1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUAN hệ xã hội của PHỤ nữ SAU LY hôn ở hà nội

92 202 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 480,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã cónhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của ly hôn nhưng khía cạnh về quan hệ xã hội QHXH của phụ nữ sau ly hôn tuy có được đề cập đến nhưng chưa cụ thể.Trong khi đó, như Vũ Mạn

Trang 1

HÀ NỘI, 2018

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ LAN ANH

QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ

SAU LY HÔN Ở HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn làtrung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác Việc sử dụng kết quả, tríchdẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu,sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo củaluận văn

Nếu nội dung luận văn của tôi trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2018

rp r _ • 2 1 ^ _ W

Tác giả luận văn

VŨ THỊ LAN ANH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Xã hội học của Học viện Khoa học Xã hội đãtruyền đạt cho tôi kiến thức bổ ích, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học Những kiến thức, phương pháp màtôi tiếp thu từ các môn học trong Chương trình Thạc sĩ Xã hội học của các thầy cô tại Học viện đã giúp tôi rấtnhiều trong việc hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Giảng viên hướng dẫn - TS TRẦN NGUYỆTMINH THU đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Tôicũng xin chân thành cảm ơn các tiền bối trong Viện Xã hội học - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đãnhiệt tình hợp tác cũng như giúp đỡ trong thời gian tôi thực hiện luận văn này

Bên cạnh đó, tôi vô cùng biết ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ủng hộ và tạo điềukiện tốt nhất để tôi có thể tập trung nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

Do về mặt kiến thức và thời gian còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và khiếmkhuyết Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và mọi người để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2018 Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

VŨ THỊ LAN ANH

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC BẢNG 4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 5

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 21

1.2 Một số khái niệm nghiên cứu 22

1.3 Các lý thuyết sử dụng 27

1.4 Vài nét về tình hình ly hôn ở Việt Nam và giới thiệu về địa bàn khảo sát 34

Chương 2: NHẬN DIỆN VÀ TÌM HIỂU CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ SAU LY HÔN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG 38

2.1 Đặc điểm của phụ nữ ly hôn 38

2.2 Quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với con cái 41

2.3 Quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với hai bên gia đình 48

2.4 Quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với bạn bè, đồng nghiệp 59

2.5 Nhu cầu, mong muốn của phụ nữ đối với các mối quan hệ xã hội sau ly hôn

67 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73

1 Kết luận 73

2 Khuyến nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Bảng 2.1: Đánh giá của phụ nữ về mối quan hệ với con sau ly hôn 41

Bảng 2.2: Quan điểm của người trả lời về nhận định 43

Bảng 2.3: Nơi ở của phụ nữ 12 tháng sau ly hôn 49

Bảng 2.4: Đánh giá của phụ nữ về mối quan hệ với gia đình gốc sau ly hôn 50

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Bảng 2.5: Mức độ duy trì mối quan hệ với chồng cũ của phụ nữ sau ly hôn 52

Bảng 2.6: Kiểm định mối liên hệ giữa trình độ học vấn của phụ nữ và mức độ duy trì quan hệ với chồng cũ của họ sau ly hôn 55

Bảng 2.7: Kiểm định mối liên hệ giữa nghề chính của phụ nữ và mức độ duy trì quan hệ với chồng cũ của họ sau ly hôn 56

Bảng 2.8: Kiểm định mối liên hệ giữa số năm ly hôn của phụ nữ và mức độ tới thăm bố mẹ chồng cũ của họ sau ly hôn 59

Bảng 2.9: Đánh giá của phụ nữ về nhận định “Tôi trở nên khép mình, ngại giao du với bạn bè” trong 12 tháng sau ly hôn: 60

Bảng 2.10: Kiểm định mối liên hệ giữa khu vực cư trú của phụ nữ sau ly hôn với nhận định có trở nên ít giao du với bạn bè hơn sau ly hôn hay không 61

Bảng 2.11: Mối quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với đồng nghiệp ở nơi làm việc 62

Bảng 2.12: Kiểm định mối liên hệ giữa tuổi của phụ nữ và mối quan hệ của họ với đồng nghiệp ở nơi làm việc sau ly hôn 63

Bảng 2.13: Mức độ duy trì mối quan hệ với 64

những người bạn chung của chồng cũ của phụ nữ sau ly hôn 64

Bảng 2.14: Tỷ lệ trả lời của phụ nữ với các câu hỏi liên quan đến bạn tình 65

Bảng 2.15: Kiểm định mối liên hệ giữa khu vực cư trú của phụ nữ sau ly hôn và tỷ lệ phụ nữ cố tỏ ra vui vẻ trước mặt mọi người dù thực tế không phải vậy 71

Biểu đồ 1.1: Số vụ ly hôn trên cả nước năm 2014 35

Biểu đồ 1.2: Số vụ ly hôn trên cả nước năm 2015 36

Biểu đồ 2.1: Nguyên nhân ly hôn nhìn từ góc độ phụ nữ 39

Biểu đồ 2.2: Đánh giá của phụ nữ về việc dạy và chăm sóc con sau ly hôn 46

Biểu đồ 2.3: Kiểm định mối liên hệ giữa tình trạng kinh tế của phụ nữ sau ly hôn và mối quan hệ của họ với con cái 47 Biểu đồ 2.4: Kiểm định mối liên hệ giữa tuổi của phụ nữ và mối quan hệ của họ với

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

gia đình gốc sau ly hôn 51

Biểu đồ 2.5: Kiểm định mối liên hệ giữa khu vực cư trú của phụ nữ sau ly hôn và mối quan hệ của họ với chồng cũ 54

Biểu đồ 2.6: Mức độ tới thăm bố mẹ chồng cũ của phụ nữ sau ly hôn 57

Biểu đồ 2.7: Kiểm định mối liên hệ giữa số năm ly hôn của phụ nữ 61

và mối quan hệ của họ với đồng nghiệp ở nơi làm việc sau ly hôn 61

Biểu đồ 2.8: Kiểm định mối liên hệ giữa tình trạng kinh tế của phụ nữ sau ly hôn và mối quan hệ của họ với đồng nghiệp ở nơi làm việc 63

Biểu đồ 2.9: Kiểm định mối liên hệ giữa khu vực cư trú của phụ nữsau ly hôn và việc nghĩ đến tái hôn 67

Biểu đồ 2.10: Tâm trạng của phụ nữ về cuộc ly hôn trong 12 tháng sau ly hôn 68

Biểu đồ 2.11: Kiểm định mối liên hệ giữa tỷ lệ phụ nữ vẫn buồn sau cuộc ly hôn và tỷ lệ phụ nữ cố tỏ ra vui vẻ trước mặt mọi người dù thực tế không phải vậy 70

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ly hôn là sự tan rã của hôn nhân diễn ra ở mọi xã hội, mỗi xã hội lại chấp nhậnvấn đề này ở mỗi mức độ khác nhau Theo các nhà xã hội học, ở những xã hội truyềnthống, nơi hôn nhân phục vụ lợi ích nhóm thân tộc, kiểm soát xã hội mạnh mẽ thì các

cá nhân ít đòi hỏi trong đời sống hôn nhân nên khó ly hôn [3, 93] Ly hôn chịu sự chiphối và bị quy định bởi các điều kiện kinh tế xã hội nhất định Trong chế độ phongkiến, ly hôn từng tồn tại như một đặc quyền của người đàn ông, là hệ quả của địnhkiến xã hội bất bình đẳng nam nữ Phụ nữ dễ bị chồng bỏ nhưng nếu vì lý do nào đó

họ bỏ chồng thì sẽ bị cả xã hội lên án [25, 258] Trong xã hội phương Tây hiện đại,nơi có tự do hôn nhân, hôn nhân ít mang ý nghĩa xã hội hơn Ở xã hội này, hôn nhân

là chuyện riêng của cá nhân, con người nhấn mạnh sự thỏa mãn về tình cảm và tínhdục hơn là con cái Họ kỳ vọng nhiều hơn ở nhau nên khi kỳ vọng không thực hiệnđược sẽ dễ thất vọng khiến họ rời bỏ cuộc hôn nhân không thỏa đáng để tìm sự mãnnguyện ở mối quan hệ khác Hơn nữa, sức ép từ họ hàng nhằm duy trì gia đình khôngcòn nữa nên quyết định giữ hay từ bỏ hôn nhân phụ thuộc vào bản thân đôi vợ chồngnhiều hơn, do đó hôn nhân lỏng lẻo, dễ tan vỡ hơn Đồng thời, luật ly hôn nới lỏnghơn ở nhiều xã hội cùng với sự độc lập về kinh tế và địa vị xã hội của phụ nữ đượcnâng cao đã góp phần làm tăng tỷ lệ ly hôn [3, 93]

Trong hệ thống tài liệu về ly hôn của Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứucùng hàng loạt những bài báo trên truyền thông về tình hình và nguyên nhân ly hôn

So sánh các đề tài trong mỗi thời điểm khác nhau cho thấy không có nhiều sự khácbiệt về nguyên nhân ly hôn giữa các thời kỳ Nếu Nguyễn Thanh Tâm [27, 70 - 93],qua nghiên cứu trường hợp tiến hành năm 1998 - 1999, đã đưa ra các nguyên nhânthực tế dẫn đến ly hôn là ngoại tình, ích kỷ cá nhân, tính tình không hợp, bạo lực giađình, ghen tuông, không có con trai, nguyên nhân kinh tế, ly hôn vì sự can thiệp củangười nhà, mắc tệ nạn xã hội; Trần Thị Minh Thi [33, 143] nhận định ngoại tình, khókhăn về kinh tế, nghiện rượu, mâu thuẫn lối sống, bạo lực và bạo hành gia đình là các

lý do chính làm hôn nhân tan vỡ; thì Phan Thị Luyện [18, 295] chỉ ra những lý do

Trang 8

khiến phụ nữ chấm dứt hôn nhân là tính tình không hợp, ngoại tình, ghen tuông, bạolực gia đình, phạm tội và mắc các tệ nạn xã hội, nguyên nhân kinh tế, ốm đau bệnh tật,không có con, mâu thuẫn với gia đình thông gia Có thể nói, qua các năm, với cácnghiên cứu, lý do ly hôn vẫn giữ nguyên như thế Xã hội đã quá quen thuộc với các lý

do gây ra ly hôn, nhưng tình trạng ly hôn không giảm bớt Trần Thị Minh Thi [50,106] trích dẫn số liệu thống kê tỷ lệ ly hôn tại Việt Nam tăng liên tục từ năm 2000 đếnnăm 2010, từ 51.361 vụ năm 2000 lên 65.929 vụ năm 2005, và tới năm 2010 đã lênđến 97.627 vụ

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra phụ nữ đứng đơn nhiều hơn nam giới Tổng điều tra

dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 của Tổng cục thống kê [35, 101] cho thấy, tỷ lệ

ly hôn của nữ là 1,43% cao gấp 2,4 lần so với tỷ lệ ly hôn của nam là 0,59%; khôngchỉ ở tổng số mà ở tất cả các độ tuổi từ 15 - 19 tuổi đến trên 74 tuổi Như vậy, mức độ

ly hôn của nữ cao hơn khá nhiều so với nam, cả về số lượng cũng như tỷ lệ Do namgiới có khả năng tái hôn cao hơn và có tỷ suất tử vong lớn hơn của nữ nên mới có sựchênh lệch lớn giữa hai giới như thế Theo số liệu của Tòa án nhân dân quận từ năm

2005 - 2010, Phan Thị Luyện [18, 81] cũng chỉ ra số phụ nữ đứng tên ly hôn chiếm tỷ

lệ cao nhất ở tất cả các năm trong tổng số đơn được thụ lý và giải quyết tại Tòa Nếutính trung bình, phụ nữ là nguyên đơn chiếm 47,3%, trong khi nam giới là 23,4%, đơnchung chiếm 29,3% Với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tâm [27, 93], tỷ lệ phụ nữđứng đơn xin ly hôn trong mẫu phỏng vấn sâu ước tính lên tới 80% Theo Lê Thi [32,276], nguyên nhân là bởi hiện nay, phụ nữ không còn cam chịu bị chồng bắt nạt nhưtrước đây Phụ nữ đã có sự hiểu biết hơn, được giác ngộ về quyền bình đẳng của mìnhtrong gia đình nên không chịu đựng được sự bất công của người chồng Họ có sự độclập về kinh tế trong gia đình, có nghề nghiệp nên khi quyết định xin ly hôn, họ có khảnăng tự lao động nuôi con cái một mình

Vì vậy, phụ nữ sau ly hôn là đối tượng rất cần được quan tâm nghiên cứu Đã cónhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của ly hôn nhưng khía cạnh về quan hệ

xã hội (QHXH) của phụ nữ sau ly hôn tuy có được đề cập đến nhưng chưa cụ thể.Trong khi đó, như Vũ Mạnh Lợi và Trần Thị Minh Thi đã nhấn mạnh, mạng lưới các

Trang 9

mối quan hệ xã hội có tầm quan trọng đặc biệt trong việc đảm bảo an sinh xã hội chomỗi cá nhân, mỗi gia đình [16, 96]; quan hệ xã hội sẽ góp phần giúp phụ nữ vực dậyhoặc thêm phần hỗ trợ sau ly hôn Do đó, đề tài lựa chọn chủ đề này để đem lại hướngnhìn mới về ly hôn cho độc giả, tạo nguồn tham khảo thực tiễn cho cộng đồng nóichung và cho những người đang có ý định ly hôn nói riêng; đồng thời góp phần giúpphụ nữ hòa nhập hơn với cuộc sống mới sau ly hôn Theo đề tài, khi ly hôn vẫn còn làđiều mà người ta không muốn phải nhắc lại, thì đó vẫn là một trong những vấn đềnhức nhối cần được giải quyết của xã hội.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

về tình hình ly hôn, Trần Thị Minh Thi [50, 57 - 58] trích dẫn số liệu của

Ochiai (2011) cho thấy tỷ số người ly hôn ở một số nước trên thế giới:

Bảng: Tỷ số ly hôn ở một số nước

Đơn vị: số người ly hôn/số người kết hôn

Trang 10

Tac gia chi ra theo Ochiai (2011), diem khac biet cot yeu giua ly hon d Dong A

va Chau Äu la d Chau Äu, hon nhan trd thanh quyen lua chon trong cuoc song nenban than ty le ket hon dang sut giam Ö Dong A, ty le ket hon cüng khong thap honnhieu Nhin vao ty le ket hon va ly hon d bang tren, co the thay Bäc My, Nam My vaChau Äu vuot troi hon hän, con so cao nhat d Dong A la 0,45 tai Dai Loan, 0,39 taiHong Kong va 0,36 tai Han Quoc Hon nhan d Dong A dang thay doi, nhung tai thoidiem nay ket hon van tuong doi pho bien, va moi cap doi ket hon it co kha näng ly honhon vung Tay Äu, Bäc Äu hay Bäc My, Nam My

Betty Yorburg [52, pg 193 - 194] nhäc den nghien cuu cüa Liana C.Sayer vaSuzanne M.Bianchi voi viec chi ra cac dac diem cüa nhnng phu nn co ty le ly hon caonhat: khong co kinh nghiem lam viec traoc khi ket hon; ket hon khi dang dnoi 18 tuoi;sinh con traoc dam cnoi hoac co thai vao thoi diem ket hon; khong co con hoac khong

co con trai; co bo me ly hon khi ho 14 tuoi; va co nhieu kha näng song trong cän ho dithue hon la nha rieng Ve cong viec cüa ngnoi vo, tac gia chi ra nhnng phu nn thunhap thap nhat co kha näng ly than hay ly hon gap doi so voi phu nu thu nhap cao.Phu nu lam viec 35 - 40 gio moi tuan co kha näng ly hon cao gap 4 lan so voi phu nutrung binh lam viec 20 gio mot tuan hoac it hon Nhung thu nhap täng them cüa nguoi

vo di lam khong pha hüy hanh phuc hon nhan: dac biet muc thu nhap thap co kha nängbao ton hon la de doa hon nhan Phan lon, doc lap ve kinh te da tung giup phu nu thoatkhoi hon nhan khong hanh phuc, noi su hai long ve hon nhan sut giam dan qua cacnäm va cam giac tan tuy cüng hao mon dan

Theo Anthony Giddens [46, pg 128 - 129], d hau het cac nuoc phuong Tay, ty

le ly hon da vuot troi hän so voi qua khu chi trong hai, ba thap ky Trong mot phan tuthe ky tu näm 1950 - 1975, ty le ly hon da täng toi 40% tai Phap, d muc thap nhat cüathang so lieu, va len toi 400% tai Anh, d muc cao nhat trong thang ty lệ Tất cả số liệu

Trang 11

thống kê được xử lý một cách tương đối, chúng không bao gồm những người sốngchung mà không kết hôn, hay những người đã kết hôn nhưng chia tay nhau không cóthủ tục ly hôn rõ ràng Dù sao cũng rất khó để tranh luận rằng chúng biểu thị những sựkiện thay đổi đáng kể trong gia đình hay hôn nhân ở phương Tây Có người sẽ biệnluận rằng ly hôn thể hiện sự tan rã sắp xảy ra của gia đình hạt nhân, mà trong các hìnhthái liên tiếp của gia đình đã là một hiện tượng có từ lâu đời Một vài người từ trườngphái bảo thủ nhìn viễn cảnh này với sự thất vọng, coi đó như là thước đo của một xãhội suy tàn về trách nhiệm đạo đức Số khác, với cách nhìn khá trái ngược, lại tiếpnhận chúng như là biểu hiện cho triển vọng về sự phát triển của hình thái xã hội khác,

kể từ khi họ xem gia đình về bản chất là một thiết chế đàn áp

Tương tự với trường phái bảo thủ mà Gidden nhắc đến, Mai Huy Bích [3, 98]nêu lên nhận xét của Trần Đình Hượu (1996) rằng “ly hôn bừa bãi” Tác giả cho rằngnhận xét này của Trần Đình Hượu hàm ý đánh giá tình trạng ly hôn gia tăng trong thờigian gần đây ở Việt Nam theo một quan điểm đạo đức truyền thống vốn được không ítngười tán thành, coi ly hôn như một hành động vô trách nhiệm và vô đạo đức; vàkhông dựa trên một sự tìm hiểu khách quan những cảm nghiệm mà đương sự trongmột cuộc ly hôn thường nếm trải

Về tình hình ly hôn trên thế giới, Lê Thị Quý [25, 260] đưa ra số liệu do LiênHợp quốc công bố năm 1995 cho thấy Mỹ có tỷ lệ ly hôn theo đầu người cao nhất thếgiới: 0,02%/1000 người (không tính những quốc gia cấm ly hôn) Đầu những năm

1990, có khoảng 52% người Mỹ và 42% người Canada có ít nhất một lần ly hôn trongđời Ly hôn ở Nga cũng có xu hướng tăng cao

Về tình hình ly hôn tại Việt Nam, theo Hà Việt Hùng [12, 44], tương tự nhưnhiều nước đang phát triển khác, tỷ lệ ly hôn cũng có xu hướng ngày càng tăng lên ởnước ta Theo các số liệu của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ những người đang sống ly hôn

đã tăng từ 0,9% năm 2004, lên 1,0% năm 2009 Tỷ lệ số người ly hôn là nữ nhiều gấp2,3 lần tỷ lệ số người ly hôn là nam Số người sống ly hôn hoặc ly thân ở nước ta năm

2009 có hơn một triệu người (Tổng cục Thống kê, 2010) Còn theo kết quả của cuộcTổng điều tra gia đình Việt Nam 2006, tỷ lệ ly hôn ở nước ta ở mức trên 3% Tỷ lệ ly

Trang 12

hôn tăng đã góp phần làm tăng số lượng các gia đình khuyết, chỉ có bố hoặc mẹ ởtrong xã hội Tác giả cũng nhận định ở những nước có trình độ phát triển công nghiệpcao hơn hoặc thực hiện công nghiệp hóa trước, những biến đổi mạnh mẽ về gia đìnhdiễn ra sớm hơn; ở các quốc gia này có tỷ lệ ly hôn rất cao Nếu như ở nước ta, tỷ lệ lyhôn hiện nay ước tính khoảng 5%, thì ở Nhật Bản tỷ lệ này là trên 30% vào năm 2010.Tác giả khẳng định các nhà nghiên cứu về gia đình đều có nhận xét là biến đổi giađình luôn diễn ra song hành cùng với biến đổi xã hội.

về nguyên nhân ly hôn, Betty Yorburg [52, 190 - 192] đã đưa ra sáu lý do khiến

tỷ lệ ly hôn tăng lên ở các xã hội công nghiệp trên hầu hết thế giới Thứ nhất, ông đềcập tới sự mong đợi phi hiện thực là một nhân tố trong tỷ lệ ly hôn cao, đặc biệt là ở

Mỹ - nơi mà những mong đợi về hôn nhân có khuynh hướng phi hiện thực hơn ở các

xã hội công nghiệp khác Lý do thứ hai là việc có sẵn nhiều sự lựa chọn hơn để đápứng nhu cầu vật chất; giảm sự kiểm soát của gia đình, tôn giáo và cộng đồng; sự thayđổi vai trò kinh tế của nam và nữ; những tiến bộ y tế đặc biệt là trong kiểm soát sinh

đẻ và kiểm soát bệnh hoa liễu đã trợ giúp cho lối sống thay thế Phụ nữ độc lập về thunhập hơn dẫn đến những người không hạnh phúc trong hôn nhân tăng cao khả năng lyhôn, trong khi đàn ông có thể thuê dịch vụ quản gia thay vì vợ hay các thành viênkhác trong gia đình để nấu ăn, may vá, giặt là, dọn dẹp Thứ ba là do giảm sự kiểmsoát xã hội, ông nhận định khi tính di động xã hội, tâm lý và địa lý tăng lên trong xãhội công nghiệp, ảnh hưởng từ gia đình trở nên ít độc đoán hơn, quy tắc xã hội ítmang tính ràng buộc hơn, và sự kết tội của tôn giáo ít tác động hơn trong duy trì việctuân thủ quy tắc truyền thống về bổn phận và nghĩa vụ trong quan hệ gia đình Trình

độ học vấn tăng cùng sự độc lập về kinh tế mở ra những tầm nhìn mới, cùng sự lựachọn mới và làm giảm việc tuân thủ truyền thống văn hóa Thứ tư là do thay đổi cácgiá trị với sự tăng lên về tầm quan trọng của cái tôi và chủ nghĩa cá nhân làm giảm giátrị về sự hy sinh trong quan hệ gia đình Thứ năm là do những tiêu chuẩn mới về đánhgiá chất lượng hôn nhân trong xã hội công nghiệp Những năm 1950, khi giá trị giađình còn mạnh mẽ, những lý do phổ biến nhất khiến phụ nữ ly hôn chồng họ rất rõràng và cụ thể: không hỗ trợ, phản bội, nghiện rượu, cờ bạc, lạm dụng thân thể Ngày

Trang 13

nay, các lý do trong những nghiên cứu gần đây thường bao gồm tính tình không hợp

và vấn đề phát triển cá nhân Điều này phản ánh sự thay đổi các tiêu chuẩn đánh giábạn đời và tăng sự coi trọng giá trị về hỗ trợ tinh thần trong hôn nhân đương thời.Cuối cùng, Betty đề cập đến chủ nghĩa cá nhân Ông chỉ ra các nhu cầu và mongmuốn cá nhân có sức nặng hơn trong xác định chi phí, phần thưởng và trao đổi trongquan hệ vợ chồng và trong quyết định giữ hay từ bỏ một mối quan hệ Khái niệm

“khác biệt không thể hòa hợp” trong luật ly hôn không có lỗi tác động đến xu hướng

này, khái niệm này loại trừ việc gán cho ai có lỗi trong tan vỡ hôn nhân Một số nhànghiên cứu và nhà phê bình xã hội nhận thấy rằng những tiêu chuẩn mới làm đẩymạnh lòng ích kỷ và tự ái trong quan hệ gia đình, số khác có cái nhìn tích cực hơn, họnhấn mạnh quyền tự do mới và khả năng đáp ứng cá nhân cao hơn trong hôn nhânhiện đại

Tại Việt Nam, theo Lê Thi [31, 172 - 173], nguồn gốc của ly hôn do thái độchung của nam nữ ngày nay là dành cho cá nhân “tôi” nhiều quyền hơn so với “chúng

ta - gia đình” Mọi sự không thỏa mãn trong quan hệ vợ chồng dễ dàng dẫn tới một vụ

ly dị Ly dị như đã chứa đựng sẵn trong một số cuộc hôn nhân Gia đình hậu hiện đạikhông tìm kiếm sự vững bền, mà là thỏa mãn những nhu cầu tâm sinh lý của mỗithành viên cặp đôi vợ chồng Những đôi nam nữ chung sống đánh giá thấp về đámcưới, không nghĩ rằng đám cưới bảo vệ được các quan hệ tình yêu Sự kéo dài việcchung sống lứa đôi chỉ có giá trị khi người bạn đời tiếp tục đem lại sự thỏa mãn đượcđợi chờ Họ không thể chấp nhận sự chung sống nếu sự chung sống ấy không giúp choviệc xây dựng bản tính cá nhân, cũng như việc giải quyết những mâu thuẫn cá nhân.Một sự đòi hỏi quá lớn như vậy rất khó được thực hiện Sự không thỏa mãn dẫn đến ly

dị có thể từ hai nguồn gốc khác nhau: Lòng tin vào lý tưởng cuộc sống vợ chồng hậuhiện đại rất mạnh mẽ; Hoặc đối tác (hoặc tự cá nhân) không thể tham gia vào trò chơitheo đúng yêu cầu, tham gia vào việc thực hiện những cam kết bắt buộc, hoặc do trình

độ các mâu thuẫn quá cao Tác giả khẳng định tình trạng gia đình hậu hiện đại này thểhiện chủ nghĩa cá nhân ích kỷ cao độ, sự ham muốn hưởng thụ cá nhân được đặt lên

Trang 14

trên hết Nhiều đôi nam nữ chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân trong quan hệ tình yêu, hônnhân và gia đình [31, 175].

Nguyễn Thanh Tâm [27, 79] cũng cho rằng ích kỷ cá nhân là nguyên nhân baotrùm dẫn đến ly hôn của gia đình đô thị; tính tình không hợp, ngoại tình, cờ bạc rượuchè, lối sống vô trách nhiệm hay ghen tuông bệnh hoạn xét cho cùng, cũng đều xuấtphát từ sự ích kỷ cá nhân của hai vợ chồng Tác giả nhận định việc không chỉ có đànông mà cả đàn bà sẵn sàng rời bỏ tổ ấm gia đình hiện nay cho thấy rất khó bảo toàncác giá trị truyền thống trong bối cảnh của một nền kinh tế thị trường Chủ nghĩa cánhân, lối sống ích kỷ đã nảy nở trên mảnh đất màu mỡ này và làm cho cả tình vànghĩa cũng được đem ra tính toán đong đếm

Nguyễn Thị Khoa [14, 16 - 18] đưa ra 4 nguyên nhân của các vụ ly hôn là ngoạitình; bạo lực trong gia đình; vì vấn đề tiền bạc, tài sản và vì thiếu hiểu biết văn hóaứng xử ở các đôi vợ chồng trẻ Tác giả khẳng định ly hôn là một bộ phận của mô hìnhhôn nhân Có những cuộc hôn nhân bền vững, chỉ có kết hôn, không có ly hôn, lại cónhững cuộc hôn nhân không bền vững, có kết hôn và có ly hôn Do đó, tác giả đề xuấtcác nghiên cứu về sau không nên chú trọng vào các nguyên nhân ly hôn mà cần phảitìm hiểu những người ly hôn đã đối phó với tình cảnh ly hôn như thế nào, họ đã giảiquyết những vấn đề đặt ra khi gia đình tan vỡ ra sao Đó cũng là hướng nghiên cứu mà

đề tài đang thực hiện

Về quá trình ly hôn, với việc coi ly hôn là một quá trình, Mai Huy Bích [3, 99

-101] viện dẫn nghiên cứu của Vaughan để trả lời câu hỏi: ly hôn diễn ra như thế nàohay quá trình từ gắn bó đến tách biệt, từ chung sống tới ly hôn và sống riêng ra sao.Tác giả ca ngợi đóng góp mới mẻ về lý thuyết của Vaughan với việc dùng khái niệm

“tách cặp” (uncoupling) để chỉ cách thức và quá trình mà các cặp chuyển từ quan hệthân thiết sang sống riêng Quá trình đó có cả sự cân nhắc về việc phá vỡ hôn nhân vớicái được và cái mất Vaughan coi chuyện tan rã hôn nhân xảy ra như thế nào là mộtquá trình và xem xét tất cả các bước trong quá trình này, cách thức mà các bước ấynối với nhau, và một bước này tạo điều kiện cho bước tiếp theo xảy ra Kết quả mà

Trang 15

Vaughan tìm ra được là tất cả mọi loại người đều trải qua các bước trên, và quá trìnhtan vỡ hôn nhân đều giống hệt nhau với mọi cặp đôi ly hôn.

Trần Thị Minh Thi [33, 143] cũng có cùng nhận định ly hôn là một quá trình,quá trình đó không phải dễ dàng, đơn giản, mà diễn ra đầy khó khăn và lâu dài, với sựtham gia hòa giải, tư vấn, can thiệp của các chủ thể khác nhau như gia đình, họ hàng,cán bộ thôn xã và tòa án huyện Tác giả phân tích, ly hôn không phải là một quá trìnhnhanh chóng và dễ dàng, quyết định ly hôn cũng không bao giờ là một quyết định vộivàng hay cẩu thả của một cá nhân hay một cặp vợ chồng Trái lại, ly hôn là một quátrình dài, nhiều thủ tục Trong thời gian xin ly hôn, cặp vợ chồng có vài tháng đếnhàng năm để trải nghiệm, cân nhắc, suy nghĩ lại quyết định, xem xét lại tình cảm, vàđánh giá lại sự cần thiết thông qua nhiều lần, nhiều cấp tư vấn Bên bị đơn cũng có đủthời gian để thay đổi, nếu họ mong muốn Ngay cả việc cặp vợ chồng sống ly thântrước đó, thời gian xin ly hôn cũng có thể coi là cơ hội cuối cùng để các cặp cánhân/cặp vợ chồng xem xét lại hành vi của mình [33, 135]

Về hệ quả của ly hôn, Nguyễn Thanh [28, 107 - 108] lược thuật theo ý kiến của

V.Vallepa thì hậu quả với chính những người ly hôn bao gồm: 1) Tổ chức lại mốiquan hệ giữa các cá nhân, tìm kiếm tình yêu và thiết lập quan hệ tình dục mới; 2) Khôiphục lại lòng tự trọng để vượt qua ý thức về lỗi lầm và nỗi đau đớn sau ly hôn; 3)Thay đổi thói quen và sở thích cá nhân có liên quan đến cuộc hôn nhân vừa tan vỡ; 4)Thay đổi quan hệ đối với bạn bè và người quen, mà trước đó là thân thiết của cả hai

vợ chồng; 5) Nảy sinh những phức tạp về kinh tế (thường là ở phụ nữ) do việc nhấtthiết phải kiếm sống; 6) Những vấn đề liên quan đến sự thay đổi bản thân để hiểu biết

và giải quyết các xung đột bên trong của mình, việc xây dựng lại cuộc sống mới vàhàng loạt những vấn đề liên quan đến con cái Ly hôn là một trong những mất mát lớnnhất trong cuộc sống của mỗi người đã trưởng thành Sự kiện này có ảnh hưởng rấtđặc biệt đến toàn bộ đời sống sau đó của mỗi cá nhân Số liệu bệnh nhân của các bệnhviện tâm thần đã xác nhận ly hôn là một thử thách nặng nề đối với mỗi người Người

ly hôn thường mắc bệnh tâm thần nhiều nhất (so với những người góa, những ngườisống đơn độc ) Người ly hôn thường bị tai nạn ô tô nhiều gấp ba lần những người

Trang 16

khác, họ cũng thường nghiện rượu và mắc các bệnh về thể xác hơn người thường Số

vụ tự sát của những người đã ly hôn cũng rất cao Quá trình thích nghi sau ly hônthường đặc biệt khó khăn và dài Có rất nhiều nhân tố thúc đẩy hoặc ngược lại làmphức tạp thêm quá trình này G.Spanier và R.Casto đã phân tích tỷ mỷ ấn tượng vànhững cảm xúc mạnh của 50 người được hỏi đã ly hôn Họ đã chia làm hai kiểu thíchnghi: chịu đựng, vượt qua những đổ vỡ của gia đình và sau đó tạo ra một lối sống mới.Hai ông nhận thấy rằng cuộc ly hôn của hai vợ chồng càng bất ngờ và đột ngột thìthích nghi càng khó khăn hơn Đó là chưa kể đến sự tác động của những vấn đề cóliên quan khác như việc phân chia tài sản và con cái, giải quyết các quan hệ họ hàng,kinh tế, xã hội và giới tính Theo điều tra của G.Cohen, A.Braun và R.Feldberg thì đa

số trong 30 phụ nữ được hỏi trên thực tế không muốn ly hôn Những vấn đề cơ bản

mà họ đã gặp sau ly hôn là: kinh tế khó khăn, các cơ quan chính thống không tôntrọng những người phụ nữ làm chủ gia đình, thiếu thốn thời gian và sức lực để mộtmình làm mọi việc, cảm thấy mất lòng tin và bị xã hội kết án từ mọi phía Ở nhữngngười đã ly hôn, trong quan hệ đối với người chồng cũ có không ít khó khăn, dù điều

đó có vẻ ngược đời, nhưng trên thực tế những khó khăn không bao giờ kết thúc cùngvới cuộc ly hôn Mặc dù cuộc chung sống có tính phức tạp không thể giải quyết,nhưng lại có một sức mạnh chưa từng biết tới dường như đã xô đẩy và cuốn hút họ lạivới nhau, điều đó dẫn đến quan hệ tình dục thường được tiếp tục sau ly hôn ở nhữngcặp vợ chồng cũ Đồng thời, về hậu quả đối với con cái, tác giả cũng lược thuật rằngquan hệ mẹ con trong gia đình người mẹ sống đơn độc tốt hơn những gia đình người

mẹ kết hôn lại Hậu quả hết sức bất lợi của ly hôn đặc biệt lớn đối với trẻ em ở nhữngnhóm xã hội coi trọng những chuẩn mực và sự trừng phạt chống lại ly hôn [ ]Nghiên cứu của Hexiriton đã chỉ ra rằng hai năm sau ly hôn, người mẹ cảm thấy nảnchí và trở nên độc ác, thậm chí có những quan hệ cực kỳ xấu đối với đứa trẻ [ ]Nghiên cứu thực nghiệm “Trẻ em và ly hôn” của Kelly và Valleretein cho thấy, trẻ em

từ 3, 5 tuổi đến 6 tuổi thường ý thức cao những lỗi lầm và tự hạ mình do cuộc ly hôncủa bố mẹ; trẻ em trong độ tuổi từ 7 đến 8 tuổi thường tức giận và hờn dỗi đặc biệt làvới người cha; trong độ tuổi từ 10 - 11 tuổi trẻ em cảm thấy bị bỏ rơi, bực bội và giận

Trang 17

dỗi với cả hai bố mẹ, nhiều đứa xấu hổ về những quan hệ của gia đình Chỉ trong lứatuổi từ 13 đến 18 cùng với cảm giác mất mát, hờn dỗi, trẻ em đã có khả năng nhìnnhận một cách chính xác nguyên nhân của ly hôn và quan hệ của mình với bố mẹ.Dựa trên những phân tích cho thấy trẻ em trong những gia đình vắng cha thường họctồi hơn nhưng lại không kém gì về phẩm chất tư duy trí lực Một vài tác giả Mỹ đã kếtluận rằng, vai trò của người cha - với tư cách là người trực tiếp xã hội hóa đứa trẻ - làkhông lớn, và gia đình không đầy đủ ở Mỹ là hình thức gia đình có sức sống bền vữngcũng như gia đình đầy đủ vậy Tuy nhiên phải nhận thấy việc người mẹ phải đảm nhậntất cả trách nhiệm (mà trước đó cả hai vợ chồng cùng lo) là rất khó khăn: họ phải tínhtoán ngân sách giáo dục con cái trong điều kiện không có sự ủng hộ về tình cảm vàtâm lý của người bạn đời, mặt khác lại luôn luôn cảm thấy mình có lỗi trong cuộc lyhôn và không tin vào ngày mai của đứa con mình Vắng cha rõ ràng có ảnh hưởng đếnđứa trẻ mặc dù còn phụ thuộc vào khả năng đền bù của người mẹ Ảnh hưởng đó rấttrực tiếp đến sự tự ý thức của đứa trẻ; ở lứa tuổi lớn hơn, vắng cha có ảnh hưởng tiêucực đến việc nắm vững các chuẩn mực xã hội của đứa trẻ, đến sự hình thành tâm lýcân đối của chúng.

Về nghiên cứu tại Việt Nam, Lê Thị Quý [25, 265 - 268] ví ly hôn như một cuộcgiải phẫu rất đau đớn, vết thương rồi sẽ lành nhưng không thể không để lại thươngtích Ly hôn làm tổn hao các điều kiện vật chất, sức khỏe, suy giảm khả năng laođộng, học tập của vợ chồng, con cái; làm họ thiếu hoặc mất niềm tin vào hạnh phúclứa đôi, tổn hại về tình cảm, xáo trộn cuộc sống gia đình, giảm uy tín cá nhân Theotác giả, nhiều đôi vợ chồng khi mâu thuẫn gay gắt, cố gắng giải phóng cho nhau, đểrồi khi trở lại với cuộc sống thực tại cô đơn, trống vắng, họ mới cảm nhận hết được sựđau đớn Bên cạnh đó, phụ nữ sẽ khó tìm được đối tượng mới cho mình hơn nam giới

do hoàn cảnh kinh tế và đặc điểm giới tính của họ Phần lớn họ phải đứng trước mâuthuẫn và khó khăn rất lớn mà nam giới ít gặp phải: vừa phải cố làm việc nhiều hơn để

có đủ thu nhập trang trải cho cuộc sống của mẹ và con sau ly hôn; vừa phải chăm sóccon cái và thường đắn đo tái hôn vì quyền lợi của con cái và lo lắng về mối quan hệcủa người mới với con mình Phần lớn phụ nữ mới chỉ lo được việc thỏa mãn nhu cầu

Trang 18

về vật chất và học hành cho con cái, việc gần gũi để hiểu con thì họ còn bị hạn chế dotâm lý họ không cân bằng Cũng trong tác phẩm này, tác giả khẳng định hầu hết cáccuộc điều tra xã hội học cho thấy, sự mất cân bằng trong cuộc sống của nam giớithường kéo dài hơn nữ giới sau ly hôn Qua những cơn sốc tâm lý, người phụ nữ cốgắng lấy lại thăng bằng để thích nghi với cuộc sống mới, thường là phải vì đứa connên nhanh hơn so với nam giới Nam giới phải điều chỉnh dần dần những sinh hoạt vậtchất cũng như trạng thái tinh thần vì họ thiếu bàn tay chăm sóc quen thuộc của người

vợ Ở những người có nhận thức, có bản lĩnh và nhân cách, họ định hướng mục đíchsống, xác định được vị trí độc lập tương đối của mình trong quan hệ hôn nhân, nắmđược luật pháp, vì thế khi quan hệ hôn nhân của họ không còn nữa, thì họ quyết định

ly hôn, những gì xảy ra sau đó, họ đã lường trước được về cơ bản và họ đón đợinhững điều đó với thái độ tỉnh táo, chủ động Tất nhiên, cho dù có được như vậy thì

họ vẫn đau khổ với những mất mát về gia đình [25, 260 - 261]

Mai Huy Bích [3, 97 - 98] cũng khẳng định ly hôn hầu như cũng gây nhiều đaukhổ, rất căng thẳng về tình cảm và có thể tạo ra khó khăn lớn về kinh tế tài chính, nhất

là với phụ nữ Tác giả dẫn lại nghiên cứu của Robert Weiss với việc phỏng vấn hàngloạt nam nữ ly hôn cho thấy về mặt tâm lý xã hội, ly hôn gây đau khổ cho cả hai giới.Chỉ một tỷ lệ nhỏ những người được hỏi có cảm giác khoan khoái vì được tự do và cókhả năng sống theo ý mình Trong phần lớn các trường hợp, sự tôn trọng và ưa thích

mà một cặp vợ chồng vẫn có với nhau đã mất đi trước khi họ ly thân Thay vào đó là

sự thù địch và bất tín Các cặp vợ chồng nếm trải cái mà Weiss gọi là “sự trầm cảmchia lìa” (separation distress) Việc người vợ (chồng) cũ đột ngột không cùng sốngnữa tạo nên cảm giác lo âu và hoảng loạn Sau một thời gian nào đó, cả nỗi đau khổlẫn sự khoan khoái nhường chỗ cho những cảm giác cô độc Mai Huy Bích đồng thờidẫn lời của Giddens (1989) rằng những người ly hôn cảm thấy mình đã lìa bỏ cái thếgiới gia đình yên ổn mà nhiều người khác, dù có mọi vấn đề, vẫn đang sống yên ổntrong đó Tác giả gợi ý Việt Nam nên có những nghiên cứu tương tự như thế để biếtđược người ly hôn nếm trải những gì

Trang 19

Theo Lê Thi [30, 4 - 11], với phụ nữ ly dị thì tâm tư có nhiều điểm khác nhau.Cuộc ly dị với người chồng là sự giải thoát cho họ khỏi những cảnh xung đột kéo dàitriền miên, đã làm hao tổn sức khỏe, đầu độc cuộc sống của họ Họ yên tâm bước vàoxây dựng cuộc sống mới, nuôi con một mình, còn việc xây dựng gia đình thì chưa thể

dự đoán được ra sao Có người quyết tâm không lấy chồng lần hai nữa Nhưng vớimột số chị em khác thì ly dị, kể cả ly thân là do sức ép của người chồng mà họ khônghoàn toàn tự nguyện Sau cuộc chia tay với người chồng là cả một bầu tâm tư nặng nề,oán giận, thời gian trôi đi chỉ làm họ nguôi lòng một phần Tâm tư u uất khiến họ sốngkhông thoải mái, làm ăn bị phân tán tự tưởng và luôn có những mặc cảm Nhiềutrường hợp qua ly dị, quyền lợi của người phụ nữ không được đảm bảo, chịu nhiềuthiệt thòi

Bên cạnh đó, Ngụy Hữu Tâm [26, 55] đã dẫn lại quan điểm của Moeller chorằng trước đây, với Phong trào giải phóng phụ nữ, chị em mà gặp mâu thuẫn trong giađình là đòi ly dị ngay, ngày nay thì trái lại, các chị em khi bị thất vọng trong cuộcsống lứa đôi, lại cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng Sự thay đổi này là do vào nhữngnăm 70, người ta hiểu nhầm rằng ly dị là dấu hiệu của bình đẳng nam nữ, khẳng địnhgiá trị của người phụ nữ, rằng người phụ nữ không phụ thuộc vào chồng Từ nhữngnăm 90, điều này đã thay đổi hoàn toàn: ly dị không còn là yêu sách lý tưởng nữa.Nhiều chị em đã nhận thức được rằng khi sống độc thân thì họ sẽ tự mình quyết địnhđược mọi việc, nhưng trái lại họ sẽ rất cô đơn và lúc đó họ sẽ có cảm giác là cuộcsống hoàn toàn vô nghĩa Chỉ khi đó, họ mới phát hiện lại tình yêu Nhiều người thuộcthế hệ những năm 68 cảm thấy mình bị lừa Họ sẽ tự hỏi rằng, những người cùng thế

hệ với họ, nhưng đã chịu khó lăn lộn nhiều năm với cuộc gia đình, chắc chắn sẽ sungsướng hơn họ Song song với việc đó thì từ những năm 90, xã hội đã thay đổi: ngàynay, người ta lại được phép thú nhận rằng, phải cần tới một người khác giới và người

đó cũng cần mình

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tâm [27, 96 - 120] đã chỉ ra nhiều chiều cạnh về

hệ quả của ly hôn Trong đó, về hậu quả cá nhân, tác giả khẳng định ly hôn là mộtchấn động lớn trong cuộc đời mỗi người và gây ra những thương tổn khó lòng hàngắn Những tổn hại, khủng hoảng về tâm lý tinh thần còn kéo dài nhiều năm sau ly

Trang 20

hôn, thậm chí suốt cả cuộc đời Cái khó nữa là việc thay đổi lại thói quen đã từngđược tạo ra trong thời gian chung sống như giờ giấc sinh hoạt, thói quen khi ngủ, nuôidạy con cái , những sự hụt hẫng này thường gây tâm trạng buồn nhớ, cảm giác trốngrỗng Về phương diện sức khỏe, sự bất an về tinh thần thường dẫn tới tình trạng suynhược cơ thể Các quan hệ tình cảm cá nhân giữa hai vợ chồng, giữa cha mẹ và concái, giữa người vợ/chồng với gia đình bên chồng/vợ trở nên phức tạp Về hậu quả xãhội, ly hôn gây chấn động đến tâm tư, tình cảm của mỗi người làm giảm khả năng laođộng, sức sáng tạo trong công việc Sự xé lẻ cơ sở kinh tế gia đình là bất lợi nhất bởikhông làm tăng tính tích lũy và cùng đóng góp của các bên - ngay cả khi các bên hoàntoàn thỏa mãn với phần tài sản được chia Phụ nữ thì khả năng tái hôn thấp hơn.

Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thanh Tâm đã mang cái nhìn chủ quan vào nghiêncứu với việc đề xuất giải pháp hạn chế gia tăng ly hôn là dùng dư luận xã hội để phảnđối ly hôn [27, 157], trong khi ly hôn trong một số trường hợp chính là sự giải thoátcho những người phải chịu quá nhiều đau khổ trong hôn nhân Như Trần Thị KimXuyến [39, 172] nhận định, theo các nhà xã hội học phương Tây, ly hôn là hiện tượng

đi đôi với hôn nhân tự do và thể hiện bước tiến về bình đẳng giới trong gia đình Lyhôn luôn xảy ra, được chấp nhận, coi là bình thường, ngày càng là sự giải phóng chonhững bế tắc của gia đình Họ cho rằng ly hôn là dấu hiệu lành mạnh của thiết chế giađình, một thiết chế không gò bó, cứng nhắc mà linh hoạt

Sau ly hôn, người trong cuộc đã bước sang một cuộc sống mới với điều kiệnsống khác Như Nguyễn Thị Khoa [14, 14 - 18] gợi ý cần nghiên cứu tập trung cáchcác thành viên trong gia đình ly hôn dàn xếp, điều chỉnh cuộc sống trong và sau khikết thúc hôn nhân, đề tài muốn tìm hiểu người phụ nữ đã đối mặt với cuộc sống sau lyhôn như thế nào, họ đã sắp xếp các mối QHXH của mình ra sao trong điều kiện sốngmới để có thể thực sự hòa nhập vào xã hội sau ly hôn

Nói đến nghiên cứu về QHXH ở nước ta còn rất ít, hầu hết QHXH đều đượclồng ghép vào trong một chủ đề lớn của mỗi đề tài Như Vũ Mạnh Lợi, Trần ThịMinh Thi [16, 96] đã đề cập tới QHXH thông qua việc phân tích khác biệt xã hội giữacác giai tầng về vốn xã hội mà cụ thể là mạng lưới xã hội Các tác giả khẳng địnhmạng lưới xã hội có nhiều tầng bậc, từ những người thân trong gia đình, đến bạn bè,

Trang 21

hàng xóm, rồi đến các tổ chức gần với dân, xa hơn là các cơ quan chức năng Khi gặpkhó khăn, việc dựa vào mạng lưới xã hội thường bắt đầu theo nhiều bước, từ tự giảiquyết đến dựa vào những người gần gũi với bản thân, rồi mở rộng hơn đến các tổ chứcchính thức khác khi việc giải quyết bằng các kênh phi chính thức không hiệu quả Vìvậy, mạng lưới xã hội có tầm quan trọng đặc biệt trong việc đảm bảo an sinh xã hộicho mỗi cá nhân, mỗi gia đình Áp dụng vào các tầng lớp xã hội, những tầng lớp caothường có mối quan hệ rộng lớn hơn, có nguồn lực, quyền và uy hơn, nên họ thường

có nhiều thuận lợi hơn trong việc đạt được mục đích của mình Những tầng lớp thấp,nông dân và người lao động giản đơn, thường chỉ quan hệ với những người cùng cảnhngộ, có nguồn lực hạn chế và địa vị, uy tín thấp nên thường không có tiếng nói trongcộng đồng và trong xã hội bằng những người ở tầng lớp cao Đề tài cũng tương tự, tìmhiểu mạng lưới các mối QHXH của phụ nữ sau ly hôn từ các mối quan hệ gần đến cácmối quan hệ xa, đồng thời so sánh QHXH của phụ nữ ở các đặc điểm khác nhau đểtìm ra sự khác biệt giữa các nhóm phụ nữ ly hôn

Điểm qua các nghiên cứu về ly hôn tuy nhiều nhưng chưa có đề tài nào tại ViệtNam nghiên cứu trực tiếp về QHXH của phụ nữ sau ly hôn Hầu hết các nghiên cứu

về chủ thể ly hôn đều dựa trên số liệu thống kê của Tòa án Nhân dân hay nghiên cứutrường hợp, phỏng vấn sâu Các bài báo nói về phụ nữ sau ly hôn tuy nhiều nhưngchưa có nghiên cứu định lượng nào với số lượng mẫu lớn trực tiếp khảo sát về phụ nữsau ly hôn do tính nhạy cảm của chủ đề nghiên cứu Nghiên cứu trường hợp hayphỏng vấn sâu chỉ trong phạm vi mẫu nhỏ, chưa đủ để mang tính đại diện, và thườngrơi vào tình trạng thiếu khách quan do người trả lời có xu hướng đổ lỗi cho đối tácnhiều hơn là nhận lỗi của mình Sử dụng số liệu từ Tòa án lại ít tính cụ thể, xác thựchơn do không phải cặp vợ chồng nào cũng khai đúng về tình trạng gia đình họ Việc

sử dụng số liệu thống kê định lượng từ nghiên cứu “Vấn đề ly hôn trong xã hội Việt

Nam hiện đại ” do Viện Xã hội học chủ trì được thực hiện năm 2017 sẽ giúp đề tài

khắc phục được điểm yếu của các dạng nghiên cứu kể trên Do đó, đề tài lựa chọn chủ

đề QHXH của phụ nữ sau ly hôn với mong muốn lấp đầy lỗ hổng trong mảng nghiên

Trang 22

cứu về ly hôn; qua đó tìm hiểu cách phụ nữ điều chỉnh bản thân trong các mối QHXH

để hòa nhập vào cuộc sống mới sau ly hôn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu quan hệ xã hội của phụ nữ sau ly hôn nhằm đem lại cái nhìn mới về lyhôn cho độc giả, tạo nguồn tham khảo thực tiễn cho cộng đồng nói chung và chonhững người đang có ý định ly hôn nói riêng; đồng thời góp phần giúp phụ nữ hòanhập hơn với cuộc sống mới sau ly hôn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với con cái

- Tìm hiểu quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với gia đình gốc, gia đình chồng cũ

- Tìm hiểu quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với bạn bè, đồng nghiệp

- Nêu khuyến nghị, giải pháp nhằm tạo sự ổn định, tăng khả năng hòa nhập vànâng cao chất lượng cuộc sống cho người phụ nữ

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu quan hệ xã hội của phụ nữ sau ly hôn thông qua việc nghiêncứu khách thể là những phụ nữ đã từng ly hôn, thành viên gia đình của phụ nữ đã từng

ly hôn, một số cán bộ địa phương có liên quan và một số người đã kết hôn tại các địabàn khảo sát đã chọn

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Luận văn được thực hiện từ năm 2017 - 2018

- Về địa bàn khảo sát: Luận văn sử dụng một phần số liệu trong bộ số liệu màluận văn được cho phép sử dụng, bộ số liệu này chưa từng được công bố (sẽ đượctrình bày rõ trong mục Phương pháp nghiên cứu), đó là các mẫu nghiên cứu tại nộithành Hà Nội là quận Cầu Giấy và khu vực ngoại thành là Đường Lâm, Tây Sơn

- Về nội dung: Tìm hiểu việc duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội củaphụ nữ sau ly hôn và những yếu tố tác động, đồng thời đề xuất giải pháp nâng caochất lượng cuộc sống của người phụ nữ sau ly hôn

Trang 23

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài sử dụng phương pháp luận theo chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx Lenin, kết hợp áp dụng cách tiếp cận theo thuyết hành động xã hội (HĐXH), cách tiếpcận theo thuyết tương tác xã hội (TTXH) và cách tiếp cận theo thuyết nữ quyền vàonghiên cứu

-Theo từ điển Triết học, quan hệ là yếu tố cần thiết trong mối liên hệ qua lại giữamọi hiện tượng, do sự thống nhất vật chất của thế giới quyết định Quan hệ giữa các

sự vật cũng khách quan như bản thân các sự vật vậy Các sự vật không tồn tại ở ngoàiquan hệ, quan hệ bao giờ cũng là quan hệ của các sự vật Sự tồn tại của bất kỳ một sựvật nào, những đặc điểm và đặc tính riêng của những sự vật đó, sự phát triển củachúng tùy thuộc vào toàn bộ mối quan hệ của chúng đối với các sự vật khác của thếgiới khách quan Bản thân những đặc tính tất yếu vốn có của một quá trình hay một sựvật nào đó, chỉ thể hiện ra trong mối quan hệ của chúng với những sự vật và quá trìnhkhác Sự phát triển của hiện tượng dẫn đến sự thay đổi mối quan hệ của hiện tượngnày với những hiện tượng khác, đến sự mất đi một số hiện tượng này với sự xuất hiệnmột số hiện tượng khác Mặt khác, việc thay đổi toàn bộ những mối quan hệ mà trong

đó sự vật đang tồn tại, có thể dẫn đến chỗ làm thay đổi sự vật đó Các quan hệ cũngnhiều vẻ giống như các sự vật và những đặc tính của chúng Cần phải phân biệt mốiquan hệ bên trong của những mặt khác nhau, đặc biệt là của những mặt đối lập củakhách thể và những mối quan hệ qua lại bên ngoài của khách thể này với những kháchthể khác Đồng thời cần chú ý, thứ nhất, đến tính tương đối trong sự phân biệt nhữngquan hệ bên trong và bên ngoài; thứ hai, đến những sự chuyển hóa lẫn nhau củachúng; và thứ ba, đến tình hình là những quan hệ bên ngoài phụ thuộc vào những quan

hệ bên trong, là sự biểu hiện và sự bộc lộ những quan hệ bên trong Các QHXH cótính chất đặc biệt Con người có quan hệ với những sự vật họ tạo ra, với thế giới kháchquan và với những người khác Do đó, con người soi thấy bản thân mình trong cái thếgiới mà họ khám phá ra và bắt đầu quan hệ với bản thân mình với tính cách là một conngười (có sự tự ý thức) chỉ khi có quan hệ với người khác như với một cái gì giốngvới bản thân mình Chính điều đó, một mặt, giải thích bản chất xã hội của ý thức con

Trang 24

người; mặt khác, giải thích sự cần thiết phải nghiên cứu các QHXH để nhận thức lịch

sử [ ] Phần cơ bản trong lý thuyết về quan hệ là tính toán các quan hệ, gắn với lýthuyết về các lớp Ở đây người ta nghiên cứu các mối liên hệ giữa các quan hệ và cácphép toán về chúng, xác lập những quy luật nhờ đó mà từ những quan hệ này có thểrút ra được những quan hệ khác [21, 476 - 477]

Cũng theo từ điển Triết học, QHXH là những mối quan hệ giữa người vớingười, hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn và tinh thần chung của họ; người

ta chia các QHXH thành những quan hệ vật chất và quan hệ tư tưởng Việc sản xuất racủa cải vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người Vì vậy, trong tất cảcác QHXH thì các quan hệ sản xuất, kinh tế là quan trọng nhất Quan hệ sản xuất quyđịnh tính chất của tất cả mọi QHXH khác - chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo Việc hiểu được những sự phụ thuộc của tất cả các QHXH vào các quan hệ sản xuất,lần đầu tiên đã cho phép giải thích một cách khoa học những quy luật phát triển lịch

sử của xã hội [21, 479]

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành và chuyên ngành

Ly hôn là một hiện tượng xã hội đặc biệt, đa dạng trong nguyên nhân và ảnhhưởng đa chiều không chỉ với người trong cuộc mà còn với nhiều thành viên kháctrong gia đình và xã hội Bởi tính chất phức tạp nên vấn đề này cần được nghiên cứu

từ cách tiếp cận phức hợp liên ngành như xã hội học, tâm lý học, dân số học nhằm cắtnghĩa được các chiều cạnh khác nhau trong chủ đề nghiên cứu Mỗi ngành khoa họccho phép nghiên cứu vấn đề từ góc độ chuyên môn sâu

5.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu

Đề tài phân tích và xử lý số liệu từ nghiên cứu “Vấn đề ly hôn trong xã hội Việt

Nam hiện đại ” do Viện Xã hội học chủ trì được thực hiện trong năm 2016 - 2018 tại

3 tỉnh/thành phố là Hà Nội, Khánh Hòa, Tiền Giang Đề tài này là sản phẩm của Đềtài thuộc Chương trình Khoa học Công nghệ trọng điểm cấp Bộ “Nghiên cứu, đánhgiá tổng thể về gia đình thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”.Tổng số mẫu nghiên cứu trong đề tài này là 900 Luận văn đã được sự cho phép của

Chủ nhiệm đề tài Vũ Mạnh Lợi (có văn bản kèm theo) để sử dụng một phần số liệu từ

nghiên cứu Trong đó, luận văn sử dụng mẫu nghiên cứu là 93 phụ nữ ly hôn tại

Trang 25

Hà Nội Đồng thời đề tài cũng sử dụng 4 kết quả phỏng vấn sâu (PVS) của nghiên cứu Tất cả phân tích, thông tin, xử lý số liệu đều do luận văn thực hiện độc lập, không hề dựa trên đề tài có sẵn của Vũ Mạnh Lợi Do đề tài này chưa được công

bố nên luận văn không thể đưa các mục bảng hỏi và biên bản phỏng vấn sâu vào trình bày kèm luận văn Đề tài của Viện Xã hội học này là nghiên cứu đầu tiên có

quy mô lớn về ly hôn ở Việt Nam Nhờ vậy, số liệu thu được mang tính bao quát và cụthể hơn so với mặt bằng các nghiên cứu về ly hôn tại Việt Nam Đổng thời, đề tàiphân tích các bài báo khoa học, sách, luận văn, luận án, các văn bản, bài viết, trangweb có liên quan tới vấn đề nghiên cứu để làm sáng tỏ cho đề tài của mình

5.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Tác giả đề tài trực tiếp tham gia các cuộc khảo sát nam giới và nữ giới ly hônbằng phiếu hỏi hộ gia đình nhằm thu thập thông tin sơ cấp tại Đường Lâm và CầuGiấy, Hà Nội Nhờ vậy, tác giả có được cái nhìn khách quan hơn khi phân tích các sốliệu thu được Đồng thời, việc phỏng vấn trực tiếp giúp tác giả có cơ hội tiếp xúc trựctiếp với đối tượng nghiên cứu, thấu hiểu họ và đánh giá được bao quát đối tượng hơn.Phương pháp thu thập thông tin định lượng này kết hợp với thu thập thông tin địnhtính sẽ làm cơ sở cho việc nghiên cứu so sánh và đề xuất giải pháp cho vấn đề nghiêncứu

5.2.4 Phương pháp phân tích thống kê so sánh

Đề tài so sánh tình trạng các mối quan hệ sau ly hôn của phụ nữ giữa theo các đặc điểm khác nhau của các đối tượng phụ nữ để có những phân tích, nhận định sâu sắc hơn về những yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Thực hiện đề tài, tác giả mong muốn được đóng góp vào tri thức lý luận chungtrong việc nghiên cứu Các bằng chứng từ thu thập bằng phương pháp định lượng vàđịnh tính sẽ góp phần phân tích, giải thích một cách khoa học về vấn đề quan hệ củaphụ nữ sau ly hôn Đề tài góp phần bổ sung, mở rộng quan điểm lý luận, cách tiếp cận

Trang 26

nghiên cứu, lý thuyết về quan hệ xã hội và ly hôn; đóng góp thêm khái niệm mới, cáchnhìn mới trong chủ đề nghiên cứu.

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu giúp người đọc nhận thấy rõ thực trạng vấn đề, đánh giá khách quan

về kết quả đạt được, từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp Luận văn cũng có thểđược sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những tổ chức, cá nhân quan tâm đến vấn đềnày Đề tài góp phần làm sáng tỏ cuộc sống sau ly hôn của phụ nữ, đóng góp cái nhìnmới về quan hệ xã hội và ly hôn; cung cấp bằng chứng thực tiễn từ việc khảo sát thực

tế QHXH của phụ nữ sau ly hôn, qua đó bổ sung nguồn tham khảo về hệ quả của lyhôn, giúp phụ nữ sau ly hôn hòa nhập với điều kiện sống mới

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của đề tài bao gồm 4 phần:

- Phần thứ nhất là phần mở đầu

- Phần thứ hai là chương 1 bao gồm: câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết, khung phântích, các khái niệm chủ chốt, các lý thuyết vận dụng để giải thích nghiên cứu vàkhái quát tình hình ly hôn tại Việt Nam cùng giới thiêụ địa bàn khảo sát

- Phần thứ ba là chương 2 bao gồm:

2.1 Đặc điểm của phụ nữ ly hôn

2.2 Quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với con cái

2.3 Quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với hai bên gia đình

2.4 Quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với bạn bè, đồng nghiệp

2.5 Nhu cầu, mong muốn của phụ nữ đối với các mối quan hệ xã hội sau ly hôn

- Phần thứ tư là kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích

1.1.1 Câu hỏi nghiên cứu

• Sau ly hôn, quan hệ của người phụ nữ với con được duy trì như thế nào?

• Sau ly hôn, quan hệ của người phụ nữ với hai bên gia đình có gì khác trướckhông?

• Sau ly hôn, quan hệ của phụ nữ với bạn bè, đồng nghiệp có những thay đổi gì?

Trang 27

1.1.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Sau ly hôn, con cái của phụ nữ ít nghe lời họ hơn so với lúc trước ly hôn

- Có sự khác biệt trong việc duy trì quan hệ với gia đình cha mẹ đẻ và cha mẹchồng cũ của người phụ nữ sau ly hôn

- Sau ly hôn, hầu hết phụ nữ trở nên ngại giao thiệp với bạn bè hơn Đồng thời,với phần lớn phụ nữ, mối quan hệ của họ với đồng nghiệp tại nơi làm việc không thayđổi so với lúc trước ly hôn

1.1.3 Khung phân tích

1.2 Một số khái niệm nghiên cứu

1.2.1 Quan hệ xã hội (social relationship)

Theo Từ điển Xã hội học của Gunter Endruweit và Gisela Trommsdorff, QHXHđược hiểu là tương tác và cấu trúc ảnh hưởng tồn tại giữa người với người hay giữangười và nhóm Về nguyên tắc, quan hệ này được phân biệt theo thời gian (ngắn hạn,dài hạn); nội dung (tính hấp dẫn, hung bạo, vị tha, phân chia quyền lực); hậu quả (tốithiểu, tối đa); cường độ (phạm vi lớn, nhỏ); mức độ cam kết (tự nguyện, không tựnguyện); và số người liên quan (hai hay nhiều hơn) Các mô hình tương tác toàn bộ,

Trang 28

các mô hình ứng xử giữa các cá nhân hay các mô hình ảnh hưởng, dù được gọi thế nàochăng nữa, chúng đều được phát triển trong mối liên quan đến đề tài này, và nói chungđược coi là nỗ lực quan tâm thật nhiều tới các góc độ quan hệ vừa nêu nhưng vẫnkhông thể thực hiện được đòi hỏi có tính ảo tưởng là xây dựng một mô hình chungcho QHXH [8, 396] Từ điển chỉ ra các QHXH được chi phối bởi các chuẩn mực vàquy tắc không chỉ biểu hiện trên các cách ngôn lý thuyết trao đổi, mà theo đó lợi ích

và chi phí hoặc chỉ riêng lợi ích của một quan hệ là chỉ thị cho tính ổn định của quan

hệ đó tốt hơn là những tương quan lợi ích - chi phí được cân nhắc và đã được các họcthuyết công bằng công bố Tính tương hỗ trong cảm xúc ở quan hệ người với người làmột trong các yếu tố giúp bảo đảm quan hệ đó bền vững Quan trọng hơn giới tính,cảm giác gắn bó và tương trợ lẫn nhau là cảm xúc, biểu hiện tình cảm và tự bộc lộ -sẵn sàng trao cho người kia những ý nghĩa và cảm xúc thầm kín nhất Việc trong bốicảnh các công trình đó cũng nghiên cứu những dự án, phương diện và học thuyết củatình yêu bên ngoài các tiên đề cách mạng xã hội, coi tình yêu trước tiên là tiến hóasinh học mà qua đó bảo đảm việc nuôi dưỡng ân cần hậu thế, cần được hoan nghênhvới tư cách là giải phóng điều kiêng kỵ của một đề tài và giải phóng cho nghiên cứukhoa học xã hội Những quyền ưu tiên vừa nêu trong quan hệ tích cực giữa người vớingười, nếu hiểu theo nghĩa tiêu cực cũng chính là nguyên nhân cho thất bại trong quan

hệ Sự gia tăng tỷ lệ ly hôn được thấy trên phạm vi thế giới rõ ràng cũng là nguyênnhân để làm cho mối quan tâm khoa học xã hội tới quan hệ người với người không chỉgiới hạn ở việc mô tả hay phân tích quan hệ thể đôi tích cực hay tiêu cực, mà ngoài racòn hướng vào việc xây dựng, chẩn đoán và điều trị các quan hệ thất bại [8, 399].Khái niệm QHXH đặc biệt thường có ở các lý thuyết cũ một vai trò cơ bản trong xãhội học tổng quan Ở Max Weber, QHXH là “ứng xử với chính mình của nhiều người,theo nội dung ý nghĩa đã được hiệu chỉnh và qua đó định hướng lần lượt songphương” Với Leopold von Wiese, QHXH còn có nghĩa nhiều hơn là khái niệm cơbản nhất của toàn bộ ngành xã hội học, ông hiểu xã hội học hoàn toàn là học thuyết vàcác mối liên quan Từ đó, ông định nghĩa ngay cả đến các tổ chức cũng là mạng lướicủa quan hệ và coi QHXH là phương diện động lực của xã hội [8, 400]

Trang 29

Theo Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện [38], QHXH là thuật ngữmarxit chỉ các quan hệ giữa người và người trong xã hội, được thiết lập trong quátrình cùng nhau hoạt động vật chất và tinh thần Do sản xuất của cải vật chất là cơ sởtồn tại và phát triển của xã hội, nên các quan hệ sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất,chi phối các QHXH khác Những người marxit phân biệt hai loại QHXH chính:QHXH về mặt vật chất và QHXH về mặt tinh thần (các hình thái ý thức xã hội) Mỗiloại quan hệ ấy lại bao gồm những loại quan hệ nhỏ hơn Một số nhà xã hội họcphương Tây cũng dùng khái niệm QHXH, nhưng với những cách hiểu khác về nộidung và hệ thứ bậc của chúng.

Theo Từ điển Xã hội học của Thanh Lê, mối QHXH là yếu tố đầu tiên của sựtiếp xúc tâm lý Sự quan tâm lẫn nhau xây dựng trên cơ sở nhận thấy đối tượng, nhận

rõ nguyên nhân của sự quan tâm, thừa nhận và chấp nhận là có lý và biểu hiện sẵnsàng tới một mức độ nhất định sự quan tâm lẫn nhau, đáp ứng với nhu cầu của mỗibên Sự tiếp xúc tâm lý đôi khi chỉ diễn ra một chiều, như nhà doanh nghiệp thuê côngnhân nhưng không gặp người công nhân bao giờ Đề cập đến vấn đề này, chúng tađụng đến hai xu hướng: 1, xu hướng tâm lý, khẳng định xã hội học có nhiệm vụ phảinghiên cứu những quá trình phát sinh trên cơ sở tác động tương hỗ trực tiếp; 2, phảiloại trừ mọi biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan Thật ra, hai xu hướng đó đều cần thiết

và quan trọng trong đời sống xã hội Sự tiếp xúc xã hội là nhân tố quan trọng của đờisống xã hội Không có hay thiếu vắng sự tiếp xúc cá nhân sẽ tạo nên hiện tượng cô lập

về mặt xã hội hoặc sống trong cảnh cô đơn Nhiều nhà xã hội học và tâm thần học chorằng việc giới hạn những tiếp xúc xã hội là nguồn gốc của nhiều hiện tượng tiêu cựcbộc lộ trong các xã hội hiện đại và trước hết là nguyên nhân của mọi nguyên nhân phá

vỡ nghiêm trọng tính nhất thể hóa của nhân cách con người Sự tác động tương hỗ dẫnđến sự hình thành các QHXH ổn định Trên cơ sở đó hình thành hệ thống kiểm soát xãhội Trong QHXH, ta thường gặp ba hiện tượng: thói quen, tập tục và hệ thống răn đe.Thói quen là một hình thức xử sự được xác định mà không vấp phải sự phản ứng nào.Tập tục là phương thức xử sự được quy định với các giá trị đạo đức nhất định, việcphá vỡ tập tục gây ra sự răn đe âm tính [ ] Các giá trị ấy có một tầm quan trọng nhất

Trang 30

định vì không tôn trọng các tập tục đó sẽ phá vỡ đoàn kết nội bộ, đặc biệt là phá vỡ tốchất văn hóa, đạo đức của xã hội Sự răn đe là sản phẩm của cộng đồng, chỉ đạo cách

xử sự cho đúng với truyền thống văn hóa của dân tộc, chặn đứng những hành vi tiêucực trong xã hội để đảm bảo sự đoàn kết, luật pháp nhà nước và tính liên tục của đờisống xã hội; sự răn đe có thể là âm tính (sự trừng phạt) hoặc dương tính (sự khuyếnkhích) [15, 247 - 249]

Theo cuốn Xã hội học do Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng đồng chủ biên [4,

157 - 161], QHXH là quan hệ bền vững, ổn định của các chủ thể hành động Các

quan hệ này được hình thành trên những TTXH ổn định, lặp lại Các tác giả khẳng

định tuy quan hệ tình cảm thuần túy - quan hệ sơ cấp thường được dùng để đối lập vớiQHXH - quan hệ thứ cấp, nhưng quan hệ tình cảm như quan hệ trong gia đình, họhàng cũng là một loại QHXH, cũng có cơ chế hình thành giống như các loại QHXHkhác là dựa trên sự tương tác lâu dài, ổn định của các chủ thể hành động Do đó, trongnghiên cứu này, đề tài cũng lựa chọn phân tích QHXH của phụ nữ bao gồm cả cácquan hệ thuần túy Bên cạnh đó, các tác giả trong cuốn sách này cũng nhấn mạnhQHXH không thể tách rời khỏi TTXH và HĐXH Phân tích HĐXH là để hiểu vềTTXH và QHXH Vì vậy, đề tài lựa chọn các lý thuyết HĐXH và lý thuyết TTXH đểgiải thích cho nghiên cứu

1.2.2 Ly hôn

Theo Điều 3 mục 14 Luật Hôn nhân và Gia đình [42], ly hôn là việc chấm dứtquan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Như vậy,với khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, những trường hợp ly hôn có chứng nhận phápluật của Tòa án mới nằm trong đối tượng nghiên cứu Những trường hợp vợ chồngtách cặp, không chung sống với nhau nữa nhưng chưa đăng ký kết hôn thì không nằmtrong phạm vi đối tượng nghiên cứu Những trường hợp đã được Tòa án giải quyếtcho phép ly hôn, dù họ vẫn chung sống một nhà hay vẫn ăn chung cũng vẫn được coi

là trường hợp ly hôn

Theo Từ điển Xã hội học Oxford, ly hôn là sự hủy bỏ chính thức về mặt pháp lý

một cuộc hôn nhân theo luật pháp Những điều kiện cần thiết để chấm dứt một cuộc

Trang 31

hôn nhân bằng cách ly hôn là rất khác nhau tùy theo nền văn hóa và theo thời gian.Trong một số xã hội, quyền giữa đàn ông và đàn bà trong vấn đề ly hôn vẫn còn rấtkhông bình đẳng, nhưng trong các xã hội phương Tây đã xuất hiện xu hướng tiến tớiviệc chấp nhận ý tưởng về sự đổ vỡ không thể cứu vãn của một cuộc hôn nhân như là

lý do thích hợp để ly hôn Một trong những xu hướng quan trọng nhất trong sự thứctỉnh của phong trào đòi tự do hóa luật ly hôn đó là tỷ lệ ngày càng tăng những cuộc lyhôn do phụ nữ chủ động khởi xướng Thêm vào đó, cần lưu ý là những định nghĩa vềhôn nhân và ly hôn cũng rất khác nhau Trong các xã hội phương Tây ngày nay, lyhôn ngày càng trở thành điểm kết thúc đơn thuần của những giai đoạn ly thân kéo dàigiữa hai bên, ly hôn làm cho thủ tục pháp lý ngày càng ít ý nghĩa hơn Ở Hoa Kỳ và ởAnh trong hai thập niên vừa qua, sự lo ngại tỷ lệ ly hôn ngày càng tăng thường hay đạtđến một trạng thái hoảng loạn đạo đức Người ta thường tuyên bố rằng nếu tỷ lệ lyhôn hiện tại vẫn cứ tiếp tục, thì cứ ba cuộc hôn nhân sẽ có một cuộc kết thúc bằng ly

dị Tuy vậy, những tính toán này cần phải được xem lại vì tỷ lệ tái hôn tương đối caotrong số các cặp ly dị, và xu hướng ngày càng tăng của các cuộc hôn nhân thực tế(sống chung) hơn là sự kết hợp được chính thức hóa bằng luật pháp trong những nhóm

có nguy cơ ly hôn cao (ví dụ nhóm trẻ) Dĩ nhiên, những con số thống kê không nóiđược gì về những khó khăn

xã hội và sự suy sụp nhân cách mà nhiều người phải trải qua do tác động của ly hôn,trong đó có con cái của các cuộc hôn nhân đổ vỡ Những thống kê khác được công bốrộng rãi cho thấy, với tỷ lệ ly hôn như hiện tại, thì cứ một trong năm đứa trẻ ở Anh,khi bước vào độ tuổi 16 sẽ phải chịu đựng sự ly hôn hay ly thân của cha mẹ chúng.Trong cuốn “Nguồn gốc xã hội của sự chán nản” (Social Origins of Depression,1978), George Brown và Tirril Harris xác định sự ly hôn của cha mẹ là một trongnhững sự kiện gây stress mạnh nhất trong cuộc đời mà những người phụ nữ bị cácchứng chán nản loạn tâm thần thường phải chịu đựng Tác hại đối với những người lyhôn mà phải tranh chấp luật pháp về con cái và nhà cửa cũng được chứng minh khá rõràng về mặt tư liệu [37, tr 281 - 282]

Trang 32

Theo Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện, ly hôn là sự tan vỡ các quan

hệ hôn nhân và gia đình về mặt tình cảm, kinh tế và pháp lý Ly hôn - một hiện tượng

xã hội phức tạp, có những ý nghĩa tích cực và tiêu cực khác nhau, bắt nguồn từ nhiềunguyên nhân khác nhau Trong các xã hội truyền thống, nói chung ly hôn bị coi làđiều xấu về đạo đức và điều cấm về pháp lý, nhất là của người vợ Trong các xã hộihiện đại, luật pháp quy định sự bình đẳng nam nữ trong hôn nhân và cả trong ly hôn.Trên thực tế, ở một số nước hiện nay, người vợ chủ động xin ly hôn với người chồng

là phổ biến (có khi chiếm tới 80% số vụ ly hôn) Ly hôn không chỉ là một hiện tượng

có liên quan với các cá nhân, mà còn là dấu hiệu không bình thường của các QHXH.Những vấn đề nuôi dạy con cái, nhà ở, việc làm do ly hôn đẻ ra - nhất là trongtrường hợp tỷ lệ ly hôn cao - đặt cho xã hội những vấn đề phức tạp phải giải quyết Lyhôn có ảnh hưởng tới tái sản xuất định cư, vì nói chung, lứa tuổi xảy ra ly hôn nhiềunhất (20 - 30) cũng là lứa tuổi có khả năng sinh đẻ và nuôi con tốt nhất, cũng như vìnhững phụ nữ ly hôn không phải bao giờ cũng có thể lấy chồng mới Về mặt xã hội,không thể chống tình trạng ly hôn một cách đơn giản, nhưng có thể tác động về nhiềumặt (mức sống, điều kiện ở, đạo đức, văn hóa ) để hạn chế tỷ lệ ly hôn [38, tr 180 -181]

1.3 Các lý thuyết sử dụng

1.3.1 Lý thuyết hành động xã hội

Quan hệ xã hội được hình thành từ tương tác xã hội, tương tác xã hội có tiền đề

là các hành động xã hội Vì vậy, QHXH phải gắn liền với TTXH và HĐXH Phân tíchHĐXH cũng chính là để hiểu được về bản chất TTXH và QHXH Do đó, đề tài vậndụng lý thuyết HĐXH để phân tích chủ đề nghiên cứu

Các lý thuyết xã hội học về hành động có nguồn gốc từ V Pareto, M Weber, F.Znaniecki, G Mead, T Parson và nhiều nhà xã hội học khác Những lý thuyết này đềucoi HĐXH là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã hội, đồng thời là cơ sở củađời sống xã hội [4, 129]

Max Weber là tác giả điển hình của lý thuyết này Ông phủ nhận quan điểm thựcchứng coi xã hội và con người tuân theo các quy luật tự nhiên, mà khẳng định thế giới

Trang 33

xã hội do con người tạo ra bằng nhận thức duy lý của chính con người Ông cho rằngnhà xã hội học phải nghiên cứu cách thức con người QHXH như thế nào thông quaHĐXH của cá nhân Trong QHXH, con người phải thực hiện các HĐXH trên nguyêntắc thông hiểu tức là thấu hiểu tình huống hành động, động cơ, mục đích, phương tiệnhành động trên cơ sở của tri thức kinh nghiệm [23, 43 - 44] Khái niệm HĐXH theoWeber là loại hành động cá nhân mang ý nghĩa chủ quan để lý giải về tính hợp lý củamối quan hệ giữa phương tiện với mục đích của hành động trên cơ sở định hướng vàtính toán, chờ đợi phản ứng đáp lại từ phía đối tác HĐXH là loại hành động tươngquan với hành động của người khác, định hướng vào hành động của họ theo ý nghĩachủ quan của chủ thể [23, 49] Theo Weber, xã hội học là khoa học về sự thông hiểuHĐXH và giải thích nguyên nhân, kết quả của HĐXH đó HĐXH là hành vi với ýnghĩa chủ quan của cá nhân tác động vào người khác để đạt mục đích của mình trên

cơ sở định hướng và lý giải ý nghĩa của hành vi đáp lại từ phía người khác [23, 50 51] Khi chủ thể thực hiện một HĐXH, đó đều là hành động có mục đích của chủ thể,

-họ gán cho hành động đó một ý nghĩa chủ quan theo ý -họ, và -họ cho rằng phía đối tác

sẽ phản ứng lại hành động của họ theo cách mà họ đã định hướng, đã xác định từtrước

Parson chỉ ra HĐXH khác với hành động vật lý, hành động bản năng sinh học ở

ba dấu hiệu Thứ nhất là HĐXH bị điều chỉnh bởi hệ thống biểu tượng như ngôn ngữ,giá trị mà các cá nhân dùng trong tương tác hàng ngày Thứ hai là HĐXH của cánhân phụ thuộc vào hệ thống các giá trị, chuẩn mực chính thống của xã hội Thứ ba làHĐXH có tính duy lý thể hiện ở việc chúng ta có những độc lập nhất định khi hànhđộng một cách chủ quan Nhận định một tình huống hay hoàn cảnh là như thế nào là

do ý thức của cá nhân chúng ta Nhận định chủ quan của cá nhân khi hành động có thể

có những mức độ phù hợp khác nhau so với hoàn cảnh thực Nhận định đó có thểđúng hoặc sai đối với mỗi tình huống [4, 133 - 135]

Về cấu trúc của HĐXH, giữa các thành tố trong đó có mối liên quan hữu cơ vớinhau Thành phần đầu tiên trong cấu trúc của HĐXH là động cơ và mục đích của hànhđộng Nhu cầu của chủ thể tạo ra động cơ thúc đẩy hành động để thỏa mãn nó Động

Trang 34

cơ này tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham gia định hướng hành động và quy địnhmục đích của hành động - tức là kết quả đã được hình dung từ trước Thành tố tiếptheo của HĐXH là chủ thể, để có một HĐXH cần phải có tối thiểu một chủ thể Mộtthành tố khác là hoàn cảnh hoặc môi trường của hành động Tùy theo hoàn cảnh hànhđộng, các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất đối với họ [4, 135 -137].

Mặc dù HĐXH là có chủ định nhưng chúng vẫn đem lại nhiều hậu quả khôngchủ định cho các chủ thể hành động Cho dù các cá nhân rất thông minh, rất hiểu biếtthì họ cũng không bao giờ có thể nhận diện được đầy đủ và chính xác hoàn toàn vềmôi trường xung quanh Do sự duy ý chí trong hành động của mình mà chủ thể có thểkhông có được sự phù hợp giữa nhận định tối ưu của họ về hoàn cảnh với thực tế hoàncảnh diễn ra [4, 138 - 139]

Về việc giải thích các HĐXH dựa trên các yếu tố quy định HĐXH, dù có mốiliên hệ giữa đặc điểm cơ thể, cấu tạo, thể hình của cơ thể với một số kiểu loại hành vinào đó thì chúng vẫn chưa đủ để giải thích sự đa dạng của các HĐXH Các nhà xã hộihọc K Davis, P Berger, T Luckmann cho rằng quá trình xã hội hóa quy định HĐXHcủa các cá nhân Một quan điểm khác cho rằng cơ cấu xã hội quy định

HĐXH Cơ cấu xã hội là một tập hợp phức tạp các QHXH, vị trí xã hội và tương ứngvới chúng là các vị thế, vai trò Mỗi cá nhân trong xã hội thường có nhiều vị trí xã hội,vai trò xã hội khác nhau Nhưng trong một mối QHXH, cá nhân chỉ có thể giữ một vịtrí xã hội và thực hiện một vai trò Các cá nhân luôn có xu hướng hành động phù hợpvới vị thế và vai trò của họ trong từng mối QHXH trong cơ cấu xã hội Khi hànhđộng, ta có thể thấy áp lực vô hình của cơ cấu xã hội trong việc thực hiện các vai tròcủa mình Với cách giải thích coi HĐXH là sự trao đổi xã hội, chính những mối lợi,phần thưởng và hình phạt quy định HĐXH Mọi chủ thể chỉ hành động nếu như trongquá khứ hành động đó được lợi, được thưởng, và họ sẽ không hành động nếu các hànhđộng này trong quá khứ đã bị phạt, bị thiệt thòi Một cách giải thích khác là HĐXH là

sự tuân theo, các cá nhân khi thấy hành động (quan điểm) của mình khác với số đôngtrong nhóm, đặc biệt là nhóm nhỏ, thì họ có xu hướng thay đổi hành động (quan điểm)

Trang 35

theo số đông Họ làm vậy để yên tâm rằng họ giống người khác, hành động của họ làđúng, là chuẩn Với cách giải thích HĐXH là phản ứng với xung quanh, theo quanđiểm của Erving Goffman, chúng ta luôn hành động theo cách mà ta muốn người khácnhìn thấy ở mình Các cá nhân hành động rất khác nhau khi họ ở trước những ngườikhác so với khi ở một mình Chính thái độ, phản ứng của những người khác sẽ quyđịnh hành động của chúng ta [4, 139 - 142].

Về phân loại HĐXH, đề tài thiên về cách phân loại theo Max Weber với 4 loạiHĐXH Theo Lê Ngọc Hùng, chúng bao gồm hành động truyền thống là hành độngtuân thủ theo thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán được truyền từ đời này qua đờikhác Hành động cảm tính là hành động do các trạng thái xúc cảm gây ra mà không có

sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đíchhành động Hành động duy lý công cụ được thực hiện với sự cân nhắc, tính toán, lựachọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất Hành động duy lýgiá trị là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân), có thểnhằm vào mục đích phi lý nhưng được thực hiện bằng những công cụ, phương tiệnduy lý [10, 199 - 200] Một quan điểm khác của Vũ Hào Quang về hành động duy lýgiá trị là hành động mà chủ thể được trang bị một hệ thống giá trị, khi họ hành động,các giá trị đó điều chỉnh hành vi của chủ thể cho phù hợp với hệ thống giá trị của mình[23, 110]

Như vậy, lý thuyết HĐXH giúp đề tài phân tích được bản chất của các mốiQHXH của phụ nữ sau ly hôn, phân tích những HĐXH của họ trong việc duy trì vàphát triển các mối quan hệ đó, giải thích được nguyên nhân và kết quả của HĐXHnày Vận dụng lý thuyết sẽ cho thấy mục đích của các HĐXH của phụ nữ trong việcthiết lập hay duy trì các mối quan hệ sau ly hôn

1.3.2 Lý thuyết tương tác biểu trưng

Thuyết tương tác biểu trưng có nguồn gốc là các quan niệm xã hội học của M.Weber, George Simmel, Robert Park cùng các đồng sự và học trò Thuyết này cũngchịu ảnh hưởng của một số trường phái triết học, sinh vật học và các lý thuyết tâm lýhọc ý thức, tâm lý học hành vi và tâm lý học xã hội [10, 321] Các tác giả thuyết

Trang 36

tương tác biểu trưng phát triển thuyết hành vi xã hội để nhấn mạnh vai trò của các yếu

tố tư duy, ý thức và tự ý thức của cá nhân trong hành vi, hoạt động, giao tiếp nhất làmối TTXH Luận điểm gốc của thuyết cho rằng xã hội được tạo thành từ sự tương táccủa vô số các cá nhân; bất kỳ hành vi và cử chỉ nào của con người đều có vô số các ýnghĩa khác nhau; hành vi và hoạt động của con người không những phụ thuộc mà cònthay đổi cùng với các ý nghĩa biểu trưng Do đó, để hiểu được tương tác giữa các cánhân, giữa con người với xã hội, cần lý giải được ý nghĩa của các biểu hiện của mốitương tác đó [10, 325]

George Herbert Mead đưa ra một trong những luận điểm trung tâm của lý thuyếttương tác biểu trưng là các cá nhân trong quá trình tương tác, qua lại với nhau khôngphản ứng đối với các hành động trực tiếp của người khác, mà đọc và lý giải chúng Taluôn tìm được ý nghĩa được gắn cho mỗi hành động, cử chỉ đó, tức là các biểu tượng

Để hiểu được các biểu tượng - ý nghĩa những hành động, cử chỉ của người khác, tacần phải nhập vào vai trò của người đó, đặt mình vào vị trí của đối tượng tương tác.Theo lý thuyết này, con người như một thực thể sống trong thế giới của các biểutượng và môi trường ký hiệu Xã hội thực hiện sự điều chỉnh hành động của các cánhân qua các biểu tượng Mead coi khả năng của con người đặt mình vào vị trí, vai tròcủa đối tác và nhìn nhận mình như một đối tác hành động là cơ chế quan trọng bậcnhất trong sự tương tác của họ với môi trường xã hội xung quanh [4, 147 - 148] Ôngkhẳng định cử chỉ của cá nhân mang ý nghĩa xã hội mà tất cả các thành viên của cộngđồng đều biết, đều hiểu và đều có một thái độ cùng cách ứng xử nhất định Do đó,trong quan hệ tương tác, cử chỉ của người này là sự kích thích làm nảy sinh phản ứngđáp lại từ phía người khác Mead định nghĩa biểu tượng là một loại kích thích màphản ứng đáp lại kích thích ấy đã được đem lại từ trước [10, 335]

Herbert Blumer hệ thống hóa ba luận điểm gốc của thuyết tương tác biểu trưng

mà Mead từng nêu ra như sau: Thứ nhất, con người đối xử với sự vật trên cơ sở những

ý nghĩa mà sự vật đó đem lại cho họ, họ nắm bắt ý nghĩa của sự vật đối với hành độngcủa mình để ra quyết định hành động Thứ hai, ý nghĩa của sự vật nảy sinh từ mốiTTXH giữa các cá nhân, bản thân sự vật vốn không có nghĩa mà chính con người

Trang 37

trong tương tác với nhau đã gắn cho chúng ý nghĩa nhất định Thứ ba, ý nghĩa của sựvật được nắm bắt và được điều chỉnh qua cơ chế lý giải mà cá nhân sử dụng khi tiếpcận sự vật, các cá nhân trong quá trình tương tác biểu trưng không chỉ giải nghĩa hành

vi của nhau mà còn tự đặt mình vào vị trí người khác để hiểu ý nghĩa của hành độngcủa nhau [10, 337]

Charles Cooley cho rằng trong quá trình tương tác, quan trọng nhất là sự giao tiếpgiữa các cá nhân, trong đó mỗi cá nhân phải biết đọc, hiểu ngôn ngữ của người khácbởi hành vi của mỗi cá nhân bị ảnh hưởng bởi ấn tượng của họ ở mỗi người khác Ôngnổi tiếng với lý thuyết “tôi soi gương” coi cái tôi ở mỗi người là kết quả của sự tươngtác với người khác, của tri giác người khác, tức là nhìn vào người khác như là soimình trong gương Cái tôi trong gương là cơ sở để cá nhân tự đánh giá, tự kiểm soát,

tự điều chỉnh và tạo ra các mối TTXH Cái tôi trong gương bao gồm ba yếu tố: sựhình dung về vẻ bề ngoài của ta hiện lên như thế nào đối với người khác, sự hình dung

về ấn tượng của người đó về vẻ bề ngoài này và sự tự cảm nhận của bản thân khi cónhững hình dung đó Thuyết này góp phần trả lời trực tiếp câu hỏi về bản chất mốiquan hệ giữa các cá nhân và xã hội, cần phải tập trung nghiên cứu ý nghĩa biểu trưng

và ý nghĩa chủ quan mà con người gán cho các mối tương tác xã hội tạo nên xã hộicủa con người và tìm hiểu sự ảnh hưởng của mối tương tác biểu trưng đó đối với các

cá nhân [10, 326 - 328]

Lý thuyết kịch hóa của Erving Goffman là thuyết trọng điểm trong đề tài Luậnđiểm cơ bản của thuyết là toàn bộ đời sống xã hội là một tấn kịch khổng lồ với nhữngdiễn viên vừa đóng vai khán giả vừa đóng vai nhân vật Các diễn viên này có nhiệm

vụ diễn tốt vai diễn của mình, tức là thực hiện tốt vai trò xã hội của họ Luận điểmthen chốt của lý thuyết kịch là kiềm chế biểu cảm, trong cùng tình huống cụ thể, các

cá nhân khi xuất hiện trước những người khác phải cố gắng tạo ra và duy trì biểu cảmphù hợp nhất, nhưng khi cá nhân ở một mình thì dạng biểu cảm sẽ khác Việc lưu ýđến phản ứng của người xung quanh, việc muốn họ đánh giá cao, tôn trọng bản thân,

để làm vừa lòng mọi người, khiến cá nhân phải đeo mặt nạ - tạo ra và duy trì các biểucảm phù hợp với hoàn cảnh, phù hợp với mặt nạ đó, dù biểu cảm này không thích hợpvới thái độ thực của cá nhân đó Quá trình TTXH theo Goffman, nếu có sự giám sát

Trang 38

của những người xung quanh, là một chuỗi chu kỳ vô tận: mang mặt nạ - tháo bỏ mặt

nạ - sự chân thành giả tạo - tháo bỏ mặt nạ [4, 152 - 153] Goffman chỉ rõ cá nhânluôn tìm mọi cách để định hướng, dẫn dắt và tạo ra ấn tượng tốt đẹp về bản thân mình

ở người khác Trên sân khấu cuộc đời, trước mặt người khác, cá nhân thể hiện mộtmặt của cái tôi, là những gì mà khán giả mong đợi quan sát Trong hậu trường, khi chỉ

có một mình, cá nhân mới thể hiện mặt khác của cái tôi mà người khác không thấy.Lúc này, cá nhân mới có thể trở về với chính bản thân mình, không cần phải điềukhiển ấn tượng của người khác về bản thân mình nữa [10, 348 - 349] Đề tài vận dụng

lý thuyết kịch của Goffman để tìm hiểu phụ nữ sau ly hôn có bộc lộ đúng bản chất nộitại của mình hay không, hay họ phải che giấu thực tế bản thân để biểu hiện ra ngoàitheo những gì mà xã hội mong họ trở thành hoặc theo những gì mà họ muốn thể hiệnvới xã hội để xã hội thấy họ là như thế

1.3.3 Thuyết nữ quyền

Do đối tượng của đề tài là phụ nữ nên việc sử dụng thuyết nữ quyền là điều hợp

lý để có thể phân tích, giải thích các kết quả nghiên cứu theo góc độ phụ nữ Thuyết

nữ quyền lấy phụ nữ làm trung tâm, nhằm mô tả, phân tích đời sống gia đình cũng như

xã hội theo quan điểm phụ nữ Các nhà nữ quyền nêu lên tính chất nam trị trong giađình và ngoài xã hội, nhận diện những trở ngại chính đối với bình đẳng cho phụ nữ

Họ đã chứng minh rằng trong gia đình, quan hệ quyền lực không ngang nhau, nhữngthành viên nhất định của gia đình được hưởng lợi nhiều hơn những thành viên khác

Họ bác bỏ quan điểm coi gia đình là lĩnh vực riêng tư không dính líu đến bất bìnhđẳng xã hội [25, 152 - 153]

Cách tiếp cận nữ quyền nhấn mạnh ba chủ đề chính: Một là sự phân công laođộng gia đình, sự phân chia nhiệm vụ giữa các thành viên trong gia đình Hai là quan

hệ quyền lực không ngang nhau trong nhiều gia đình biểu hiện qua tình trạng bạo lựcgia đình Ba là những hoạt động chăm sóc các thành viên hầu hết dồn lên vai phụ nữ[25, 153 - 154]

Theo thuyết Nữ quyền Tự do, nghèo đói làm cho hầu hết phụ nữ không được bìnhđẳng với nam giới vì họ mang trách nhiệm nặng nề trong gia đình, họ phụ thuộc,không có quyền tự do hoặc có rất ít và không có cơ hội tự do Thuyết này đấu tranh

Trang 39

cho quyền độc lập về kinh tế của phụ nữ vì đây chính là điều kiện đầu tiên quyết định

sự độc lập về chính trị, văn hóa của phụ nữ [25, 144]

Theo thuyết Nữ quyền Cấp tiến, chính hệ thống phụ quyền đã áp bức phụ nữ Đểgiải quyết vấn đề phụ nữ, chỉ có thể lật đổ chế độ này một cách triệt để, từ cơ cấu pháp

lý và chính trị của chế độ nam quyền đến thay đổi các thiết chế xã hội và văn hóa củachế độ ấy (đặc biệt gia đình, nhà thờ, viện hàn lâm) Phụ nữ không chỉ bị áp bức trong

xã hội mà còn trong gia đình Các mối quan hệ thân thiết và đặc biệt trong gia đình đãche mờ đi áp bức ấy, khiến nhiều phụ nữ và nam giới không nhận ra Trong vai tròsinh đẻ và nuôi dưỡng con cái, phụ nữ muốn được giải phóng thì phải được quyền khinào dùng hay không dùng các kỹ thuật kiểm soát sinh đẻ Họ cũng phải được tự quyếtđịnh nuôi hay không nuôi con cái của mình Do sự áp bức về tình dục của nam giới,nhiều nhà Nữ quyền Cấp tiến cho rằng phụ nữ cần thoát ra khỏi sự ràng buộc về tínhdục của nam giới, tạo ra tính dục riêng của nữ giới Đó là các hình thức sống độc thân(không bị ràng buộc làm vợ, có thể tự do chọn bạn tình), tự làm tình hoặc đồng tínhluyến ái nữ Trong xã hội hiện đại có thể nhận con nuôi thay vì kết hôn hay sinh nở.Phụ nữ có thể không sinh đẻ hoặc nuôi con nếu điều đó là hoạt động tự phủ nhậnmình Phụ nữ phải được tự do đi theo những ham muốn của chính mình [25, 148 -149]

Tuy nhiên, đề tài cho rằng quan điểm tạo ra tính dục riêng của nữ giới như trên cóphần tiêu cực sự cổ vũ của thuyết này cho việc sống độc thân, nhận con nuôi hay tựlàm tình là trái với tạo hóa, làm rối loạn sự phát triển của tự nhiên, gây nguy cơ mấtcân bằng giới tính, dân số già hay ngừng phát triển dân số Thực tế không phải cuộchôn nhân nào cũng khiến phụ nữ đau khổ Một người phụ nữ hạnh phúc trong hônnhân với gia đình đầy đủ có lẽ vẫn tích cực hơn là một người phụ nữ hạnh phúc trongcuộc sống độc thân tự do nhưng lẻ loi

Như vậy, đề tài sử dụng thuyết nữ quyền để có thể tìm hiểu những biểu hiện bấtbình đẳng giới có thể có trong các mối quan hệ xã hội của phụ nữ sau ly hôn

1.4 Vài nét về tình hình ly hôn ở Việt Nam và giới thiệu về địa bàn khảo sát

1.4.1 Vài nét về tình hình ly hôn ở Việt Nam

Trang 40

Theo số liệu mẫu của Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 thì toàn quốc cókhoảng 183,5 nghìn nam giới và khoảng 471,9 nghìn phụ nữ ly hôn, với tỷ lệ lần lượt

là 0,6% của dân số nam và 1,4% của dân số nữ từ 15 tuổi trở lên Như vậy, mức độ lyhôn của nữ cao hơn khá nhiều so với nam, cả về số lượng cũng như tỷ lệ Khi một cặp

vợ chồng chia tay thì cả hai đều trở thành người ly hôn nên số lượng nam và nữ đãtừng ly hôn phải tương đương Nhưng do nam giới có khả năng tái hôn cao hơn và có

tỷ suất tử vong lớn hơn của nữ nên mới có sự chênh lệch lớn về số lượng cũng như tỷ

lệ ly hôn giữa hai giới [35]

Theo số liệu của Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê, tổng số vụ ly hôn ở

cả nước năm 2013 là 18.308 vụ, năm 2014 là 19.960 vụ, năm 2015 là 24.101 vụ, sơ bộnăm 2016 là 24.308 vụ So sánh qua các năm cho thấy tổng số vụ ly hôn trên cả nướcliên tục tăng qua các năm Đề tài biểu diễn tổng số vụ ly hôn của mỗi tỉnh trên cả nướcbằng các bản đồ dưới đây Số liệu cho thấy, các tỉnh/thành phố có số vụ ly hôn cao làThành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Tiền Giang, Đồng Nai, Tây

Ninh, Khánh Hòa, Hải Phòng, Thanh Hóa đều là những khu vực phát triển về kinh

tế hơn so với những tỉnh/thành khác [36]

Ngày đăng: 20/06/2018, 18:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Peter L.Berger, Phạm Văn Bích dịch (2016), Lời mời đến với Xã hội học - Một góc nhìn nhân văn, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời mời đến với Xã hội học - Một góc nhìn nhân văn
Tác giả: Peter L. Berger, Phạm Văn Bích
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2016
2. Mai Huy Bích (2009), Giáo trình Xã hội học Gia đình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học Gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
6. Nguyễn Tuấn Dũng, Đỗ Minh Hợp (2002), Từ điển Quản lý xã hội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Quản lý xã hội
Tác giả: Nguyễn Tuấn Dũng, Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: NXB Đạihọc Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
7. Gunter Endruweit (1999), Các lý thuyết xã hội học hiện đại, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết xã hội học hiện đại
Tác giả: Gunter Endruweit
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 1999
8. Gunter Endruweit, Gisela Trommsdorff. Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Hoài Bão dịch (2002), Từ điển Xã hội học, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Xã hội học
Tác giả: Gunter Endruweit, Gisela Trommsdorff
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2002
9. Hội đồng Quốc gia (2003), Từ điển Bách khoa Việt Nam 3, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam 3
Tác giả: Hội đồng Quốc gia
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2003
10. Lê Ngọc Hùng (2013), Lý thuyết Xã hội học hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết Xã hội học hiện đại
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
11. Lê Ngọc Hùng (2015), Hệ thống, cấu trúc và phân hóa xã hội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống, cấu trúc và phân hóa xã hội
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
12. Hà Việt Hùng (2010), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và biến đổi gia đình, Tạp chí Xã hội học, (số 3 - 111), tr 40 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và biến đổi gia đình
Tác giả: Hà Việt Hùng
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2010
15. Thanh Lê (2003), Từ điển Xã hội học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Xã hội học
Tác giả: Thanh Lê
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
16. Vũ Mạnh Lợi - Trần Thị Minh Thi (2012), Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Những vấn đề cơ bản về các giai tầng xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Viện Xã hội học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Những vấn đề cơ bản về các giai tầng xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
Tác giả: Vũ Mạnh Lợi, Trần Thị Minh Thi
Nhà XB: Viện Xã hội học
Năm: 2012
17. Trịnh Duy Luân, Helle Rydstrom và Wil Burghoom (2011), Gia đình nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Trịnh Duy Luân, Helle Rydstrom, Wil Burghoom
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2011
18. Phan Thị Luyện (2016), Nguyên nhân ly hôn của phụ nữ qua nghiên cứu hồ sơ Tòa án Nhân dân, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân ly hôn của phụ nữ qua nghiên cứu hồ sơ Tòa án Nhân dân
Tác giả: Phan Thị Luyện
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2016
19. Nguyễn Hữu Minh (2001), Một số cách tiếp cận nghiên cứu về hôn nhân, Tạp chí Xã hội học, số 4 (76), tr 14 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cách tiếp cận nghiên cứu về hôn nhân
Tác giả: Nguyễn Hữu Minh
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2001
20. Nguyễn Hữu Minh - Trần Thị Vân Anh (2010), Nghiên cứu Gia đình và Giới thời kỳ đổi mới, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Gia đình và Giới thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2010
21. Nhà xuất bản Tiến bộ Moscow (1975), Từ điển Triết học, Liên Xô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Triết học
Tác giả: Nhà xuất bản Tiến bộ Moscow
Nhà XB: Nhà xuất bản Tiến bộ Moscow (1975)
Năm: 1975
22. Vũ Hào Quang (2016), Lý thuyết HĐXH và phân biệt các khái niệm hành vi, hành động, hành vi xã hội, HĐXH, hoạt động, TTXH và QHXH, Tạp chí Xã hội học, số 4 (136), tr 108 - 117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết HĐXH và phân biệt các khái niệm hành vi, hành động, hành vi xã hội, HĐXH, hoạt động, TTXH và QHXH
Tác giả: Vũ Hào Quang
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2016
23. Vũ Hào Quang (2017), Các lý thuyết Xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết Xã hội học
Tác giả: Vũ Hào Quang
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
24. Lê Thị Quý (2010), Bài viết Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu khoa học về gia đình hiện nay in trong sách Quản lý Nhà nước về gia đình - Lý luận và thực tiễn, NXB Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về gia đình - Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Thị Quý
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2010
27. Nguyễn Thanh Tâm (2002), Ly hôn - Nghiên cứu trường hợp Hà Nội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ly hôn - Nghiên cứu trường hợp Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w