉ tiêu quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các ngành, các địa phương trên lưu vực Khai thác các nguồn tài
Trang 10nguyên nói chung và tài nguyên nước nói riêng là hành động tất yếu cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tuy nhiên việc khai thác quá mức và sử dụng không hợp lý tài nguyên nước sẽ dễ dẫn đến hậu quả làm suy thoái nguồn nước và từ đó kéo theo những tổn thất nặng nề về mặt kinh tế cũng như xã hội, vì thế vấn đề khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững vùng lãnh thổ lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai cần đặc biệt được coi trọng và đòi hỏi phải tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước
2.2 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC TIÊU THỤ NƯỚC VÀ DỰ BÁO NHU CẦU DÙNG NƯỚC TRONG TƯƠNG LAI
Với tổng lượng dòng chảy hàng năm vào khỏang 36,6 tỷ m3, hiện tại tài nguyên nuớc Lưu vực sông Đồng Nai đang được khai thác sử dụng cho các mục đích sau : cấp nước sinh họat, công nghiệp và nông nghiệp; sử dụng mặt nước phục vụ giao thông đường thủy; nuôi trồng và đánh bắt thủy sản; sử dụng dòng sông để khai thác cát; sử dụng mặt nước để phát triển du lịch
2.2.1 Khai thác nước phục vụ nhu cầu cấp nước sinh họat, công nghiệp, dịch vụ và tưới tiêu
Dựa trên các số liệu về hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên lưu vực , tiêu chuẩn dùng nước, ta có thể xác định và dự báo nhu cầu dùng nước trên Lưu vực sông Đồng Nai, xem bảng 2.2
Bảng 2.2 Tổng hợp nhu cầu dùng nước ở lưu vực theo các giai đoạn phát triển
Nước sinh hoạt, công
nghiệp và dịch vụ Nước cho nông nghiệp Tổng cộng nhu cầu dùng nước ở lưu vực
Các công trình cấp nước mặt qui môi lớn và vừa trên lưu vực
Trên toàn bộ lưu vực sông Đồng Nai, hiện có rất nhiều công trình khai thác nguồn nước mặt để phục vụ cấp nước sinh hoạt và công nghiệp với các qui mô khác nhau (chưa
thống kê đầy đủ) Hiện nay, tổng lượng nước mặt được khai thác phục vụ cho các khu đô thị và khu công nghiệp tập trung trong vùng ước khoảng 1.500.000 m3/ngày Trong đó, một số công trình cấp nước có qui mô vừa và lớn ở thời điểm hiện tại là:
Trang 11• Hóa An là trạm bơm nước thô lớn nhất trong cả nước chuyển nước về nhà máy nước Thủ Đức để cấp nước cho TP Hồ Chí Minh và khu công nghiệp Biên Hòa, hiện có công suất 750.000 m3/ngày;
• Hệ thống cấp nước sông Sài Gòn giai đoạn 1 bao gồm trạm bơm nước thô gần xã Hòa Phú, hệ thống phân phối nước và nhà máy xử lý nước Tân Hiệp công suất 300.000m3/ngàyđêm;
• Nhà máy nước Thiện Tân mới được xây dựng giai đọan I với công suất 100.000
m3/ngày (tương đương lưu lượng 1,16 m3/s), lấy nước sông Đồng Nai để cấp cho Thành phố Biên Hòa và khu công nghiệp Long Thành, dọc quốc lộ 51;
• Nhà máy nước Bình An xây dựng theo phương thức BOT với công suất 100.000
m3/ngày (tương đương lưu lượng 1,16 m3/s) để cấp nước cho khu công nghiệp Biên Hòa và bổ sung cho TP Hồ Chí Minh Như vậy, tổng lượng nước cấp cho dân sinh và công nghiệp hiện nay trên sông Đồng Nai lấy đều đặn ở mức khoảng 10,26 m3/ s
• Nhà máy nước Nhơn Trạch giai đoạn 1 công suất 100.000 m3/ngày.đêm (đang xây dựng);
• Nhà máy nước Thủ Dầu Một sử dụng nước sông Sài Gòn để cấp nước cho Thị xã Thủ Dầu Một với công suất hiện nay là 42.000 m3/ngày;
• Nhà Nhà máy Sông Dinh lấy nước từ sông Dinh để cấp nước cho một số khu vực của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với công suất 35.000 m3/ngày
• Nhà máy nước Long Bình công suất giai đoạn đầu là 30.000m3/ngày.đêm;
• Nhà máy nước Biên Hòa sử dụng nước sông Đồng Nai để cấp cho Thành phố Biên Hòa và các khu công nghiệp trong khu vực Biên Hòa với công suất 30.000 m3/ngày;
• Nhà máy nước Dĩ An công suất giai đoạn 1 là 15.000m3/ngày.đêm sử dụng nước sông Đồng Nai cấp cho thị trấn Dĩ An và một phần huyện Thuận An
• *Nhà máy nước Suối Vàng lấy nước từ hồ Đankia trên lưu vực sông Đa Dung để cấp nước cho TP Đà Lạt với công suất 24.000 m3/ngày (tương đương 0,28 m3/s);
• Nhà máy cấp nước hồ Than Thở công suất 7.000m3/ngày.đêm;
• Nhà máy cấp nước Tây Ninh công suất 7.000 m3/ngày.đêm cấp nước cho thị xã Tây Ninh;
• Nhà máy nước Hồ Xuân Hương lấy nước từ hồ Chiến Thắng trên lưu vực sông Đa Dung để cấp nước bổ sung cho TP Đà Lạt với công suất 6.000 m3/ngày;
Trang 122.2.2 Khai thác nước sản xuất điện
Với tổng lượng dòng chảy khoảng 36,6 tỷ m3 hàng năm (khoảng 32 tỷ m3 phát sinh trong lãnh thổ), tài nguyên nước Hệ thống sông Đồng Nai đang được khai thác triệt để để sản xuất điện năng phục vụ phát triển kinh tế xã hội cho các tỉnh thành trên lưu vực Hiện tại, trên lưu vực có 5 công trình khai thác sử dụng nguồn nước trên các sông Đồng Nai,
La Ngà và sông Bé để phát điện cho 5 nhà máy thủy điện trên lưu vực (Đa Nhim, Trị
An, Hàm Thuận, Đa Mi, Thác Mơ) với tổng công suất lắp máy là 1.185 MW, cung cấp sản lượng điện trung bình hàng năm khoảng 4.941 GWh Dự kiến trong tương lai đến năm 2025 với tổng số 11 nhà máy thủy điện có tổng công suất lắp máy 2.287 MW, cung cấp sản lượng điện trung bình hàng năm khoảng 8.972 GWh Hiện tại trên lưu vực đang có những công trình lớn đang triển khai : Đại Ninh – sông Đồng Nai, Cần Đơn và Srok Phu Miêng – sông Bé, Hàm Thuận – Đa Mi – sông La Ngà
2.2.3 Khai thác sử dụng mặt nước phục vụ giao thông vận tải thủy
Vùng hạ lưu hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai có nhiều sông lớn, rộng, sâu với luồng lạch khá ổn định, đặc biệt là ở đoạn cuối của sông Sài Gòn và sông Đồng Nai; các sông Nhà Bè, Soài Rạp, Vàm Cỏ, Lòng Tàu – Đồng Tranh – Ngã Bảy, sông Thị Vải,…) Đây chính là điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển giao thông thủy và hệ thống cảng nước sâu trong khu vực Hiện tại trên hệ thống sông này đã khai thác và đưa vào sử dụng nhiều cụm cảng nước sâu, đồng thời còn qui hoạch phát triển một số cụm cảng trọng điểm phục vụ cho việc vận chuyển hàng hoá ngày càng tăng trong khu vực, đặc biệt là VKTTĐPN
Dự báo khối lượng vận tải hàng hóa của các tỉnh miền Đông Nam bộ vào năm 2010 phải vận chuyển bằng đường thủy khoảng 90 triệu tấn Cụm cảng Sài Gòn nếu mở rộng tối
đa vào năm 2010 cũng chỉ thông qua được khoảng 15 triệu tấn Do đó phải xây dựng thêm một số cảng ở Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai để giải tỏa lượng hàng hóa còn lại và làm nhiệm vụ trung chuyển hàng hóa quốc tế Theo quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng Động Nam bộ, đến năm 2010 sẽ xây dựng cụm cảng Thị Vải (bao gồm các cảng Gò Dầu, Phú Mỹ, Cái Mép trên sông Thị Vải) với công suất 18 ÷ 21 triệu tấn, có khả năng tiếp nhận tàu 30.000 ÷ 50.000 DWT Xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Sao Mai – Bến Đình công suất 40 ÷ 50 triệu tấn, có khả năng tiếp nhận tàu 50.000 ÷ 100.000 DWT
Nhu cầu giao lưu hàng hóa qua hệ thống cảng biển nước ta cũng như của vùng Đông Nam bộ, đặc biệt là cụm cảng Thành phố Hồ Chí Minh đang ngày càng gia tăng Dự báo đến năm 2010 là 30,5 triệu tấn/năm, tăng gấp 1,5 đến hơn 2 lần so với hiện nay
Ngoài ra ở khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh còn có một số cảng sông quan trọng như cảng Bình Đông, Tôn Thất Thuyết, Tân Thuận, Bình Lợi, Bình Phước,… phục vụ nhu cầu giao lưu hàng hóa giữa TPHCM và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Để phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy, một số lượng lớn tàu biển và tàu sông được đưa vào sử dụng Cùng với sự gia tăng lượng hàng hóa thông qua các
Trang 13cảng trong khu vực, lưu lượng tàu bè qua lại trong khu vực cũng tăng lên Theo thống kê của Cảng vụ Sài Gòn, số lượng tàu đến các cảng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây tăng nhanh rõ rệt Cơ cấu đội tàu ổn định với các nhóm tàu như: Nhóm tàu trên 15.000 DWT chiếm 12 ÷ 20%, nhóm tàu 10.000 DWT chiếm 25 ÷ 27%, còn lại là nhóm tàu dưới 10.000 DWT Cho đến nay, loại tàu có trọng tải trên 20.000 DWT ra vào khu vực có chiều hướng tăng nhanh – Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển chung của đội tàu vận tải biển trên thế giới Ngoài ra, ở dải ven biển Đông từ Vũng Tàu đến Phan Rang còn có nhiều cửa sông, sông và bến bãi neo đậu tàu thuyền, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông thủy cũng như các tàu thuyền đánh bắt thủy hải sản
2.2.4 Khai thác sử dụng mặt nước phục vụ nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
Sông Đồng Nai và các phụ lưu chính có tổng chiều dài lên đến 1.760km (chưa kể nhánh sông Vàm Cỏ Tây và các nhánh có nguồn độc lập ven biển Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu) Nếu kể đến các chi lưu nhỏ của các nhánh sông lớn thì tổng chiều dài mặt nước có thể lên đến hàng trăm nghìn kilomet Trong lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai còn có rất nhiều hồ chứa tự nhiên hoặc nhân tạo, nhiều ao, đầm, vực, vịnh,… với tổng diện tích mặt nước lên đến 11.981 ha (chưa kể phần mặt nước có ở các tiểu lưu vực sông và vùng cửa sông ven biển) Đặc biệt hơn, vùng nghiên cứu còn có chiều dài bờ biển lên đến 555 km với nguồn lợi hải sản phong phú Vì vậy, có thể nói, vùng lãnh thổ lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai có tiềm năng lớn về nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản
Theo những thông tin và số liệu được cập nhật, thì vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai (khu vực đồng bằng và cửa sông ven biển) có rất nhiều chủng loại thủy hải sản tự nhiên khác nhau, trong đó có những loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh, cá bống mú, cá chìa vôi,…
Liên quan đến các khiá cạnh và tác động đến môi trường sinh thái do các hoạt động của ngành thủy sản, ngoài các hoạt động đánh bắt thủy hải sản tự nhiên ở lưu vực, các hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng góp phần không nhỏ vào việc gây ô nhiễm nước tại những vùng chuyên canh nuôi công nghiệp
Nghề nuôi cá nước ngọt ở lưu vực sông Đồng Nai đã có từ trước năm 1975 với quy mô nhỏ ở khu vực Thủ Đức, Chợ Lớn (Tp Hồ Chí Minh), Đức Trọng, Bảo Lộc, Đà Lạt (Lâm Đồng) Các đối tượng nuôi là cá chép, cá rô phi trong ao
Sau năm 1975, nghề nuôi thủy sản nước ngọt phát triển rộng khắp toàn lưu vực:
• Hình thức nuôi: nuôi cá và nuôi tôm càng xanh trong ao, nuôi cá trong bè, nuôi cá trong hồ chứa nước, nuôi tôm cua nước mặn trong các vuông tôm, nuôi tôm hùm trong lồng,…, và sản xuất cá giống
• Kỹ thuật nuôi: chuyển đổi mạnh từ nuôi quảng canh sang bán thâm canh và thâm canh, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cao:
Trang 14- Thức ăn chế biến từ dạng tinh cao cấp cho các loại tôm giống, cá giống đến dạng công nghiệp cho nuôi cá, nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh cho tôm;
- Các biện pháp và thuốc phòng trừ dịch bệnh mới như hạn chế dùng thuốc kháng sinh, nạo vét tẩy trùng nền đáy ao;
- Xử lý nước nuôi bằng các chế phẩm vi sinh kết hợp với các biện pháp cơ học
• Mở rộng các đối tượng nuôi: Khởi đầu chỉ nuôi cá rô phi, cá chép, di giống cá trắm cỏ, cá mè trắng, cá mè hoa từ miền Bắc Sau năm 1975, phát triển nuôi các loài cá trôi Ấn Độ, cá chim trắng, cá điêu hồng (rô phi đỏ) Phát triển nuôi các loài cá lóc bông, cá lóc đen, cá bống tượng Ở vùng hạ lưu bị nhiễm mặn và dãi ven biển Đông Nam bộ, các đối tượng nuôi chủ yếu là: tôm sú, cua biển, cá mú (phân bố dọc chiều dài bờ biển gần các cửa sông), tôm hùm (khu vực tỉnh Ninh Thuận – Bình Thuận), nghêu sò (khu vực bãi bồi Cần Giờ – TPHCM, Cần Đước, Cần Giuộc – Long An)
• Các vùng phát triển nuôi cá nước ngọt trong ao hồ, sản xuất cá giống và cá thịt là: Đức Trọng, Cát Tiên, Bảo Lộc (Lâm Đồng); Bình Long, Đồng Phú, Đắc Nông, Phước Long (Bình Phước); Thuận An (Bình Dương); Bình Chánh, Thủ Đức, Quận 8, Quận 9, Củ Chi, Bình Thạnh (Tp.HCM); Thống Nhất, Biên Hoà (Đồng Nai), Bến Lức (Long An)
• Các vùng nuôi cá bè: tập trung ở Cát Tiên – Lâm Đồng (khoảng 50 bè trên sông Đồng Nai), Vùng hồ Trị An có khoảng 1.000 bè, hồ Dầu Tiếng khoảng 200 bè, hồ Thác Mơ khoảng 20 bè, hồ Hàm Thuận khoảng 30 bè, khu vực làng cá Tân Mai, Bến Gỗ – Tp Biên Hòa khoảng 240 bè Trên sông Vàm Cỏ Đông, khu vực Gò Dầu – Tây Ninh khoảng 20 bè, sông Vàm Cỏ Tây khu vực Mộc Hoá – Long An khoảng 50 bè
Đối tượng nuôi bè chủ yếu: Cá lóc bông, cá lóc đen, cá bống tượng, cá điêu hồng (riêng ở Tp Biên Hoà chỉ nuôi cá chép) Thức ăn chính là cá nhỏ, cá tạp, hến, thức ăn chăn nuôi công nghiệp
• Nuôi cá trong hồ chứa nước: Các hồ Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ sau khi hình thành đều thả cá giống gồm cá chép, cá trắm cỏ, cá mè hoa, cá mè trắng Do bảo vệ khó khăn, hiện nay hàng năm chỉ có hồ Trị An thả cá giống xuống hồ, số lượng cá thả xuống hồ mỗi năm chỉ khoảng 3 ÷ 5 triệu cả giống các loại với kích cỡ 10 – 15cm
• Nuôi tôm càng xanh trong ao: Tập trung ven sông Đồng Nai ở Tp Biên Hòa và Thủ Đức Gần đây nuôi thử nghiệm thành công ở Lâm Đồng và Đắc Nông (Đắk Nông)
• Nuôi tôm sú: Từ nuôi quảng canh chuyển sang nuôi tôm quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh ở Cần Đước, Cần Giuộc (Long An), Nhà Bè, Cần Giờ (Tp HCM) và tại một số khu vực ven biển Ninh Thuận – Bình Thuận
• Nuôi cua trong ao hoặc lồng ở Cần Giờ Đối tượng nuôi: Cua xanh Hình thức nuôi: Cua thịt, cua lột
• Nuôi sò huyết ở bãi bùn ven sông Dần Xây, sông Mũi Nai huyện Cần Giờ và khu vực bãi bồi Cần Giờ
Trang 15Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ (xem Bảng 2.3), năm 2001, tổng diện tích nuôi cá
nước ngọt tại một số địa phương trên lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai là 2.931 ha với
sản lượng cá nước ngọt nuôi đạt 650 tấn/năm; diện tích nuôi tôm sú là 9.493 ha với sản
lượng tôm nuôi đạt 16.883 tấn/năm Có 12.081 tàu thuyền đánh cá với tổng sản lượng
đánh bắt hàng năm là 285.777 tấn Ngoài ra còn có khoảng 1.200 hộ nuôi nghêu ở khu
vực bãi bồi Cần Giờ trên tổng diện tích nuôi nghêu 1853 ha, sản lượng năm 2001 đạt
16.700 tấn
Ngoài ra, nước từ hồ Dầu Tiếng theo kênh Tây và kênh Đông góp phần tích cực cải tạo
môi trường đất, nước vùng nhiễm phèn nặng ở khu vực Tây Ninh và Củ Chi, Hóc Môn
(TPHCM) thúc đẩy sự phát triển nghề nuôi cá gia đình theo mô hình VAC, mô hình sản
xuất trang trại từ nhỏ (2 – 10ha) đến lớn (100ha) theo lối kết hợp heo – cá, vịt – cá Ở
Củ Chi, diện tích ao nuôi cá là 500/12.000 ha đất được tưới nước từ kênh Đông, chiếm
4% Trên kênh Tây có 150 bè nuôi cá
Ngoài ra, nước từ hồ Dầu Tiếng theo kênh Tây và kênh Đông góp phần tích cực cải tạo
môi trường đất, nước vùng nhiễm phèn nặng ở khu vực Tây Ninh và Củ Chi, Hóc Môn
(TPHCM) thúc đẩy sự phát triển nghề nuôi cá gia đình theo mô hình VAC, mô hình sản
xuất trang trại từ nhỏ (2 – 10ha) đến lớn (100ha) theo lối kết hợp heo – cá, vịt – cá Ở
Củ Chi, diện tích ao nuôi cá là 500/12.000 ha đất được tưới nước từ kênh Đông, chiếm
4% Trên kênh Tây có 150 bè nuôi cá
Bảng 2.3 : Một số thông tin cơ bản về tình hình nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản
tại các tỉnh, thành phố trên lưu vực sông Đồng Nai
Nuôi cá bè Nuôi tôm sú Đánh bắt ven bờ và
ngoài khơi
Địa phương Diện tích
nuôi cá
nước ngọt
(ha) Số lượng bè Sản lượng
(T/năm)
Diện tích (ha)
Sản lượng (T/năm)
Số lượng tàu
thuyền
Sản lượng đánh bắt (T/năm)
Lâm Đồng
Bình Phước 818 17 265
Bình Dương 224 60 240
Đồng Nai
Tây Ninh
Long An
TPHCM BR-VT 989 08 120 4.854 2.005 4.514 128.600
Nguồn: [2]
Ngoài ra, nước từ hồ Dầu Tiếng theo kênh Tây và kênh Đông góp phần tích cực cải tạo
môi trường đất, nước vùng nhiễm phèn nặng ở khu vực Tây Ninh và Củ Chi, Hóc Môn
(TPHCM) thúc đẩy sự phát triển nghề nuôi cá gia đình theo mô hình VAC, mô hình sản
Trang 16xuất trang trại từ nhỏ (2 – 10ha) đến lớn (100ha) theo lối kết hợp heo – cá, vịt – cá Ở Củ Chi, diện tích ao nuôi cá là 500/12.000 ha đất được tưới nước từ kênh Đông, chiếm 4% Trên kênh Tây có 150 bè nuôi cá
2.2.5 Sử dụng các dòng sông để khai thác cát
Trên Lưu vực sông Đồng Nai, cát được khai thác và sử dụng là cát bồi tích trên các sông vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai, chủ yếu là hạ lưu sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Nhà Bè và sông Soài Rạp
Trên sông Đồng Nai đoạn từ Tân Uyên đến bến phà Cát Lái (Quận Thủ Đức – Tp Hồ Chí Minh) dài 56km , hoạt động khai thác cát xây dựng ngay trên dòng chảy ở các đoạn sông như sau:
• Từ cầu Ghềnh đến hết Cù lao Bình Chánh;
• Từ cửa rạch Ông Tích đến hết cù lao Bạch Đằng;
• Khu vực cù lao Bình Chánh;
• Từ cầu Đồng Nai đến Cát Lái
Trên các sông Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông, Nhà Bè, Soài Rạp, hoạt động khai thác cát diễn
ra tại nhiều khu vực khác nhau
Các kết quả phân tích cho thấy chỉ có cát sông Đồng Nai đáp ứng yêu cầu sản xuất bêtông chịu lực của các công trình cầu, đập thủy điện, các công trình công nghiệp và dân dụng, còn cát trên sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Nhà Bè, sông Soài Rạp được khai thác và tận thu dùng vào các mục đích khác như để tô trát, san lấp mặt bằng
Để có cơ sở khai thác cát với số lượng lớn đồng thời khống chế được sản lượng khai thác của các doanh nghiệp mà không ảnh hưởng đến môi trường, năm 1995, Bộ Công nghiệp đã cấp giấy phép thăm dò tính trữ lượng cát sông Đồng Nai, kết quả xác định trữ lượng cát trên đọan sông này là 40.433.000 m3, trữ lượng này đã đựơc Hội đồng trữ lượng thông qua và Bộ Công nghiệp đã cấp phép lại cho các doanh nghiệp khai thác với sản lượïng khoảng gần 5.000.000m3/ năm
Do tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng tăng nhanh trong những năm gần đây nên hoạt động khai thác cát đã xảy ra mạnh mẽ hơn, nhiều nơi đã khai thác cát bất chấp điều kiện cho phép của mỏ, dòng chảy và môi trường, đã xảy ra hiện tượng tranh chấp ranh giới giữa các điểm khai thác cũng như việc sử dụng sản phẩm còn lãng phí (dùng cát xây dựng để san lấp)
Hiện nay riêng trên sông Đồng Nai, sản lượng cát khai thác mỗi năm khoảng 5 triệu m3,
so với trữ lượng đã được thăm dò thì dự báo đến sau năm 2005 khi trữ lượng dự trữ đã khai thác hết sẽ có hàng loạt điểm sạt lở phát triển dọc theo bờ sông
2.2.6 Sử dụng mặt nước để phát triển du lịch
Trang 17Nhiều khu du lịch nổi tiếng ở lưu vực sông Đồng Nai hấp dẫn du khách nhờ cảnh quan thiên nhiên, trong đó có các hồ chứa nước và các thác nước Tận dụng mặt nước để khia thác các dịch vụ câu cá, đua thuyền, lướt ván, … mang lại nguồn thu lớn cho các địa
phương trong lưu vực
2.3 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁC NGUỒN NƯỚC TRÊN LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI 2.3.1 Nguyên nhân gây ô nhiễm
Các nguyên nhân khách quan
Các nguyên nhân khách quan chủ yếu là do tính đặc thù của các điều kiện tự nhiên trên lưu vực ảnh hưởng đến chất lượng nước, gồm :
• Quá trình xói mòn, rửa trôi đất bề mặt mang theo bùn cát, xác thực vật, chất ô nhiễm, thuốc bảo vệ thực vật, các khoáng chất từ đất đá, … vào nguồn nước
• Ảnh hưởng của triều từ biển Đông gây ra vấn đề mặn hóa ở hạ lưu;
- Ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông cộng với hệ thống sông rạch chằng chịt đã hình thành nhiều vùng giáp nước – nơi mà tốc độ dòng chảy rất thấp hoặc thậm chí bằng không Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc lắng đọng và tích tụ ô nhiễm trên kênh rạch Tại nhiều khu vực (chẳng hạn như trên sông Sài Gòn đoạn chạy ngang qua trung tâm TPHCM), các chất ô nhiễm chưa kịp tải ra đến cửa sông thì bị thủy triều dồn nén trở lại, tạo thành một vùng tích tụ ô nhiễm, ở đó khả năng tự làm sạch của sông rất kém;
- Ảnh hưởng của đất phèn trên lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, sông Sài Gòn đến pH và mức độ axít hóa của nguồn nước trên các sông này, đặc biệt là vào các thời điểm đầu mùa mưa;
- Chế độ dòng chảy trên các sông rạch ảnh hưởng đến khả năng pha loãng chất thải và khả năng tự làm sạch của các sông theo quy luật: mùa mưa, dòng chảy lớn, khả năng pha loãng và tự làm sạch cao; mùa khô, dòng chảy kiệt, khả năng pha loãng và tự làm sạch kém hẳn
Các nguyên nhân chủ quan
Một cách khái quát, có thể dễ dàng nhận dạng ra được các nguồn thải ô nhiễm chính tác động đến chất lượng nước ở lưu vực sông Đồng Nai, bao gồm:
• Chất thải sinh hoạt (bao gồm cả nước thải, rác thải);
• Chất thải công nghiệp và dịch vụ (bao gồm cả các chất thải nguy hại, nước dò rỉ từ các bãi chôn lấp chất thải rắn, dầu cặn từ các khu kho cảng);
• Nước mưa chảy tràn qua các vùng đất canh tác nông nghiệp mang theo rất nhiều tác nhân ô nhiễm (bùn đất, phèn, dư lượng phân bón, thuốc trừ sâu,…)
• Nước mưa chảy tràn qua các khu đô thị, đường giao thông cũng góp phần gây ô nhiễm nguồn nước;
• Chất thải do chăn nuôi (chủ yếu là nước rửa chuồng trại, phân gia súc…), kể cả việc nuôi trồng thủy sản tại các làng nghề truyền thống;
• Chất thải và sự cố môi trường do các hoạt động giao thông vận tải thủy
Trang 182.3.2 Lưu lượng và tải lượng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt và công nghiệp
Trong số các nguồn gây ô nhiễm nói trên, quan trọng hơn cả là các nguồn thải tập trung với số lượng lớn và có mức độ ô nhiễm cao thải ra từ các khu đô thị, khu dân cư và khu
công nghiệp, được biết đến với tên gọi là “nguồn điểm – point sources” Do đó, việc tính
toán lưu lượng và tải lượng ô nhiễm của các nguồn thải này là rất cần thiết để một mặt, cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá khách quan hiện trạng ô nhiễm nguồn nước và mặt khác, cung cấp cơ sở dữ liệu cho việc dự báo diễn biến chất lượng nước hệ thống sông Đồng Nai bằng các mô hình toán Kết quả tính toán và dự báo lưu lượng và tải lượng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt và công nghiệp trên Lưu vực sông Đồng Nai ở thời điểm 2001 và 2010 được thể hiện ở bảng 2.4, hình 2.2 phân bố các khu công nghiệp trên
lưu vực
Bảng 2.4 : Hiện trạng phân bố lưu lượng và tải lượng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt và công nghiệp trên lưu vực sông Đồng Nai (2002)
Tải lượng ô nhiễm (kg/ngày)
Tải lượng ô nhiễm (kg/ngày)
Nguồn: [4]
Trang 19hình 2.2 phân bố các khu công nghiệp trên lưu vực
Trang 202.3.3 Hiện trạng ô nhiễm nguồn nước
a Nước mặt
Do tính chất đặc biệt quan trọng của nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai đối với phát triển kinh tế – xã hội của các tỉnh/thành trên lưu vực, đặc biệt là vai trò cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp của các tỉnh ở hạ lưu, nên chất lượng nước mặt của hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn đã được nhiều cơ quan chú trọng nghiên cứu, theo dõi diễn biến từ năm 1990 đến nay Các chương trình/đề tài/ dự án nghiên về chất lượng nước sông Sài Gòn – Đồng Nai như : nghiên cứu của Lê Trình và CTV của Trung tâm Bảo vệ Môi trường từ 1990 – 1991, mạng lưới quan trắc (giám sát) ô nhiễm nước khu vực Thành
phố Hồ Chí Minh và các Đô thị thuộc hai Tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, Dự án Quan
trắc chất lượng nước hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai (1995 - 1997), Hệ thống Quan trắc Môi trường Quốc gia (1995), Báo cáo Hiện trạng Môi trường các tỉnh trên LVSĐN
[35] gửi về Cục Môi trường, các đề tài cấp Nhà nước như KT.02.04, KT.02.15, KC.02.05, KHCN.07.10, KHCN.07.17 và các đề tài của các tỉnh Đồng Nai[36], [37], TP.HCM [28], [38], Bình Dương[39], Bà Rịa-Vũng Tàu[40] và các dự án quốc tế (UNDP, ADB, WB, CIDA ) cũng đã nghiên cứu khá nhiều về ô nhiễm nguồn nước mặt trong lưu vực Gần đây nhất là dự án Lưu vực sông Đồng Nai, Viện Môi trường và Tài nguyên tiếp tục quan trắc diễn biến chất lượng nước hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai với tần suất mỗi tháng một lần từ 9/2001 Tổng số điểm quan trắc là 27 tương ứng với 35 thủy trực, 26 thông số quan trắc gồm : nhiệt độ, DO, độ đục, độ dẫn điện, COD, BOD5, …
Từ các kết quả nghiên cứu và quan trắc chất lượng nước của nhiều chương trình/đề tài/dự án có liên quan như giới thiệu ở trên, cho phép rút ra một số nhận định tổngg quát về hiện trạng và đặc điểm ô nhiễm nguồn nước mặt Lưu vực sông Đồng Nai như sau :
a.1 Hiện trạng chất lượng nước mặt vùng thượng và trung lưu hệ thống sông Đồng Nai
Nhìn chung, khu vực thượng và trung lưu các sông lớn trong lưu vực (trước hồ Trị An trên sông Đồng Nai, trước đập Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, toàn bộ sông Bé, sông La Ngà) chưa bị ô nhiễm rõ rệt (mặc dù có nơi, có lúc bị ô nhiễm cục bộ) do các chất thải sinh hoạt và sản xuất công nghiệp, nông nghiệp: mức độ ô nhiễm hữu cơ còn thấp (BOD5 < 5 mg/l, DO thường > 6 mg/l, COD < 8 mg/l, theo tiêu TCVN 5942 – 1995 cho nguồn nước dùng cho ăn uống thì COD < 10 mg/l); ô nhiễm do các chất dinh dưỡng và hiện hiện phú dưỡng hóa nguồn nước ở mức thấp (hàm lượng N-NO2 < 0,005 mg/l, N-
NO3 < 0,02 mg/l, N-NH4 < 0,7 mg/l tổng N < 0,1 mg/l, tổng P < 0,02 mg/l); hàm lượng chất rắn lơ lửng ở vùngh thượng lưu dao động từ 1 – 10 mg/l (tiêu chuẩn Việt Nam nguồn lọai A cho phép SS < 20 mg/l) Tuy nhiên mức độ ô nhiễm do dầu khá nặng, hàm lượng dầu trrên vùng thượng lưu dao động 0,2 – 0,6 mg/l (theo tiêu TCVN 5942 – 1995 đối với nguồng nước mặt thì hàm lượng dầu bằng không); mức độ ô nhiễm vi sinh vật vượt hơn so với TCVN từ 3,8 – 19,2 lần, hàm lượng vi trùng coliform từ 19E+4 – 9,6E+4 MPN/100ml Mức độ ô nhiễm do các tác nhân độc hại (các kim loại nặng: Cu, Pb, Zn,
Fe, Hg, Cd , thuốc bảo vệ thực vật, phenol, dầu mỡ ) trong nước sông vùng thượng và trung lưu đều nhỏ hơn mức cho phép của WHO hoặc tiêu chuẩn môi trường Việt Nam đối với nguồn nước loại A (cho phép đưa vào các nhà máy nước), riêng hàm lượng chất
Trang 21rắn lơ lửng (phù sa) ở sông suối vùng thượng lưu vào mùa lũ khá cao Đây là hậu quả của nước mưa chảy tràn qua các vùng đất canh tác nông nghiệp trên các triền đồi làm rửa trôi đất, gây xói mòn đất, đặc biệt khi thảm thực vật ngày càng suy giảm
Các sông, suối ở khu vực thượng và trung lưu hệ thống sông Đồng Nai nói chung là có khả năng tự làm sạch rất cao, chất lượng nước tại phần lớn các đoạn sông suối thượng nguồn đều đạt tiêu chuẩn nguồn loại A cho phép khai thác sử dụng cho sinh hoạt Tuy nhiên cũng có nhiều đoạn sông, hồ chứa đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ rõ rệt như ở Thác Cam Ly và một số hồ ở khu vực Thành phố Đà Lạt, đặc biệt là ô nhiễm hữu cơ rõ rệt ở hồ Trị An xung quanh khu vực các làng nghề nuôi cá bè Một dấu hiệu bất thường đã xảy ra tại đây vào tháng 4/2000 làm cho cá bè nuôi bị chết hàng loạt Nồng độ oxy hòa tan (DO) trong nước hồ tụt giảm đến mức kỹ lục: 0,7 ÷ 1,2 mg/l và kéo dài suốt một đoạn dài gần 10 km từ sau cầu La Ngà kèm theo các mùi hôi thối nồng nặc bốc lên từ mặt hồ
a.2 Hiện trạng môi trường nước mặt vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai
Nhận xét chung
• Ở khu vực hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai (sau đập Trị An trên sông Đồng Nai, sau đập Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Thị Vải), nguồn nước đã có dấu hiệu ô nhiễm rõ rệt do tác động của các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội trên lưu vực và các quá trình tự nhiên, đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước trên các hệ thống kênh rạch nội thành, nội thị; ô nhiễm nước sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến dưới cầu Đồng Nai, ô nhiễm nước sông Sài Gòn đoạn từ Bình Phước đến Tân Thuận, ô nhiễm nước sông Thị Vải đoạn từ Vedan đến dưới cảng Phú Mỹ, axít hóa nước sông Vàm Cỏ Đông, sông Sài Gòn, nhiễm mặn ở khu vực cửa sông và vùng ven biển Các tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu là: các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng (từ chất thải của con người, gia súc và một số ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm), dầu mỡ (do giao thông thủy), vi trùng (từ chất thải sinh hoạt) Ô nhiễm do chất thải công nghiệp chỉ có tính cục bộ và trong sông lớn còn nhẹ Do qáu trình làm sạch của sông Sài Gòn, đặc biệt sau khi hợp lưu với sông Đồng Nai có lưu lượng lớn, mức độ ô nhiễm hữu cơ vùng Nhà Bè – Cần Giờ có giảm đáng kể, tuy nhiên hàm lượng hữu ơ vẫn còn khá lớn (Nồng độ BOD5 thường ở mức
5 – 15 mg/l, DO từ 4 – 6 mg/l) Nghiên cứu của Lê Trình (1990 – 1997) cho thấy đối với sông Sài Gòn vùng từ Bình Quới (Thanh Đa) đến Tân Thuận là vùng nhận và phân hủy hữu cơ mạnh, vùng từ Tân Thuận đến Nhà Bè là vùng hồi phục và vùng sau Nhà Bè là vùng ổn định về mặt hữu cơ Tuy nhiên từ 1995 đến nay, giá trị DO ở Cần Giờ giảm rõ rệt so với các năm trước (4 – 5 mg/l so với 5 – 7 mg/l) Một đặc điểm nổi bật của sông Sài Gòn là giá trị pH rất thấp vào mùa mưa tại Bến Than và cầu Bình Phước (có khi chỉ còn dưới 4,0) trong khi đó tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước phục vụ cho mục đích ăn uống phải đạt từ 6,0 – 8,5 Sông Thị Vải đã bị
ô nhiễm hữu cơ ở mức nghiêm trọng Sông Vàm Cỏ Đông bị nhiễm phèn và axít hóa
ở mức độ cao
Trang 22• Chất lượng nước sông Đồng Nai tốt hơn hẳn sông Sài Gòn cả về mặt bản chất tự nhiên và mức độ ô nhiễm
• Nguồn gây ô nhiễm chính trong lưu vực là chất thải của hàng triệu con người không đựơc xử lý Do vậy các thông số cơ bản cần lựa chọn để đánh giá mức độ ô nhiễm các dòng sông này là chất hữu cơ (qua BOD5, DO hoặc COD), chất dinh dưỡng (N, P), vi trùng (qua E coli) Ngoài ra có thể bổ sung thêm một số thông số đặc trưng cho các nguồn ô nhiễm khác như dầu mỡ (do giao thông thủy, nước thải sinh hoạt và công nghiệp), phenol, các kim loại nặng (Pb, Hg, Cd, Zn ) từ chất thải công nghiệp
Một số đánh giá mới nhất về mức độ các chất ô nhiễm tồn tại trong nước sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai :
Mức độ ô nhiễm SO 4 2- và Cl - : Ô nhiễm do SO42- và Cl- trong nước sông Sài Gòn – Đồng
Nai được ghi nhận ở tất cả các điểm đo đều vượt xa tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn lọai A hàm lượng SO42- và Cl- dao động trong khỏang 1 – 78 mg/l, 6 – 40 mg/l (TCVN
5942 – 1995 SO42- < 0,2 mg/l và Cl- < 1 mg/l đặc biệt giá trị cao nhất được ghi nhận tại Gò Dầu và Phú Mỹ là hàm lượng SO42- và Cl- lên đến 1650 – 1900 mg/l, 13400 – 14100 mg/l Nguyên nhân hàm lượng SO42- và Cl- cao là do về mùa kiệt lưu lượng nguồn đưa
ra biển nhỏ nên mức độ xâm nhâp mặn vào sâu
Mức độ ô nhiễm do N – NH 4 + : Chỉ tiêu N – NH4+ là một trong những thông số chỉ thị mức ô nhiễm của dòng sông do nước thải sinh họat, công nghiệp Qua kết quả phân tích mẫu trên Lưu vực sông Đồng Nai , nồng độ N – NH4+ đều vượt tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn lọai A là N – NH4+ < 0,05 mg/l Nồng độ N – NH4+ tại các điểm quan trắc dao động trong khỏang 0,44 – 7,32 mg/l, gấp hơn tiêu chuẩn từ 8,8 – 146, 4 lần Hàm lượng
N – NH4+ trong nước sông Vàm Thuật đã đạt tới 13,9 mg/l, gấp hơn tiêu chuẩn 258 lần
Mức độ ô nhiễm do N-NO 2 , N-NO 3 : Nhìn chung, nguồn nước Lưu vực sông Đồng Nai
chưa bị ô nhiễm bởi các chất N-NO2, N-NO3 Hàm lượng Nitrit, Nitrat đo được ở tất cả các điểm quan trắc nước sông Sài Gòn – Đồng Nai đều có giá trị thấp hơn tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn lọai A (TCVN 5945 – 1995, N-NO2 < 0,01 mg/l và N-NO3 < 10 mg/l) Mặc dù có sự tác động của nguồn nước thải sinh họat, công nghiệpvà nông nghiệp trên lưu vực đổ ra nhưng hàm lượng Nitrit và Nitrat có giá trị gần giống nhau với khỏang dao động trung bình, N-NO2 từ 0,000 – 0,058 mg/l và N-NO3 từ 0,00 – 0,56 mg/l
Mức độ ô nhiễm hữu cơ : COD và BOD5 là chỉ tiêu quang trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nước do các chất hữu cơ Sự hiện diện của các chất hữu cơ Hàm lượng COD và BOD5 trong nước sông Sài Gòn từ Dầu Tiếng đến Bình Phước dao động từ 6 – 15mg/l, 1 – 2 mg/l Hàm lượng COD và BOD5 trong nước sông Đồng Nai từ Trị An đến Cát Lái dao động từ 4 – 89 mg/l, 1 – 13 mg/l (TCVN 5942 – 1995 COD < 10 mg/l và BOD5 < 4 mg/l Như vậy, nhiều điểm trên nguồn nước Lưu vực sông Đồng Nai không đạt tiêu chuẩn về nồng độ chất hữu cơ dùng coh mục đích cấp nước Việc càng xuống phía dưới hạ lưu hàm lượng chất hữu cơ càng cao hơn phía thượng lưu là do tiếp nhận một lượng lớn nước thải sinh họat và công nghiệp
Trang 23Mức độ ô nhiễm do chất rắn lơ lửng (SS) : Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5942 -
1995) thì đối với nguồn nước phục vụ ăn uống hàm lượng chất rắn lơ lửng là SS < 20 mg/l Kết quả phân tích mẫu trên Lưu vực sông Đồng Nai , hàm lượng chất lơ lửng khá cao và phân bố rất không đều trong môi trường nước dọc tuyến sông Tại vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai hàm lượng chất lơ lửng trung bình khỏang 7 – 77 mg/l Tại một số điểm như cầu Ông Buông hàm lượng chất lơ lửng lên đến 158 mg/l, tại Vàm Thuật vàBình Phước 108 – 120 mg/l, tại Vàm Cỏ là 113 mg/l, tại nhánh Nhà Bè 265 mg/l Như vậy, nước hạ lưu sông Sài Gòn - Đồng Nai bị ô nhiễm nặng bởi chất lơ lửng
Mức độ nhiễm dầu : Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5942 - 1995) thì đối với nguồn
nước phục vụ ăn uống hàm lượng dầu phải bằng không Các số liệu quan trắc cho thấy tại các điểm quan trắc hàm lượng dầu dao động trong khỏang 0,0 – 11,5 mg/l Như vậy, nhiều điểm trên nguồn nước Lưu vực sông Đồng Nai không đạt tiêu chuẩn về hàm lượng dầu cho mục đích cấp nước Kết qủa quan trắc cũng cho thấy rõ hàm lượng dầu cao nhất tại cầu Ông Buông đạt đến 11,5 mg/l
Mức độ ô nhiễm do Fe TC : Dựa vào giá trị FeTC có thề thấy sông Đồng Nai có mức độ ô nhiễm FeTC dao động trong khỏang 0,25 mg/l – 12,07 mg/l trên sông Sas2I Gòn từ Dầu Tiếng đến Bình Phước dao động từ 0,25 – 12,07 mg/l Nồng độ FeTC trong nước sông Đồng Nai từ Trị An đến Cát Lái dao động từ 0,3 – 12,07 mg/l (TCVN 5942 – 1995 FeTC
< 1mg/l) Như vậy ở hầu hết các điểm quan trắc đã có dấu hiệu ô nhiễm FeTC Một số nơi đã bị ô nhiễm FeTC nặng như tại cầu sông Buông nồng độ FeTC là 12,07 mg/l, Xòai Rạp là 5,26 mg/l, tại nhánh Nhà Bè là 3,85 mg/l
Mức độ ô nhiễm vi sinh vật : Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5942 – 1995) cho phép nồng
độ Coliform là 5000 MPN/100ml đối với nguồn nước dùng cho việc cung cấp làm nước ăn uống và sinh họat Các số liệu quan trắc cho thấy tại các điểm quan trắc, hàm lượng Coliform vượt TCVN từ 1,8 đến 188 lần Số liệu này cũng chứng tỏ nước sông Sài Gòn – Đồng Nai bị ô nhiễm bởi nước thải sinh họat của thành phố và các cụm dân cư dọc theo sông về phía thượng nguồn Kết quả quan trắc cũng cho thấy rõ lượng Coliform cao nhất tại cầu Ô Buông đạt đến 940.000 MPN/100ml, vượt TCVN 5942 – 1995 đến 188 lần
Hình 2.3 Bản đồ đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm nước mặt trên lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai
Trang 24Hình 2.3 Bản đồ đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm nước mặt trên lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai
Trang 252.4 Ô NHIỄM VÀ SUY THOÁI TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG SUY GIẢM TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC
2.4.1 Hiện trạng tài nguyên môi trường và đa dạng sinh học
a Hiện trạng về tài nguyên đất
a.1.Đặc điểm thổ nhưỡng
Do đặc điểm địa chất, điạ hình, điều kiện khí hậu, thảm thực vật nên vùng lãnh thổ Lưu vực sông Đồng Nai có nhiều loại đất khác nhau
Theo một số nghiên cứu đất đai Lưu vực sông Đồng Nai được hình thành từ nhiều loại đá mẹ khác nhau như bazan, sa phiến thạch, granite, phủ sa cổ Đây là loại đất giàu dinh dưỡng, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, đặc biệc là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cao su, điều , cà phê, … Vùng lãnh thổ Lưu vực sông Đồng Nai có những nhóm đất sau :
Đất đỏ vàng : là nhóm đất có diện tích lớn nhất, phân bố chủ yếu ở Bình Phước, Đồng
Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu Gồm 3 loại đất đất đỏ nâu bazan, đất vàng đỏ granite, và đất vàng đỏ đá phiến., thích hợp trồng cây công nghiệp và lương thực như cà phê cao su, ca cao, khoai sắn, bắp, đậu, …
Đất xám : là đất sialit feralit phát triển trên bồi tích cổ, phân bố ở thềm cao các triền
sông, đặc biệt là ở tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương,loại đất này xốp, thầm nước mạnh thích hợp vớicây màu và cây công nghiệp
Đất phèn : nhóm đất này thuôïc trầm tích trẻ holocene phân bố chủ yếu ở Long An và
Tp.HCM bao gồm 2 loại đất phèn và đất phèn nhiễm mặn, đối với mỗi loại lại chia ra làm đất phèn hoạt động và đất phèn tiềm tàng Đất phèn hoạt động tinh khoáng ferit đã
bị ô xy hoá thành tầng phèn sulfuric với sự hiện diện của rất nhiều khoáng jarosite, đất có độ pH thấp Đấ t phèn nhĩem mặn còn có hàm lượng muối khá cao, đất này chủ yếu trồng lúa, một số loại cây đặc trưng có thể sinh trưởng ở đây là dừa nước, đước vẹt dọc theo sông rạch
Đất phù sa : phân bố chủ yếu ở khu vực hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn, ven sông Vàm
Cỏ Đông, hạ lưu sông La Ngà Phần lớn đất bằng phẳng và đang được khai thác sử dụng để trồng lúa, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày
Nhóm đất núi : Phân bố chủ yếu ở Đồng Nai Đó là lọai đất feralit núi dốc có lẫn đá,
thích hợp với rừng và đồng cỏ tự nhiên
Ngoài các loại đất trên còn có nhiều loại đất khác tuy nhiên diện tích nhỏ hơn 100 ngàn
ha là đất dốc tụ, đất cát, đất phèn nhiễm mặn, đất mặn, đất thung lũng, đất phù sa mới nhiễm mặn, đất than bùn, đất xói mòn trơ xỏi đá, …
a.2 Cơ cấu sử dụng đất
Trang 26Cơ cấu sử dụng đất rất khác nhau giữa các địa phương Hịên trạng sử dụng đất giữa các tỉnh thành trên lưu vực xem bảng 2.6
Bảng 2.6 : Cơ cấu sử dụng đất giữa các tỉnh/ trên lưu vực (ha)
tích
Đất nông nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất chuyên dùng
Nguồn : [5]
* : bao gồm cả tỉnh Đak Nông
Qúa trình công nghiệp hoávùng lãnh thổ Lưu vực sông Đồng Nai , đặc biệt tại vùng KTTĐPN trong 10 năm qua đã làm thay đổi mạnh cơ cấu kinh tế vùng theo chiều hướng tăng nhanh tỉ trọng ngành công nghiệp, giảm tỉ trọng ngành nông lâm nghiệp Quá trình kéo theo sự thay đổi nhanh chóng về cơ cấu sử dụng đất trong vùng
b Hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai
b.1 Tài nguyên nước mặt
b.1.1 Lượng dòng chảy bề mặt
Trên lưu vực sông Đồng Nai, lượng mưa trung bình nhiều năm vào khoảng 2100 mm, tương ứng với khối lượng nước mưa khoảng 84 tỷ m3 Lượng nước này, ngoài phần tổn thất do bốc hơi, sẽ là nguồn cung cấp cho nước ngầm và hình thành dòng chảy bề mặt của các sông suối
Theo các công trình nghiên cứu trước đây, hàng năm hệ thống sông Đồng Nai cung cấp tổng lượng dòng chảy khoảng 36,6 tỷ m3, trong đó có khoảng 32 tỷ m3 phát sinh trong lãnh thổ (chiếm 89%), bình quân đầu người năm 1990 là 4105 m3/năm bằng 51% mức bình quân toàn thế giới và bằng 34,2% mức bình quân toàn lãnh thổ Việt Nam[1] Nếu tính phân chia nguồn nước mặt đồng đều cho tổng số dân trong vùng (năm 2000: 12,7 triệu người) thì mỗi người được 2520 m3/năm, còn nếu đem phân bố đều cho toàn diện tích lưu vực sông Đồng Nai thì tổng lượng dòng chảy hàng năm ở lưu vực này là 8000
m3/ha
Tổng lượng dòng chảy năm của Sông Bé khoảng 8,047 tỷ m3, của sông Sài Gòn là 2,948 tỷ m3, của sông Vàm Cỏ khoảng 5,353 tỷ m3 và tổng lượng dòng chảy của cả lưu vực sông Đồng Nai khoảng 33,622 tỷ m3
Trang 27Theo kết quả đo đạc và tính toán của Phân viện Khảo sát Qui hoạch Thủy lợi Nam Bộ, lượng dòng chảy đến các vị trí đo đạc thuỷ văn tại một số tuyến công trình trên hệ thống sông Đồng Nai được dẫn ra ở Bảng 2.7
Nhìn chung, tài nguyên nước mặt ở lưu vực sông Đồng Nai tương đối khá Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên cho phép để có thể điều chỉnh lại dòng chảy cho phù hợp với nhu cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế – xã hội đối với toàn bộ vùng lãnh thổ lưu vực sông Đồng Nai với lượng nước hàng năm 24,3 tỷ m3
f.1.2 Đặc điểm phân bố tài nguyên nước mặt
a) Đặc điểm chung
Do ảnh hưởng của địa hình và các điều kiện tự nhiên khác, tài nguyên nước mặt ở nước
ta nói chung và lưu vực sông Đồng Nai nói riêng có đặc điểm chung là phân bố không đều theo không gian và thời gian Có nơi, có lúc thì dư thừa nước gây úng lụt nhưng cũng có nơi, có lúc lại thiếu nước gây hạn hán nghiêm trọng, gây ra những bất lợi lớn trong việc cung cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt và gây ra những tranh chấp trong việc khai thác, sử dụng nguồn nước
Về mặt phân bố, theo không gian, lượng dòng chảy sinh ra trong lưu vực ở những mức độ khác nhau, phù hợp với quy luật: nơi mưa nhiều – dòng chảy mạnh, nơi mưa ít – dòng chảy yếu Theo thời gian trong năm, thời tiết có 2 mùa mưa và khô rõ rệt nên dòng chảy
ở lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai cũng hình thành 2 mùa: mùa lũ và mùa kiệt Sự biến đổi chế độ dòng chảy giữa 2 mùa trong năm của hầu hết các sông suối đều có sự tương phản sâu sắc, đặc biệt là các sông suối nhỏ Ngoài ra, do bị ảnh hưởng của thủy triều ở các khu vực hạ lưu, nên sự phân bố dòng chảy theo thời gian trong năm ở các vùng này cũng có những thay đổi theo qui luật: thủy triều mạnh (triều cường) thì dòng chảy mạnh hơn, xâm nhập vào đất liền sâu hơn, có biên độ triều lớn hơn và khi triều kiệt thì bức tranh hoàn toàn trái ngược lại
b) Phân bố dòng chảy mặt theo không gian
Môđun dòng chảy bình quân toàn lưu vực sông Đồng Nai vào khoảng 25 L/s.km2, tương ứng với lớp dòng chảy 800 mm trên tổng lớp nước mưa trung bình 2100 mm, đạt hệ số dòng chảy 0,38 thuộc vào loại dòng chảy trung bình ở nước ta Do sự phân bố lượng mưa không đều ở các vùng nên sự phân bố dòng chảy cũng không giống nhau giữa các vùng Trên cơ sở các số liệu thực tế, có thể xác định một số vùng đặc trưng như sau:
• Lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, vùng hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn có mô đun dòng chảy nhỏ, khoảng 15 ÷ 20 L/s.km2 Khu vực hạ lưu Đa Nhim có môđun dòng chảy khoảng 20 ÷ 22 L/s.km2 Đây là những vùng có hiệu suất dòng chảy thấp, từ 20 ÷ 33% lượng mưa;
• Hạ lưu sông Bé, ven biển Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh, thượng lưu sông Sài Gòn có môđun dòng chảy thuộc loại nhỏ đến trung bình, từ 18 ÷ 25 L/s.km2;
Trang 28Bảng 3-2.-2.7 Lượng dòng chảy đến các vị trí đo đạc tại trạm thủy văn
Trang 29• Khu vực trung lưu sông Đồng Nai, thượng lưu sông Bé, La Ngà có môđun dòng chảy cao, khoảng từ 38 ÷ 43 L/s.km2 Ở những khu vực hẹp hơn, môđun dòng chảy có thể đạt từ 45 ÷ 46 L/s.km2 Đây là những vùng cho hiệu suất dòng chảy cao nhất, từ 45 ÷ 55% lượng mưa;
Một số đặc trưng cơ bản của dòng chảy bề mặt ở một vài nơi trên lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai được dẫn ra trong Bảng 2.8
Bảng 2.8 : Đặc trưng dòng chảy tại một số nơi trên lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai
Qp ứng với tần suất đảm bảo
(km 2 )
Mo (l/s/km 2 )
Qo (m 3 /s)
Wo
10 6 × m 3 10% 50% 75% 95%
1 Thác Mơ Bé 2.200 43,6 96,0 3.035 133,4 95,3 77,0 61,8
2 Phước Hòa Bé 5.675 35,6 202,0 6.387 282,0 200,0 162,0 130,0
3 Hàm Thuận La Ngà 1.280 39,9 51,1 1.615 69,0 50,4 40,8 32,3
4 Tà Pao La Ngà 2.000 36,9 73,7 2.330 104,3 73,5 63,0 48,0
5 Trị An Đồng Nai 14.025 * 35,5 498,0 15.750 696,0 494,0 403,7 322,0
6 Biên Hòa Đồng Nai 22.425 * 34,2 767,0 24.252 1070,2 760,0 615,3 490,0
7 Dầu Tiếng Sài Gòn 2.700 22,3 60,2 1.903 83,5 59,6 48,2 38,7
8 Thủ Dầu I Sài Gòn 4.200 21,1 88,6 2.802 123,0 87,5 71,0 56,9
9 Nhà Bè Đồng Nai 27.425 * 31,5 864,0 27.320 1186,0 858,0 693,0 557,7
10 Gò Dầu Hạ VC Đông 5.650 17,3 97,7 3.089 135,4 96,7 78,0 62,0
11 Soài Rạp Nhà Bè 40.000 25,3 1012,0 32.000 1403,0 1002,0 809,3 651,3
Nguồn : Phân Viện Khảo sát Qui hoạch Thủy lợi Nam bộ
Ghi chú : (*) Đã trừ diện tích lưu vực của Dran (Đơn Dương) là 775 km 2
c) Phân bố dòng chảy mặt theo thời gian trong năm
Chế độ dòng chảy của các sông suối ở lưu vực sông Đồng Nai hình thành 2 mùa rõ rệt:
mùa lũ và mùa kiệt
• Mùa lũ:
Ở lưu vực sông Đồng Nai, đại bộ phận các sông suối, mùa lũ thường bắt đầu vào khoảng tháng VI-VII, nghĩa là xuất hiện sau mùa mưa từ 1 đến 2 tháng do tổn thất sau một mùa khô khắc nghiệt và kết thúc vào tháng XI, kéo dài 5 ÷ 6 tháng Nhưng tùy từng vùng, thời gian mùa lũ dài ngắn khác nhau Nếu lấy theo tiêu chuẩn trị số lưu lượng bình quân tháng so với trị số bình quân năm, thời gian mùa lũ của một số vùng như sau:
- Mùa lũ vùng thượng Đa Nhim kéo dài 3 ÷ 4 tháng, từ tháng VIII-IX đến tháng XII;
XI Thượng lưu sông La Ngà, nhánh Dargna, mùa lũ kéo dài 6 tháng, từ tháng VI đến XI;
- Trên các sông còn lại: trung lưu sông Đồng Nai, lưu vực sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông có mùa lũ kéo dài 5 tháng
Thời gian chuyển tiếp giữa 2 mùa kiệt và lũ là các tháng đầu mùa mưa (tháng VI) Khi có mưa tương đối lớn trong lưu vực thì dòng chảy cũng tăng dần và cho lưu lượng vượt xa
Trang 30các tháng mùa kiệt tuy chưa được xem là tháng mùa lũ Đối với đa số các sông, lưu lượng vào tháng VI có thể đạt từ 60 ÷ 75% lưu lượng bình quân năm
Trong mùa lũ, đại bộ phận các sông cho đỉnh lũ cao nhất vào tháng VIII, IX và X Môđun dòng chảy mùa lũ bình quân tháng vào khoảng 60 ÷ 80 L/s.km2 cho các lưu vực lớn và khoảng 100 ÷ 150 L/s.km2 cho các lưu vực nhỏ Môđun đỉnh lũ trung bình vào khoảng 0,2 ÷ 0,5 m3/s.km2 cho các lưu vực lớn và 0,8 ÷ 1,2 m3/s.km2 cho các lưu vực nhỏ Đối với tần suất 1%, các trị số này có thể cao hơn từ 5 ÷ 10 lần tùy theo từng lưu vực
• Mùa kiệt:
Thường bắt đầu vào khoảng tháng XII và kéo dài đến tháng V, VI năm sau, khoảng 6 ÷
7 tháng Vùng thượng Đa Nhim mùa kiệt kéo dài từ 8 ÷ 9 tháng Dòng chảy kiệt ở lưu vực sông Đồng Nai khá nhỏ do mùa khô kéo dài và rất ít mưa Môđun dòng chảy kiệt bình quân tháng kiệt nhất của lưu vực vào khoảng 2 ÷ 3 L/s.km2 Lưu vực sông Sài Gòn và các sông suối nhỏ bắt nguồn từ vùng đồi Xuân Lộc và dọc liên tỉnh lộ 2 như sông Lá Buông, suối Cả, sông Dinh,… là những nơi có dòng chảy kiệt dồi dào, có môđun dòng chảy đạt từ 5 ÷ 8 L/s.km2 Lưu vực La Ngà, thượng Đa Dung, trung lưu sông Đồng Nai có môđun kiệt khá, từ 3 ÷ 5 L/s.km2 Lưu vực sông Bé và sông Vàm Cỏ Đông có môđun kiệt trung bình, từ 2 ÷ 3 L/s.km2 Hạ Đa Nhim, một số sông suối nhỏ thuộc lưu vực hạ lưu sông Bé có môđun kiệt nhỏ nhất, từ 0,5 ÷ 2 L/s.km2 Ở Vùng này, với các lưu vực diện tích nhỏ dưới 100 km2 thường cho môđun kiệt dưới 0,5 L/s.km2, thậm chí bằng không
Lưu lượng trung bình tháng tại một số vị trí trên hệ thống sông Đồng Nai được dẫn ra trong Bảng 2.9
Như vậy, môđun dòng chảy kiệt không những phụ thuộc vào lượng mưa mà còn phụ thuộc vào điều kiện địa chất, thổ nhưỡng và thảm phủ thực vật của từng lưu vực Hàng năm, lưu lượng kiệt nhất trên các triền sông thường rơi vào 2 tháng III và IV
f.1.3 Tài nguyên nước mặt ở các tiểu lưu vực
Lưu vực sông Đồng Nai bao gồm 06 tiểu lưu vực khác nhau Tuỳ theo điều kiện tự nhiên, địa hình, khí hậu thời tiết, tại nguyên nước mặt tại mỗi tiểu lưu vực sẽ khác nhau Chi tiết về tài nguyên nước tại mỗi tiểu lưu vực được trình bày kỹ trong các chuyên đề [3, 4, 5] ở đây chỉ trình bày tóm tắt một số đặc điểm chính liên quan đến tài nguyên nước tại các tiểu lưu vực, xem bảng 2.9
f.2 Tài nguyên nước ngầm
Có thể tóm tắt một số nhận xét đánh giá về hiện trạng tài nguyên nước dưới đất ở vùng lãnh thổ lưu vực sông Đồng Nai như sau:
Vùng nghiên cứu thuộc phần Đông Nam miền địa chất thuỷ văn Đà Lạt và vùng địa chất thuỷ văn đồng bằng Nam Bộ Là vùng chuyển tiếp giữa miền địa chất thuỷ văn Đà Lạt sang miền địa chất thuỷ văn đồng bằng Nam Bộ cho nên điều kiện điạ chất thuỷ văn rất
Trang 31phức tạp, với nhiều tầng, phức hệ chứa nước có mức độ cứha nước rất biến đổi, từ giàu nước đến chứa nước trung bình, nghèo nước và không chứa nước Các phân vị địa chất thuỷ văn phân bố từ độ cao 1 – 2m đến xấp xỉ 1000m
Nước tồn tại trong khe nứt của đá, phân bố rộng chủ yếu lộ ở vùng cao, khả năng chứa nước từ trung bình đến nghèo nước và không chứa nước, nước nhạt
Nước tồn tại trong khe nứt – lỗ hổng của đá phun trào Bazan phân bố rộng, ở các đồng bằng cao nguyên tương đối bằng phẳng, mức độ chứa nước phức tạp từ nghèo nước đến giàu nước, nước nhạt
Nước tồn tại trong lỗ hổng của đất đá bở rời có mức đ6ọ chứa nước phức tạp, khả năng chứa nước từ nghèo nước đến giàu nước, nước nhạt và nước mặn xen kẽ nhau
Nước nhạt có diện phân bố rộng, chủ yếu ở phía Bắc và trung tâm vùng Nước mặn phân bố ở phía Đông Nam, Nam, Tây Nam vùng thuộc Tp Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An và ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận, Ninh Thuận
Trong vùng nghiên cứu có 14 phân vị đại tầng địa chất thuỷ văn, trong đó phân vị địa tầng địa chất thuỷ văn có ý nghĩa cấp nước tập trung là :
Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen giữa – muộn (QII-III) Hiện nay nước dưới lòng đất trong tầng này đang được khai thác tại Tp Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Dương để cung cấp nước cho sinh hoạt và ăn uống với qui mô vừa và nhỏ
Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen (QI) Hiện nay nước dưới lòng đất trong tầng này đang được khai thác tại Tp Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Dương để cung cấp nước cho sinh hoạt và ăn uống với qui mô nhỏ, rất nhỏ và phân tán Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pliocen trên (N22) Hiện nay nước dưới lòng đất trong tầng này đang được khai thác tại Tp Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Dương để cung cấp nước cho sinh hoạt và ăn uống với qui mô lớn và vừa
Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pliocen dưới (N21) Hiện nay nước dưới lòng đất trong tầng này đang được khai thác tại Tp Hồ Chí Minh để cung cấp nước cho sinh hoạt và ăn uống với qui mô lớn và vừa
Phức hệ chứa nước lỗ hổng các trầm tích Miocen trên (N1) Hiện nay nước dưới lòng đất trong tầng này đang được khai thác tại Long An với qui mô nhỏ để cung cấp nước cho sinh hoạt và ăn uống và làm nước uống đóng chai
Phức hệ chứa nước khe nút – lỗ hổng các thành tạo phun trào bazan Hiện nay nước dưới đất trong phức hệ này đang được khai thác tại Xuân Lộc, Tân Phú tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu để cung cấp nước cho sinh hoạt và ăn uống với qui mô nhỏ và vừa
Trang 32Ngoài các phân vị địa chất thuỷ văn đã nêu còn các phân vị khác hiện cũng đang được khai thác với qui mô nhỏ và phân tán để phục vụ cấp nước sinh hoạt và tưới cây công nghiệp tại các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 33Bảng 3-4 -2.9 : Lượng mưa trung bình tháng nhiều năm của dòng chày tự nhiên,…
Trang 34Vùng nghiên cứu có nhiều nguồn nước khoáng có giá trị như ở Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An Các nguồn nước khoáng, nước nóng này hiện đã và đang được khai thác để làm nước giải khát, chữa bệnh có giá trị kinh tế cao
Kết quả trữ lượng động nước dưới đất theo mô dun dòng chảy nước dưới đất trung bình tháng nhỏ nhất cho từng tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ được dẫn ra trong bảng 2.10
Về mặt chất lượng nước của các phân vị địa tầng địa chất thủy văn ở lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai, dựa vào kết quả nghiên cứu do Liên đoàn địa chất thủy văn – Địa chất công trình Miền Nam, Liên đoàn địa chất thủy văn – Địa chất công trình Miền Trung thực hiện, có thể rút ra những nét cơ bản về chất lượng nước của các phân vị như sau:
• Đối với các tầng chứa nước khe nứt – lỗ hổng, khe nứt, nước dưới đất về cơ bản đều nhạt, độ tổng khoáng hóa M = 0,05 – 0,80g/l;
• Đối với các tầng chứa nước lỗ hổng nước dưới đất có chất lượng biến đổi rất phức tạp cả về lý học, hóa học Nhiều vùng nước bị nhiễm mặn
Phân vùng chất lượng nước ngầm ở lưu vực sông Đồng Nai được thể hiện ở Bảng 2.11
Bảng 2.10 : Kết quả tính toán trữ lượng động nước dưới đất vùng Đông Nam bộ
Diện tích trên mỗi cấp mô đun, km 2
Trữ lượng động, m 3 /ngày Khu vực
Trữ lượng động (m 3 /ngày)
275 118.800
115,625 59.940
85.756
668,75 173.340
318,75 137.700
396.796 4,1
56.700 2032.625 526.856 625 270.000 703 364.435 1.217.991 12,57 Bình Phước + Bình
TP Hồ Chí Minh 1414
122.170
518,75 134.460
153,25 67.500
Trang 35Bảng 3-15.-2.11
Trang 36c Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản Lưu vực sông Đồng Nai phong phú và đa dạng, đến nay đã phát hiện được hàng trăm mỏ, diểm quặng với tiềm năng triển vọng khác nhau, trong đó nhóm khoáng sản kim loại phân bố chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận, … nhóm khoáng sản không kim loại chủ yếu là vật liệu xây dựng có trữ lượng rất lớn hàng triệu m3 phân bố ở các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, … đây là nguồn tài nguyên quan trọng củakhu vực, cung cấp vật liệu xây dựng phục vụ cho công tác phát trểin cơ sở hạ tầng cho các tỉng Đông Nam Bộ vàĐồng bằng sông Cửu Long
c.1 Khoáng sản nhiên lịêu
Than nâu : than biến chất thấp, thông qua các quá trình nén chặt, mất nước và trùng hợp,
gồm 2 loại than nâu thân mềm có vết vỡ dạng đất ánh mờ và than nâu cứng có màu nâu ánh rõ Hiện tại đã được phát hiện và khai thác lở Lâm Đồng tuy nhiên trữ lượng thấp, qui mô khai tác nhỏ phục vụ nhu cầu địa phương
Than bùn : là thành tạo than hiện đại, thành phần là các tích tụ vật liệu hữu cơ còn giữa
được cấu trúc thực vật Màu biến thien từ vàng nâu nhạt (hầu như còn nguyên các tàn tích thực vật), đến nâu thẫm đen Có hai loại là than bùn mùn cây (xác bã thực vật cao cấp ) và than bùn thối (xac bã thực vật hạ đẳng) Được sử dụng chủ yếu làm phân bón Phân bố dọc theo thũng lũng sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Nhìn chung trong vùng nghiên cứu than có chất lượng không tốt, độ tro cao, nhiều sét, hàm lượng mùn cao nên chủ yếu dùng làm phân bón
c.2 Khoáng sản kim loại
Khoáng sản kim loại trên Lưu vực sông Đồng Nai gồm vàng, thiếc, nhôm, titan, tập chung chủ yếu ở Lâm Đồng, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai
Titan : trong tự nhiên có 2 loại khoáng vật chủ yếu đựoc khai thác để oxid titan là
Iimenit và Runit Trong lưu vưc, các nguyên liệu titan chủ yếu là Iimenit, tập chung thành dải sa khoáng ven biển, bao gồm sa khoáng côøn cát ven biển phân bố từ Mũi Kê Gà, Mũi Né,Tân Thiện thuộc tỉnh Bình Thuận, và sa khoáng bãi triều hiện đại, phân bố rải rác từ Xuyên Mộc tới Vũng Tàu Trong các thân sa khoáng, khoáng vật quặng bao gồm chủ yếu là Iimenit cùng với một ít rutil, zicon, monazit Chúng được khai thác bằng phương pháp trọng lực để sơ tuyển, sau đó đưa về nhà máy tinh luyện tách các khoáng vật
Thiếc : quặng thiếc trong lưu vực có thành phần chủ yếu là casiterit (SnO2, trong đó Sn chiếm 72,62%) Quặng thiếc được tập chung trong 2 kiểu sa khoáng trong các thành tạo trầm tích sông và các mặt cắt qua đá gốc Các mỏ quặng đã được phát hiện chủ yếu tại LÂm Đồng, Bình Thuận va Bà Rịa – Vũng Tàu tuy nhiên được khai thác nhiều ở các mỏ thuôïc Lâm Đồng Phương thức khai thác là xúc bốc, đào bới trên bề mặt và các công trình hầm hố và giếng nông, quặng được tuyển rửa ở các dòng suối
Trang 37Bauxit (quặng nhôm) : quặng bauxit là sản phẩm của vỏ phong hoá laterit bauxit trên đá
phun trào bazal giàu nhôm có tuổi N2 – Q1 phân bố ở các vùng địa hình cắt trung bình (dạng đồi bát úp) ở độ cao tuyệt đối khoảng 800m Các tích tụ baxít như vậy đã được phát hiện ở Lâm Đồng và Bình Phước, Đồng Nai, nhưng trữ lượng lớn nhất là các mỏ ở Lâm Đồng Quặng được khai thác theo phương pháp lộ thiên theo trình tự sau : bóc tầng phủ, ủi xúc quặng và vận chuyển đến khu vực tuyển rửa Trữ lượng các mỏ quăïng trên 1 tỷ tấn
Vàng : vàng có thể gặp trong tự nhiên ở dạng tự sinh hay ở dạng hợp chất, phần lớn là
hợp chất với Se và Ter Trong vùng nghiên cứu vàng tích tụ ở kiểu sa khoáng và vàng trong đá gốc liên quan đến các đá xâm nhập thành phần trung tính axit Nhìn chung vàng phân bố ở phía Bắc tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng, và một số ít ở Đắk Nông Trong khâu tinh lọc vàng dùng các hoá chất độc hại là thuỷ ngân và cyanua nên mức độ ô nhiễm rất lớn, đặc biệt là nguồn nước mặt Đặc biệt hình thức khai thác là tự phát, nên khả năng gây ô nhiễm môi trường rất cao và mấ an ninh xã hội do vàng có giá trị kinh tế cao
c.3 khoáng sản không kim loại
Trong vùng nghiên cứu khoáng sản kim loại có trữ lượng rất lớn và bao gồm nhiều loại khác nhau rất phong phú và đa dạng gồm nhóm đá quí, kaolin, bentonit, cát thuỷ tinh trắng, puzolan, các loại đá (đá vôi, đá ốp lát, đá xây dựng,) sét và cát
Nhóm đá quí, đá bán quí bao gồm saphyr, zircon, nhóm thạch anh, opal, topaz Phân bố
chủ yếu ở DakNông – DakLak, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu
Zircon : thường tập chung cùng saphyr, màu thay đổi từ trắng , phớt xanh,phớt hồng,
thông thường hạt rất bé (< 1mm) gặp ở Đồng Nai, Dacnông, Bà Rịa – VuÕng Tàu
Nhóm Thạch Anh : thạch Anh tích tụ trong trầm tích bở rời kiểu deluvi trên mặt địa hình
cao 75m, gồm các tinh thể Thạch Anh trong suốt, màu trắng đục, kích thước trung bình 2cm tìm thấy ở các khu vực thuộc tỉnh Ninh Thuận, Bà Rịa – VuÕng Tàu, Bình Thuận và Lâm Đồng
Nhìn chung đá quí bán quí nghèo, có qui mô nhỏ, hàm lượng nghèo ít có triển vọng công nghiệp
Kaolin : là nguyên liệu sét có thànhphần chủ yếu là nhóm khoáng vật kaolinit, cùng với
các khoáng sét khác Tạp chất thường gặp là thạch anh, carbonat và hợp chất ô xit Kaolin được hình thành trong vỏ phong hoá sét tàn dư, các khoáng vật trong kaolin là sản phẩm biến đổi các khoáng vật alumosilicat giàu nhôm Kao lin được dùng để sản xuất gốm sứ, gạch chịu lửa, xà phòng, … kaolin phân bố chủ yếu ở Bình dương, Đồng Nai, bìng Phước, Lâm Đồng và một ít ở Tây Ninh Bà Rịa – Vũng Tàu
Bentonit : là loại nguyên lĩệu sét có thành phần chủ yếu là các khoáng vật thuộc nhóm
sét hấp phụ như monorilomit, beidenit, nontronit, trong đó nhóm monmorilonit chiếm
Trang 38chủ yếu, hàm lượng monmorilonit thì chất lượng bentonit càng cao Bentonit dùng làm vật liệu tẩy lọc tốt trong các ngành công nghiệp lọc dầu, hoá dầu, thực phẩm, dêt nhuộm, chất tẩy rửa, … được phát hiện chủ yếu ở một số vùng thuộc Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tp.HCM
Đá xây dựng : Đá xây dựng là đá mácma, biến chất, trầm tích được sử dụng ở trạng thái
tự nhiên vào lĩnh vực xây dựng (đá khối, đá hộc, đá dăm) hoặc gia công chế biến (đá chẻ) Khoáng sản đá xây dựng trong khu vực tập chung chủ yếu ở các Tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Lâm Đồng, Bình Thuận, còn ở Tây Ninh và Tp.HCM thì ít hơn Đá xây dựng được khai thác và sử dụng gồm các chủng loại sau :
• Các đá phun trào : dacid, andesit, basalt
• Các đá xâm nhập : granit, granodiorit
• Đá trẩm tích : đá cát kết (ít phổ biến)
Trữ lượng các mỏ đá đã được phát hiện, đã khai thác và đang khai thác trên toàn vùng lãnh thổ Lưu vực sông Đồng Nai trên 300 triệu m3
Cát : là vật liệu bở rời, có thành phần khoáng vật là thạch anh và fenspat chiếm từ 95 –
99%, còn lại là mica, khóang vật nặng, bùn bột sét và mùn thực vật Các được sử dụng để đổ bêtông, tạo vữa xây dựn, san lấp, trên vùng nghiên cứu cát được khai thác và sử dụng là cát bồi tích trên các sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai, chủ yếu là sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông, Nhà Bè, … Trong các loại cát trên các sông chỉ có cát sông Đồng Nai là có chất lượng tốt nhất đáp ứng các yêu cầu sản xuất betông chịu lực của các công trình cầu đập thuỷ điện và các công trình công nghiệp và dân dụng với trữ lượng là 40.433.000m3
d Hiện trạng đa dạng sinh học
d.1 Tài nguyên thực vật
Nhóm cây gỗ : Đặc điểm nổi bật nhất về mặt tài nguyên của rừng và hệ thực vật là ở
đây có nhiều loại cây gỗ lớn và gỗ quí Bước đầu đã thống kê được ở đây có gần 300 loài cây gỗ thường dùng và được phân thành các nhóm như sau : nhóm gỗ quí I và II gồm 40 loài; nhóm gỗ cứng III – V gồm 150 loài; nhóm gỗ mềm VI – VIII có 50 loài Một số cây có giá trị đặc biệt cần được bảo vệ là : Cẩm Lai, Trắc, Căm xe, Cẩm thị, Giáng hương, Gõ đỏ, Gõ mật, Dầu song nàng, Dầu mít, Sao đen, Vên vên, Xoay
Nhóm Tre Nứa : Tài nguyên đứng thứ hai sau gỗ là tre nứa Chỉ riêng vùng ĐNB có
144.613 ha rừng tre nức thuần loại và 225.686 ha rừng hỗn giao gỗ + tre nức với trữ lượng 1.146.466.000 cây tre Những tỉnh có nhiều rừng tre nứa nhiều nhất là : Lâm Đồng (80.446ha), Bình Phước (49.558 ha), Đồng Nai (7.578 ha),… nhiều nơi đã hình thành các rừng tre liên tục và rộng lớn gọi là “Biển tre” Nhiều loài tre trồng rất phổ biến ở đây như : Tre La Ngà, Tre hóp, Tre tàu, Tre manh tông, Đây là cơ sở rất thuận lợi để phát triển cả tài nguyên tre nứa hoang dại và nâng cao đời sống của người dân lưu vực
Trang 39Nhóm dầu nhựa : Tài nguyên quan trọng đứng thứ ba sau gỗ và tre nứa là nhựa dầu Đây
là một sản phẩm của các loài thông hay loài cây họ dầu Từ vỏ thân cây của chúng có thể trích ra một loại nhựa dầu gồm một phần lỏng là tinh dầu và một phần rắn là nhựa Phần nhựa rắn của thông có tên là Colophan Phần rắn của các cây nhựa họ dầu có tên là Chai cục, Dầu rái, Nhựa thông, Colophan và nhiều loại chai cục là những sản phẩm quan trọng dùng trong kỹ nghệ sơn, vecni, giấy, chất thơm, làm thuốc đặc dụng để sảm thuyền
Nhóm cây thuốc : Nhóm cây thuốc chưa được điều tra một các hệ thống trong toàn lưu
vực nhưng qua khảo sát ở một số khu rừng đặc dụng đã cho thấy, cây thuốc cũng là một nhóm tài nguyên khá quan trọng trong vùng
Năm 1999, qua điều tra ở Vườn Quốc Gia Cát Tiên đã thống kê được trên 310 loài cây đã được sử dụng làm thuốc, chiếm khoảng 1/3 số loài thực vật bậc cao của Vườn Về mặt hình thái cây, 117 loài là cây gỗ, 60 loài cây bụi, 50 cây thân thảo, 55 loài dây leo,
10 loài là thực vật phụ sinh hay kí sinh Các họ có nhiều loài cây thuốc nhất là : Họ Đậu
24 loài, Họ Cà Phê 24 loài, Họ Ba mảnh vỏ 21 loài Trong số cây thuốc đã thống kê có nhiều loại đã thuốc được dùng làm thuốc phổ biến Đó là : Cây Thiên niên kiện, Cây Ngã gia bì, Cây Sâm nam, Cây Cam thảo dây, cây Mã tiền, Sa nhân
Bảng 2.12 trình bày diện tích rừng phân theo các tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ
d.2 Hệ động vật
Có thể nhận định Lưu vực sông Đồng Nai là vùng có hệ động vật phong phú nhất của Việt Nam Số lượng cá thể của các loài thú lớn như : Voi, Hổ, Hươi,Nai, Gấu, Bò Tót, Bò Rừng,… Cũng chiếm một tỷ lệ khá lớn so với số lượng của chúng trong toàn quốc Các loài động vật được phân bố theo sinh cảnh như sau :
Sinh cảnh rừng kín thường xanh nhiệt đới : kiểu sinh cảnh này chiếm khảng 30% diện
tích tự nhiên vùng nghiên cứu Đây là sinh cảnh đa dạng nhất về thành phần loài Các loài điển hình cho kiểu sinh cảnh này là các loài thuộc nhóm linh trưởng, các loài cầy quả, các loài chim thuộc bộ bồ câu, bộ Gõ kiến , bộ Cu rốc, các loài Niệc, Hồng hoàng và nhiều loài bò sát cỡ lớn như Cá sấu, Kỳ đà, Rùa các loại
Sinh cảnh rừng rụng lá và nửa rụng lá : kiểu sinh cảnh này chiếm khoảng 40% diện tích
rừng Với ưu thế cây Bằng Lăng và cây họ Dầu Hệ động vật ở đây chưa được nghiên cứu kỹ song ưu thế của sinh cảnh rừng này là các loài thú ăn cỏ cỡ lớn như Bò tót, Bò rừng, Nai, Voi, các loài thú ăn thịt như Hổ, Báo, Chồn và các loài chim thuộc bộ Gà như Gà rừng, Công, Gà lôi, Đa đa
Sinh cảnh rừng tre nứa và tre nứa hỗn giao : đây là một sinh cảnh lớn có diện tích
khoảng 424.590ha chiếm khoảng 26% diện tích rừng Sinh cảnh này là nơi trú ngụ của nhiều loài chim thú nhỡ như : Dúi, Don, Cầy, Cáo Tính đa dạng sinh học ở đây không cao nhưng đáng chú ý vì đây là nơi trú ngụ của loài Gà so cổ hung, một loài chim đặc hữu ở lưu vực
Trang 40bảnh 2.12 : Diện tícvh rừng phân theo tỉnh trong vùng DNB