ãi suất không chỉ là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp, đa dạng và phức tạp mà đây còn là một trong những công của chính sách tiền tệ, rất nhạy cảm và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển và ổn định kinh tế của một quốc gia. Lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại. Sau hơn mười năm đổi mới, chính sách lãi suất của Việt Nam đã góp phần thực hiện tốt các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia đồng thời được đổi mới mạnh mẽ, thận trọng và từng bước phù hợp với từng giai đoạn. Tuy nhiên, vẫn còn có những tồn tại, hạn chế trong chính sách lãi suất. Thực tiễn khách quan đòi hỏi phải có một sự đổi mới sâu rộng trong việc sử dụng công cụ lãi suất cho phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực hiện của thị trường tiền tệ trong nước. Vì thế, xây dựng một chính sách lãi suất hiệu quả trên cơ sở phù hợp với tiến trình hội nhập của đất nước vừa đảm bảo sự định hướng của Nhà nước đang là bài toán đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách. Do đó có thể thấy, nghiên cứu về chính sách lãi suất và định hướng đổi mới và hoàn thiện lãi suất có ý nghĩa thực tiễn cao. Trong khuôn khổ một đề án, em xin trình bày những vấn đề chung nhất về lãi suất và chính sách lãi suất đồng thời phân tích chính sách lãi suất Việt Nam thời gian qua ,nhận rõ xu thế phát triển của chính sách lãi suất, từ đó đưa ra đề xuất góp phần hoàn thiện chính sách lãi suất. Do còn hạn chế về trình độ cũng như về kiến thức thực tế nên đề án của em còn nhiều sai sót. Em rất mong sẽ nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thày cô giáo, đặc biệt là thày giáo Đàm Viết Huệ để bài viết này hoàn chỉnh hơn.
Trang 1Lời mở đầu
ãi suất không chỉ là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp,
đa dạng và phức tạp mà đây còn là một trong những công của chínhsách tiền tệ, rất nhạy cảm và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển và ổnđịnh kinh tế của một quốc gia Lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọngthúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại
L
Sau hơn mười năm đổi mới, chính sách lãi suất của Việt Nam đã gópphần thực hiện tốt các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia đồng thờiđược đổi mới mạnh mẽ, thận trọng và từng bước phù hợp với từng giaiđoạn Tuy nhiên, vẫn còn có những tồn tại, hạn chế trong chính sách lãisuất
Thực tiễn khách quan đòi hỏi phải có một sự đổi mới sâu rộng trongviệc sử dụng công cụ lãi suất cho phù hợp với thông lệ quốc tế và điềukiện thực hiện của thị trường tiền tệ trong nước Vì thế, xây dựng mộtchính sách lãi suất hiệu quả trên cơ sở phù hợp với tiến trình hội nhập củađất nước vừa đảm bảo sự định hướng của Nhà nước đang là bài toán đặt racho các nhà hoạch định chính sách Do đó có thể thấy, nghiên cứu về chínhsách lãi suất và định hướng đổi mới và hoàn thiện lãi suất có ý nghĩa thựctiễn cao
Trong khuôn khổ một đề án, em xin trình bày những vấn đề chungnhất về lãi suất và chính sách lãi suất đồng thời phân tích chính sách lãisuất Việt Nam thời gian qua ,nhận rõ xu thế phát triển của chính sách lãisuất, từ đó đưa ra đề xuất góp phần hoàn thiện chính sách lãi suất
Do còn hạn chế về trình độ cũng như về kiến thức thực tế nên đề áncủa em còn nhiều sai sót Em rất mong sẽ nhận được sự chỉ bảo, góp ý củacác thày cô giáo, đặc biệt là thày giáo Đàm Viết Huệ để bài viết này hoànchỉnh hơn
Trang 2PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
1 Lãi suất trong cơ chế thị trường.
1.1 Lãi suất và một số loại lãi suất.
1.1.1 Khái niệm.
Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất là một trong những biến số kinh
tế vĩ mô được quan tâm và theo dõi chặt chẽ Trong kinh doanh, hiện tượngthừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra đối với các chủ thể kinh tế.Với tư cách trung gian tài chính, hệ thống ngân hàng và các tổ chức tíndụng ra đời thu hút mọi khoản tiền nhàn rỗi, cung ứng cho nền kinh tế dướinhiều hình thức, đẩy mạnh quá trình vận động, luân chuyển của đồng tiền,góp phần điều hoà và phân bổ hợp lý nguồn vốn trong nền kinh tế
Khi nghiên cứu về tư bản, Mác đã kết luận: lãi suất cũng là phần giátrị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê và bị bọn tưbản - chủ ngân hàng chiếm đoạt Vì thế, lãi suất là giá cả của một số tiềnvay
Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ của Keynes lại chorằng: lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho "sởthích chi tiêu tư bản " Lãi suất do đó còn được gọi là công trả cho sự chia
li với của cải tiền tệ
Còn Samuelson, đại diện cho trường phái trọng tiền đứng trên giác độchi phí, coi lãi suất là chi phí cơ hội của việc giữ tiền
Cho dù lãi suất được hiểu theo khái niệm nào thì về bản chất, lãi suất
là tỷ lệ % của phần tăng thêm so với phần vốn vay ban đầu, là giá cả củaquyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sửdụng trả cho người sở hữu nó
1.1.2 Phânloại lãi suất.
1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng: có 3 loại
- Lãi suất tín dụng ngắn hạn: áp dụng đối với các khoản tín dụng cóthời hạn dưới 1 năm
Trang 3- Lãi suất tín dụng trung hạn: áp dụng với các khoản tín dụng có thờihạn từ 1 năm tới 3 hoặc 5 năm, tuỳ theo quy định của từng nước.
- Lãi suất tín dụng dài hạn: áp dụng với các khoản tín dụng dài hạn,thời hạn trên 5 năm
1.1.2.2 Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất.
- Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền
tệ tại thời điểm nghiên cứu
- Lãi suất thực: là lãi suất đã được điều chỉnh theo những biến đổicủa lạm phát
i r = i n - e
Vì được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi vì lạm phát nênlãi suất thực phản ánh một cách chính xác chi phí của quan hệ tín dụng
1.1.2.3 Căn cứ vào sự ổn định của lãi suất.
- Lãi suất cố định: là lãi suất được áp dụng cố định trong suốt thờihạn vay
- Lãi suất thả nổi là lãi suất có thể thay đổi lên xuống, có thể báotrước hoặc không báo trước
1.1.2.4 Căn cứ vào phương pháp tính.
- Lãi suất đơn: là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt kỳhạn vay
I = n *i *Co
Trong đó : I: Số tiền lãi
n : số thời kỳ gửi vốn
i : lãi suấtCo: vốn gốcHình thức lãi suất này thường áp dụng cho các khoản tín dụng ngắnhạn và việc trả nợ được thực hiện một lần khi đến hạn
- Lãi suất kép : là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợitức thu được trong khoảng thời gian sử dụng tiền vay
C = Co (1 + i ) n
Trong đó : C: Số tiền thu được theo lãi gộp sau n kỳ
Trang 4Co: Số vốn gốci: Lãi suấtn: Số thời kỳ gửi vốn
- Lãi suất hoàn vốn: là lãi suất cân bằng giá trị hiện tại của tiền thunhập nhận được trong tương lai theo một công cụ nợ với giá trị hôm nàycủa công cụ đó
1.1.2.5 Căn cứ vào loại hình tín dụng : Lãi suất được chia làm 4
Giá cả hàng hoá bán chịu
- Lãi suất tín dụng ngân hàng : áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàngvới công chúng và doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vaytrong hoạt động tái cấp vốn của NHTW đối với các NHTM và trong quan
hệ giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường liên ngân hàng
Trong khái niệm lãi suất tín dụng ngân hàng người ta phân biệt:+ Lãi suất tiền gửi
+ Lãi suất chiết khấu
+ Lãi suất tái chiết khấu
+ Lãi suất liên ngân hàng
+ Lãi suất cơ bản
-Lãi suất tín dụng nhà nước: áp dụng khi Nhà nước đi vay của cácchủ thể khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc tráiphiếu Loại lãi suất này có thể do Nhà nước ấn định căn cứ vào lãi suất tiềngửi tiết kiệm ngân hàng, và các yếu tố khác như sự biến động của lạm phát,nhu cầu cấp thiết về vốn của Nhà nước… hoặc được hình thành thông quahoạt động đấu thầu tín phiếu, trái phiếu Nhà nước
-Lãi suất tín dụng tiêu dùng: áp dụng khi doanh nghiệp cho ngườitiêu dùng vay phục vụ cho nhu cầu cá nhân Mức lãi suất tín dụng tiêu dùng
Trang 5này thường cao hơn lãi suất tín dụng ngân hàng và lãi suất tín dụng Nhànước.
1.2 Vai trò của lãi suất trong cơ chế thị trường.
Lãi suất có vai trò và ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển và ổn địnhkinh tế của một quốc gia Lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩysản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại Vì thế, việc hoạchđịnh chính sách lãi suất phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đảm bảolãi suất thoả mãn các yêu cầu mà nền kinh tế đặt ra
Trong nền kinh tế thị trường, người đi vay cũng như người cho vay
có thể là các doanh nghiệp, các cá nhân, hộ gia đình, chính phủ hoặc ngườinước ngoài Đối với người đi vay, lãi suất tạo nên chi phí, làm giảm lợinhuận của người vay Còn với người cho vay, lãi suất chính là thu nhập của
họ Vì thế lãi suất đóng vai trò to lớn trong các quyết định của các chủ thểkinh tế Thông qua những quyết định của các chủ thể kinh tế, lãi suất ảnhhưởng đến sự phát triển cũng như cơ cấu kinh tế của một quốc gia
Trước hết, lãi suất là công cụ được sử dụng nhằm phân phối hiệu quả
và hợp lý các nguồn lực trong nền kinh tế Bởi lãi suất chính là phần thunhập cho những khoản tiền tiết kiệm hoặc cho vay để đáp ứng vốn cho nềnkinh tế Khi đầu tư vào một ngành hoặc một dự án nào đó, chúng ta đềuphải quan tâm đến lợi tức thu được so với chi phí ban đầu , làm sao để thuđược lợi nhuận Có thể nói lãi suất là tín hiệu, là căn cứ cho sự phân bốhiệu quả các nguồn lực khan hiếm trong xã hội Thông qua lãi suất, cácdoanh nghiệp và các cá nhân, các tác nhân trong nền kinh tế có thể đưa ranhững phương án đầu tư tối ưu nhất
Ở góc độ vĩ mô, lãi suất trở thành công cụ điều tiết nền kinh tế Lãisuất thị trường do quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ ấn định Đến lượt
nó, lãi suất tác động trở lại đối với hành vi tiêu dùng, đầu tư, từ đó tác độnglên tổng cầu
Khi cung tiền tệ tăng lên, lãi suất cân bằng trong vĩ mô giảm xuống,giá trái phiếu tăng lên do giá trị hiện tại của thu nhập tương lai có giá trịhơn gây ra hiệu ứng của cải và làm dịch chuyển hàm tiêu dùng lên trên
Trang 6Tiêu dùng sẽ tăng ở mỗi mức thu nhập Tín dụng tiêu dùng tăng lên do khảnăng tín dụng và khả năng trả nợ vay tín dụng tăng lên.
Đầu tư, kể cả đầu tư bản và vốn cố định vốn luân chuyển hàng tồnkho đều có mối liên hệ mật thiết tới lãi suất Khi giá của tư liệu sản xuấtcho một dự án tăng, nghĩa là lợi nhuận dự tính giảm xuống, đầu tư giảmxuống và ngược lại
Như vậy có thể nói một sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động tới cácyếu tố của tổng cầu, thông qua đó động tổng cầu và các biến số kinh tế vĩ
mô quan trọng khác Trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế lãisuất có xu hướng tăng do cung cầu quỹ cho vay tăng Ngược lại, giai đoạnsuy thoái, lãi suất có xu hướng giảm xuống
Rõ ràng chính sách lãi suất phù hợp là cần thiết cho sự phát triển lànhmạnh của nền kinh tế
2 NGUYÊN TẮC HÌNH THÀNH LÃI SUẤT
2.1 Nguyên tắc bảo toàn vốn
Lãi suất được coi là giá cả của quyền sử dụng vốn trong một thời
hạn nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó Nếu như lãi suấtđối với người đi vay là một khoản chi phí thì lãi suất tạo nên thu nhập đốivới người cho vay Tuy nhiên, trong nền kinh tế, người vay Lợi ích thực tế
mà người cho vay được hưởng là lãi suất thực Nghiên cứu và tìm hiểu vềlãi suất, nhà Kinh tế học I.Fisher đã chỉ ra được mối quan hệ giữa lãi suất
và lạm phát
l n = i r + e
Trong đó: ln : lãi suất thực tế
in : lãi suất danh nghĩa
e : lạm phát dự tính
Vì thế bảo toàn vốn là nguyên tắc đầu tiên khi hình thành lãi suấtnhằm bảo đảm quyền lợi của người cho vay Có nghĩa lãi suất danh nghĩaphải ít nhất bằng tỷ lệ lạm phát dự tính(in e) Sự bảo đảm này cho phép
Trang 7người cho vay có thể bù đắp được sự biến động rủi ro về giá mà lạm phátgây ra, bảo toàn vốn kinh doanh cho vay.
2.2 Nguyên tắc bảo đảm tỷ lệ khuyến khích về thu nhập hợp lý cho người gửi tiền và các tổ chức tín dụng
Khi đem tiền cho vay, người cho vay không chỉ kỳ vọng khoản vốncủa mình được bảo toàn mà còn phải sinh lời Phần thực tế mà người chovay được hưởng này là lãi suất thực Nguyên tắc này đòi hỏi ir > 0 Điềunày chính là lãi suất danh nghĩa mà người cho vay nhận được phải lớn hơn
tỷ lệ lạm phát Việc đảm bảo có lãi là hợp lý vì nó phù hợp lợi ích ngườigửi tiền Đối với người gửi tiền lãi suất thực là thu nhập, là sự trả công cho
họ cho sự tạm xa rời của cải của họ Đối với các tổ chức tín dụng cho vay,lãi suất thực này đảm bảo lợi tích cho người gửi tiền, trang trải các chi phínghiệp vụ, bù đắp những rủi ro trong hoạt động tín dụng thương mại và lợinhuận ngân hàng Do đó:Lạm phát < lãi suất tiền gửi < lãi suất cho vay
2.3 Lãi suất phải đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Nguyên tắc này hình thành trên cơ sở coi lãi suất là đòn bẩykinh tế Điềukiện của nguyên tắc này là : tỷ lệ lạm phát < lãi suất tiền gửi < lãi suất chovay < tỷ suất lợi nhuân bình quân của nền kinh tế
Điều kiện lãi suất cho vay < tỷ suất lợi nhuận bình quân chỉ ra lãisuất cho vay của ngân hàng phải nhỏ hơn mức lợi nhuận bình quân của cácngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế Có như vậy mới bảo đảm các tổchức kinh tế sau khi thu được lợi nhuận từ sản xuất kinh doanh, ngoài việctrả nợ ngân hàng sẽ còn lại một khoản lợi nhuận đảm bảo cho tái mở rộngsản xuất
Ngoài ra, lãi suất có thời hạn vay mượn càng dài thì càng cao do cómức độ rủi ro cao hơn
Đây là những nguyên tắc cơ bản để xác định mức lãi suất hợp lý vai
3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
3.1 Quan điểm của trường phải cổ điển.
Có nhiều quan điểm khác về chính sách lãi suất Trường phái cổ điểnvới các đại biểu là NW Senior, Bond, Baweck, Masshall cho rằng lãi suất
là yếu tố tự động bình quân theo quy luật cung cầu vốn - tiền tệ trên thịtrường thông qua cơ chế điều chỉnh của NHTW và hệ thống NHTM
Trang 8Trên cơ sở này, mức cầu tiền tệ trong nền kinh tế trong các thời kỳkhác nhau sẽ được thoả mãn một cách tự nhiên Khi nền kinh tế tăngtrưởng cao, dự trữ của NHTM đã được huy động hết cho đầu tư trong khinền kinh tế vẫn còn cầu về tín dụng cao, NHTW sẽ cung cấp tiền cho hệthống NHTM một lượng tiền cung ứng cần thiết cho nền kinh tế theo sựvận hành của quy luật tối đa hoá lợi nhuận Các chủ thể kinh tế thoát khỏitình trạng kẹt vốn cho đầu tư Sự gia tăng của mức cần tiền được nguồntiền tự nhiên đáp ứng sẽ không gây sức ép đối với lãi suất tín dụng vì ngânhàng sẽ không phải quá hao tổn sức lự c cho việc huy động tiền gửi cho đầu
tư trung và dài hạn
Hạn chế của lý thuyết cổ điển là đã coi lãi suất như là nhân tố tạo ra
sự cân bằng giữa nhu cầu đầu tư và tiết kiệm, là giá cả đơn thuần của đầu
tư và coi nhẹ vai trò điều tiết của Nhà nước
Lý thuyết lãi suất có xu hướng bình quân tự nhiên của trường phái tự
do cổ điển có ảnh hưởng tới nhiều nước phương Tây vào thế kỷ 19
3.2 Quan điểm của trường phái Keynes.
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 M.Keynes đã phêphán quan điểm của trường phái “lãi suất tự động bình quân” và chủ trươngNhà nước phải tham gia điều tiết lãi suất và tăng chi tiêu chính phủ khi cầnthiết vào các chương trình mà nền kinh tế tư nhân không thể đảm nhận đểkích thích sự tăng trưởng một cách liên tục
Trường phái này cho rằng, hạ lãi suất tín dụng luôn là đòn bẩy cho sựphát triển Keynes lập luận : thay vì gia tăng huy động vốn bằng biện phápthu hút ký thác, NHTW có thể làm gia tăng khối lượng tiền tệ để cung ứngcho đầu tư trong những thời kỳ mà mức cầu tiền tệ tăng cao bằng cách pháthành thêm giấy bạc hoặc giảm dự trữ bắt buộc đối với NHTM Tổng khốilượng tiền tệ gia tăng sẽ làm giảm sức ép của mức cầu tiền tệ cho đầu tư vàlàm giảm lãi suất tín dụng Lãi suất hạ làm “hiệu quả của tư bản” sẽ đượcnâng cao kích thích các doanh nghiệp, mở rộng đầu tư (trung và dài hạn)tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế
Tư tưởng của Keynes ảnh hưởng tới nền kinh tế Châu Âu và Bắc Mỹcho đến thập niên 80 Những năm 80 đến đầu những năm 90 là thời kỳthoái bộ của học thuyết hạ lãi suất của Keynes Lượng cung tiền tệ dư thừa
Trang 9đã dẫn tới tình trạng lạm phát giá cả Lúc đó lãi suất thấp không còn ýnghĩa trong huy động tiết kiệm và kích thích đầu tư Tư tưởng này đã quá
đề cao vai trò của Nhà nước mà coi nhẹ tính thị trường của lãi suất khiếncho lãi suất chưa thật sự linh hoạt
3.3 Quan điểm trường phái chính hiện đại.
Những năm 60-70 của thế kỷ 20, hình thành nên “kinh tế học truờngphái chính hiện đại” và giữ vai trò thống trị ở Mỹ và Tây Âu đến nay Đạidiện tiêu biểu cho trường phái này là Samuelson
Trong nền kinh tế hỗn hợp, một mức lãi suất tín dụng thực (sau khi đãtrừ đi tỉ lệ lạm phát) thấp là đầu mốc của quá trình tăng trưởng kinh tế, kíchthích đầu tư, vai trò đòn bẩy kinh tế của lãi suất được đề cao Tuy nhiênNhà nước phải kiểm tra lượng cung tiền tệ thông qua ấn định dự trữ và pháthành để tạo thành một hỗ trợ vững chắc cho chính sách lãi suất thấp có hiệuquả
4 Vấn đề tự do hoá lãi suất.
4.1 Tự do hoá lãi suất là gì?
Tự do hoá lãi suất là một bộ phận cơ bản của tự do hoá tài chính Ởđây, lãi suất được tự do biến động, phản ứng theo các lực lượng cung – cầuvốn trên thị trường, mức tiết kiệm thu nhập, chi tiêu cá nhân và những nhân
tố khác, loại bỏ những áp đặt hành chính lên sự hình thành lãi suất, chophép các ngân hàng tự chủ trong ấn định các mức lãi suất của mình
Khi đó NHTW tác động vào lãi suất chủ yếu dựa trên các công cụkiểm soát tiền tệ gián tiếp ảnh hưởng như nghiệp vụ thị trường mở, tái chiếtkhấu, hợp đồng mua lại và một phần dựa vào áp đặt tỷ lệ dự trữ bắt buộc
4.2 Tính tất yếu của tự do hoá lãi suất.
Tự do hoá tài chính mà hạt nhân là tự do hoá lãi suất đang ngàycàng tỏ rõ những ưu điểm của nó
Trước hết, khi lãi suất được tự do hoá theo cung cầu về vốn, nó làm chonguồn vốn trong nền kinh tế được phân bố hợp lý và hiệu quả Tự do hoálãi suất đem lại khả năng phân bổ nguồn vốn tín dụng khan hiếm cho hàngngàn người vay cạnh tranh nhau, đáp ứng đúng thị hiếu của họ, đồng thờiđảm bảo thu hút tiền gửi của hàng triệu người gửi với chi phí hợp lý, phù
Trang 10hợp với mục tiêu của cả ngân hàng và khách hàng gửi tiền Điều này sẽkhông thể có được trong điều kiện lãi suất bị kiểm soát trực tiếp Bởi cũnggiống như nhiều hình thức kiểm soát kinh tế khác trong hệ thống XHCN,kiểm soát lãi suất không có lợi cho cạnh tranh Các tổ chức tín dụng kémhiệu quả có thể được bảo vệ từ sức ép tự do cạnh tranh Mặc khác, lựa chọnđối nghịch và rủi ro đạo đức là khó khăn lớn gắn với kiểm soát lãi suất Cảhai loại rủi ro này đều có xu hướng nâng lãi suất lên và tăng rủi ro tín dụng.Lựa chọn đối nghịch chỉ ra khả năng kiểm soát lãi suất sẽ hấp dẫn nhiềudoanh nghiệp chấp nhận rủi ro; nhiều doanh nghiệp lành mạnh sẽ bị loại rakhỏi thị trường tín dụng do không sẵn sàng trả mức lãi suất cao như cácdoanh nghiệp đang khó khăn rủi ro đạo đức phát sinh khi cơ chế kiểm tragiám sát yếu các hoạt động cho vay của ngân hàng, trong trường hợpngười vay ngận được sự bảo trợ ngầm từ Chính phủ Do đó, lãi suất tự do
sẽ kích thích cho tăng trưởng tài chính, cải tiến và thay đổi cơ cấu màChính Phủ hoặc không thể quản lý hoặc chậm thu kết quả
Mặt khác, một vấn đề đặt ra là hiện nay các doanh nghiệp đòi hỏi hạlãi suất trong khi ngân hàng muốn duy trì lãi suất hiện tại.Tự do hoá lãi suất
sẽ làm lãi suất sẽ biến động linh hoạt theo sự phản ứng của thị trường tạo ra
sự cạnh tranh lành mạnh Giảm thiểu những tranh luận xã hội trong giới tàichính khi xem xét tính hợp lý hay bất hợp lý của lãi suất áp đặt đồng thờibuộc NHTW thay đổi tư duy làm việc chuyển sang sử dụng các công cụđiều hành gián tiếp
Hơn nữa, trong xu thế phát triển chung Toàn cầu hoá và Quốc tế hoácủa nhân loại, Việt Nam không thể đặt mình ngoài cuộc Trong quá trìnhnày hội nhập và phát triển kinh tế mà điển hình là toàn cầu hoá tài chính,chiếm vai trò chủ đạo Sự phát triển vượt bậc của khoa học, công nghệ hiệnđại, sự nỗ lực hết mình của các quốc gia trẻ trong cạnh tranh và thu hút vốntăng làm cho luồng vốn quốc tế vận động mạnh mẽ linh hoạt từ nước nàyqua nước khác tự do hơn Điều này cho phép nhiều quốc gia trẻ có thể tậndụng được nguồn vốn quốc tế, trình độ tiên tiến của các nước đi trước choquá trình phát triển kinh tế – xã hội của mình Đây là cơ hội lớn cho mỗiquốc gia nhưng đồng thời tự do hoá tài chính đem lại nhiều vấn đề đángquan tâm khác như : khả năng xói mòn và suy giảm hiệu quả của việc thựcthi Chính sách tiền tệ thông qua các công cụ điều hành trực tiếp.Vì thế sử
Trang 11dụng các công cụ tiền tệ gián tiếp đã và đang được Chính phủ các nước sửdụng như là công cụ định hướng thị trường và tiến tới tự do hoá tài chính.
Bên cạnh đó, tự do hoá cho phép hệ thống ngân hàng tự chủ hơn, dẫntới lãi suất tiền gửi và tiền vay cao hơn Những thay đổi do tự do hoá tàichính tác động tới các doanh nghiệp và hộ gia đình khiến họ thay đổi hành
vi tiết kiệm và đầu tư của mình theo hướng có lợi cho tăng trưởng kinh tế.Tăng lãi suất tiền gửi sẽ làm tăng tỷ lệ tiết kiệm nội địa, thay thế cho nguồnvốn vay nước ngoài tài trợ cho đầu tư Nguồn tiết kiệm nội địa này đượctruyền tải thông qua hệ thống Tài chính – Ngân hàng chính thức Tiết kiệmtrong nước tăng lên và mức lãi suất cao hơn dẫn tới mở rộng đầu tư và tănghiệu quả đầu tư
Như vậy, tự do hoá không chỉ là vấn đề mang tính thời đại mà còn làtất yếu Tự do hoá lãi suất là cần thiết cho bất cứ quốc gia nào mong muốnphát triển nền kinh tế của nước mình một cách lành mạnh
4.3 Các loại hình tự do hoá lãi suất.
Trong cơ chế tự do hoá lãi suất, nếu Nhà nước hoàn toàn không canthiệp đến hệ thống lãi suất thị trường thì đó là cơ chế lãi suất tự do hoáhoàn toàn( thả nổi hoàn toàn)
Nếu Nhà nước có tham gia can thiệp gián tiếp theo một định hướngxác định thì đó được coi là cơ chế tự do hoá có sự điều tiết
4.4 Kinh nghiệm một số nước đi trước và một số tác động tiêu cực của Tự do hoá lãi suất.
Từ thập niên 70, xu hướng chung của thế giới là bãi bỏ lãi suất ấnđịnh có tính chất hành chính để chuyển sang lãi suất thả nổi Nhiều nướcphát triển và đang phát triển đã từng bước thực hiện các bước để Tự do hoálãi suất hệ thống tài chính
Thực thế cho thấy kiểm soát lãi suất đã làm giảm vai trò trung giantài chính, hình thành và phát triển nhanh các thị trường tài chính phi chínhthức và các tổ chức phi ngân hàng làm cho các nguồn taì chính không đượcchuyển tải tới các hoạt động có hiệu quả nhất Tự do hoá tài chính, đặc biệt
là tự do hoá lãi suất là bước đi quan trọng góp phần huy động nguồn lựcthông qua hệ thống tài chính chính thức, nâng cao hiệu quả của hệ thống tàichính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Quá trình này chịu tác động
Trang 12bởi nhiều yếu tố, phụ thuộc vào điểm xuất phát và hoàn cảnh quốc tế củamỗi nước trong từng giai đoạn.
Xem xét quá trình này ở Malaysia, từ 1981 nước này đã cho phép cácngân hàng thương mại tự xác định mức lãi suất cơ bản của mình dựa trên
cơ sở chi phí thực tế Nhưng ngay sau đó NHTW Malaysia đã nhận thấytrong điều kiện thị trường tiền tệ chưa thực sự phát triển quyết định trên cóthể dẫn tới khả năng cạnh tranh quá mức giữa các ngân hàng, đe doạ sự antoàn của hệ thống ngân hàng thương mại Năm 1987, Malaysia đã chuyểnsang điều hành lãi suất theo hướng vừa đảm bảo sự phối hợp chỉ đạo củaNHTW, vừa đảm bảo quyền tự chủ trong một khuôn khổ nhất định cho cácngân hàng thương mại Nhờ đó lãi suất được quản lý theo sự biến động linhhoạt của thị trường, vừa đảm bảo an toàn cho sự hoạt động của hệ thốngngân hàng
Nhật Bản, bên cạnh lãi suất có tính chất định hướng là lãi suất chiếtkhấu, NHTW Nhật đã áp dụng một số lãi suất có sự điều tiết được xâydựng trên cơ sở lãi suất chiết khấu và lãi suất cơ bản trở thành sàn lãi suấtcho vay nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống Ngoài ra, một số loại lãi suấtkhác như lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở được xácđịnh tự do tuỳ thuộc cung cầu về vốn trên thị trường
Một số nước khác như Anh, Mỹ lãi suất được điều hành theo cơ chế
tự do hoá hoàn toàn Lãi suất công bố hoàn toàn dựa trên cung cầu về vốntrên thị trường tiền tệ, đặc biệt là chú trọng lãi suất chào hàng trên thịtrường tiền tệ liên ngân hàng như LIBOR, SIBOR, PIBOR Những nướcnày, thị trường tài chính tiền tệ rất phát triển Một sự biến động nào trên thịtrường tài chính tiền tệ cũng có thể đưa NHTW can thiệp với đầy đủ cáccông cụ và chế tài sắc bén
Bên cạnh những khả năng tích cực do tự do hoá lãi suất mang lại,một số quốc gia bên con đường tự do hoá tài chính gặp phải một số nguy
cơ Chẳng hạn như ở Argentina, Chi Lê, Urugoay lãi suất thực đã tăng lên
ở mức rất cao Sự tăng lên này không những không khuyến khích đầu tư,làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn dẫn tới sự phá sản hàng loạtdoanh nghiệp, khủng hoảng hệ thống tài chính và bất ổn vĩ mô Trong điềukiện thị trường tài chính còn kém phát triển, tự do hoá lãi suất có thểkhuyến khích NHTM, đặc biệt là các NHTM CP chấp nhận những khoảncho vay có rủi ro cao Đồng thời loại bỏ kiểm soát đối với cán cân vốntrong bối cảnh kinh tế bất ổn làm cho lãi suất tăng lên và gây ra khả năngphá giá đồng bản tệ, từ đó làm các luồng vốn quốc tế đổ vào nhiều làm tăng
áp lực lạm phát, giảm hiệu quả của chính sách tiền tệ
Tóm lại, những tác động bên trong và bên ngoài đòi hỏi tự do hoá lãisuất phải thận trọng Tự do hoá lãi suất phải được tiến hành từng bước, gắn
Trang 13liền với đổi mới toàn bộ nền kinh tế và tự do trong các lĩnh vực khác, đồngthời củng cố hành lang pháp lý, nâng cao trình độ quản lý nền kinh tế.
Trang 14Theo báo cáo của tổng cục thống kê và Bộ kế hoạch và đầu tư, tỷ lệngười gửi tiền ở nước ta năm 1998 chiếm 17% dân số Vẫn còn bộ phận lớnvốn còn nằm lại trong dân cư tồn tại dưới các hình thức phi kinh tế dướidạng vàng, ngoại tệ dự trữ: 44%, đất đai và nhà ở: 20% Chỉ có khoảng19% tổng nguồn vốn trong dân cư được đầu tư và mang tính tự phát kinh tế
hộ gia đình Điều này cho thấy sức hút của các NHTM và các TCTD chưa
đủ mạnh
Những năm gần đây, yêu cầu của quá trình CNH – HĐH đòi hỏi mộtnguồn vốn lớn Xuất phát từ nhu cầu đó, Nhà nước đã mở rộng các hìnhthức huy động vốn trong dân cư thông qua hàng loạt các hình thức tiết kiệmngắn hạn và dài hạn với lãi suất tương đối phù hợp với sự biến động của thịtrường cùng với sự tăng cường hoạt động của các thị trường tiền tệ Nhờ đótốc độ dù mức độ huy động vốn thông qua hoạt động của hệ thống NH &TCTD có tăng lên Tuy nhiên nhìn chung, vốn vẫn còn ứ đọng trong dân cưvới số lượng lớn dưới hình thức phi kinh tế
Thị trường tài chính tiền tệ còn thật sự chưa phát triển Thị trường liênngân hàng ra đời từ 1993 nhưng hoạt động một cách yếu ớt và thiếu hiệuquả Đặc biệt kể từ 1996 đến nay, tình trạng sử dụng vốn tín dụng lẫn nhaugiữa các TCTD hầu như không đáng kể Mặt khác, các giao dịch phần lớnmang tính một chiều và hình thành nên hai nhóm khách hàng chủ yếu: cácngân hàng cho vay là các NHTMQD và các ngân hàng đi vay là các ngânhàng nước ngoài và các NHTMCP Kèm theo đó lãi suất cũng chỉ đượccông bố một chiều nên thị trường thiếu tính chuyên nghiệp Kinh doanhvốn ở một số NHTM chưa mang tính thị trường, độ nhạy của lãi suất đốivới thị trường tiền tệ liên ngân hàng còn rất thấp Thị trường mở và thị
Trang 15trường chứng khoán mới chỉ đi vào hoạt động được hơn một năm Nhìnchung trên thị trường mở, các TCTD vẫn chưa tham gia thường xuyên vàocác phiên giao dịch mà chủ yếu là các NHTMQD do có nhiều lợi thế hơnnhờ vay được với giá rẻ so với các NHTMCP Hàng hoá trên thị trường mởvẫn còn chưa phong phú, chỉ dừng lại tập trung ở tín phiếu NHTW và tínphiếu KBNN Giao dịch trên thị trường chứng khoán mặc đã có những biểuhiện sôi động hơn kể từ phiên giao dịch đầu tiên song nhìn chung khốilượng giao dịch vẫn nhỏ.
Một vấn đề không thể bỏ qua khi nhắc tới đặc điểm thị trường tàichính Việt Nam chính là tính không đồng nhất Lãi suất có sự phân biệt khá
rõ xuất phát từ tình trạng nhu cầu tín dụng khác nhau giữa các vùng khácnhau
Những đặc điểm trên đây có vai trò khá quan trọng đối với NHNNtrong quá trình thực hiện vai trò quản lý vĩ mô, thực hiện chính sách tiền tệquốc gia, trong đó có chính sách lãi suất
2 Chính sách lãi suất ở Việt Nam.
2.1 Chính sách lãi suất Việt Nam từ sau đổi mới đến nửa đầu năm2000
Việt Nam hiện nay đang trên con đường thị trường hoá và hướngngoại nền kinh tế Tốc độ và sự thành công trong các chính sách kinh tếphục vụ tăng trưởng phụ thuộc quan trọng vào sự điều tiết và cân đối vĩ môcủa chính phủ Để điều tiết và định hướng nền kinh tế, Nhà nước không thểkhông nắm lâý công cụ lãi suất và kiểm soát lượng cung tiền tệ Nhữngchính sách khác nhau được đưa ra vào những thời điểm khác nhau đã cónhững tác động to lớn tới nền kinh tế
Chính sách lãi suất của Nhà nước ta mười năm qua đã được đổi mớimạnh mẽ, thận trọng và từng bước phù hợp với từng giai đoạn Đánh giá lạiquá trình đổi mới chính sách lãi suất thời gian qua là để giúp chúng ta hìnhdung rõ nét những thành công và hạn chế, từ đó rút ra được những kinhnghiệm cho một chính sách lãi suất mới thích hợp hơn trong tương lai
Có thể nói, trước 1986, nước ta thực sự chưa tồn tại một chính sáchlãi suất theo đúng nghĩa Một biểu lãi suất đư ợc quy định rất chi tiết theo