1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp theo pháp luật thuế ở việt nam hiện nay từ thực tiễn cục thuế thành phố hà nội

86 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 160,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Pháp luật kiểm tra thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, quyết t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TIẾN ANH

KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT THUẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TỪ THỰC TIỄN CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật kinh tế

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN ĐỨC MINH

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví

dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.

rp r _ • 2 1 Ạ w _

Tác giả luận văn

Trang 3

MỤC LỤC

NGUYỄN TIẾN ANH

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 6 1.1 Khái quát về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 6 1.2 Cơ sở lý luận của pháp luật thuế đối với doanh nghiệp 25 Chương 2 THỰC trạng pháp luật kiểm tra thuế đối với DOANH NGHIỆP QUA THỰC tiễn thực hiện ở cục thuế THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32 2.1 Thực trạng pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 32 2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp từ thực tiễn cục thuế Thành phố Hà Nội 53 Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 65 3.1 Quan điểm, yêu cầu đặt ra trong hoàn thiện pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 65 3.2 Khuyến nghị hoàn thiện pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 67

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp qua thực tiễn thực hiện ở thành phố Hà Nội 73 KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

Bảng 2.1 Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế năm

2015-2016 54Bảng 2.2 Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra tại trụ sở ĐTNT năm 2015,

2016 55

B ảng 2.3 Kết quả chuyên đề kiểm tra sau hoàn thuế năm 2016 56

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật kiểm tra thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, quyết toánthuế giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và người nộp thuế nhằm hình thành nguồnthu ngân sách Nahà nước để thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu nhất định Ngoài ra,pháp luật kiểm tra thuế còn được sử dụng như một công cụ để điều tiết nền kinh tế,thực hiện đường lối trong một thời kỳ nhất định của Nhà nước Việc xây dựng hệ thốngpháp luật kiểm tra thuế phải được đảm bảo những nguyên tắc như: nghĩa vụ thuế phảiđảm bảo công bằng, đánh thuế phải đảm bảo lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế,đánh thuế phải đảm bảo tính nhất quán, dễ hiểu, đạt hiệu quả và đánh thuế phải đảmbảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần;luật thuế phải tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho nguồn thu, đáp ứng nhu cầuchi tiêu của Nhà nước

Đối với doanh nghiệp, pháp luật kiểm tra thuế có tầm quan trọng trong nền kinh

tế, tác động nhiều mặt về kinh tế - chính trị - xã hội Có hiệu lực từ 01/07/2007, Luậtquản lý thuế được coi như một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý thu nộpngân sách khi nó điều chỉnh thống nhất về mặt thủ tục đối với toàn bộ các loại thuế từnội địa cho đến thuế đối với hàng xuất khẩu và các khoản thu khác thuộc Ngân sáchNhà nước Tuy nhiên, do Luật quản lý thuế mới được triển khai thực hiện trong mộtthời gian ngắn nên không thể không tồn tại những hạn chế, thiếu sót như hiện tượng nợđọng thuế chưa giải quyết được, tình trạng lách luật để gian lận trong kê khai thuế, trốnthuế Bên cạnh đó, do tính chất là trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước, là đầu mốicủa các hoạt động sản xuất, kinh doanh của toàn quốc, nên các loại hình sản xuất, kinhdoanh ở Hà Nội là vô cùng đa dạng và phức tạp, là tiền đề để hoạt động gian lận thuếdiễn ra, dẫn đến làm hao hụt Ngân sách Nhà nước Trong bối cảnh đó, thực hiện chứcnăng quản lý thuế của ngành thuế sẽ giữ vai trò vô cùng quan trọng, góp phần pháthiện, truy thu về cho Ngân sách Nhà nước Công tác kiểm tra thuế là một trong cácchức năng quản lý thuế

Với chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cùng với

xu thế hội nhập, liên kết phát triển kinh tế trong khu vực hiện nay, việc cải cách hệ

Trang 7

thống pháp luật kiểm tra thuế nhằm phù hợp với tình hình đổi mới và thông lệ quốc tế

là tất yếu khách quan Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khía cạnh bất cập chưa hợp lý hoặckhông mang tính khoa học cao khi áp dụng vào thực tiễn, trong đó nổi bật là luật thuế

áp dụng đối với doanh nghiệp Hoàn thiện pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệpđang áp dụng hiện nay là một nội dung rất lớn và cấp bách đòi hỏi phải có nhiều thờigian nghiên cứu về lý luận lẫn thực tiễn Xuất phát từ những yêu cầu thực tế tại địa

phương trên tôi lựa chọn đề tài “Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp theo pháp luật

thuế ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn cục thuế thành phố Hà Nội” với hy vọng tìm

chọn một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kiểm tra thuế doanhnghiệp trên địa bàn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu lý luận về pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp, thực trạngquy định và thực hiện pháp luật kiểm tra thuế đói với doanh nghiệp và giải pháp hoànthiện pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Đối với pháp luật kiểm tra thuế, có nhiều tác giả quan tâm và vận dụng nhữngthành tựu về lý luận pháp luật thuế, đồng thời đưa ra nhiều vấn đề về các giải pháp,kinh nghiệm xuất phát từ thực tiễn

Sau khi tổng quan tình hình nghiên cứu về các vấn đền nêu trên, tác giả đã tìm hiểumột số nội dung của các đề tài đã nghiên cứu trước đây, cụ thể:

Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế của tác giả Trương Thị Hồng Nhung với đề tài “Pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng tại Việt Nam” được thực hiện năm 2013.Luận văn đã đưa ra kết luận khoa học về thực trạng pháp luật quản lý thuế GTGT vàthực tiễn áp dụng pháp luật quản lý thuế, kết luận về nguyên nhân của thực trạng đểlàm cơ sở cho việc xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quảpháp luật quản lý thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay

Bài viết của tác giả Trần Thị Trinh viết về “Thuế thu nhập cá nhân hiện hành Những vấn đề cần tháo gỡ” được đăng trên Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học ĐàNẵng - số 6 năm 2010 đề cập đến luật thuế thu nhập cá nhân kể từ khi áp dụng chínhthức ngày 01/01/2009 đến nay đã xuất hiện nhiều vướng mắc cần tháo gỡ Thông quabài viết này, tác giả mong muốn đóng góp một số ý kiến nhằm hoàn chỉnh hơn luậtthuế đang rất còn mới mẻ này ở nước ta

Trang 8

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Trọng Nghĩa với đề tài “Chính sáchthuế bất động sản ở Việt Nam” được thực hiện năm 2009 Trong luận văn, tác giả đãtrình bày những chính sách thuế liên quan đến bất động sản nói chung, đưa ra địnhhướng cải cách chính sách thuế để từ đó đề xuất những giải pháp hỗ trợ thực hiện cảicách chính sách thuế bất động sản cho phù hợp

Các luận văn này tập trung nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm hỗ trợ, cảicách các chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế bất động sản, nhưng vấn đề pháp luậtthuế đối với doanh nghiệp trên phương diện tổng quát thì còn rất ít Đặc biệt là các giảipháp hoàn thiện pháp luật về thuế đối với doanh nghiệp ở vùng có tốc độ đô thị hóanhanh như thành phố Hà Nội hiện nay

Dựa trên những tài liệu đã nghiên cứu trước đây, trong luận văn này, tác giả sẽtrình bày lý luận về pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp và thực trạng thựchiện pháp luật kiểm tra thuế của doanh nghiệp từ thực tiễn hoạt động kiểm tra thuế trênđịa bàn thành phố Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu hướng đến mục đích làm rõ thực trạng quy định của phápluật và thực hiện pháp luật kiểm tra thuế của doanh nghiệp, từ đó đề xuất một số giảipháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích trên được cụ thể trong việc khái quát những nhiệm vụ chính của luận vănlà:

Làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp; vềquản lý thuế; công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Phân tích, đánh giá để làm rõ thực trạng quy định của pháp luật kiểm tra thuế đốivới doanh nghiệp; những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện pháp luật kiểm tra thuếđối với doanh nghiệp ở thành phố Hà Nội

Đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp và đưa

ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

ở thành phố Hà Nội

Trang 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp và các quy định khác có liên quan.Ngoài ra, luận văn nghiên cứu cả thực tiễn thực hiện pháp luật về lĩnh vực này quatrường hợp thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tác giả nghiên cứu hoạt động thực hiện pháp luật kiểm tra thuế của doanhnghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng phương phápbiện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, các học thuyết kinh tế về thuế, về kinh

tế thị trường, cũng như quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam

và Nhà nước ta về thuế, kinh tế thị trường, về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tếthị trường

Trong từng nội dung cụ thể, luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngànhcùng các phương pháp khác một cách có hệ thống và nhất quán nhằm làm sáng tỏ vấn

đề cần nghiên cứu như sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, sosánh Ngoài ra, luận văn sẽ sử dụng các số liệu thứ cấp để minh chứng và phân tíchthực trạng vấn đề

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã phân tích, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về pháp luật kiểm tra

thuế đối với doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu lý luận của luận văn góp phần bổ sungmột số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua phân tích và khảo sát thực trạng thực hiện pháp luật kiểm tra thuế đối vớidoanh nghiệp từ thực tiễn ở thành phố Hà Nội Luận văn đã nêu được những ưu điểm,hạn chế và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó Từ kết quả nghiên cứu lýluận và thực tiễn luận văn nêu nên các nguyên tắc đề xuất biện pháp và đưa ra một sốgiải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệpqua thực tiễn ở thành phố Hà Nội

Trang 10

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phục lục Nội dung chính của luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp qua thực tiễn thực hiện công tác kiểm tra thuế ở Cục thuế thành phố Hà Nội

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM TRA THUẾ

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Bất cứ một sự quản lý nào, công hay tư, thuộc lĩnh vực nào cũng cần có kiểmtra, đây là một khâu không thể thiếu trong hoạt động quản lý

Quản lý nhà nước, hơn đâu hết lại càng cần có kiểm tra Chỉ nói riêng sự kiểmtra đối với các quyết định hành chính và hành vi hành chính cũng bao gồm một phạm

vi rất rộng: Kiểm tra tính hợp hiến, kiểm tra tính hợp pháp, kiểm tra của cấp trên đốivới cấp dưới; kiểm tra của các cơ quan xét xử

Hoạt động quản lý nhà nước và trong quá trình thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp đều phải chịu sự kiểm tra, thanh tra, giám sát Một cơ quan nắmtrọn quyền hạn, thẩm quyền trong thực hiện quyền lực nhà nước mà không được kiểmtra thì dễ phát sinh lộng quyền, cửa quyền, lạm quyền, vì động cơ mục đích cá nhân,cục bộ bản vị ngành, địa phương Tùy theo bản chất, đối tượng, chủ thể tổ chức thựchiện, chúng ta đã dùng những thuật ngữ khác nhau để chỉ sự kiểm tra: giám sát, kiểmsát, thanh tra, kiểm tra Cơ cấu tổ chức và cơ chế kiểm tra của Nhà nước ta gồm đủ cácloại hình kiểm tra nói trên

Giám sát, tiếng Anh là supervision hoặc overseer để chỉ một hoạt động xem xét

có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với khách thể thuộc hệ thống khác,tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu sự giám sát không nằm trong một hệthống trực thuộc nhau theo chiều dọc Trong bộ máy nhà nước ta, giám sát thường thểhiện chức năng của các cơ quan quyền lực nhà nước đối với hoạt động của bộ máy nhànước hoặc của Toà án nhân dân, các tổ chức xã hội và công dân đối với hoạt động quản

lý nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, kỷ luật trong quản lý nhà nước Quốc hội là cơquan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

“Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”,

“.thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết củaQuốc hội” (Điều 83, 84 của Hiến pháp 1992) Nếu xét tính quyền lực cao nhất củaQuốc hội thì ngoài việc lập hiến, lập pháp, bầu Chính phủ, thành lập các cơ quan tối

Trang 12

cao của đất nước, chức năng giám sát cũng thể hiện tính hơn trội, tính bao quát từ phíaquyền lập pháp đến việc giám sát các hoạt động của các cơ quan do Quốc hội thành lập.

Ở nước ta còn một loại hình giám sát nữa là giám sát của các tổ chức xã hội.Với tư cách là một thành tố của hệ thống chính trị, hoạt động giám sát của các tổ chức

xã hội là một bộ phận không thể thiếu được nhằm củng cố kỷ luật, nâng cao hiệu quảquản lý nhà nước (Điều 9, 10 Hiến pháp 1992) Tuy nhiên, hoạt động này không mangtính quyền lực nhà nước, các chủ thể giám sát không có quyền áp dụng trực tiếp cácbiện pháp cưỡng chế nhà nước Kết quả giám sát của các tổ chức xã hội chỉ dừng lại ởmức “kiến nghị, đề nghị”, tức là áp dụng các biện pháp tác động, mang tính xã hội vàohoạt động của đối tượng bị giám sát (sự lên án, phê bình từ phía xã hội), từ đó đốitượng bị giám sát tự chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của mình

Mở rộng hình thức giám sát của các tổ chức xã hội là sự giám sát của công dân, một nộidung đặc thù chỉ có ở chế độ xã hội chủ nghĩa, một loại hình dân chủ cao của xã hộiphát triển

Kiểm sát là khái niệm được sử dụng trong thực tiễn tổ chức bộ máy và khoa họcpháp lý (investigate) để chỉ hoạt động bảo đảm pháp chế của Viện Kiểm sát nhân dâncác cấp nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật (kiểm sát chung), vai trò công tố (bảo

vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân) Kiểm sát việc tuân theo phápluật là nhằm bảo đảm tính hợp pháp của các quyết định quản lý nhà nước từ cấp bộ trởxuống (Điều 137 Hiến pháp 1992 và các Điều 2, 3 và 4 của Luật tổ chức Viện Kiểm sátnhân) Trong quá trình kiểm sát công tác điều tra, Viện Kiểm sát có quyền: “phê chuẩn,không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật,quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quanđiều tra” và “quyết định truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra”.Việc kiểm sát chung không tự làm đình chỉ các quyết định quản lý của các cơ quan nhànước trái pháp luật Chỉ có trường hợp duy nhất là Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dântối cao có quyền ra quyết định đình chỉ và buộc phải sửa chữa những hành vi vi phạmpháp luật có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng (khoản 2 Điều 10 Luật Tổ chức ViệnKiểm sát nhân dân) Trong hoạt động kiểm sát, Viện Kiểm sát không có quyền áp dụngcác biện pháp kỷ luật Khi cần thiết, Viện Kiểm sát có quyền yêu cầu các cơ quan hữuquan áp dụng các biện pháp kỷ luật, hoặc gửi kiến nghị, ra quyết định khởi tố Mặtkhác, tính chất thường xuyên trong hoạt động kiểm sát cũng bị hạn chế, chỉ “kiểm sát

Trang 13

việc chấp hành pháp luật khi phát hiện có vi phạm pháp luật (Điều 8 Luật tổ chứcViện Kiểm sát nhân dân) hoặc khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện Kiểm sát

“trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phát hiện có

vi phạm pháp luật hoặc khi các yêu cầu của Viện Kiểm sát nhân dân không được thựchiện hoặc đã được thực hiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu.”

Hoạt động kiểm sát hiện nay là một trong những vấn đề đang được tranh luậnsôi nổi tại các diễn đàn khoa học, đặc biệt là vấn đề kiểm sát chung, vai trò công tố củaViện Kiểm sát và pháp luật của Việt Nam về vấn đề này Tuy nhiên, so với các hoạtđộng khác như thanh tra, kiểm tra thì phạm vi hoạt động của kiểm sát hẹp hơn Mặtkhác, chức năng công tố (procutator) cũng là vấn đề còn đang bàn, song để giải quyếtvấn đề này, nên chăng có một cơ chế phối hợp hoạt động giữa 3 loại quyền: lập pháp,hành pháp và tư pháp

Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La-tinh (in-spectare) có nghĩa là “nhìn vàobên trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định:

“là sự kiểm soát đối với đối tượng bị thanh tra” trên cơ sở thẩm quyền (quyền hạn vànghĩa vụ) được giao, nhằm đạt được mục đích nhất định Tính chất của thanh tra mangtính thường xuyên, tính quyền lực, do đó hệ quả của thanh tra thường là “phát hiện,ngăn chặn những gì trái với quy định” Thanh tra là hoạt động xem xét, kiểm tra của cơquan nhà nước cấp trên hoặc theo sự uỷ quyền của cơ quan nhà nước cấp trên đối với

cơ quan nhà nước cấp dưới (mang tính trực thuộc) và là một bộ phận của hoạt độnghành pháp

Kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [Từ điển pháp luậtAnh - Việt NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1994, tr.203], để chỉ hoạt động của chủ thểtác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc) Tuy nhiên,khái niệm kiểm tra (control) có thể được hiểu theo 2 nghĩa: Theo nghĩa rộng, để chỉhoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và của công dân kiểm tra hoạt động bộmáy của nhà nước Theo nghĩa này, tính quyền lực nhà nước trong kiểm tra bị hạn chế

vì các chủ thể thực hiện kiểm tra không có quyền áp dụng trực tiếp những biện phápcưỡng chế nhà nước Theo nghĩa hẹp hơn, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiếnhành xem xét, xác định một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp haykhông phù hợp với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội bộ của người đứngđầu cơ quan, kiểm tra phương tiện giao thông ) Theo nghĩa này, chủ thể kiểm tra có

Trang 14

thể áp dụng một chế tài pháp lý nhất định như áp dụng các hình thức kỷ luật, xử phạt viphạm hành chính hoặc buộc phải thực hiện một số biện pháp ngăn chặn hành chính Ở

nghĩa này, khái niệm kiểm tra nằm trong khái niệm thanh tra “tổ chức Thanh tra là

công cụ đắc lực của Đảng, của chính quyền trong việc kiểm tra sự chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật, kế hoạch của Nhà nước”[Chỉ thị số 38/CT ngày

20/02/1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đốivới công tác thanh tra]

Xét về chủ thể thì phạm vi chủ thể tiến hành hoạt động kiểm tra đa dạng hơnthanh tra rất nhiều Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc cũng có thể làmột chủ thể phi Nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm tra của một tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội (Đảng, Công đoàn, Mặt trận, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ.),hoạt động kiểm tra trong nội bộ một doanh nghiệp: kiểm tra của Giám đốc đối với cácphòng, ban, kiểm tra của Quản đốc đối với người lao động Trên một bình diện rộnghơn nữa, kiểm tra có thể là sự xem xét thực tế để đánh giá, nhận xét của bất kỳ một cánhân nào trong xã hội trong bất cứ một hoạt động nào Khi con người biết lao động mộtcách có ý thức thì đã xuất hiện yêu cầu tất yếu là phải kiểm tra Ăng ghen đã nói “mỗihoạt động có ý thức, có tổ chức của con người đều chứa đựng trong đó những yếu tốcủa kiểm tra” và “đối với mỗi con người tự nhiên, mỗi cộng đồng nguyên thuỷ, kiểmtra được xem như là phương thức hành động để thực hiện mục đích” Như vậy, kiểm tracũng xuất hiện trước thanh tra và xuất hiện trước khi có sự ra đời của Nhà nước đầutiên trong lịch sử Có thể nói, kiểm tra sẽ tồn tại cùng với loài người Khi Nhà nước tựtiêu vong, thanh tra sẽ mất đi như đã nói ở trên, nhưng kiểm tra thì vẫn còn tồn tại cùngvới “chức năng quản lý đơn thuần là chăm lo đến lợi ích của xã hội” như Ăng ghen đãchỉ ra

Kiểm tra gắn liền với công việc của một tổ chức, một cán bộ, công chức nhấtđịnh và thường theo một số hướng sau: Theo dõi để cho hoạt động của tổ chức phù hợpvới chức năng, nhiệm vụ và sự phân công giữa các đơn vị; Quan sát để đảm bảo rằngnhiệm vụ được giao có đủ điều kiện thực hiện, phù hợp với thực tế Hướng dẫn và điềuchỉnh kịp thời để đảm bảo hiệu suất công việc của từng đơn vị; Kiểm tra kết quả cuốicùng, đánh giá hiệu quả thực tế của các hoạt động theo kế hoạch đặt ra

Trong quản lý hành chính nhà nước, kiểm tra có mục tiêu là tìm kiếm động cơ,nguyên nhân cán bộ làm tốt (hay không làm tốt) nhiệm vụ được giao Một sự kiểm tra

Trang 15

như vậy có thể được thực hiện trong nội bộ của bộ máy quản lý, nhưng cũng có thể ởngoài hệ thống đó mà người ta có thể gọi là kiểm soát ngoại lai.

Ở nước ta, trong các nghị quyết của Đảng, Hiến pháp năm 1980 và Hiến phápnăm 1992 cũng xem thanh tra và kiểm tra như là những mặt, phương diện của quản lýnhà nước, có chung mục đích đều là những chức năng thiết yếu của cơ quan quản lýnhà nước Hiến pháp năm 1980, khi đề cập đến nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ,quy định: “Chính phủ tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê ; công tác thanh tra vàkiểm tra nhà nước; chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giảiquyết khiếu nại, tố cáo của công dân” (khoản 15 Điều 107) Thông báo Hội nghị lầnthứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) chỉ rõ: “tăng cường công tác thanhtra, kiểm tra để mọi thành phần kinh tế kinh doanh đúng pháp luật”

Như vậy, về cơ bản, thanh tra, kiểm tra và giám sát có nghĩa như nhau, tính chấtnhư nhau, nhưng khác nhau về chủ thể thực hiện và khác nhau về phạm vi - tức đốitượng thanh tra, kiểm tra, giám sát

Tóm lại, kiểm tra là một hoạt động thường xuyên, do tính chất này mà chúng takhông thể nói là đã có một hệ thống hay cơ chế kiểm tra hữu hiệu nếu chỉ có nhữngngười lãnh đạo tổ chức và những cán bộ, tổ chức chuyên trách tham gia vào hoạt độngkiểm tra Điều quan trọng là phải thiết lập được hệ thống tự kiểm tra và một nề nếpkiểm tra lẫn nhau trong nội bộ tổ chức, giữa hai nhân tố chủ quan và khách quan trong

tổ chức hoặc hai nhân tố khác nhau trong cùng một công việc

Hiểu một cách chung nhất, kiểm tra là loại hoạt động mà chủ thể kiểm tra tiếnhành xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra để đưa ra những đánh giá, nhậnxét, kiến nghị, xử lý

Kiểm tra là một hoạt động thường xuyên Do tính chất này mà chúng ta khôngthể nói là đã có một hệ thống kiểm tra hữu hiệu nếu chỉ có những người lãnh đạo tổchức và những cán bộ tổ chức chuyên trách tham gia vào hoạt động kiểm tra công việc.Điều quan trọng là phải thiết lập được hệ thống tự kiểm tra và một nề nếp kiểm tra lẫnnhau trong nội bộ tổ chức và giữa các đơn vị phối hợp Cơ sở của kiểm tra là sự kết hợpchặt chẽ giữa hai nhân tố chủ quan và khách quan trong tổ chức hoặc hai nhân tố khácnhau trong cùng một công việc

Quản lý nhà nước nói chung, quản lý thuế nói riêng là sự tác động có địnhhướng của chủ thể quản lý (cơ quan thuế) đến đối tượng quản lý (người nộp thuế -

Trang 16

NNT) nhằm động viên một phần thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước (NSNN).Kiểm tra thuế chính là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động quản lýnhà nước của cơ quan thuế Nói cụ thể hơn, kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơquan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế vàtình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế nhằm đảmbảo pháp luật thuế được thực hiện nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội Kiểmtra thuế thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế,đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ

để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế [Luật quản lý thuế năm 2006] Kiểm tra

thuế là một trong bốn chức năng cơ bản, giữ vị trí trung tâm trong hoạt động quản lýthuế, có vai trò quyết định đến hiệu quả thực thi pháp luật thuế của NNT

Theo pháp luật quản lý của nước ta, kiểm tra thuế là công việc thường xuyên,liên tục, là một yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan quản lý thuế được thực hiện tại trụ sở cơquan thuế dựa trên hồ sơ kê khai của NNT hoặc kiểm tra tại trụ sở của NNT theo kếtquả của phân tích rủi ro Nội dung kiểm tra thuế là kiểm tra tính đầy đủ, chính xác củacác thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ của NNT trong việc

kê khai, thực hiện nghĩa vụ thuế

Nói một cách khái quát: Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp là hoạt động của cơquan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của doanh nghiệp - đối tượng kiểm tra,

từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để

có những nhận xét, đánh giá và kiến nghị những giải pháp khắc phục

1.1.2 Nguyên tắc kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Trong công tác quản lý thuế, cùng với việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai, tựnộp thuế của NNT, cơ quan thuế còn thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả nhằmkhuyến khích sự tự nguyện tuân thủ đồng thời đảm bảo phát hiện, ngăn ngừa các viphạm pháp luật thuế, cảnh báo NNT về việc luôn có một hệ thống giám sát kịp thờingăn chặn các hành vi vi phạm của họ Bên cạnh việc ngăn ngừa vi phạm của NNT,công tác kiểm tra thuế cũng góp phần phát huy các nhân tố tích cực, góp phần hoànthiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế XHCN Để thực hiện được các mục đích

đó, công tác kiểm tra thuế cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

I 1.21 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật

Trang 17

Kiểm tra thuế phải tuân thủ các quy định của Luật quản lý thuế và các quy địnhkhác của pháp luật có liên quan Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan quản lýchuyên ngành nên vừa có những đặc điểm của công tác kiểm tra nói chung vừa có tínhđặc thù của công tác quản lý thuế Bởi vậy, nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm trathuế là ưu tiên áp dụng các quy định của Luật quản lý thuế đồng thời tuân thủ các quyđịnh khác của pháp luật khi kiểm tra, thanh tra.

Trong quá trình kiểm tra phải tuân thủ đúng những quy định pháp luật, bảo đảmtính độc lập, nghiêm túc khi thực hiện những thủ tục cần thiết và trong phạm vi thẩmquyền cho phép Cơ quan thuế nằm trong tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước, dovậy, trong tổ chức và hoạt động của mình, cơ quan thuế cũng chịu sự điều chỉnh củaphương pháp mệnh lệnh quyền uy, phục tùng mệnh lệnh cấp trên Nguyên tắc tuân theopháp luật là nguyên tắc chung được thể hiện ở trong tất cả các giai đoạn của hoạt độngkiểm tra Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tính pháp chế xuyên suốttrong hoạt động kiểm tra

Nguyên tắc tuân theo pháp luật cũng thể hiện trong việc tuân thủ đúng thời hạnghi trong quyết định kiểm tra; tuân thủ thời hạn báo cáo kết quả kiểm tra; tuân thủ vềthời hạn ra kết luận kiểm tra Khi kết thúc kiểm tra, Đoàn kiểm tra phải thông báo vớiNNT về việc kết thúc kiểm tra

II 2.2 Nguyên tắc chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ

Kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời.Trong hoạt động kiểm tra phải đảm bảo tôn trọng sự thật, đánh giá đúng sự vật, hiệntượng như nó vốn có, không được tùy tiện, chủ quan, khi kết luận một vấn đề phải cóchứng lý, không được suy diễn Trong quá trình kiểm tra phải tranh thủ sự đồng tình,ủng hộ của quần chúng, phát huy dân chủ, động viên quần chúng tham gia cung cấpthông tin tài liệu cho cơ quan thuế Nghiêm cấm việc cán bộ kiểm tra cố ý làm sai lệchnội dung vụ việc, mở rộng nội dung kiểm tra, lợi dụng quyền hạn để sách nhiễu, gâyphiền hà cho NNT hoặc bao che cho hành vi vi phạm

Nguyên tắc chính xác: Trong giai đoạn tiến hành kiểm tra, nguyên tắc chính xácđược thể hiện rõ nét nhất là trong việc áp dụng các văn bản pháp luật vào việc nhậnđịnh, đánh giá thông tin, tài liệu thu thập được

Nguyên tắc này cũng thể hiện ở việc báo cáo, dự thảo kết luận kiểm tra đầy đủ

và chính xác các nội dung: tài liệu, chứng cứ, kết quả kiểm tra, chế tài xử lý, căn cứ

Trang 18

pháp luật áp dụng để kết luận, kiến nghị Bảo đảm tính chính xác trong việc đánh giáviệc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của NNT; kết luận về nội dung đượckiểm tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của NNT cóhành vi vi phạm; các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đã áp dụng; kiến nghị các biệnpháp xử lý trong dự thảo kết luận kiểm tra.

Nguyên tắc khách quan, trung thực: khách quan, trung thực là vấn đề có tínhnguyên tắc cao, nó đảm bảo phản ánh đúng sự thật, không thiên lệch và bóp méo sựthật Nếu như tính chính xác nhấn mạnh đến khả năng, năng lực chuyên môn của hoạtđộng kiểm tra thì tính khách quan, trung thực đòi hỏi người làm công tác kiểm tra phải

có quan điểm và thái độ đúng đắn

Trước khi kết thúc kiểm tra tại đơn vị, Đoàn kiểm tra cần đánh giá tình hình hếtsức công tâm, rõ ràng về những vấn đề đã kiểm tra và những vấn đề chưa làm rõ để xácđịnh thời điểm kết thúc kiểm tra, hay cần tiếp tục gia hạn thời gian kiểm tra, cần tránhviệc cố tình kéo dài cuộc kiểm tra vì sự chủ quan, duy ý chí

Các báo cáo kiểm tra phải nêu đầy đủ những tài liệu, những vấn đề, nhữngthông tin mà trong quá trình kiểm tra Đoàn kiểm tra thu thập hay phát hiện; Đoàn kiểmtra cần báo cáo đầy đủ, rành mạch, chi tiết, cụ thể kể cả những suy nghĩ của mình vềnhững vấn đề phát hiện trong quá trình tiến hành kiểm tra với lãnh đạo cơ quan, đơn vị

Nguyên tắc công khai: khi tiến hành kiểm tra, Đoàn kiểm tra phải thông báo đầy

đủ nội dung kiểm tra cho NNT biết; công khai trong việc thu thập hồ sơ, tài liệu (việccung cấp thông tin, tài liệu được thể hiện bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhâncung cấp hoặc Đoàn kiểm tra lập biên bản về việc cung cấp thông tin, tài liệu); côngkhai khi tiếp xúc với đối tượng kiểm tra và những người có liên quan ở nơi có hoạtđộng kiểm tra

Đoàn kiểm tra thông báo kết thúc việc kiểm tra tại trụ sở NNT; công khai vềnhững đánh giá, kết luận của đoàn sau khi kết thúc kiểm tra NNT có cơ hội giải trình,

bổ sung thông tin, tài liệu, chứng cứ

Việc bảo đảm nguyên tắc này sẽ tạo một môi trường làm việc chuyên nghiệp, cótrách nhiệm với một đội ngũ cán bộ có chất lượng và trách nhiệm nghề nghiệp cao hơn.Nhóm nguyên tắc này là cách thức để cán bộ, công chức thuế tự hoàn thiện mình, kếtquả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả hoạt động kiểm tra được nâng cao

Trang 19

Nguyên tắc dân chủ: Được thể hiện trong mối quan hệ giữa các thành viên Đoànkiểm tra với nhau và giữa Đoàn kiểm tra với NNT khi đưa ra kết luận kiểm tra Đó làviệc các thành viên Đoàn kiểm tra thảo luận, đưa ra ý kiến của mình về từng vấn đề cụthể khi xây dựng báo cáo kết quả kiểm tra, dự thảo kết luận kiểm tra; ý kiến khác nhaugiữa thành viên Đoàn kiểm tra với Trưởng đoàn kiểm tra về nội dung báo cáo kết quảkiểm tra Với đối tượng kiểm tra, họ có quyền đưa ra quan điểm của mình về nhữngđánh giá, kết luận của Đoàn kiểm tra dựa trên những thông tin, tài liệu, chứng cứ, quyđịnh của pháp luật và những ý kiến của đối tượng kiểm tra phải được thảo luận, xemxét một cách khách quan, dân chủ.

1.1.2.3 Nguyên tắc tuân thủ đúng quy trình kiểm tra thuế

Kiểm tra thuế phải tuân thủ đúng quy trình của ngành đã quy định, việc tiếnhành kiểm tra phải thực hiện theo kế hoạch và đề cương đã được duyệt Trong quá trìnhkiểm tra phải đảm bảo không cản trở hoạt động bình thường của NNT

Việc thực hiện nguyên tắc này trong giai đoạn tiến hành kiểm tra được hiểu là:tuân thủ về trình tự, thủ tục; tuân thủ về thời hạn kiểm tra; tuân thủ việc sử dụng đúngquyền của cán bộ kiểm tra trong quá trình kiểm tra

Để không làm cản trở hoạt động bình thường của NNT thì Đoàn kiểm tra phải

có kế hoạch rõ ràng, trao đổi cụ thể với NNT về nội dung, thời gian làm việc; kế hoạchlàm việc với những người có trách nhiệm phải giải trình với Đoàn thanh tra; có kếhoạch làm việc với những tổ chức, đơn vị có liên quan đến nội dung kiểm tra để tiếnhành xác minh thông tin, tài liệu để NNT chuẩn bị, sắp xếp chương trình làm việc vớiĐoàn kiểm tra trên nguyên tắc thảo luận bình đẳng để không làm cản trở đến hoạt độngbình thường của đối tượng kiểm tra

1.1.24 Nguyên tắc bảo vệ bí mật

Kiểm tra thuế phải đảm bảo bí mật các thông tin về NNT vì trong quá trìnhkiểm tra, bộ phận kiểm tra được NNT cung cấp nhiều hồ sơ tài liệu, có những hồ sơ tàiliệu nếu phổ biến ra ngoài sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp(DN), gây thiệt hại cho NNT và còn có thể ảnh hưởng đến các lợi ích quốc gia Ngoài

ra, theo quy định tại quy trình kiểm tra thuế, cán bộ thuế còn phải đảm bảo bí mật cácthông tin về kết quả kiểm tra thuế trừ các trường hợp công khai thông tin vi phạm phápluật về thuế của NNT theo quy định tại Điều 73, Điều 74 Luật Quản lý thuế và Điều 72Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012

Trang 20

1.1.2.5 Nguyên tắc hiệu quả

Kiểm tra thuế được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quanđến NNT, đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT, xác minh và thu thập chứng cứ

để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế Việc lựa chọn đối tượng để kiểm tra dựatrên căn cứ khách quan là phân tích nguồn cơ sở dữ liệu thông tin liên quan đến NNT,đánh giá thông tin theo phương pháp đánh giá rủi ro, xác định, lựa chọn đúng đối tượng

có mức độ rủi ro cao nhất để tiến hành kiểm tra Trên cơ sở phân tích, đánh giá thôngtin về NNT, cơ quan quản lý thuế sẽ xác định tiến hành về hình thức, quy mô và phạm

vi kiểm tra Điểm cần lưu tâm trong công tác kiểm tra là kiểm tra không dàn trải màchủ yếu tập trung vào những đối tượng có vấn đề về rủi ro Đối tượng cần kiểm tra chủyếu được xác định qua việc phân tích thông tin về NNT và các thông tin có liên quankhác Từ phân tích thông tin về NNT, cơ quan quản lý thuế sẽ điều chỉnh cơ cấu cuộckiểm tra như: tăng thời gian phân tích, kiểm tra hồ sơ tại cơ quan thuế, giảm thời giantrực tiếp kiểm tra tại trụ sở NNT; tránh phiền hà cho doanh nghiệp nhưng tăng tỉ lệ sốđối tượng vi phạm được phát hiện

Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho kiểm tra thuế đạt được mục đíchcủa nó Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiểu quả, nghĩa là phải

có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đốitượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế Mặt khác nguyên tắc hiệu quả trongkiểm tra thuế còn phải thể hiện ở chỗ chi phí phục vụ cho công tác kiểm tra thuế nhỏnhất trên một đơn vị số thu do kết quả kiểm tra mang lại

1.1.26 Nguyên tắc trách nghiệm tập thể

Kiểm tra thuế là một dạng hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, nói đếncông tác kiểm tra thuế nói đến trách nhiệm của cán bộ kiểm tra thuế trong việc hỗ trợNNT thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật thuế Trong quá trình kiểm tra, ngườikiểm tra tự ý thức về quyền và nhiệm vụ được phân công cũng như bổn phận phải thựchiện các quyền và nhiệm vụ đó Tính hiệu lực, hiệu quả trong kiểm tra thuế đều dựatrên cơ sở đề cao tính trách nhiệm, với tinh thần tận tụy, mẫn cán và làm tròn bổn phậncủa người kiểm tra Theo đó, trong quá trình thực hiện kiểm tra thuế các thành viên vàtừng thành viên đoàn kiểm tra vừa phải chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thểđối với kết luận kiểm tra Thành viên đoàn kiểm tra nếu có ý kiến khác với ý kiến củađoàn kiểm tra thì có thể bảo lưu ý kiến của mình và ghi vào biên bản

Trang 21

1.1.3 Nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

1.1.3.1 Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế

a Kiểm tra đăng kỷ thuế

Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là quyền và nghĩa vụ của đối tượng kinhdoanh Thông qua việc đăng ký, Nhà nước quản lý được mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh của cơ sở ngay từ khi bắt đầu hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kếhoạch hóa nguồn thu ngân sách

Nội dung kiểm tra đăng ký kinh doanh là xem xét trên từng địa bàn, trong từngloại ngành nghề có bao nhiêu doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh; số lượngđơn vị đã đăng ký và chưa đăng ký thuế

Đối với mỗi doanh nghiệp, khi kiểm tra, cần đi sâu xem xét tính pháp lý củađăng ký thuế, kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu kê khai trong đăng kýkinh doanh và đăng ký thuế về vốn và địa điểm, ngành nghề kinh doanh, thời gian thực

tế kinh doanh, hình thức kế toán áp dụng, tài khoản giao dịch nhằm phát hiện và xử

lý những gian lận trong kê khai đăng ký thuế

b Kiểm tra hồ sơ khai thuế và việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, chứng

từ, hóa đơn

Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Luật Doanh Nghiệp, Luật Kế toán ),tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức, cơ quan đoàn thểlàm kinh tế đều phải chấp hành chế độ kế toán thống kê

Việc thực hiện chế độ kế toán, sổ sách, chứng từ, hóa đơn có liên quan mật thiếtđến việc tính thuế, nộp thuế và công tác quản lý của Nhà nước Nội dung kiểm tra tronglĩnh vực này bao gồm những vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, kiểm tra việc tổ chức thực hiện Luật Kế toán của các cơ sở kinh

doanh; kiểm tra việc mở sổ sách kế toán; việc quản lý và sử dụng các loại chứng từ,hóa đơn theo chế độ quy định; hình thức hạch toán; chế độ ghi chép cập nhật sổ sách

Thứ hai, kiểm tra việc lập và sử dụng các loại chứng từ, hóa đơn có liên quan

đến việc tính thuế Nội dung của kiểm tra chứng từ, hóa đơn là xác định tính hợp pháp,hợp lý, tính trung thực của từng loại chứng từ, hóa đơn có liên quan như: hóa đơn bánhàng, phiếu xuất kho, chứng từ thu chi

Trang 22

Qua kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, chứng từ, hóa đơn đảmbảo chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn chặn kịp thời việc hạch toán sai để trốn lậuthuế Do vậy, nội dung kiểm tra này cần được tiến hành thường xuyên.

c Kiểm tra việc kê khai, tính thuế và nộp thuế

Việc kê khai, tính thuế, nộp thuế là nghĩa vụ của các doanh nghiệp đối với nhànước Nội dung công tác kiểm tra việc kê khai, tính thuế, nộp thuế bao gồm:

Thứ nhất, kiểm tra căn cứ tính thuế Kiểm tra căn cứ tính thuế nhằm xác định

đúng số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, số thuế được miễn, giảm, số thuế được hoàntrong kỳ của doanh nghiệp Việc kiểm tra căn cứ tính thuế được thực hiện trên cơ sởkiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn và các tài liệu có liên quan Thông qua việckiểm tra, đối chiếu số liệu trên các tờ khai, bản kê, quyết toán thuế doanh nghiệp đã kêkhai với số liệu kiểm tra trên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của doanh nghiệp đểphát hiện số thuế đơn vị kê khai thiếu, số thuế ẩn lậu

Thứ hai, kiểm tra việc chấp hành nộp thuế của doanh nghiệp Yêu cầu của nội

dung này là xác định xem doanh nghiệp có thực hiện nghiêm túc quy định về thời hạnnộp thuế của các luật thuế không, có dây dưa nộp chậm tiền thuế để chiếm dụng ngânsách Nhà nước làm vốn kinh doanh không, có nợ đọng thuế không Để đạt yêu cầu trên,cần đối chiếu thời hạn nộp thuế theo quy định của các Luật thuế với thời gian nộp thuếcủa doanh nghiệp qua các chứng từ nộp thuế như giấy nộp tiền vào Kho bạc, biên laithuế

1.1.3.2 Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế

- Nội dung kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế cho từng trường hợp cụ thể nhưsau:

a Trường hợp kiểm tra từ hồ sơ khai thuế là các khoản mục người nộp thuế

không giải trình hoặc không khai bổ sung sau thời hạn thông báo của cơ quan thuế;

b Trường hợp kiểm tra hoàn thuế là số thuế đề nghị hoàn hoặc số thuế đã được

hoàn theo quyết định của cơ quan thuế;

c Trường hợp kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm là các nội dung, khoản mục có

dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế;

d Trường hợp kiểm tra theo kế hoạch, chuyên đề là nội dung có dấu hiệu rủi ro

qua phân tích chuyên sâu hồ sơ khai thuế (tối thiểu là một năm) của người nộp thuế;

Trang 23

e Đối với trường hợp kiểm tra người nộp thuế chia tách, sáp nhập, hợp nhất,

giải thể, phá sản, cổ phần hóa, đóng mã số thuế, chuyển địa điểm kinh doanh và cáctrường hợp kiểm tra đột xuất, kiểm tra theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền là nội dungkiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế

I 1.4 Phương pháp kiểm tra thuế

II 4.1 Phương pháp kiểm tra cơ bản

Có các phương pháp kiểm tra thuế cơ bản như sau:

Thứ nhất: Phương pháp đối chiếu, so sánh

Sử dụng nhằm kiểm tra đối chiếu số liệu giữa hồ sơ khai thuế với sổ sách kếtoán, giữa số liệu kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, đối chiếu với các quy định vănbản pháp luật về thuế, nhằm phát hiện gian lận

- Đối chiếu với các quy định của các văn bản pháp luật về thuế

- Đối chiếu các chỉ tiêu trong tờ khai thuế với các tài liệu kèm theo

- Đối chiếu các chỉ tiêu phản ánh trong tờ khai thuế, các tài liệu kèm theo

tờ khai thuế với tờ khai thuế, các tài liệu kèm theo tờ khai thuế tháng trước, quýtrước, năm trước

- Đối chiếu với các dữ liệu của NNT có quy mô kinh doanh tương đương,

có cùng ngành nghề, mặt hàng đăng ký kinh doanh

- Đối chiếu với các thông tin, tài liệu thu thập được từ các nguồn khác

Đối với các hồ sơ khai thuế qua đối chiếu, so sánh, phân tích xét thấy có nội dung khai chưa đúng, số liệu khai không chính xác hoặc có những nội dung cần xác minh liên quan đến số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn công chức kiểm tra thuế phải báo cáo trưởng bộ phận kiểm tra trình Thủ trưởng cơ quan thuế ra thông báo bằng văn bản đề nghị NNT giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu

Thứ hai: Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết

Đây là phương pháp tối ưu để kiểm tra số liệu kế toán, việc kiểm tra được thựchiện từ số liệu tổng hợp đến chi tiết, tức là từ các báo cáo tổng hợp (BCTC, báo cáothuế, ) đến sổ sách kế toán (sổ tổng hợp), sổ nhật ký chứng từ, sổ chi tiết và cho đếncuối cùng là chứng từ gốc Phương pháp này cho phép rút ra các vấn đề tổng quát đểđịnh hướng những vấn đề cần đi sâu chi tiết

Thứ ba: Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc

Trang 24

Phương pháp này thực hiện ngược lại phương pháp trên, tức là đi trực tiếp vàonội dung chi tiết, bắt đầu từ các chứng từ gốc, rồi kiểm tra đến bảng kê, sổ nhật ký, sổcái và cuối cùng là các báo cáo tổng hợp.

Có các cách kiểm tra chứng từ gốc như: Kiểm tra theo trình tự thời gian; Kiểmtra theo phân loại nghiệp vụ; Kiểm tra chọn mẫu

Thứ tư: Các phương pháp kiểm tra bổ trợ

- Phương pháp quan sát, phỏng vấn: Phương pháp này thường được dùng đểphỏng vấn doanh nghiệp để tìm hiểu về cách thức kinh doanh, mua bán, giá cả; quytrình sản xuất, thời gian làm việc, công suất thực tế của máy móc thiết bị; điều lệ, chế

độ, mức trả lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên,

- Phương pháp xác minh: Thường đươc sử dụng khi có sự nghi vấn về hànghóa, chi phí mua vào của doanh nghiệp có dấu hiệu sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặcxác minh tính có thực của nghiệp vụ kinh tế phát sinh như nguồn gốc hàng hóa muavào, tình hình chấp hành pháp luật thuế của các doanh nghiệp, vv

- Phương pháp kiểm kê: Được áp dụng để kiểm tra đột xuất, kiểm kê hàng tồnkho thực tế, đối chiếu với sổ kế toán để phát hiện gian lận, đồng thời xử lý kịp thờihành vi sai phạm

1.1.4.2 Phương pháp kiểm tra theo kỹ thuật quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro là một phương pháp quản lý khoa học và hiệu quả trong điều kiện

số lượng NNT ngày càng tăng lên nhanh chóng hiện nay, đồng thời mức độ quản lýngày càng phức tạp do trình độ của NNT ngày càng cao, các hoạt động kinh tế phátsinh ngày càng đa dạng và phong phú dẫn đến khối lượng công việc của công tác quản

lý thuế tăng lên, vượt quá khả năng của các cơ quan thuế trong khi nguồn lực của các

cơ quan thuế đang bị hạn chế nhất định Theo kinh nghiệm quốc tế, cơ quan thuế cầnphân chia DN thành các nhóm theo các cấp độ tuân thủ, khi đó mới có biện pháp quản

lý, giám sát phù hợp và hiệu quả Việc phân định, phân chia DN thành các nhóm theocác cấp độ tuân thủ sẽ giúp cơ quan thuế tối ưu hóa chi phí quản lý cũng như phân bốcác nguồn lực một cách hiệu quả, tránh lãng phí

Kiểm tra thuế trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro đã được nhiều nước trên thế giới

áp dụng Quản lý rủi ro trong quản lý thuế nói chung và kiểm tra - thanh tra thuế nóiriêng với mục tiêu để cơ quan thuế đánh giá việc tuân thủ pháp luật thuế đối với doanhnghiệp trong các nghiệp vụ quản lý thuế (bao gồm đăng ký thuế; khai thuế; nộp thuế;

Trang 25

nợ thuế; hoàn thuế; kiểm tra; thanh tra thuế ) đã chính thức được luật hóa tại Luật sửađổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế năm 2012, Nghị định số 83/2013/NĐ-

CP, Thông tư số 204/2015/TT-BTC và một số văn bản hướng dẫn có liên quan

Theo quy định tại Thông tư số 204/2015/TT-BTC ngày 21/12/2015 của Bộ Tàichính quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế, các biện pháp, kỹ thuậtquản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ của cơ quan thuế, bao gồm:

- Áp dụng tiêu chí quản lý rủi ro

- Thu thập, xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu liên quan đến NNT (NNT); xâydựng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý rủi ro

- Đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế, đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro đốivới NNT

- Phân tích rủi ro, xác định trọng điểm rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ QLT

- Quản lý hồ sơ rủi ro đối với NNT phải giám sát trọng điểm trong công tácQLT có nguy cơ không tuân thủ pháp luật về thuế, gian lận thuế

- Xây dựng, quản lý áp dụng danh sách NNT rủi ro

- Ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để xác định hình thức, mức độ quản

lý, đôn đốc, kiểm tra

- Đo lường, đánh giá tuân thủ pháp luật thuế trong hoạt động nghiệp vụ QLT

- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra đánh giá hiệu lực, hiệu quả thực hiện các biệnpháp đôn đốc, kiểm tra và các biện pháp nghiệp vụ khác trong QLT đối với NNT

I 1.5 Quy trình kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

II 5.1 Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế

Được thực hiện theo 2 phương pháp:

Thứ nhất: Kiểm tra bằng phương pháp thủ công

- Lựa chọn danh sách NNT để kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuếtối thiểu là 20% số lượng doanh nghiệp hoạt động đang quản lý thuế như sau:

+ Từ 15% số lượng NNT trở lên lựa chọn bằng ứng dụng lập kế hoạch thanh tra,kiểm tra thuế theo rủi ro (TPR);

+ Từ 5 % số lượng NNT trở lên lựa chọn qua thực tiễn quản lý thuế tại địaphương có rủi ro cao, có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế, khai sai số thuế phải nộp

Danh sách NNT được lựa chọn theo rủi ro nêu trên để kiểm tra hồ sơ khai thuếtại trụ sở cơ quan thuế không trùng lắp với danh sách kế hoạch thanh tra và kế hoạch

Trang 26

kiểm tra, chuyên đề kiểm tra Danh sách này phải được trưởng bộ phận kiểm tra trìnhThủ trưởng cơ quan thuế trước ngày 20 tháng 12 hàng năm và Thủ trưởng cơ quan thuếphê duyệt trước ngày 30 tháng 12 hàng năm.

Danh sách NNT để kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế có thể bổsung, điều chỉnh hàng quý hoặc 6 tháng tùy thuộc vào thực tiễn phát sinh và phát hiệncác hành vi vi phạm về thuế tại địa phương Việc bổ sung, điều chỉnh danh sách NNT

do Thủ trưởng cơ quan thuế trực tiếp quản lý quyết định

- Căn cứ vào danh sách số lượng NNT phải kiểm tra hồ sơ khai thuế, trưởng bộphận kiểm tra trình Thủ trưởng cơ quan thuế giao nhiệm vụ cụ thể số lượng NNT phảikiểm tra hồ sơ thuế cho từng công chức kiểm tra thuế

Chậm nhất là 25 ngày sau ngày kết thúc hạn nộp hồ sơ khai thuế, công chứckiểm tra thuế có trách nhiệm kiểm tra tất cả các loại hồ sơ khai thuế bao gồm: Hồ sơkhai thuế theo từng lần phát sinh; các loại hồ sơ khai thuế theo tháng; các loại hồ sơkhai thuế theo quý; các loại hồ sơ khai thuế theo năm của NNT được giao

- Kiểm tra các căn cứ tính thuế để xác định số thuế phải nộp; số tiền thuế đượcmiễn, giảm; số tiền hoàn thuế theo phương pháp đối chiếu, so sánh như sau:

+ Đối chiếu với các quy định của các văn bản pháp luật về thuế

+ Đối chiếu các chỉ tiêu trong tờ khai thuế với các tài liệu kèm theo (nếu có).+ Đối chiếu các chỉ tiêu phản ánh trong tờ khai thuế, các tài liệu kèm theo tờkhai thuế (nếu có) với tờ khai thuế, các tài liệu kèm theo tờ khai thuế (nếu có) thángtrước, quý trước, năm trước

+ Đối chiếu với các dữ liệu của NNT có quy mô kinh doanh tương đương, cócùng ngành nghề, mặt hàng đăng ký kinh doanh

+ Đối chiếu với các thông tin, tài liệu thu thập được từ các nguồn khác (nếu có)

- Kết thúc kiểm tra mỗi hồ sơ khai thuế, công chức kiểm tra thuế phải nhận xét

hồ sơ khai thuế theo mẫu số 01/QTKT kèm theo quy trình này:

+ Đối với các hồ sơ khai thuế khai đầy đủ chỉ tiêu; đảm bảo tính hợp lý, chínhxác của các thông tin, tài liệu; chưa phát hiện dấu hiệu rủi ro thì bản nhận xét hồ sơkhai thuế được lưu lại cùng với hồ sơ khai thuế

+ Đối với các hồ sơ khai thuế qua đối chiếu, so sánh, phân tích xét thấy có nộidung khai chưa đúng, số liệu khai không chính xác hoặc có những nội dung cần xácminh liên quan đến số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được

Trang 27

giảm, số tiền thuế được hoàn công chức kiểm tra thuế phải báo cáo trưởng bộ phậnkiểm tra trình Thủ trưởng cơ quan thuế ra thông báo bằng văn bản đề nghị NNT giảitrình hoặc bổ sung thông tin tài liệu theo mẫu số 01/KTTT ban hành kèm theo Thông tư

số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính

Thứ hai: Kiểm tra bằng phần mềm ứng dụng

Kiểm tra các căn cứ tính thuế liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp; sốtiền thuế được miễn, giảm; số tiền hoàn thuế

+ Chậm nhất là 25 ngày sau ngày kết thúc hạn nộp hồ sơ khai thuế, công chứckiểm tra sử dụng phần mềm ứng dụng kiểm tra hồ sơ khai thuế để kiểm tra gán điểmcho từng tiêu chí; theo đó ứng dụng sắp xếp NNT (hồ sơ khai thuế) theo từng tiêu chírủi ro và đưa ra nhận xét, cảnh báo đối với từng tiêu chí; đồng thời ứng dụng sắp xếpNNT theo mức độ rủi ro tổng thể của toàn bộ tiêu chí theo thứ tự từ rủi ro cao đến rủi

ro thấp giúp cho việc phân loại NNT (hồ sơ khai thuế) theo mức độ rủi ro về thuế.Riêng đối với thuế thu nhập cá nhân thì áp dụng phần mềm quản lý thuế TNCN để pháthiện rủi ro trong hồ sơ khai thuế TNCN, cá nhân có thu nhập từ 2 nơi trở lên chưa đượckhấu trừ thuế, không tự quyết toán thuế theo quy định

+ Công chức kiểm tra in danh sách NNT sắp xếp theo mức độ rủi ro và in nhậnxét, cảnh báo rủi ro đối với từng NNT trên hệ thống

Bản nhận xét (cảnh báo rủi ro) của từng NNT được in ra từ hệ thống, công chứckiểm tra tiếp tục xem xét, đối chiếu hồ sơ khai thuế để bổ sung nhận xét (nếu có) vàomẫu số 01/QTKT kèm theo quy trình này:

+ Đối với NNT (hồ sơ khai thuế) chưa phát hiện rủi ro, chưa có dấu hiệu viphạm thì công chức kiểm tra in danh sách NNT chưa có rủi ro từ hệ thống và trìnhtrưởng bộ phận kiểm tra ký duyệt để lưu hồ sơ kiểm tra

+ Đối với NNT (hồ sơ khai thuế) có rủi ro thấp thì công chức kiểm tra in nhậnxét hồ sơ khai thuế để trình trưởng bộ phận kiểm tra ký lưu hồ sơ mà không phải banhành thông báo, trừ trường hợp có chỉ đạo của trưởng bộ phận kiểm tra, thủ trưởng cơquan thuế hoặc có những dấu hiệu nghi vấn cần phải làm rõ

+ Đối với NNT (hồ sơ khai thuế) có rủi ro cao và rủi ro vừa: bản nhận xét hồ sơkhai thuế có cảnh báo rủi ro về thuế thì công chức kiểm tra thuế in thông báo NNT theothứ tự rủi ro cao đến rủi ro vừa để báo cáo trưởng bộ phận kiểm tra trình thủ trưởng cơ

Trang 28

quan thuế ký thông báo đề nghị NNT giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu theo mẫu

số 01/KTTT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính

1.1.5.2 Kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế

Kiểm tra tại trụ sở NNT thực hiện trong các trường hợp sau:

- Trường hợp NNT không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu theo thông báocủa cơ quan thuế; không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơthuế nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng; hoặc cơ quan thuế không

đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp (còn gọi là kiểm tra từ hồ sơ khai thuế);

- Trường hợp qua phân tích, đánh giá việc chấp hành pháp luật thuế của NNTxác định có dấu hiệu vi phạm pháp luật (còn gọi là kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm);

- Trường hợp kiểm tra trước hoàn thuế sau và kiểm tra sau hoàn thuế theo quyđịnh (còn gọi là kiểm tra hoàn thuế);

- Trường hợp được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề do thủ trưởng cơ quanquản lý thuế cấp trên quyết định (còn gọi là kiểm tra theo kế hoạch, chuyên đề);

- Trường hợp NNT chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phầnhóa, đóng mã số thuế, chuyển địa điểm kinh doanh và các trường hợp kiểm tra đột xuất,kiểm tra theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền (còn gọi là kiểm tra khác)

Việc kiểm tra thuế tại trụ sở của NNT chỉ được thực hiện khi có quyết địnhbằng văn bản của thủ trưởng cơ quan thuế Luật quản lý thuế và văn bản hướng dẫn thihành Luật này có quy định cụ thể, rõ ràng về trình tự, thủ tục, thời hạn kiểm tra thuế tạitrụ sở của NNT, cách thức lập, nội dung của biên bản kiểm tra thuế, việc xử lý kết quảkiểm tra thuế Ngoài ra, Luật quản lý thuế còn quy định rõ quyền và nghĩa vụ của NNTtrong kiểm tra thuế tại trụ sở của NNT; nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quanquản lý thuế ra quyết định kiểm tra thuế và công chức quản lý thuế trong việc kiểm trathuế (Điều 79, 80 Luật quản lý thuế)

Trong quá trình thực hiện kiểm tra tại trụ sở NNT, cán bộ đoàn kiểm tra cầnquán triệt thực hiện các nội dung sau:

- Các thành viên đoàn kiểm tra phải thực hiện phần công việc theo sự phâncông của Trưởng đoàn kiểm tra và chịu trách nhiệm về phần công việc được giao Kếtthúc phần việc được giao, thành viên đoàn kiểm tra phải lập biên bản xác định số liệukiểm tra với đại diện NNT

Trang 29

- Trong quá trình thực hiện kiểm tra, Đoàn kiểm tra được quyền kiểm tra tàisản, vật tư, hàng hóa, xem xét chứng từ kế toán, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, cáctài liệu có liên quan trong phạm vi nội dung của Quyết định kiểm tra thuế Đối vớinhững thông tin, tài liệu, số liệu NNT đã nộp cho cơ quan thuế theo quy định hiện hànhnhư: Tài liệu, hồ sơ về đăng ký, kê khai nộp thuế báo cáo sử dụng hóa đơn, thì đoànkiểm tra không yêu cầu NNT cung cấp mà khai thác, tra cứu tại cơ quan thuế để phục

vụ cho việc kiểm tra

Trường hợp NNT thực hiện kế toán trên máy vi tính bằng phần mềm kế toán(đáp ứng quy định tại Thông tư 103/2005/TT-BTC ngày 24/11/2005 của Bộ Tài chínhhướng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán) thì đoàn kiểm tra yêu cầucung cấp sổ kế toán được lưu trữ trên các dữ liệu điện tử đọc được bằng các phần mềmvăn phòng thông dụng, có nội dung như bản NNT đã in ra để lưu trữ theo quy định, màkhông yêu cầu in ra giấy

Trường hợp cần phải tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép liên quan đến hành vi trốnthuế, gian lận thuế thì Trưởng đoàn kiểm tra phải báo cáo trưởng bộ phận kiểm tra trìnhThủ trưởng cơ quan thuế có quyết định áp dụng biện pháp tạm giữ tiền, đồ vật, giấyphép liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định của Luật quản lýthuế

- Trưởng đoàn kiểm tra và các thành viên trong đoàn kiểm tra không được yêucầu NNT cung cấp các thông tin tài liệu không liên quan đến nội dung kiểm tra; thôngtin tài liệu thuộc bí mật của Nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

- Trường hợp trong thời gian kiểm tra, NNT tự phát hiện và nộp số tiền thuếkhai sai hoặc gian lận vào ngân sách nhà nước thì Đoàn kiểm tra ghi nhận chứng từ nộptiền, số tiền thuế đã nộp vào biên bản để xử lý vi phạm theo quy định của Luật quản lýthuế

- Thời hạn kiểm tra tại trụ sở của NNT không quá 5 ngày làm việc thực tế, kể từngày bắt đầu công bố quyết định kiểm tra tại trụ sở NNT Trong trường hợp xét thấycần phải kéo dài thời gian để xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ thì chậm nhất làtrước một ngày kết thúc thời hạn kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra phải báo cáo trưởng

bộ phận kiểm tra trình Thủ trưởng cơ quan thuế để có quyết định bổ sung thời hạn kiểmtra Mỗi cuộc kiểm tra chỉ được bổ sung thêm thời hạn kiểm tra một lần Thời gian bổsung không quá 5 (năm) ngày làm việc thực tế

Trang 30

- Trong thời gian kiểm tra tại trụ sở NNT phát sinh trường hợp bất khả khángphải tạm dừng kiểm tra thì NNT phải có văn bản đề nghị nêu rõ lý do tạm dừng, thờigian tạm dừng Theo đó, trưởng đoàn kiểm tra báo cáo trưởng bộ phận kiểm tra trìnhThủ trưởng cơ quan thuế ban hành thông báo về việc tạm dừng kiểm tra.

Trường hợp phải tạm dừng bởi lý do bất khả kháng từ cơ quan thuế thì trưởng đoànkiểm tra báo cáo trưởng bộ phận kiểm tra trình Thủ trưởng cơ quan thuế ban hànhthông báo về việc tạm dừng kiểm tra Thời gian tạm dừng không tính trong thời hạnkiểm tra

- Trường hợp NNT không chấp hành quyết định kiểm tra thuế quá thời hạn 03(ba) ngày làm việc kể từ ngày phải chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyềnhoặc từ chối, trì hoãn, trốn tránh việc cung cấp hồ sơ tài liệu hóa đơn, chứng từ, sổ kếtoán liên quan đến nghĩa vụ thuế quá thời hạn 06 (sáu) giờ làm việc kể từ khi nhậnđược yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong thời gian kiểm tra tại trụ sở của NNTthì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định

Việc xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện thông qua biên bản vi phạmhành chính có chữ ký của NNT hoặc đại diện NNT Trường hợp người vi phạm, đạidiện đơn vị vi phạm không có mặt hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan màkhông ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơixảy ra vi phạm hoặc của 2 người chứng kiến

1.1.5.3 Công cụ kiểm tra thuế

- Sổ tay nghiệp vụ thuế điện tử: Sổ tay thanh tra - kiểm tra thuế được thiết kế vàxây dựng dưới dạng một website thông tin điện tử giúp cán bộ công chức thuế khai tháccác văn bản liên quan đến pháp luật nói chung, pháp luật thuế và các tài liệu hướng dẫnliên quan đến công tác quản lý thuế Đồng thời giúp cho cán bộ thuế có thể học tập chia

sẻ kinh nghiệm trong công tác quản lý, kiểm tra về công tác thanh tra kiểm tra

1.2 Cơ sở lý luận của pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Quan hệ thu, nộp thuế giữa nhà nước và dân cư phải được thực hiện dựa trênnhững căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật kiểm tra thuế

Hiện nay, trong lĩnh vực quản lý thuế, pháp luật kiểm tra thuế đóng vai trò thenchốt để đảm bảo cho công tác thu thuế thu đúng, thu đủ, và sự tuân thủ pháp luật kiểmtra thuế của người nộp thuế

Trang 31

Pháp luật kiểm tra thuế là phương tiện để ngăn ngừa, răn đe các hành vi vi phạmpháp luật pháp luật thuế Pháp luật kiểm tra thuế giúp hoạt động kiểm tra thuế phântích, đánh giá việc chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế Thông qua pháp luậtkiểm tra thuế, hoạt động kiểm tra thuế sẽ phát hiện những hành vi vi phạm theo phápluật, để kịp thời chấn chỉnh, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước.

Tóm lại, Pháp luật kiểm tra thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnhcác quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước cóthẩm quyền và người nộp thuế nhằm hình thành nguồn thu ngân sách nhà nước để thựchiện các mục tiêu xác định trước

Việc đưa ra khái niệm pháp luật về kiểm tra thuế nhằm phân định ranh giới giữacác nhóm quan hệ, qua đó lựa chọn áp dụng các quy phạm pháp luật phù hợp, đạt đượchiệu quả điều chỉnh cao

1.2.2 Nội dung pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Hiện nay, một số nước xã hội chủ nghĩa đã có những thay đổi về chính sáchkinh tế và tài chính, áp dụng cơ chế kinh tế thị trường, tăng cường giao lưu thương mạivới nhiều nước trên thế giới, trong khu vực cũng như ngoài khu vực, không phân biệtthể chế chính trị Một số nước đã áp dụng chính sách pháp luật kiểm tra thuế với nhiều

ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài để thu hút vốn đầu tư Do đó các Luậtkiểm tra thuế về cơ bản cũng có nhiều thay đổi Tuy nhiên mục đích của Luật kiểm trathuế vẫn là điều tiết thu nhập nhằm đảm bảo công bằng và chính sách thuế vẫn có xuhướng thiên về loại gián thu

Nói chung, tại một số nước xã hội chủ nghĩa, các Luật kiểm tra thuế với thuếsuất cũng như cách tính thuế đang được áp dụng có nhiều điểm tương đồng, phù hợpvới chuẩn mực chung với Luật kiểm tra thuế của các nước tiên tiến trên thế giới

Chẳng hạn, hiện nay nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đang áp dụng cácloại thuế như: Thuế giá trị gia tăng; Thuế doanh thương; Thuế tiêu thụ; Thuế tàinguyên; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế thu nhập cá nhân; Thuế địa ốc tại thànhphố; Thuế trị giá đất; Thuế môn bài; Thuế con niêm; Thuế quan

Ngoài ra, có nước còn áp dụng các loại thuế khác như: Thuế sử dụng đất nôngnghiệp; Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Thuế môn bài; Thuế trước bạ

Đối với pháp luật kiểm tra thuế của các nước tư bản đã có từ rất lâu đời và luônđược bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ngày một

Trang 32

phát triển Hệ thống pháp luật thuế của các nước tư bản áp dụng nhiều Luật kiểm trathuế khác nhau, được phân loại và xếp thành hệ thống bao gồm: Thuế trực thu: Có Thunhập công ty; Thuế thu nhập cá nhân; Thuế môn bài hay thuế nghề nghiệp; Thuế tàisản Thuế gián thu có: Thuế tiêu thụ đặc biệt (thuế tiêu dùng); Thuế giá trị gia tăng;Thuế hí cuộc; Thuế quan; Thuế trước bạ và con niêm;

Về cơ bản các nước có nền kinh tế thị trường đều áp dụng các Luật kiểm trathuế trên đây và coi đây là nguồn thu cơ bản cho ngân sách Nhà nước Tuy nhiên cũngtùy theo cơ chế kinh tế và tổ chức xã hội của mỗi nước mà có sự thay đổi trong cáchtính thuế và thuế suất

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập cho đến nay, cùng với sựphát triển của ngành tài chính, tổ chức bộ máy tài chính nói chung và tổ chức bộ máythu thuế nói riêng được phát triển và hoàn thiện dần, từng bước phù hợp với cơ chếquản lý kinh tế tài chính phù hợp với tổ chức hành chính Nhà nước và tổ chức quản lýsản xuất, kinh doanh

Trước khi tiến hành cải cách hệ thống pháp luật kiểm tra thuế áp dụng chungcho tất cả các thành phần kinh tế, bộ máy thu thuế Việt Nam được tổ chức như sau:

- Bộ máy thu thuế được tổ chức theo từng thành phần kinh tế, phù hợp với chế

độ thu thuế áp dụng cho mỗi thành phần kinh tế, đó là:

- Bộ máy thu quốc doanh và quản lý tài chính xí nghiệp quốc doanh: chịu tráchnhiệm quản lý các khoản thu từ xí nghiệp quốc doanh

- Bộ máy thu thuế nông nghiệp: chịu trách nhiệm quản lý thu thuế hợp tác xãnông nghiệp và cá thể

- Bộ máy thu thuế công thương nghiệp: chịu trách nhiệm quản lý thu thuế côngthương nghiệp đối với kinh tế tập thể, cá thể kinh doanh công thương nghiệp

Đối với khu vực xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, Nhà nước thực hiện quản lý vàthu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thông qua bộ máy thu thuế là Tổng cục hải quan

Về hình thức tổ chức cũng có nhiều thay đổi qua các thời kỳ: có lúc bộ máy thuthuế được tổ chức thành hệ thống dọc, trực tuyến từ trung ương xuống đến quận,

huyện; có lúc bộ máy thu thuế được tổ chức thành một bộ phận nằm trong cơ cấu bộmáy của cơ quan tài chính các cấp

Để phù hợp với tình hình mới của đất nước, Ngày 7/8/1990, Hội đồng Bộtrưởng ban hành Nghị định số 281/HĐBT về việc thành lập bộ máy thu thuế Nhà nước

Trang 33

trực thuộc Bộ Tài chính Ngày 21/8/1991 Bộ Tài chính ra Quyết định số 316 QĐ/TCCB thành lập Tổng cục Thuế Nhà nước trực thuộc Bộ tài chính làm nhiệm vụquản lý thuế nội địa Việc quản lý thuế xuất nhập khẩu do Tổng cục Hải quan tiếp tụcthực hiện.

TC-Thời gian đầu khi mới ban hành Luật kiểm tra thuế đối với Doanh nghiệp,Chính phủ áp dụng luật kiểm tra thuế thường chọn đánh thuế vào những nội dung dễ đolường như: Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế môn bài

Tuy nhiên sau hơn ba mươi hai năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnhđạo của Đảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệthống pháp luật kiểm tra thuế nói riêng đã có những tiến bộ quan trọng Quy trình banhành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới Nhiều bộ luật, luật, pháp lệnhđược ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn để Nhà nước quản

lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được đề cao và phát huy trên thực

tế Công tác phổ biến và giáo dục pháp luật thuế được tăng cường đáng kể Những tiến

bộ đó đã góp phần thể chế hoá đường lối của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lýđiều hành của Nhà nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị - xãhội của đất nước

Thực tế cho đến nay sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế những chế địnhquan trọng trong Luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp đã có nhiều biến đổi Theo

đó các khoản thu sẽ được tính thuế đối với Doanh nghiệp ở Việt Nam gồm: thu nhập từhoạt động sản xuất, kinh doanh

1.2.3 Tính khách quan của pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Sự ra đời và tồn tại của pháp luật kiểm tra thuế gắn liền với sự phân chia xã hộithành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước - pháp luật Pháp luật kiểmtra thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉphụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội củatừng thời kỳ lịch sử nhất định Sự xuất hiện Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vậtchất cần thiết chi cho những hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảmbảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội củamình Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùng với phạm vi hoạtđộng của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phương thức tự

Trang 34

nguyện của người nộp thuế trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa.

Để có được lượng của cải cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lực của mình ban hànhpháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải đóng góp cho Nhà nướcmột phần của cải mà họ làm ra và hình thành qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước Banđầu những của cải vật chất này được thu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần phươngthức tính thuế được chuyển sang hình thức tiền tệ Đồng thời với việc ấn định nghĩa vụthu nộp của cải vật chất đối với người nộp thuế, Nhà nước đảm bảo việc thực hiện cácnghĩa vụ đó bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước Sự xuất hiện sản phẩm thặng dưtrong xã hội là cơ sở chủ yếu để pháp luật về thuế cũng như là pháp luật kiểm tra thuếtồn tại và phát triển Như vậy, pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp là phạm trù

có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan, pháp luật kiểm tra thuế ra đời xuất phát từnhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nước và sự tồn tại của pháp luật kiểm tra thuếkhông tách rời quyền lực Nhà nước

Pháp luật kiểm tra thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành

Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của Pháp luật thuế nói chung đối với việchình thành qũy ngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của pháp luật kiểm tra thuếnói riêng là không nhỏ đối với đời sống kinh tế - xã hội nên thẩm quyền quy định, sửađổi, bãi bỏ pháp luật kiểm tra thuế đều thuộc cơ quan lập pháp Đây là nguyên tắc sớmđược ghi nhận trong pháp luật của các nước Chẳng hạn ở nước Anh đạo Luật về dânquyền năm 1688 quy định: cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhànước nếu không được Quốc hội chấp thuận ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứmột khoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không được áp dụng.Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hội Pháp có quyền biểuquyết và định đoạt các Luật thuế Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namquy định: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luậtthuế Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thểgiao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số loại sắcthuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế

Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhânđối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp Thuế là nghĩa vụ thanhtoán mà các thể nhân và pháp nhân khi có các dấu hiệu và điều kiện được quy định cụ

Trang 35

thể trong pháp luật kiểm tra thuế thì phải thực hiện đối với Nhà nước và được đảm bảothực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước.

Pháp luật kiểm tra thuế là công cụ nhằm phản ánh quan hệ phân phối lại của cảivật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội Nhànước thu thuế thông qua việc áp dụng hệ thống pháp luật làm phát sinh quan hệ phânphối giữa Nhà nước với các thể nhân và pháp nhân trong xã hội Đối tượng của quan hệphân phối này là của cải vật chất được biểu hiện dưới hình thức giá trị

Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, đặc điểm củaphương thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến vai trò,nội dung, đặc điểm của pháp luật kiểm tra thuế Do đó, cơ cấu và nội dung của cả hệthống pháp luật kiểm tra thuế phải được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung, cải tiến và đổimới kịp thời nhằm thích hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng giai đoạn Đồng thờiphải tổ chức bộ máy phù hợp, đủ sức đảm bảo thực hiện các quy định pháp luật vềkiểm tra thuế đã được Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ Hệ thống pháp luật kiểmtra thuế được coi là phù hợp không chỉ nhìn một cách phiến diện vào số lượng các Luậtthuế nhiều hay ít, vào mục tiêu đơn thuần là động viên tài chính vào ngân sách Nhànước mà phải được phân tích một cách toàn diện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh

tế, với đời sống xã hội, không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của doanhnghiệp

Ở nước ta trước cải cách chế độ thu ngân sách Nhà nước, pháp luật thuế chỉ ápdụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập thể và cá thể

Để thực hiện chế độ thu ngân sách Nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường, phát huyvai trò của các hình thức thu ngân sách Nhà nước, cuộc cải cách chế độ thu ngân sáchNhà nước được thực hiện trên cơ sở Nghị quyết Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ IV năm

1989 Kết qủa của cuộc cải cách này đưa đến việc áp dụng thống nhất chế độ thu thuếđối với tất cả các thành phần kinh tế, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức kinhdoanh Từ đây thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước vàthuế chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước

Tóm lại, thuế là công cụ quan trọng, song khi Nhà nước dùng chính sách thuế

để động viên nguồn lực tài chính vào NSNN, xét ở một khía cạnh nào đó là sự chuyểndịch lợi ích từ khu vực tư sang khu vực công Điều đó tất yếu xảy ra rằng: khu vực tư

sẽ phải tìm cách càng giảm được nghĩa vụ thuế đối với nhà nước càng nhiều càng tốt

Trang 36

Với những lý do trên, có thể nói pháp luật kiểm tra thuế phải được nhà nước, ngànhthuế và xã hội hết sức quan tâm hơn bao giờ hết Cần thiết phải có chế định pháp luậtkiểm tra thuế đối với doanh nghiệp Mặc dù pháp luật kiểm tra thuế là một lĩnh vựckhông mới mẻ, song là một lĩnh vực hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có những nhận thứcsâu sắc và toàn diện về pháp luật kiểm tra thuế cả trên góc độ lý luận và thực tiễn.

Kết luận chương 1

Một số vấn đề cơ bản về quản lý thuế và công tác kiểm tra thuế trong hệ thốngpháp luật thuế nêu trên giúp chúng ta có được cái nhìn tương đối đầy đủ, cơ bản vềpháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp bước đầu đã đặt những viên gạch đầu tiên

để xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật thuế đối với doanh nghiệp

về sau

Pháp luật kiểm tra thuế có đóng góp quan trọng trong việc góp phần ổn định trật

tự trên các phương diện về pháp lý, kinh tế và chính trị xã hội Pháp luật kiểm tra thuế

cụ thể là các điều luật trong hệ thống pháp luật thuế ngoài việc làm căn cứ cho việc xácđịnh đúng nghĩa vụ thuế của các đơn vị sản xuất kinh doanh đối với Nhà nước mà còngiúp đơn vị nắm bắt được hành lang pháp lý trong việc sản xuất kinh doanh, và xácđịnh nghĩa vụ thuế của đơn vị Vì vậy việc quản lý thuế của Nhà nuớc tốt hay không tốt

sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực trong việc tạo nên môi trường pháp lý, kinh tếbình đẳng hoặc bất bình đẳng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như nghĩa vụnộp thuế đối với Nhà nước Các chính sách, quy định pháp luật kiểm tra thuế sẽ là công

cụ để Nhà nước điều tiết các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đểnhững hoạt động này vừa vận hành theo đúng quy luật thị trường vừa đảm bảo lợi íchcủa Nhà nước

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Thực trạng pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

2.1.1 Hệ thống quy phạm pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Trong hệ thống quy phạm pháp luật kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp hiệnnay, chính sách thuế áp dụng một số sắc thuế chủ yếu là: Thuế Môn bài; Thuế Giá trị

Trang 37

gia tăng; Thuế Thu nhập cá nhân (từ năm 2008 trở về trước là Thuế Thu nhập cao);Thuế Thu nhập doanh nghiệp; Thuế Tiêu thụ đặc biệt; Thuế Bảo vệ môi trường; ThuếTài nguyên Trong đó, các sắc thuế ảnh hưởng nhiều nhất đến Doanh nghiệp là ThuếGiá trị gia tăng; Thuế Thu nhập doanh nghiệp và Thuế Thu nhập cá nhân.

Vì vậy, công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp hiện nay chủ yếu phải căn

cứ vào những cơ sở pháp lý sau:

2.1.11 Về Luật Quản lý thuế

STT Tên văn bản Nội dung

1 Luật Quản Lý thuế số

78/2006/QH11 ngày 26/11/2006

Luật Quản lý thuế năm 2006

2 Luật quản lý thuế số

Trang 38

4 Thông tư số 166/2013/TT- BTC

ngày 15/11/2013

Quy định chi tiết về Xử phạt vi phạm hành chính về thuế

STT Tên văn bản Nội dung

Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định

số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng

STT Tên văn bản Nội dung

ngày 22/6/2015

Sửa đổi bổ sung thông tư số 78/2014/TT-BTC về thuế Thu nhập doanh nghiệp

- ' -7 - 1

-2.1.1.3 Về Luật Thuế giá trị gia tăng

2.1.1.4 Về Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp

2.1.1.3 Về Luật Thuế Thu nhập cá nhân

STT Tên văn bản Nội dung

1 Luật số 04/2007/QH12 ngày

21/11/2007

Luật Thuế thu nhập cá nhân

2 Luật số 26/2012/QH13 ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập

Trang 39

4 Thông tư số 111/2013/TT-BTC

ngày 15/8/2013

Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân

2.1.1.4 về Thuế môn bài

STT Tên văn bản Nội dung

3 Thông tư số 42/2003/TT-BTC

ngày 07/05/2003

Hướng dẫn bổ sung, sửa đổi Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 75/2002/NĐ-CP ngày 30/8/2002 của Chính phủ về việc điều chỉnh mức thuế Môn bài

Ngoài ra, để kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp còn phải căn cứ vào những cơ

Trang 40

2.1.2 Thực trạng quy định về chủ thể kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Thuế được xem là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước, đảm đương nhiều nhiệm vụ quan trọng, cân đối thu chi cho ngân sách nhà nước Tuy vậy, hiện nay số vụ vi phạm pháp luật thuế ngày càng có chiều hướng gia tăng, khó kiểm soát Điều đó đòi cần phải tăng cường công tác kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế.

Xét về chủ thể kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp thì phạm vi chủ thể tiến hành hoạt động kiểm tra rất đa dạng.

Chủ thể kiểm tra thuế được xác định theo quy định tại khoản 2, Điều 2, Luật quản lý thuế năm 2006 cơ quan quản lý bao gồm: Cơ quan quản lý thuế và

Cơ quan hải quan.

Cơ quan quản lý thuế được tổ chức thành ba cấp từ Trung ương đến địa phương, từ Tổng cục thuế đến Cục thuế và cuối cùng là Chi cục thuế Tổng cục thuế phụ trách quản lý trên địa bàn lãnh thổ Cục thuế phụ trách địa bàn tỉnh Chi cục thuế phụ trách địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Đối với doanh nghiệp, do tính chất sản xuất, kinh doanh trải rộng và đông đảo trên khắp địa bàn nên cần có một bộ phận chuyên môn, nắm chắc địa bàn để

có thể quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp một cách chặt chẽ Mô hình quản lý thuế đối với doanh nghiệp hiện nay là các phòng Kiểm tra, Thanh tra trực thuộc Cục thuế các tỉnh thành, các đội kiểm tra thuế tại Chi cục thuế.

Phòng Kiểm tra, Thanh tra có nhiệm vụ giúp Cục trưởng Cục thuế quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn được phân công: xây dựng chương trình, kế hoạch công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp; nắm tình hình sản xuất, kinh doanh; lập danh sách và sơ đồ quản lý doanh nghiệp; hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện pháp luật về thuế; thực hiện điều tra doanh thu, đôn đốc việc kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế của doanh nghiệp; tiếp nhận công văn đóng mã, giải thể; công văn xin miễn giảm thuế của các doanh nghiệp trình cấp có

Ngày đăng: 20/06/2018, 18:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2013), Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế;Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, Nxb tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2013), Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nxb tài chính
Năm: 2013
11. Chính phủ, Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuếhttp://www.luatquanlvthue.com/2014/03/nshi-dinh-so-83-2013-nd-cp.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ, Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 Quy định chi tiết thihành một số điều của Luật quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật quản lý thuế
18. Trương Thị Hồng Nhung (2013), Pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng tại Việt Nam
Tác giả: Trương Thị Hồng Nhung
Năm: 2013
19. Nguyễn Trọng Nghĩa (2009), Chính sách thuế bất động sản ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thuế bất động sản ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Nghĩa
Năm: 2009
20. Trần Thị Trinh (2010) Thuế thu nhập cá nhân hiện hành - Những vấn đề cần tháo gỡ, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế thu nhập cá nhân hiện hành - Những vấn đề cần tháogỡ
21. Quốc Hội (2006), Luật Quản Lý thuế số 78, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quản Lý thuế số 78
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
22. Quốc Hội (2012), Luật Quản lý thuế số 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quản lý thuế số 21
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
23. Quốc Hội (2012), Luật xử lý vi phạm hành chính số 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật xử lý vi phạm hành chính số 15
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
24. Quốc Hội (2008), Luật Thuế giá trị gia tăng 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế giá trị gia tăng 13
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
26. Quốc Hội (2008), Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp số 14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp số 14
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2008
28. Quốc Hội (2006), Luật Quản Lý thuế số 78, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quản Lý thuế số 78
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Chính phủ, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 Quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân http://www.moj.gov.vn/vbpq Link
17. Chính phủ, Nghị định số 75/2002/NĐ-CP ngày 30/08/2002 Điều chỉnh mức thuế môn bàihttp://vanbanphapluat.com/nghi-dinh-75-2002-nd-cp-ve-viec-dieu-chinh- muc- thue-mon-bai-322 76.html Link
2. Bộ Tài chính (2012), Hướng dẫn Luật quản lý thuế về đăng ký thuế, Nxb Tài chính Khác
3. Bộ Tài chính (2013), Quy định chi tiết về Xử phạt vi phạm hành chính về thuế, Nxb tài chính Khác
4. Bộ Tài chính (2013), Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng, Nxb tài chính Khác
5. Bộ Tài chính (2013), Hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Nxb tài chính Khác
6. Bộ Tài chính (2014), Sửa đổi bổ sung về thuế Thu nhập doanh nghiệp, Nxb tài chính Khác
7. Bộ Tài chính (2013), Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân, Nxb tài chính Khác
8. Bộ Tài chính (2002), Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh mức thuế Môn bài, Nxb tài chính Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w