Đô la hoá là vấn đề hết sức phức tạp liên quan nhiều mặt đời sống kinh tế xã hội. Nó không chỉ liên quan trong nước mà còn mang tính chất toàn cầu. Song do trình độ có hạn và trang bị kiến thức chuyên ngành chưa được sâu sắc nên em xin nêu một số tác động chủ yếu của đô la hoá ở Việt Nam trong những năm gần đây.
Trang 1A - Lời nói đầu
Thời gian gần đây, một vấn đề đang thu hút nhiều ngời quantâm đó là hiện tợng đô la hoá Nhiều công trình nghiên cứu của các nhàkinh tế nhà hoạch định chính sách các bài viết đều cho rằng đô la hoá làtình trạng phổ biến không thể tránh khỏi của các nớc đang phát triển hoặc
đang trong quá trình chuyển đổi Những nớc này thờng có nền kinh tế bất
ổn định, tỷ lệ lạm phát cao, giá trị đồng nội tệ giảm liên tục, công chúngthích giữ các tài sản bằng ngoại tệ nhằm tự phòng ngừa rủi ro giảm giá, phágiá của đồng nội tệ Đồng đô la mỹ hoặc một số đồng ngoại tệ mạnh khác
đợc coi là phơng tiện thanh toán, cất giữ song hành với đồng nội tệ
Phân tích hiện tợng đô la hoá, nguyên nhân, tác động (mặt lợi, mặt hại)mức độ nh thế nào đến nền kinh tế những giải pháp khắc phục nhằm hạnchế tình trạng này ở Việt Nam nhiều công trình nghiên cứu đã đa ra những
đánh giá, nhìn nhận về hiện tợng này Tuy nhiên mồi bài viết của mỗi tácgiả đi theo mỗi góc nhìn khía cạnh khác nhau những quan điểm xử lý vấn
đề còn nhiều cách biệt, cha thống nhất cha đầy đủ về hiện tợng này Để cómột cách đánh giá tổng quát hơn về tình trạng đô la hoá Cũng nh tìm ranhững giải pháp khắc phục tình trạng đô la hoá ở Việt Nam là vấn đề cần
thiết và cấp bách vậy em chọn đề tài: "ảnh hởng của tình trạng đô la hoá
đối với nền kinh tế Việt Nam, nguyên nhân và giải pháp khắc phục"
làm đề tài nghiên cứu môn học
Đô la hoá là vấn đề hết sức phức tạp liên quan nhiều mặt đời sống kinh
tế xã hội Nó không chỉ liên quan trong nớc mà còn mang tính chất toàncầu Song do trình độ có hạn và trang bị kiến thức chuyên ngành cha đợcsâu sắc nên em xin nêu một số tác động chủ yếu của đô la hoá ở Việt Namtrong những năm gần đây
Trang 2B - nội dung Chơng 1 - lý luận chung về đô la hoá và ảnh
hởng của nó đối với nền kinh tế
I - Lý luận chung về đô la hoá
1 Khái niệm đô la hoá.
Thông thờng mỗi một quốc gia đều có đồng tiền riêng của mình, thựchiện hầu nh đầy đủ các chức năng tiền tệ; trừ chức năng tiền tệ - thanh toánquốc tế;mà không phải đồng tiền nào cũng làm đợc Do các điều kiện chínhtrị- kinh tế- xã hội- lịch sử cụ thể nên đô la Mỹ (USD); một loại ngoại tệmạnh có phạm vi giao dịch rộng lớn nhất thế giới; dần dần đợc sử dụngsong hành với đồng nội tệ quốc gia; nó thay thế cho đồng bản tệ một sốthậm chí thay thế toàn bộ các chức năng của tiền tệ theo thông lệ chung tức
là làm phơng tiện thanh toán (thay thế tiện tệ) hoặc tích trữ ngoại tệ dớidạng tài sản (thay thế tài sản) hoặc là việc sử dụng đồng thời cả hai trờnghợp đó Có thể hiểu nền kinh tế đó bị “ngoại tệ hoá”hay “đô la hoá” ( trênthế giới hiện nay;đồng USD là đồng tiền đợc a chuộng nhất; nên thuật ngữ
“đô la hoá” cũng đợc xem đồng nghĩa với “ngoại tệ hoá”)
Tình trạng này có thể đợc chính phủ các quốc gia đó thừa nhận; đợc sửdụng trong chi trả lơng; thanh toán mua bán hàng hoá và dịch vụ cho phép
sử dụng đô la Mỹ trong các giao dịch thanh toán nội địa khác; nhEnxanvado; Ecuado; Panama; hoặc không chính thức tuyên bố; nhng đô
la Mỹ đợc ngời dân cất giữ và sử dụng rộng rãi ở trong nớc
Theo giải thích của một số chuyên gia của IMF, Dollar hoá nền kinh tế
đó là tình trạng dân chúng (ngời dân c trú ) nắm giữ một tỷ lệ có ý nghĩatrong cơ cấu tài sản của họ dơí hình thức đồng Dollar Cũng theo nhận xétcủa IMF đó là đặc điểm chung của các nớc đang phát triển và các nền kinh
tế đang chuyển đổi
1.1 Nguồn gốc của hiện tợng đô la hóa:
Theo kinh nghiệm quốc tế thì hiện tợng đô la hoá thơng gặp khi nềnkinh tế ở nớc đó có tỷ lệ lạm phát cao; sức mua của đồng bản tệ giảm sút thìngời dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác; đặc biệt là các đồng tiềnngoại tệ có uy tín (USD;EURO;JPY ) Song song với chức năng làm ph-
ơng tiện cất trữ giá trị, dần dần đồng ngoại tệ có uy tín sẽ cạnh tranh mạnh
Trang 3mẽ với đồng nội tệ trong chức năng làm phơng tiện thanh toán cũng nh làm
đơn vị tính toán(hay thớc đo giá trị )
Các đồng tiền mạnh là những đồng tiền ổn định cả về đối nội và đốingoại cũng nh thông qua vai trò quốc tế của chúng Điều này đợc thể hiệnbằng chỉ số độ tin cậy z Nhìn từ góc độ của quốc gia có đồng tiền yếu , thì
z có thể đợc hiểu là tâm lý dự đoán phá giá đồng nội tệ về lâu dài so với
đồng ngoại tệ
- Nh vậy, ngay cả không có tâm lý dự đoán phá giá đồng tiền nội thì lãi suất của đồng tiền yếu bao giờ cũng phải cao hơn lãi suất của đồng tiền mạnh, điều này đợc thể hiện bằng phơng trình:
I(nội tệ) = I(usd) + z
Đối với các nớc đang phát triển (trong đó có Việt Nam) thì z vàokhoảng từ 5 đến 10%/năm Đối với NHTƯ thì đây là một thông số đánh giárất quan trọng trong hoạt động ngắn hạn bởi z chỉ thay đổi đợc sau mộtthời gian tơng đối dài Khi lãi suất ở Mỹ tăng lên 1% thì đòi hỏi lãi suất ởcác nớc có đồng tiền yếu phải tăng cao gấp nhiều lần nhằm đối phó với tìnhtrạng chuyển đổi đồng nội tệ sang USD (ví dụ đối với đồng Real của Brazinthì giá trị tăng lên là 2,6%/năm) Dó đó điều này cũng giải thích tại sao cácnớc đang phát triển đều hạn chế hoạt động xuất khẩu vốn đầu t bằng ngoại
tệ đợc trả lãi
- Còn nh nếu có thêm tác động của tâm lý phá gía đồng nội tệ trongngắn hạn thì công thức trên không chỉ đơn thuần là thế mà công thức trởthành:
I(nội tệ) = I (usd) + z + e
Trong đó , e là tỉ lệ dự đoán mất giá đồng nội tệ
Khi mà lãi suất đồng nội tệ không đảm bảo việc bù đắp thêm đầy đủcác yếu tố trên thì dân chúng sẽ thích cất trữ bằng đồng ngoại tệ hơn là
đồng nội tệ
1.2 Tiêu chí phân loại đô la hoá:
Khi ta biết đợc nguồn gốc của đô la hóa , vậy câu hỏi đặt ra là dựa vàocăn cứ nào ; trên tiêu chí nào để gọi đó là nền kinh tế bị đô la hoá
Để nghiên cứu vấn đề này một cách cụ thể ta cần xem xét trên cả bakhía cạnh sau:
Trang 4Thứ nhất; đô la nằm ngoài hệ thống ngân hàng đợc dân chúng cất giữ
và thanh toán trong xã hội(đô la hoá trong xã hội)
Việc xác định chính xác lợng đô la này là rất khó, nhất là đối với cácnớc đang phát triển và đang chuyển đổi khi mà tình trạng buôn lậu còn lớncha kiểm soát đợc; bộ máy hải quan còn non kém và tuỳ tiện; luật phátkhông nghiêm; tình trạng tham nhũng đáng lo ngại Do đó, chỉ có thể căn
cứ vào các nguồn đô la Mỹ chuyển từ nớc ngoài vào trong nớc qua con ờng t nhân nh: thu nhập từ buôn lậu hay buôn bán tiểu ngạch; kiều hối; quàbiếu và quà tặng bằng đô la Mỹ; cá nhân mang trực tiếp theo mình khi xuấtcảnh có khai báo (trên mức quy định) và không khai báo (không tự giáckhai báo và dới mức phải khai báo); các nguồn thu bằng đô la Mỹ ở trongnớc; nh: dịch vụ du lịch với khách nớc ngoài Bởi vậy; chủ yếu phải dựavào quan sát ;thông tin d luận; nhìn nhận các giao dịch thanh toán trong dân
đ-c, nhất là các giao dịch có giá trị lớn, nh:mua bán bất động sản mua xemáy;
Đặc biệt là ngời dân còn có tâm lý cất trữ đô la Mỹ trong nhà màkhông phải bất kỳ ai cũng sẵn sàng gửi vào ngân hàng; sử dụng USD trongthanh toán mua đất đai; nhà ở;các cửa hàng; cửa hiệu; khách sạn nhà hàng;công ty du lịch và dịch vụ công khai hay không công khai thu tiền củakhách hàng bằng ngoại tệ
Thứ hai, theo IMF, tỷ lệ đô la hoá của một nền kinh tế đợc căn cứ vào
tỷ lệ
Giữa tiền gửi ngoại tệ tại các ngân hàng so với lợng tiền cungứng theo nghĩa rộng(M2) bao gồm: tiền mặt trong lu thông, tiền gửi khôngkì hạn, tiền gửi có kì hạn, và tiền gửi ngoại tệ; so với tổng tiền gửi trong hệthống ngân hàng, so với tổng phơng tiện thanh toán Theo cách tính này,IMF cho rằng nếu tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên (M2) trong một nền kinh tếlớn hơn 30% thì nền kinh tế đó có thể coi là gặp phải tình trạng đô la hoácao
Về cơ bản, đô la hoá gồm ba loại chính là: Đô la hoá không chínhthức, đô la hoá bán chính thức, và đô la hoá chính thức
- Đô la hoá không chính thức :
Đây là trờng hợp ngoại tệ đợc sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế mặc
dù không đợc nớc này chính thức thừa nhận.Thuật ngữ “đô la hoá không
Trang 5chính thức” bao gồm cả các trờng hợp nắm giữ tài sản nớc ngoài hợp pháp
và không hợp pháp ở một số nớc, việc giữ một số tài sản ngoại tệ là hợppháp nh các tài khoản bằng USD tại các ngân hàng trong nớc, nhng lạikhông hợp pháp khi có tài khoản ngân hàng nớc ngoài trừ khi đợc cấp phéptình trạng ddô la hoá không chính thức là phản ứng đối với sự bất ổn địnhcủa nền kinh tế và tỷ lệ lạm phát cao, cũng nh mong muốn của dân chúngnhằm đa dạng hoá đầu t và bảo vệ tài sản của mình khỏi những rủi ro củaviệc phá giá đồng bản tệ
Đô la hoá không chính thức có thể gồm các loại sau:
Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nớc ngoài
- Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nớc ngoài
- Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nớc
- Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi
Đô la hoá không chính thức đợc chia làm 3 giai đoạn
Giai đoạn đầu các nhà kinh tế thờng gọi là giai đoạn” thay thế tàisản”.Trong giai đoạn này , ngời dân giữ trái phiếu ngoại tệ và các khoảntiền gửi ở nớc ngoài nh một phơng tiện cất trữ nhằm tránh việc giảm giá trịtài sản do lạm phát ở trong nớc hay việc tịch thu tài sản sung công mà một
số nớc đã làm
Giai đoạn thứ hai các nhà kinh tế gọi là giai đoạn “thay thế tiền tệ”.Trong giai đoạn này, ngời dân giữ một khối lợng lớn các trái phiếu ngoại tệ
và tiền gửi ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng trong nớc (nếu đợc phép) Ngoại
tệ vừa thực hiện chức năng là phơng tiện thanh toán và phơng tiện cất trữ.Tiền lơng, thuế hay những chi tiêu hàng ngày nh hàng tạp phẩm hay cáchoá đơn điện đợc thanh toán bằng nôị tệ, nhng với những giá trị tài sản hơn
nh ô tô và những nhà cửa thờng đợc trả bằng ngoại tệ
Trong giai đoạn cuối cùng của đô la hoá không chính thức giá cả củacác hàng hóa đợc tính bằng nội tệ nhng mọi ngơì đều liên tởng đến ngoại tệtheo tỷ giá hối đoái Đô la hoá không chính thức rất phổ biến ở các nớc
đang phát triển
- Đô la hoá bán chính thức :
Khoảng 12 nớc trên thế giới đợc IMF xếp là các nớc “đô la hoá bánchính thức” hay có hệ thống lu hành chính thứ hai đồng tiền Đối với các n-
Trang 6ớc này đồng ngoại tệ là đồng tiền lu hành hợp pháp và thậm chí có thểchiếm u thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng , nhng đóng vai trò thứ cấptrong việc trả lơng, thuế và những chi tiêu hàng ngày Ví dụ nh nứơcBahamas ,Cambodia, Thailand, Liberia không giống nh các nớc có đô lahoá chính thức, các nớc đô la hoá bán chính thức duy trì NHTƯ (một cơquan tiền tệ) có quyền hạn tơng tự để thực hiện chính sách tiền tệ của họ
- Đô la hoá chính thức :
Hay còn đợc gọi là đô la hoá hoàn toàn xuất hiện khi đồng ngoại tệ là
đồng tiền hợp pháp duy nhất đợc lu hành ;là trờng hợp mà một quốc giachính thức từ bỏ đồng bản tệ và sử dụng một đồng tiền (ngoại tệ ) ổn địnhhơn làm đồng tiền pháp định Nghĩa là đồng tiền ngoại tệ này không chỉ đ-
ợc sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên t nhân mà còn hợppháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ Nếu đồng nội tệ còn tồntại thì nó chỉ đóng vai trò là thứ yếu và thờng chỉ là những đồng tiền xu haycác đồng tiền mệnh giá nhỏ
Đô la hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hai đồng ngoại tệ
đ-ợc lu hành hợp pháp Tuy nhiên, các nớc đô la hoá chính thức thờng chỉchọn một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp, nhng chỉ có Andorra dùngcả đồng Franc của Pháp và đồng Pezota của Tây Ban Nha Hầu hết các nớc
đô la hoá chính thức, các đối tác t nhân đợc phép kí hợp đồng bằng bất cứloại tiền nào mà họ cùng đồng ý
Theo IMF, hiện nay có khoảng 14 nớc đợc xếp là các nớc đô la hoáchính thức ;ví dụ nh Palama, Ecuador Trên thực tế, những nớc này chỉ ápdụng đô la hoá hoàn toàn sau khi thất bại trong việc thực thi các chơng trình
ổn định kinh tế Điểm hấp dẫn chủ yếu của đô la hoá hoàn toàn là loại trừrủi ro của việc phá giá tiền tệ đột ngột và phá giá mạnh
Thứ ba là tỷ lệ cho vay bằng ngoại tệ, bằng USD so với tổng các khoảnvay, tổng d lợ , khi mà đạt tới con số có ý nghĩa, xảy ra ở nhiều nứơc thuộcChâu Mỹ- La Tinh Cũng theo thông tin đã đợc công bố, thì tỉ lệ này ở ViệtNam vào khoảng20%, không thể không coi là có ý nghĩa
1.3 Nguyên nhân của hiện tợng đô la hoá
Vậy thì tình trạng đô la hoá nền kinh tế do đâu?
Trang 7Đô la hoá diễn ra tại mỗi nớc rất khác nhau và đợc đánh giá qua cácchỉ tiêu với mức độ khác nhau, song tình trạng này tuỳ thuộc vào các yếu tốsau :
- Trình độ phát triển nền kinh tế cùng tính chất của nền kinh tế đó Đô
la hoá thờng rơi vào các nớc có trình độ phát triển còn thấp, các nớc đangphát triển, đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng Buônlậu cha đợc kiểm soát chặt chẽ nhất là buôn lậu qua biên giới buôn bán kiểungạch
- Trình độ dân trí, cùng tâm lí của ngời dân Các nớc có trình độ chacao, ngời dân còn có thói quen nắm giữ vàng và đô la, thì thờng là nền kinh
tế có mức độ đô la hoá cao
- Trình đô phát triển của hệ thống ngân hàng nhất là hoạt động thanhtoán rõ ràng là khi hệ thống ngân hành còn non trẻ, hoạt động thanh toáncha phát triển công nghệ thanh toán còn lạc hậu, thì thờng là có tình trạng
đô la hoá nền kinh tế
- Chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối, cùng mức độ bảo đảmtính nghiêm minh của cơ chế quản lý Nếu nh đồng nội tệ ổn định,cơ chếquản lí ngoại hối chặt chẽ, thì tình trạng đô la hoá nền kinh tế rất khó xảy
ra
- Khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ, đồng tiền của quốc gia đó
2 ảnh hởng của đô la hoá đối với nền kinh tế
Đô la hoá nền kinh tế có những mặt lợi và mặt hại nhất định của nósong chúng ta phải nhận rõ cái lợi và cái hại để từ đó khai thác những mặt
có lợi cho đất nớc và hạn chế những ảnh hởng có hại đến nền kinh tế
Vậy đâu là những tích cực của quá trình đô la hoá ?
Một là, việc sử dụng đồng đô la sẽ giúp cho nền kinh tế giảm nhẹ sức
ép của những mất cân đối, kết quả của tính không hiệu quả dới cơ chế kếhoạch tập trung(đặc biệt là các nớc có nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trờng nh ở Việt Nam), đồng thời cung cấp cho các tác nhân kinh tế tựbảo vệ để chống lại lạm phát, và phơng tiện để mua hàng hoá ở thị trờng phichính thức
Hai là, chi phí giao dịch :
+ Đối với chi phí do chênh lệch tỉ giá :
Trang 8Đối với những nớc đô la hoá chính thức các chi phí nh chênh lệch giữa
tỉ giá mua và bán khi chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác bịxoá bỏ Đô la hoá chính thức cũng loại bỏ những giao dịch với các nớc khác
+ Chi phí dự phòng cho rủi ro tỉ giá :
Chi phí này cũng không cần thiết, điều này giúp thúc đẩy thơng mại và
đầu t giũa các nớc làm cho các nhà đầu t quốc tế tin tởng hơn khi đầu t vàonớc đó
+ Chi phí kinh doanh của các ngân hàng:
Các ngân hàng có thể hạ thấp lợng dự trữ vì thế mà giảm đọc chi phíkinh doanh việc tồn tại của hai đồng tiền buộc các ngân hàng phải tiến hànhdanh mục đầu t tách biệt giữa nội tệ và ngoại tệ
- Hạ thấp lạm phát hiện tại và rủi ro về lạm phát trong tơng lai cũngthấp hơn.Với việc sử dụng đồng ngoại tệ, các nớc đô la hoá chính thức luôn
đợc duy trì tỉ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp ở các nứơc phát hành
đồng ngoại tệ lạm phát thấp tăng sự an toàn đối với tài sản t nhân , khuyếnkhích tiết kiệm và cho vay dài hạn Lạm phát thấp cũng giúp cho ngời nghỉ
hu, những ngời có thu nhập cố định và những ngời nghèo có các tài khoảntại ngân hàng và bảo đảm rằng khoản tiết kiệm của họ đợc duy trì giá trị
- Lãi suất thấp hơn khuyến khích nền kinh tế tăng trởng: ở các nớc
đô la hoá chính thức ngời ta sẽ thực hiện so sánh và tiếp nhận những đồngtiền nào có giá trị hơn đồng nghĩa với có mặt bằng lãi suất thấp hơn Mặtbằng lãi suất thấp sẽ cho phép tăng trởng kinh tế cao hơn và sẽ tạo điều kiệnthu hẹp khoảng cách giữa các nớc phát triển với các nớc đang phát triển vàchênh lệch lãi suất đối với vay nợ nớc ngoài cũng thấp hơn nên các khoảnvay nợ đợc trả dễ dàng Do đó mà những ngời ủng hộ việc đô la hoá chorằng lãi suất thấp sẽ tạo điều kiện để kinh tế tăng trởng cao hơn
- Đô la hoá ở mức độ rộng sẽ rút ngắn chênh lệch tỉ giá trên hai thịtrờng chính thức và phi chính thức ngay trong nớc Khi đó tỉ giá chính thứccàng sát với tỉ giá trên thị trờng phi chính thức, các hoạt động càng có độngcơ chuyển từ thị trờng phi chính thức“bất hợp pháp”sang thị trờng chínhthức “hợp pháp”
- Mức độ hội nhập quốc tế ngày một rộng hơn – tạo uy tín lớntrên thế giới Các nớc thực hiện quá trình đô la hoá chính thức có thể loại bỏ
Trang 9rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyến khích tự
do thơng mại và đầu t quốc tế Hơn nữa khi một nền kinh tế bị đô la hoáhoàn toàn thì NHTƯ sẽ không còn có khả năng phát hành nhiều tiền và gây
ra lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nớc sẽ không trông chờ vào nguồnphát hành này để trang trải thâm hụt, kỉ luật về tiền tệ và ngân sách đợc thắtchặt Do vậy các chơng trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn Bên cạnh
đó, với một lợng lớn ngoại tệ gửi tại ngân hàng, các ngân hàng sẽ có điềukiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc phải vay nợ nớcngoài và tăng cờng khả năng kiểm soát của NHTƯ đối với luồng ngoại tệ
Đồng thời các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động đối ngoại,thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trờng trong nớc với thị trờng quốc tế.Tuy nhiên thực tiễn cho thấy tất cả những lợi thế trên chỉ có ý nghĩa nhất
định đối với một quốc gia rất nhỏ, mà phần lớn các giao dịch vãng lai vàgiao dịch tài khoản vốn phụ thuộc vào quốc gia có đồng đô la
Đô la hoá cũng bao hàm nhiều tác động tiêu cực:
Trong một nền kinh tế bị đô la hoá (chính thức hay không chính thức)thì việc hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô nh chính sách tài khoá vàchính sách tiền tệ sẽ không thể độc lập
- Đối với chính sách tài khoá:
+ Đô la hoá làm yếu kém hoat động và hiệu quả của chính sách tàikhoá:
Nó hạ thấp doanh thu từ phát hành tiền và làm trầm trọng hơn tác độnglạm phát tới việc tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua hệ thống ngân.Đô lahoá cũng cho phép một bộ phận nhất định các hoạt đông kinh tế chốn thuế
Đô la hoá cũng làm yếu kém hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc xét
về cả khả năng của nhà nớc tạo lợi nhuận cũng nh đóng góp cho ngân sách.+ Chi phí lớn trong việc thu hồi nội tệ và đa ngoại tệ vào lu thông : Các nớc thực hiện đô la hoá chính thức cần phải có lợng ngoại tệ đủ đểthay thế số nội tệ đang lu thông Nghiên cứu cuả Fisher năm1982 cho thấychi phí trung bình đối với các nớc tiến hành đô la hoá chính thức vào nhngxnăm 1970 khoảng 4-5% GDP
- Đối với chính sách tiền tệ :
+ Đô la hoá làm giảm hiệu quả kiểm soát tiền tệ
Trang 10Đô la hoá không chính thức có thể khiến cho cầu về nội tệ không
ổn định Giả sử một nguyên nhân nào đó tác động đến tâm lý khiến mọi
ng-ời bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt
đầu một chu kỳ lạm phát Khi ngời dân giữ một khối lợng lớn tiền gửibằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nớc hay nớc ngoài có thểgây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác (chính làhoạt động đầu cơ tỷ giá) Những thay đổi này sẽ gặp khó khăn cho NHTƯtrong việc đặt mục tiêu cung ứng tiền trong nớc và có thể gây ra những bất
ổn định trong hệ thống ngân hàng Cụ thể là trong điều kiện đô la hoá sẽ rấtkhó khăn cho việc dự báo tổng phơng tiện thanh toán Qua đó, việc quyết
định tăng hay giảm lợng tiền trong lu thông kém chính xác và kịp thời + Đô la hóa cũng làm giảm hiệu lực của chính sách tỷ giá:
Đô la hoá tác động đến cơ chế truỷền dẫn của tỷ giá hối đoái.Tác
động khuyếch đại của phá giá tiền tệ sẽ trở nên yếu kém do phá giá tiền tệchỉ tác động đến một bộ phận nhỏ hơn tài sản có tính thanh khoản Sự yếukém của chính sách tỷ giá xuất hiện bất kể có tồn tại hay không chênh lệchtrên thị trờng phi chính thức so với thị trờng chính thức
+ Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi NHTƯ và chức năng của nó làngời cho vay cuối cùng của các ngân hàng
Ví dụ, mặc dù hiện nay các ngân hàng Việt Nam chỉ có vốn tự có thấp,song công chúng vẫn tin tởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của
họ tại các ngân hàng Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của nhà nớc
đối với các khoản tiền gửi này Điều này có thể làm đợc với VND nhngkhông thể áp dụng đợc với USD Khu vực ngân hàng trở nên bất ổn hơn vớinhững trờng hợp NHTM bị phá sản và đóng cửa khi chức năng ngời cho vaycuối cùng của NHTƯ bị mất
Qua phân tích những lý luận chung về đô la hoá và ảnh hởng của nó
đối với nền kinh tế chúng ta đã có một cái nhìn khá tổng quát về hiện t ợng
đô la hoá và những nguồn gốc gây nên hiện tợng này Vậy đô la hoá ở ViệtNam do đâu, mức độ của nó nh thế nào? Chúng ta sẽ làm sáng tỏ câu trả lờinày ở chơng 2
Chơng 2 THựC TRạNG ĐÔ LA HóA ở VIệT NAM
Trang 111 Đôi nét khái quát về quá trình đô la hoá ở Việt Nam từ những năm 80 đến nay:
Trên đây là những lý luận chung nhất về đô la hoá nền kinh tế, bây giờchúng ta sẽ vận dụng những lý luận chung đó để đối chiếu vào thực tiễn ởViệt Nam xem tình trạng này ở Việt Nam là do đâu, tác động nh thế nào
đến nền kinh tế, đến việc đa ra những giải pháp khắc phục kịp thời
Vào những năm cuối thập kỷ 80, lạm phát tiền tệ ở Việt Nam lên caotột đỉnh đến bốn chữ số (lạm phát phi mã những năm 1986 lạm phát774,7%; 1987 là 231,8%; 1988 là 293,8%) Việc thực hiện cải cách tiền l-
ơng bị thất bại (năm 1985 sự sụp đổ của một số tổ chức tín dụng, chínhsách đa tỷ giá, đồng Việt Nam (VND) bị mất giá nặng (e) đã tác độngkhông nhỏ tới tâm lý của công chúng (z) thì tình trạng đô la hoá tăng mạnhvào thời gian này đợc thể hiện qua phơng trình:
I (VND) = I (USD) + z + eCông chúng đô xổ nắm giữ vàng, đô la Mỹ (USD) hoặc bất động sản hầu hết đều lấy USD làm chuẩn mực để cất giữ và thanh toán trong nớc.Hiện tợng đô la hoá xuất hiện ở mức cao tới 41% tổng tiền gửi trong hệthống Ngân hàng Đến đầu những năm thập kỷ 90, Ngân hàng Trung Ương
đã sử dụng chính sách tiền tệ mới, lạm phát tiền tệ hạ thấp xuống đến mộtchữ số, đặc biệt đã áp dụng chính sách lãi suất thực dơng đã hấp dẫn hớngmọi ngời tích luỹ VND Thực tế đã có nhiều ngời rút tiền gửi USD chuyểnqua gửi bằng VND đợc hởng lãi suất cao hơn, dẫn đến tỷ lệ tiền gửi USDtrong tổng tiền gửi của hệ thống Ngân hàng lúc đó chỉ còn 18% (năm1996) Bớc đầu coi nh đã thiết lập VND thành đồng tiền ổn định giá trị cả
vể đối nội và đối ngoại
Thế nhng từ bốn năm qua, mức độ đô la hoá lại gia tăng với tỷ lệ trên40% trong tổng tiền gửi của hệ thống Ngân hàng là khá cao ở đây cha lợngtính đợc số USD trôi nổi nằm ngoài hệ thống Ngân hàng Nguyên nhân đô
la hoá cao lần này không do lạm phát tiền tệ gây nên mà do chủ yếu từ cơchế chính sách của ta kích thích mạnh, đến mức các Ngân hàng Thơng mạicạnh tranh sôi động nên đã có lúc đẩy lãi suất tiền gửi USD lên rất cao,USD cháy vào Ngân hàng thơng mại, lấn át VND gây hiện tợng thiếu VND
để hoạt động Số ngoại tệ huy động đợc đã chuyển thẳng vào các Ngânhàng nớc ngoài để hởng chênh lệch lãi suất lớn Mới đây, Ngân hàng Trung
Trang 12Ương đã thả nỗi lãi suất về ngoại tệ càng tạo điều kiện cho các Ngân hàngthơng mại thoải mái trong việc định lãi suất huy động tiền giử USD ĐồngUSD đợc đăng quang gây thêm tâm lý cất giữ và thanh toán còn có cả kỳvọng sẽ đợc lợi nhiều về chính sách phá giá VND dài hạn Lại thêm việckhuyến khích các doanh nghiệp trong nớc vay ngoại tệ của các Ngân hàngthơng mại Nguồn ngoại tệ này do các Ngân hàng thơng mại huy động đợc
đang thừa gửi ở nớc ngoài Xét về lợi ích trớc mắt, thì việc này thấy có lợinhng nhìn vào tầm quản lý vĩ mô thì không ổn Việc Ngân hàng chấp nhậntiền gửi bằng ngoại tệ và cấp tín dụng ngoại tệ ở trong nớc là đã hợp pháphoá thừa nhận đồng ngoại tệ có quyền phát huy đầy đủ các chức năng tiền
tệ khác nào đó là một sự hoàn thiện tình trạng đô la hoá Tất yếu đồng USDvốn đã mạnh có chỉ số độ tin cậy (z) cao là lợi thế lấn át đồng tiền yếuVND phải diễn ra
Tuy nhiên cho đến nay khi mà Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu tolớn về kinh tế vĩ mô, đã thành công trong việc ổn định giá trị đồng bản tệ(VND) cả về đối nội và đối ngoại, thế nhng tình trạng đô la hoá vẫn tiếp tụctăng? Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta nên xem xét nền kinh tế nớc tahiện tợng đô la hoá tiền gửi hay tiền vay hoặc cả hai
2 Hình thức đô la hoá ở Việt Nam.
2.1.Đ ô la hóa tiền gửi.
Đô la hóa diễn ra đợc đánh giá qua các chỉ tiêu tiền gửi bằng ngoại tệtrên tổng phơng tiện thanh toán, hoặc tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ so vớitổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng Có thể nói, d âm của lạm phát caotrong thời gian cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 vẫn còn đọng lại trongtâm trí dân c nên những ngời sở hữu khoản tiết kiệm bằng ngoại tệ khôngdại gì mà chuyển đổi sang tiết kiệm bằng VND, giá trị của đồng nội tệ giảmtheo xu hớng thời gian khiến cho ngời tiết kiệm có khuynh hớng phòngngừa rủi ro tỷ giá bằng cách lựa chọn hình thức tiết kiệm bằng ngoại tệ đặcbiệt là đô la Mỹ Thêm vào đó , lãi suất tiết kiệm USD tăng cao trong năm
2000 càng gia tăng mức độ đô la hoá tiền gửi trong hệ thống ngân hàng, tỷ
lệ lợi tức trên 1 đồng ngoại tệ gửi tại ngân hàng lớn hơn nhiều so với 1 đồngnội tệ đã làm thay đổi việc lựa chọn tài sản tiết kiệm
Trang 13- Đô la hoá không chỉ diễn ra ở khu vực tiền gửi tiết kiệm của dân
c , mà còn xuất hiện ở các tổ chức kinh tế xã hội Tiền gửi của các tổ chứckinh tế xã hội tăng mạnh không phải là do lãi suất huy động USD trongnăm 2000 tăng cao,bởi lãi suất USD ngân hàng trả cho các tổ chức kinh tếgửi tại ngân hàng mình bị ràng buộc bởi trần lãi suất quy định củaNHNN(theo quyết định số309/1999/QD-NHNN quy định chi tiết trần lãisuất tiền gửi USD của tổ chức kinh tế xã hội tại các ngân hàng với không kìhạn là 0,5%/1năm; kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống là 2,5%/1năm ;và kỳ hạntrên 6 tháng không quá 3%/1năm)
Nguyên nhân chính làm tăng tiền gửi của các tổ chức kinh tế là do cáccông ty có nguồn ngoại tệ cha giải ngân cho các dự án tạm thời gửi tại ngânhàng hay ngoại tệ thu đợc từ xuất khẩu tăng trong năm 2000 nhng công tylại không bán mà giữ lại do tỷ giá VND/USD có xu hớng tăng cao Nh vậylãi suất ngoại tệ doanh nghiệp thực sự đợc hởng sau khi điều chỉnh sự biến
đổi tỷ giá sẽ hấp dẫn hơn gửi bằngVND.Còn trong trờng hợp thiếuvốnVND, doanh nghiệp sẽ vay của nhân hàng với lãi suất thật hấp dẫn vìcạnh tranh giữa các ngân hàng ngày một khốc liệt hơn
Đứng trớc tình trạng đô la hoá cha có dấu hiệu thuyên giảm đáng kểNHNN đã can thiệp bằng một số công cụ Sự can thiệp này một phần đãngăn chặn làn sóng tăng lãi suất huy động tiết kiệm USD của các NHTM.Một yếu tố khách quan bên ngoài cũng làm giảm bớt tình hình là việc lãisuất USD trên thị trờng quốc tế bắt đầu giảm từ cuối tháng 11/2000 do dựbáo nền kinh tế Mỹ suy yếu
Công cụ can thiệp đầu tiên của NHNN là tăng tỷ lệ dự trữ bắtbuộc(GTDB) bằng ngoại tệ từ 5% lên 8% cho kỳ dự trữ tháng 11/2000 Tuynhiên sự can thiệp lần này chỉ tác động đến một số ngân hàng và mức lãisuất giảm cũng không đáng kể (tại thời điểm tháng 11/2000 các NHTM vẫnduy trì mức lãi suất huy động tiết kiệm cao, cụ thể cho kỳ hạn 6 tháng, 12tháng của HĐT là 5,3%/năm và5,7%/năm; NH á châu:5,4%/nămvà5,8%/năm”duy chỉ có NHNT phản ứng nhiều nhất đối với sự can thiệpcủa NHNN” Đến thời diểm cuối tháng3/2000, mức huy động các kỳ hạntrên của hai ngân hàng tơng ứng là 3,8%/năm và 4,25%/năm; 3,85%/năm
và 4,25%/ năm) Can thiệp lần thứ hai vào tháng 12/2000 tăng từ 8% lên tới12% , đã thực sự gây cú sốc cho các NHTM, kết quả, đồng loạt các ngânhàng hạ lãi suất huy động tiết kiệm USD Tuy nhiên, sự can thiệp lần thứ
Trang 14suất chủ đạo xuống 6% vào ngày 3/1/2001, đến 31/1/2001 giảm tiếp 0,5%.Tại phiên họp của uỷ ban tiền tệ ngày 20/3/2001, Fed cắt giảm tiếp lãi suấtchủ đạo xuống mức 5% Can thiệp lần thứ ba vào tháng 4/2001, tăng tỉ lệDTBB từ 12%lên 15% Ngày 18/4và 15/5 vừa qua, Fed đã 2 lần nữa giảmmức lãi suất chủ đạo (mỗi lần 0,5%)xuống mức 4% Nh vậy, hàng loạtchuỗi biến cố xảy ra tác động tới hành vi điều chỉnh lãi suất của cácNHTM Đến thời điểm cuối quý I/2001, lãi suất huy động tiết kiệm bằngUSD chỉ ở mức 4,15-4,25%/năm.
Kết hợp với biện pháp tăng tỉ lệ DTBB nhằm điều chỉnh lãi xuất huy
động tiết kiệm USD của các ngân hàng thơng mại, ngày 28/3/2001, NHNN
đã giáng một đòn mạnh vào các doanh nghiệp thiếu vốn quay vòng nhng lạikhông muốn bán ngoại tệ thu đợc từ hoạt động xuất khẩu hoặc có ý đồ đầucơ ngoại tệ Theo quyết định số 238/2001/QD-NHNN, lãi suất tiền gửikhông kỳ hạn của pháp nhân tại ngân hàng là 0,1%/năm, kỳ hạn đến 6tháng là 1,5%/năm , kỳ hạn trên 6 tháng là 2%/ năm Với các mức lãi suấtnày, kết hợp với tỷ giá tơng đối ổn định trong thời gian đầu 2001 sẽ khuyếnkhích các doanh nghiệp kết hối ngoại tệ nhiều hơn tại ngân hàng, kết quả,khan hiếm ngoại tệ giảm theo Một vấn đề khác có thể nhận thấy rằng trongmôi trờng tỷ giá tơng đối ổn định, lãi suất VND tơng đối cao, việc hạ lãisuất tiền gửi bằng USD của tổ chức kinh tế – xã hội tại NHTM nhằmkhuyến khích các doanh nghiệp giải toả nguồn ngoại tệ đang găm giữ.Trên cơ sở sự ngang bằng lãi suất, một điều dễ nhận thấy lãi suấtVNDvà USD đã đợc điều chỉnh cân bằng, đặc biệt sau khi NHNN điềuchỉnh lãi suất tiền gửi bằng USD của pháp nhân tại các tổ chức tín dụng thìphần lợi nghiêng về VND Cụ thể, với tỷ giá VND/USD chỉ tăng0,225%trong quý I/2001, thì chênh giữa lãi suất VND so với USD sau khi
có điều chỉnh tỷ giá là + 0,47% Gỉa sử tỷ giá của quý II/2001 tăng tơng
đ-ơng quý I/2001, lãi suất tiền gửiVND không biến động, thì chênh lệch đợcnới rộng tới + 0,72%(giả sử , khi ngân hàng huy động tiền gửi của TCKTcho kỳ hạn đến 6 tháng bằng VND ở mức 0,45%/ tháng , dựa vào cáchtínhlãi suất đơn và trên cơ sở phơng trình lãi suất ngang bằng :i(vnd)=i(usd)+z, chúng ta nhận đợc kết quả sau :0,45%/tháng*3 tháng –1/4*2,5%/năm– 0,255%= 0,47% Theo quy định mới về lãi suất tiền gửi của pháp nhânbằng USD thì chênh lệch này đợc nới rộng ra là :0,45%/tháng*3 tháng –1/4*1,5%/năm – 0,255%= 0,72%).Nh vậy, rõ ràng các doanh nghiệp cólợi hơn khi giữ bằng VND Với chiều hớng này, các doanh nghiệp sẽ kết