Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 .... 50
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIỀU DIỄM
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ
THEO THỦ TỤC XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIỀU DIỄM
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ
THEO THỦ TỤC XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG THỊ QUỲNH CHI
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học được trình bày trong luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM 8
1.1 Tổng quan về thủ tục xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự và vị trí, chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm 8
1.2 Khái quát quá trình phát triển các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm 23
1.3 Kinh nghiệm của một số nước về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan công tố/kiểm sát trong việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH Ở VIỆT NAM 37
2.1 Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 37
2.2 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm 50
Chương 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM Ở VIỆT NAM 57
3.1 Hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm 57
3.2 Một số kiến nghị 63
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 5VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tại
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”; Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 tại Điều 27 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân
kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việ dân sự kịp thời, đúng pháp luật ;Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm”
Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự là một trong các nhiệm vụ thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự ở cả hai cấp xét xử là sơ thẩm, phúc thẩm và thủ tục xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án (thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm) Giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng Tòa án ở các nước thực hiện hai cấp xét xử Sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm) nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án thì đương sự có quyền kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền kháng nghị để Tòa án có thẩm quyền xét xử lại (phúc thẩm) bản án, quyết định đó Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay và cần được thi hành Tuy nhiên trong một số trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án lại không đúng với bản chất của sự việc hoặc có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng… do đó cần phải có một thủ tục đặc biệt để xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để sửa chữa những phán quyết sai lầm của Tòa án nhằm bảo quyền
Trang 7và lợi ích hợp pháp của đương sự, của Nhà nước và của các chủ thể khác Thủ tục đặc biệt đó chính là thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm (thủ tục phá án)
Ở Việt Nam thực hiện chế độ hai cấp xét xử đó là xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, song trên thực tế việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (xét xử giám đốc thẩm) đang bị coi là cấp xét xử thứ ba Trong những năm gần đây Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao nhận được một số lượng đơn rất lớn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Trong số đơn ấy có nhiều đơn đương sự đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm có căn cứ nhưng rất nhiều đơn đương sự đề nghị theo hướng “cầu may” vì vậy làm gia tăng áp lực giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm cho cả Tòa án và Viện kiểm sát
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án dân sự Đặc biệt, trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm thì Viện kiểm sát tham gia ngay từ khi nhận được đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của đương sự hoặc từ khi nhận được thông báo bằng văn bản của các cá nhân, cơ quan, tổ chức phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, qua các lần ban hành, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự có sự thay đổi nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự (Khi thì thu hẹp phạm vi của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự, khi thì mở rộng sự tham gia của Viện kiểm sát vào quá trình giải quyết các vụ án dân sự Sửa đổi Bộ luật Tố tung dân sự năm 2004 có rất nhiều ý kiến về vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự Tuy nhiên, ở thủ tục xét xử giám đốc thẩm thì nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát tiếp tục được khẳng định trong BLTTDS năm 2015 Thực tiễn trong các năm qua, khi thực hiện Bộ luật
Tố tụng dân sự thấy rằng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm còn một số hạn chế như: quyền yêu cầu của Viện kiểm sát (đặc biệt là
Trang 8yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát thực hiện việc kháng nghị theo thẩm quyền) còn chưa được Tòa án đáp ứng, kiến nghị của Viện kiểm sát đối với Tòa án trong việc chuyển hồ sơ vụ án đã được Tòa án tiếp thu song việc thực hiện kiến nghị còn chậm, số lượng kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát so với đơn đề nghị kháng nghị của đương sự còn khiêm tốn, do đó việc nghiên cứu các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát ở trình tự này là hết sức cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự ở thủ tục xét xử giám đốc thẩm là vấn đề pháp lý tương đối hep, do đó trong khoa học luật tố tụng dân sự chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này
Có một số công trình nghiên cứu về Bộ Luật tố tụng dân sự ít nhiều đề cập một số khía cạnh của vấn đề này; đó là: Đề tài khoa học cấp bộ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2006), “Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm đối với các vụ án dân sự, vụ án hình sự” [31]; "Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp", của TS Nguyễn Ngọc Khánh, Tạp chí Kiểm sát, số 14 và 16 năm 2008 [4]; Đề án của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2014) “Vị trí, vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” [33]; Đề tài khoa học cấp
bộ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2017) “Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân mới” [34]; Đề án của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2017), “Quy trình, kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới”[35] Một
số các chuyên đề nghiệp vụ như: “Thực trạng, giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm pháp tòa án nhân dân tối cao trong tố tụng dân sự”’ của Tiến sỹ Nguyễn Văn Quảng (2014)[10]; “Công tác kháng nghị giám đốc
Trang 9thẩm trong lĩnh vực thừa kế” của Tiến sỹ Lê Thành Dương (2015) [6] Một số các bài viết trên tạp chí Kiểm sát, Thông tin Khoa học kiểm sát, các chuyên
đề bồi dưỡng chuyên sâu cho công chức ngành Kiểm sát : “Những nội dung mới của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự” của Tiến sỹ Hoàng thị Quỳnh Chi trên Thông tin Khoa học kiểm sát số 3 và số 4 năm 2016; “Kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định dân sự của Tòa án” của Tiến sỹ Lê Thành Dương (2017) [7]; “Kỹ năng thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị trong giải quyết các vụ việc dân sự” của Tiến sỹ Vũ thị Hồng Vân (2017) [23]; “Kỹ năng kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm vụ án dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại và lao động; của thạc sỹ Phương Hữu Oanh (2017) [9]
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã ít nhiều đề cập đến nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc giải quyết các vụ án dân sự Tuy nhiên vấn đề nghiên cứu đặt ra có phạm vi tương đối hẹp (chỉ ở thủ tục giám đốc thẩm) trên cơ sở kế thừa, tiếp thu chọn lọc có bổ sung để hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình, tác giả mong muốn Luận văn này trở thành một tài liệu tham khảo tương đối đầy đủ và toàn diện, giải quyết được triệt để và thấu đáo vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu luận văn là nhằm góp phần hoàn thiện lý luận, hoàn thiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự ở thủ tục giám đốc thẩm góp phần giải quyết vụ án dân sự nhanh chóng và đúng pháp luật Để đạt được mục đích trên, Luận văn có nhiệm vụ :
Nghiên cứu những đề lý luận cơ bản nhiệm vụ vủa Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục GĐT
Nghiên cứu các quy định của một số nước như: Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Mỹ, Úc, Nhật Bản… về nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm
Trang 10sát/Viện công tố trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm, từ đó rút ra bài học đối với Việt Nam
Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ
án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm
Đề xuất giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đánh giá một cách đầy đủ, về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm, Luận văn nghiên cứu các quy định của một số quốc gia về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát/Viện công tố cũng như thực tiễn áp dụng các quy định đó Bên cạnh đó Luận văn cũng nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân qua các thời kỳ để khẳng định vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự
Theo quy định của BLTTDS năm 2015, Tòa án và Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự và các yêu cầu dân sự (vụ án dân
sự và việc dân sự); đồng thời khái niệm “dân sự” được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả dân sự, hôn nhân - gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động Trong phạm vi nghiên cứu, Luận văn chỉ đề cập đến việc giải quyết các vụ án dân sự quy đinh tại Điều 26 và Điều 28 BLTTDS năm 2015
Luận văn nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong thủ tục xét xử các vụ án dân sự ở giai đoạn giám đốc thẩm từ khi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân có hiệu lực thi hành từ tháng 6 năm 2015 (thành lập thêm một cấp kiểm sát mới có nhiệm vụ giám đốc thẩm) và Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016; do đó số liệu về thực tiễn
Trang 11thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm được thực hiện trong thời gian từ 01/6/2015 đến 30/11/2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác- Lê nin về nhà nước và pháp luật, dựa trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo của Đảng về hội nhập kinh tế và cải cách tư pháp Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là: phân tích, so sánh, bình luận, trao đổi, thống kê…
- Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về nhiệm
vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân
sự ở thủ tục xét xử giám đốc thẩm
- Nghiên cứu pháp luật của một số nước quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tố/Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ án dân sự ở thủ tục giám đốc thẩm
- Nghiên cứu thực tiễn việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ án dân sự ở thủ tục xét xử giám đốc thẩm trong thời gian qua
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm
và về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập môn Luật tố tụng dân sự, công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, cơ chế xét xử vụ án dân sự và các môn học về luật tổ chức
hệ thống tư pháp… tại các cơ sở đào tạo luật và cơ sở đào tạo của ngành
Trang 12- Luận văn là công trình nghiên cứu riêng biệt và chuyên sâu về căn
cứ nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự
- Luận văn chỉ ra được sự khác biệt trong quy định của pháp luật một
số nước trên thế giới thuộc các truyền thống pháp luật lục địa và án lệ về vấn
đề nghiên cứu; những yếu tố tiến bộ và phù hợp mà Việt Nam có thể tham khảo trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật của mình về vấn đề này
- Luận văn khảo sát, đánh giá được thực tiễn việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu thành 3 chương Chương 1: Những vấn đề chung về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm
Chương 2: Thực trạng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm và thực tiễn thi hành ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM
1.1 Tổng quan về thủ tục xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự và vị trí, chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ
án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm
1.1.1 Khái quát chung về thủ tục xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự
1.1.1.1 Khái niệm, bản chất của thủ tục xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự
*Khái niệm thủ tục giám đốc thẩm
Thủ tục tố tụng được hiểu là toàn bộ các trình tự, thủ tục, cách thức, thời hạn tiến hành …của một số các cơ quan để có được một phán quyết về một vấn đề tranh chấp Tùy thuộc vào mỗi loại tranh chấp, yêu cầu của người giải quyết tranh chấp sẽ có các thủ tục tố tụng khác nhau Nếu căn cứ vào tính chất của chủ thể ra phán quyết có thể chia thành thủ tục tố tụng Tòa án và thủ tục tố tụng tại các cơ quan hành chính trong việc giải quyết các tranh chấp
Thủ tục tố tụng Tòa án được hiểu là toàn trình tự, thủ tục, quy định việc giải quyết một vụ án hình sự, dân sự hoặc hành chính Thủ tục tố tụng này thường được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như: thủ tục tố tụng hình
sự, thủ tục tố tụng dân sự, thủ tục tố tụng hành chính… hoặc thủ tục tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm (thủ tục sơ thẩm), thủ tục tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm (thủ tục phúc thẩm), thủ tục tố tụng tại Tòa giám đốc thẩm
Một số các quốc gia khác (thường là các nước theo truyền thống thông luật lại không áp dụng chế độ hai cấp xét xử Nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án, đương sự có quyền kháng cáo nhưng tại mỗi cấp Tòa án khác nhau, pháp luật lại quy định các căn cứ kháng cáo khác nhau Ở các
Trang 14quốc gia này, không có khái niệm bản án, có hiệu lực pháp luật, bản án chung thẩm vì vậy không có thủ tục xét lại bản án có hiệu lực pháp luật mà các nước theo truyền thống dân sự gọi là thủ tục phá án hoặc thủ tục giám đốc thẩm Các nước này thường quy định thủ tục tại Tòa sơ thẩm hoặc Tòa kháng cáo (Appeal Court) Tại mỗi Tòa kháng cáo cũng có những căn cứ, thủ tục khác nhau: Ví dụ Nhật Bản mặc dù không phải là quốc gia điển hình theo truyền thống thông luật song pháp luật tố tụng Tòa án của Nhật Bản có khá nhiều điểm tương đồng với pháp luật các nước này Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và Quy chế số 5 ngày 17 tháng 11 năm
1996 của Tòa án tối cao Nhật Bản, chế độ xét xử được thực hiện theo ba cấp:
Cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm koso, cấp phúc thẩm Jokoku, Kokoku, hoặc tái
thẩm Trong các thủ tục này, phúc thẩm Jokoku có tính chất gần giống với tính chất của thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng Tòa án của Việt Nam, Liên bang Nga, Trung Quốc hoặc thủ tục phá án theo pháp luật của cộng hòa Pháp
và một số nước khác trên thế giới Sở dĩ pháp luật tố tụng ở Nhật Bản gọi thủ tục này là thủ tục phúc thẩm vì theo quan điểm lập pháp và theo pháp luật hiện hành thì không có khái niệm “bản án có hiệu lực pháp luật” (thực chất là hiệu lực thi hành) như các nước khác Sau khi phúc thẩm Koso (có tính chất tương tự như phúc thẩm ở nước ta), nếu thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật thì đương
sự có quyền kháng cáo Jokoku và bản án chưa được thi hành [32]
Ở những nước thực hiện chế độ hai cấp xét xử (thường là các nước theo truyền thống luật dân sự và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây như Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam…sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm) nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án, đương sự có quyền kháng cáo để Tòa án có thẩm quyền xét xử lại (phúc thẩm) Sau khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm mà không có kháng cáo của đương sự hoặc kháng nghị của VKS trong thời hạn pháp luật quy định thì phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật và phán quyết đó phải được thi hành Tuy nhiên trong trường hợp phán quyết của Tòa
Trang 15án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có sai lầm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự và các chủ thể khác thì pháp luật các nước đều cho phép kháng cáo để xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực đó với các tên gọi khác nhau như: thủ tục phá án, thủ tục giám đốc thẩm…
để hạn chế đến mức tối đa những phá quyết sai lầm của Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho nhà nước, các đương sự và các chủ thể khác [32]
Hệ thống xét xử của Toà án nhân dân ở nước ta gồm hai cấp: cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Hệ thống xét xử hai cấp được hiểu là bản án sơ thẩm (chưa có hiệu lực pháp luật) còn có thể bị cấp phúc thẩm xét xử lại trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Việc xét
xử hai cấp không có nghĩa là cấp sơ thẩm xét xử xong là mặc nhiên đến cấp xét xử phúc thẩm xử lại Nếu có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật thì Toà án cấp phúc thẩm phải tổ chức xét xử phúc thẩm nhằm sửa chữa những sai lầm mà Toà án cấp sơ thẩm mắc phải, bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Tuy nhiên, về nguyên tắc bản án, quyết định của Toà án luôn phải đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ, do đó, việc xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định không những được thực hiện trước khi chúng có hiệu lực pháp luật, mà ngay cả sau khi chúng có hiệu lực pháp luật Như vậy, những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện thấy những vi phạm thì sẽ bị kháng nghị theo quy định của pháp luật Khi đó,
sẽ nảy sinh mâu thuẫn: một là yêu cầu về tính bắt buộc phải thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; hai là, yêu cầu về nguyên tắc pháp chế trong tố tụng dân sự đòi hỏi các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng vi phạm pháp luật phải hủy bỏ Giải quyết không đúng mâu thuẫn này hoặc sẽ làm xáo trộn thêm các quan hệ dân sự vốn đã bị xáo trộn bởi tranh chấp, bởi vi phạm trước đó hoặc sẽ phải chấp nhận hiện tượng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự không được bảo vệ thoả đáng Hậu quả là
Trang 16trong cả hai trường hợp, uy tín và hiệu lực xét xử của Toà án đều bị giảm sút
Để khắc phục tình trạng này, pháp luật tố tụng dân sự nước ta đã quy định một thủ tục đặc biệt nhằm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện thấy sai lầm Đó là thủ tục giám đốc thẩm Thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự được quy định khá sớm và không ngừng được hoàn thiện cho phù hợp với tổ chức của các cơ quan tư pháp nói chug và hệ thống Tòa án nói riêng đồng thời phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế và công cuộc cải cách tư pháp của Nhà nước ta Trong nhiều năm qua các quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp theo thủ tục giám đốc thẩm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Giám đốc thẩm” là Tòa án có thẩm quyền
xét lại các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới khi bị kháng nghị trên cơ sở phát hiện có sai lầm trong quá trình điều tra, xét xử vụ án”
Theo cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học”, “Giám đốc thẩm” là
xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị vì phát hiện có vi phạm trong việc xử lý vụ án”
Tại Điều 325 BLTTDS năm 2015 quy định “GĐT là việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị GĐ Tkhi
có căn cứ quy định tại Điều 326 của Bộ luật này”
Các căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm bao gồm:
“a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;
Trang 17c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của người thứ ba”
Như vậy rõ ràng, GĐT là một thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự trong
đó Toà án cấp trên xét lại vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng nghị do phát hiện thấy những sai lầm
GĐT là một thủ tục đặc biệt bởi lẽ đối tượng bị kháng nghị là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Xét lại là kiểm tra xem xét tính hợp pháp
và tính có căn cứ của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Tính hợp pháp của bản án, quyết định thể hiện ở chỗ nội dung của nó phải phù hợp việc quy định của pháp luật dân sự và về hình thức phải phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự Tính có căn cứ thể hiện ở chỗ, kết luận trong bản án, quyết định phải phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án
Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt giữa thủ tục giám đốc thẩm với giám đốc việc xét xử Trước đây hai khái niệm này đều được dùng với một ý nghĩa Theo thông tư 06/TC ngày 23/7/1964 của Toà án nhân dân tối cao thì:
"Trình tự giám đốc xét xử (tức trình tự giám đốc thẩm) là trình tự tố tụng áp dụng trong việc xét xử lại những vụ án đã có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm” Hiện nay, giám đốc xét xử và giám đốc thẩm là hai khái niệm khác nhau
Giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự trong đó Toà án cấp trên xét lại vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng nghị do phát hiện thấy những sai lầm hoặc vi phạm pháp luật
Giám đốc xét xử là sự kiểm tra hoạt động xét xử của Toà án cấp trên đối với Toà án cấp dưới, thông qua đó mà đề ra các biện pháp sửa chữa, hủy
bỏ những sai lầm đảm bảo cho bản án, quyết định của Toà án đã tuyên là hợp pháp và có căn cứ Giám đốc xét xử bao gồm nhiều hoạt động như kiểm tra,
Trang 18phát hiện thiếu sót, sai lầm, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và của công dân về các vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; tổng kết kinh nghiệm xét xử; hướng dẫn Toà án các cấp áp dụng thống nhất pháp luật; kháng nghị các bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Như vậy, giám đốc xét xử là hoạt động quản lý về công tác xét xử của Toà án cấp trên đối với Toà án cấp dưới, không lệ thuộc vào có hay không có kháng nghị
1.1.1.2 Các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm
Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là cá cá nhân, tổ chức tham gia vào qua hệ pháp luật tố tụng dân sự, bao gồm: Cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát); người tiến hành tố tụng (Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thứ ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên) Người tham gia tố tụng, bao gồm đương sự (nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong giải quyết
vụ án dân sự và những người tham gia tố tụng khác (Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người đại diện của đương sự)
Tuy nhiên việc xét lại bản án, quyết định theo trình tự giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt, do đó chủ thể tham gia giải quyết vụ án ở giai đoạn này thông thường chỉ là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng; chỉ trong những trường hợp xét thấy cần thiết Tòa án mới triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự hoặc người tham gia tố tụng khác
a Về cơ quan tiến hành tố tụng, gồm:
Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân: Trước ngày 01/7/2016, theo quy định Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ
Trang 19sung năm 2011, thẩm quyền giám đốc thẩm thuộc về TAND tối cao, VKSND tối cao, TAND cấp tỉnh, VKSND cấp Theo đó TAND tối cao và VKSND tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm các các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp trừ quyết định GĐT của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; TAND cấp tỉnh và VKSND cấp tỉnh có thẩm quyền giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện (Điều 285 BLTTDS sửa đổi 2011) Việc xét xử GĐT thuộc về Tòa chuyên trách TANDTC, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hoặc Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh
Hiện nay, theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án và Viện kiểm sát cấp tỉnh không còn thẩm quyền giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện mà thẩm quyền này được giao cho Tòa án nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp cao - Một cấp Tòa án và Viện kiểm sát mới được thành lập từ năm 2015, đồng thời việc giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh cũng được giao cho cấp này Toà án nhân nhân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực của TAND cấp cao và Tòa án khác khi cần thiết; trừ quyết định GĐT của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao,
Trang 20- Thẩm tra viên: là một chức danh tư pháp mới được quy định trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 Thẩm tra viên thẩm tra hồ sơ vụ án dân sự, báo cáo Chánh án về kết quả thẩm tra, đề xuất phương án giải quyết đồng thời hỗ trợ Thẩm phán một
số hoạt động tố tụng khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân sân tối cao,Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao: Là người được bầu hoặc được bổ nhiệm là người lãnh đạo Viện kiểm sát; Viện trưởng có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và kiểm sát viên cao cấp: đây là các chức danh tư pháp do Chủ tịch nước hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm làm nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án
- Kiểm tra viên: Giống như thẩm tra viên, kiểm tra viên là chức danh tư pháp mới được quy định từ năm 2014, có nhiệm vụ giúp Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất phương án giải quyết vụ án, hỗ trợ Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm
1.1.1.3 Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bản án, quyết định dân sự sơ thẩm khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại các Điều 273, Điều 280, Điều 322 BLTTDS năm 2015) thì có hiệu lực pháp luật và phải được thi hành, còn bản án quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án và cũng cần được thi hành (Điều 313 BLTTDS năm 2015) Tuy nhiên trong một số trường hợp khi đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Trang 21phúc thẩm (đối với bản án, quyết định sơ thẩm) và bản án quyết định phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà đương sự hoặc một số các cá nhân, cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền mới phát hiện ra phán quyết của Tòa án không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình dẫn đến quyền
và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ; hoặc có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra quyết định, bản án không đúng gây thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của người thứ ba khi đó một trình tự tố tụng mới được mở ra để xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luât – đó chính là thủ tục giám đốc thẩm (thủ tục phá án).Giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt, vì vậy nó phải tuân theo những trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, cụ thể:
Thứ nhất, thụ lý đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm
Về thời hạn gửi đơn đề nghị xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (sau đây viết tắt là đơn đề nghị) theo thủ tục giám đốc thẩm của đương sự: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao chỉ xem xét đơn đề nghị mà đương sự gửi trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu đơn của đương sự gửi quá thời hạn này sẽ không được xem xét thụ lý
Ngoài đương sự thì Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cá nhân cơ quan tổ chức khác phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm quy định tại Điều 331 BLTTDS năm 2015 Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền kiến nghị chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án, quyết định
Trang 22của tòa án nếu phát hiện có căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 326 BLTTDS năm 2015
Kiểm tra đơn đề nghị, văn bản thông báo: Khi nhận được đơn đề nghị, văn bản thông báo người được phân công phải kiểm tra cả về nội dung và hình thức của đơn xem có đúng quy định tại Điều 328 BLTTDS năm 2015 không Nếu đủ các nội dung Tòa án, Viện kiểm sát vào sổ nhận đơn và cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự; trường hợp không đủ các nội dung trên thì hướng dẫn đương sự gửi đơn sửa đổi, bổ sung các nội dung còn thiếu trong vòng 01 tháng, hết thời hạn này mà người gửi đơn không sửa đổi, bổ sung thì Tòa án, Viện kiểm sát trả lại đơn đề nghị cho đương sự và nêu rõ lý
do đồng thời ghi chú vào sổ nhận đơn Tòa án và Viện kiểm sát chỉ thụ lý đơn khi có đầy đủ các nội dung quy định tại Điều 328 BLTTDS năm 2015
Thứ hai, yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định đang bị đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm chuyển hồ sơ vụ án
Sau khi thụ lý đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm Tòa án, hoặc VKS làm văn bản yêu cầu Tòa án đang quản lý hồ sơ vụ án đó chuyển hồ sơ cho Tòa án, Viện kiểm sát đã nhận đơn yêu cầu đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm để nghiên cứu Việc chuyển hồ sơ theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 31 tháng 8 năm 2016
Thứ ba, nghiên cứu hồ sơ:
Sau khi nhận được hồ sơ vụ án TA, VKS có thẩm quyền kháng nghị GĐT tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án Đây là giai đoạn quan trọng nhất để quyết định có mở ra thủ tục tố tụng mới hay không Kết thúc việc nghiên cứu
hồ sơ vụ án, TA hoặc VKS phải ra quyết định kháng nghị (Nếu có đủ căn cứ kháng nghị), hoặc thông báo cho đương sự và các các nhân, cơ quan khác biết việc không kháng nghị (nếu không đủ căn cứ kháng nghị)
Trang 23Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ TA và VKS có quyền yêu cầu đương
sự, các cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm mà họ đang lưu giữ
Thứ tư, ban hành kháng nghị và gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nếu hồ sơ vụ án có đủ căn cứ thì Chánh án (TA tối cao hoặc TA cấp cao) Viện trưởng (VKS tối cao hoặc VKS cấp cao) ban hành quyết định kháng ngị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải được gửi cho các đương sự,
TA, VKS theo quy định tại Điều 336 BLTTDS năm 2015 Đồng thời với việc gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm thì hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Tòa án có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm (trường hợp VKS kháng nghị); hoặc hồ sơ được chuyển cho VKS tham gia phiên họp giám đốc thẩm (trường hợp TA kháng nghị) để VKS nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn 15 ngày; hết thời hạn này VKS phải chuyển trả hồ sơ cho TA cùng cấp để chuẩn
bị mở phiên họp giám đốc thẩm
Thứ năm, chuẩn bị phiên tòa GĐ
Để chuẩn bị mở phiên Tòa GĐT, Chánh án phải thành lập hội đồng xét
xử GĐT theo quy định tại Điều 338 BLTTDS năm 2015 Đồng thời, Chánh
án phải phân công một Thẩm phán làm bản thuyết trình về nội dung vụ án, nội dung của kháng nghị, bản thuyết trình này phải được gửi cho các thành viên hội đồng xét xử GĐT chậm nhất là 07 ngày trước khi mở phiên tòa GĐT (Điều 340 BLTTDS năm 2015)
Thứ sáu, Phiên tòa giám đốc thẩm
Theo quy định tại Điều 339 BLTTDS năm 2015 trong thời hạn 4 tháng
kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên tòa để xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm
Trang 24Phiên tòa GĐT gồm có: VKS cùng cấp, nếu thấy cần thiết TA có thể triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ, quyền lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc kháng nghị Thành phần hội đồng: có thể là Hội đồng xét xử toàn thể hoặc Hội đồng gồm 03 hoặc 05 Thẩm phán theo quy định tại Điều 337 BLTTDS năm 2015
Tại phiên tòa GĐT một thành viên Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án vụ án, bản án, quyết định của TA có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của người kháng nghị Nếu VKS kháng nghị thì VKS trình bày nội dung kháng nghị Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ, quyền lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác được TAND triệu tập đến phiên tòa trình bày ý kiến về những vấn đề mà hội đồng xét xử yêu cầu, nếu họ vắng mặt mà có ý kiến trình bày bằng văn bản thì Hội đồng xét xử công bố ý kiến của họ
Đại diện VKSND phát biểu ý kiến về kháng nghị (nếu VKS kháng nghị) và quan điểm giải quyết vụ án
Cuối cùng các thành viên hội đồng xét xử phát biểu ý kiến và thảo luận; sau đó Hội đồng xét xử tiến hành nghị án và biểu quyết về việc giải quyết vụ
án và công bố nội dung quyết định về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa
Thứ bẩy, ra quyết định và gửi quyết định giám đốc thẩm
Sau khi xét xử giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải ra quyết định nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quyết định này phải có đầy đủ các nội dung được quy định tại Điều 348 BLTTS năm
2015 Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định Hội đồng xét
xử GĐT phải gửi quyết định GĐT cho đương sự, người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quyết định giám đốc thẩm, Tòa án ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; VKSND cùng cấp, cơ quan thi hành
Trang 25án dân sự có thẩm quyền Đồng thời quyết định này được công bố trên cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có) trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 109 BLTTDS năm 2015
Như vậy quy trình giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục GĐT bắt đầu từ khi nhận và thụ lý đơn yêu cầu kháng nghị GĐT và kết thúc khi Hội đồng xét
xử ban hành quyết định GĐT
1.1.2 Vị trí, chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm
1.1.2.1 Vị trí
Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013, thì VKSND
có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Trong BLTTDS năm 2015 tại Điều 21 quy định: “VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời đúng pháp luật; VKS tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm” Cũng tại Điều 46 Bộ luật này quy định VKS là cơ quan tiến hành tố tụng Như vậy pháp luật đã khẳng định trong tố tụng dân sự VKS
cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
Trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự theo trình tự giám đốc thẩm thấy rằng VKS là cơ quan tiến hành tố tụng được thể hiện rất rõ: Viện kiểm sát có thẩm quyền nhận đơn và giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức (Điều 328 BLTTS năm 2015),VKS có quyền yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án để nghiên cứu giải quyết theo thẩm quyền (Khoản 2 Điều 5 TTLT số 02); trường hợp VKS kháng nghị, VKS có quyền thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo cho việc thực hiện quyền kháng nghị giám đốc thẩm (Khoản 6 Điều 97 BLTTDS năm 2015); VKS có quyền quyết định kháng nghị, thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng nghị đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Trang 26(Điều 33, Điều 335 BLTTS năm 2015); Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giám đốc thẩm và phát biểu ý kiến về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án (Khoản 1 Điều 338, Khoản 3 Điều 342 BLTTDS năm 2015) Như vậy cùng với TA, VKS là cơ quan tiến hành tố tụng – cơ quan giải quyết vụ
án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm
1.2.2.2 Chức năng
Trong tố tụng dân sự nói chung và trong việc giải quyết các vụ án dân
sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm nói riêng Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Khi giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục GĐT, VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, của đương sự và những người tham gia tố tụng khác Điều này được thể hiện tại Điều 21 và trong toàn bộ các quy định của chương XX BLTTDS năm 2015, cụ thể:
Tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 21 BLTTDS năm 2015 quy định:
VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời đúng pháp luật (Khoản 1).VKS tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (Khoản 3) Với quy định như trên có thể khẳng định rẳng VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án việc dân sự của Tòa án từ khi Tòa án thông báo trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự hoặc
từ khi Tòa án thông báo thụ lý vụ việc dân sự đến khi bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà không có kháng nghị, không có yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Ở thủ tục GĐT, VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án
từ khi nhận được quyết định kháng nghị GĐT đến khi nhận được quyết định GĐT hoặc thông báo việc không kháng nghị GĐT Việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật được thể hiện như sau:
Trang 27Tòa án phải chuyển ngay quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp (Trong trường hợp TAND tối cao hoặc TAND cấp cao kháng nghị) VKS nghiên cứu hồ sơ trong vòng 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ
vụ án (Điều 336 Khoản 2 BLTTDS năm 2015) Việc TA chuyển kháng nghị cùng hồ sơ cho VKS cùng cấp để VKS thực hiện việc kiểm sát hồ sơ giải quyết vụ án ở thủ tục giám đốc thẩm của Tòa án Khi nhận hồ sơ cùng kháng nghị do TA chuyển đến, VKS tiến hành nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án để xem xét đánh giá với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì kháng nghị của TA có
cơ sở hay không; trên cơ sở đó có quan điểm đối với kháng nghị của TA
Tại phiên tòa giám đốc thẩm sự tham gia của VKS là bắt buộc, nếu VKS không tham gia thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa (Điều 338 BLTTDS năm 2015) Tại phiên tòa xét xử giám đốc thẩm VKS kiểm sát việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử và những người được Tòa án triệu tập theo Khoản 2 Điều 338 BLTTDS năm 2015; Hội đồng xét xử có đúng thành phần theo quy định tại Điều 337 và Khoản 2 Điều 338 BLTTDS năm
2015 không; trình tự thủ tục tiến hành phiên tòa có đúng quy định tại Điều
341 BLTTDS năm 2015 không
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giám đốc thẩm phải phát biểu ý kiến
về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án (Khoản 3 Điều 341 BLTTDS năm) Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ mà TA chuyển cho VKS trong thời hạn 15 ngày, và diễn biến thực tế tại phiên tòa (có thể có những chứng cứ
mà Tòa án mới thu thập được), Kiểm sát viên phát biểu chấp nhận hay không chấp nhận kháng nghị của TA, chấp nhận một phần hay chấp nhận toàn bộ kháng nghị của TA; trường hợp VKS kháng nghị thì tại phiên tòa VKS có quyền rút, thay đổi, bổ sung một phần hay toàn bộ kháng nghị Bên cạnh đó VKS phải phát biểu về việc giải quyết vụ án đó Nếu không chấp nhận hoặc chấp nhận một phần kháng nghị thì vụ án sẽ được giải quyết như thế nào
Trang 28Sau khi kết thúc phiên tòa theo quy định tại Điểm c, Khoản 1 Điều 350 BLTTDS năm 2015, trong vòng 05 ngày làm việc TA phải gửi quyết định giám đốc thẩm cho VKS cùng cấp Việc gửi quyết định giám đốc thẩm cho VKS để VKS xem xét xem nội dung của quyết định giám đốc thẩm có đúng với ý kiến của Hội đồng xét xử tại phiên tòa giám đốc thẩm không Nếu không đúng thì VKS sẽ có kiến nghị hoặc kháng nghị với Tòa án
1.2 Khái quát quá trình phát triển các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết vụ án dân
sự theo thủ tục xét xử giám đốc thẩm
1.2.1 Giai đoạn trước Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
Tại Điều 105 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân”
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 Điều 18 quy định:
“ Khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy các bản án hoặc các quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân các cấp là sai lầm thì có quyền kháng nghị
Khi Viện kiểm sát nhân dân địa phương thấy các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân cấp mình hoặc cấp dưới là sai lầm thì báo cáo lên Viện kiểm sát nhân dân tối cao để kháng nghị”
Như vậy, ngay tại văn bản pháp lý đầu tiên quy về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát tuy không chỉ rõ việc kháng nghị giám đốc thẩm nhưng đã quy định về việc kháng nghị và báo cáo việc kháng nghị đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp mà phát hiện có sai lầm
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 tại Khoản 3 Điều 3 quy định: Viện kiểm sát “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử
Trang 29của Tòa án nhân dân”, đồng thời tại Điều 13 quy định khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
“5 Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án và quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp dưới khi thấy có vi phạm pháp luật;
6 Khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp khởi tố những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án và quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân các cấp theo thủ tục giám đốc thẩm khi thấy có vi phạm pháp luật”
Như vậy, có thể nói so với Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1960 thì Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã quy định một cách cụ thể, rõ ràng hơn về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân các cấp đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện có vi phạm pháp luật Đồng thời cũng quy định các quyền hạn của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc xét xử của Tòa án, đó là: Tham dự việc trù bị, tham gia tố tụng tại phiên tòa của Tòa án nhân dân cùng cấp, yêu cầu TA chuyển hồ sơ
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (Sau đây viết
tắt là Pháp lệnh): Cụ thể hóa hơn một bước nữa về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm, cụ thể như sau:
Điều 9 của Pháp lệnh đã quy định mở rộng thêm một bước về quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự, VKSND không chỉ kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án mà kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự theo quy định tại các Điều 12, 13a, 13b của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và những quy định của Pháp lệnh này
Trang 30Trong thủ tục GĐT, Điều 72 Pháp lệnh quy định về quyền kháng nghị GĐT đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của VKSND tối cao và VKSND cấp tỉnh; theo đó: Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án các cấp; Phó Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị bản án quyết định của TA cấp dưới; Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh có quyền kháng nghị bản án, quyết định của các Toà án cấp dưới
Điều 73 tại Khoản 2 quy định VKSND cùng cấp với TAND đã ra quyết định kháng nghị GĐT có quyền nhận bản sao quyết định kháng nghị GĐT Việc TAND chuyển bản sao quyết định cho VKSND cùng cấp để VKS nghiên cứu chuẩn bị ý kiến phát biểu về kháng nghị tại phiên tòa GĐT
Quyền tham gia và phát biểu ý kiến về kháng nghị GĐT của VKSND tại phiên tòa GĐT (Khoản 3 Điều 76 Pháp lệnh): Phiên tòa GĐT bắt buộc phải có sự tham gia của VKS, và VKS phải phát biểu ý kiến đồng ý hay không đồng ý với kháng nghị của Tòa án
Có thể nói trước khi có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ
án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm cũng đã được thể hiện trong nhiều văn bản luật (Hiến pháp, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân) Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục xét
xử GĐT được quy định ngày càng rõ nét hơn, văn bản sau đã quy định cụ thể,
rõ ràng hơn văn bản pháp luật trước Tuy Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự năm 1989 chỉ là văn bản dưới luật song ở Pháp lệnh này đã quy định cụ thể thẩm quyền và phạm vi kháng nghị GĐT của các cấp kiểm sát Quy định Viện trưởng VKSND tối cao, Phó Viện trưởng VKSND tối cao, Viện trưởng VKS cấp tỉnh được kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp nào Đồng thời Pháp lệnh cũng chỉ rõ một số quyền của người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, đặc biệt pháp lệnh đã quy định việc KSV trình bày ý kiến về kháng nghị tại phiên tòa giám đốc
Trang 31thẩm Các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho cho hoạt động
tố tụng đồng thời chế định VKSND trong tố tụng dân sự cũng được thể hiện
rõ ràng hơn
Hiến pháp 1992 tại Điều 137 quy định:
“VKSND tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các VKSND địa phương, các VKS quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm
do luật định”
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992:
Điều 1 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội
và công dân, thực hành quyền công tố ở địa phương mình.”
Như vậy phạm vi kiểm sát của Viện kiểm sát thời kỳ này rất rộng, không chỉ bó hẹp ở việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử của Tòa án như Luật Tổ chức năm 1982 mà VKS được quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, ngành, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân So với Luật Tổ chức Viện kiểm sát qua các thời kỳ thì
Trang 32phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong Luật Tổ chức VKS năm 1992 là mở rộng nhất; theo đó quy định Viện kiểm sát có quyền khởi tố, điều tra vụ án dân sự, có quyền tham gia vào bất cứ giai đoạn tố tụng nào nếu
xét thấy cần thiết
Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự Luật Tổ chức VKS năm 1992 tại Điều 17 đã thể hiện rất rõ quyền yêu cầu và quyền kháng nghị của VKSND Cũng tại điều luật này quyền kháng nghị GĐT của VKS đối với các bản án, quyết định của tiếp tục được giữ nguyên như Luật Tổ chức VKS năm 1982
Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 tại Điều 137 đã quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Các Viện kiểm sát nhân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định”
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002
Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về “Một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” của Bộ Chính trị;
thực hiện Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, phạm vi, chức năng của Viện kiểm sát đã thu hẹp lại, thể hiện tại Điều 1 như sau: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”
Do đó, từ Luật Tổ chức 2002 ngoài chức năng công tố, VKSND chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, VKS thực hiện “Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật” (Khoản 4 Điều 3)
Trang 33Tại Điều 14 Luật Tổ chức VKSND năm 2002, các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị trong kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự nói chung và trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm nói riêng được giữ nguyên nhưng quy định mở rộng hơn các phương thức để VKSND thực hiện các quyền này, đó là: VKSND phải tham gia các phiên toà và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án; VKS Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sát các bản án, quyết định của TAND; yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật để xem xét, quyết định việc kháng nghị
Cũng giống như Luật Tổ chức VKSND năm 1992, Luật Tổ chức VKSND năm 2002, quyền kháng nghị GĐT của VKS cũng được quy định cụ thể trong điều luật: “Khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh doanh, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, VKSND có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của TAND theo quy định của pháp luật; kiến nghị với TAND cùng cấp và cấp dưới khắc phục những vi phạm pháp luật trong việc giải quyết các vụ án, nếu có dấu hiệu về tội phạm thì khởi tố về hình sự.” (Điều 22)
1.2.2 Giai đoạn từ 2004 – 2015 (BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011)
BLTTDS năm 2004 đã pháp điển hóa pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động để ban hành một bộ luật quy định cụ thể về thủ tục tố tụng trong dân sự Tại Bộ luật này nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự nói chung và giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục GĐT được quy định cụ thể, rõ ràng, đó là: “VKSND kiểm
Trang 34sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật…” (Khoản 1 Điều 21)
Như vậy, phải đến BLTTDS năm 2004 và BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì quyền yêu cầu, quyền kiến nghị và kháng nghị của VKSND khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự mới được quy định tập trung trong một điều luật Trước đây 03 quyền này được quy định rải rác và thông thường được quy định qua các phương thức để thực hiện chức năng của VKS 03 quyền này được VKS sử dụng trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào Ở thủ tục giám đốc thẩm các quyền này của VKS được thể hiện như sau:
a quyền yêu cầu: Quá trình giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục GĐT,
VKS có quyền yêu cầu đối với Tòa án, đương sự và các cá nhân, cơ quan, tổ chức… có liên quan
Quyền yêu cầu đối với Tòa án:
Trước phiên tòa GĐT, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án chuyển
hồ sơ vụ án để VKS nghiên cứu, giải quyết đơn đề nghị của đương sự từ đó quyết định việc kháng nghị hay không kháng nghị
Tại phiên Tòa GĐT, nếu phát sinh tài liệu, chứng cứ mới có thể dẫn đến việc phải thay đổi, bổ sung kháng nghị (trường hợp VKS kháng nghị) thì VKS yêu cầu hoãn phiên Tòa
Sau phiên tòa GĐT, VKS có quyền yêu cầu TA chuyển quyết định GĐT để thực hiện việc kiểm sát bản án quyết định (nếu việc chuyển quyết định của Tòa án không đúng quy định của Điều 303)
Quyền yêu cầu đối với cơ quan thi hành án: VKS có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án hoãn thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án để nghiên cứu hồ sơ thực hiện việc kháng nghị giám đốc thẩm (Điều 286)
b Quyền yêu cầu đối với người có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm
VKS yêu cầu người có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm:
Trang 35BLTTDS năm 2004 chưa quy định về các nội dung đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm và việc yêu cầu đương sự bổ sung đơn, để khắc phục tồn tại này BLTTDS sửa đổi năm 2011 tại Điều 284a đã quy định cụ thể về việc gửi đơn và tài liệu chứng cứ kèm theo đơn đề nghị của đương sư Theo đó Thông tư liên tịch số số 03/2013/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 15 tháng
10 năm 2013 đã quy định cụ thể khi đương sự gửi đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo không đúng quy định thì VKS yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn và tài liệu chứng cứ trong thời hạn 30 ngày
VKS yêu cầu đương sự cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ tài liệu, chứng cứ, vật chứng để đảm bảo việc thực hiện quyền kháng nghị nói chung và kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng Nếu như BLTTDS năm 2004 chỉ quy định trong trường hợp cần thiết VKS mới thực hiện quyền yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ (Khoản 3 Điều 85) thì BLTTDS sửa đổi 2011 VKS có thực hiện quyền yêu cầu này trong bất kỳ trường hợp nào
Quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định dân sự đã
có hiệu lực pháp luật: BLTTSD 2004 và BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011
tiếp tục khẳng định VKSND tối cao và VKSND cấp tỉnh có thẩm quyền kháng nghị GĐT Tuy nhiên theo quy định tại Điều 285 BLTTDS người có thẩm quyền kháng nghị GĐT chỉ là Viện trưởng VKSND tối cao chứ không mở rộng thẩm quyền cho cả Phó Viện trưởng VKSND tối cao như trong pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 Quy định này thể hiện quyết định kháng nghị là quyền của Viện trưởng và Viện trưởng có thể ủy quyền cho phó Viện trưởng ký quyết định kháng nghị Trên thực tế các kháng nghị GĐT hầu hết do phó viện trưởng ký ban hành Trước khi mở phiên tòa và tại phiên tòa GĐT VKS có quyền thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị
c Quyền kiến nghị
VKS kiến nghị với Tòa án: Quá trình thực hiện kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục GĐT của Tòa án, VKS có thể kiến nghị trực tiếp
Trang 36hoặc kiến nghị bằng văn bản đối với Tòa án Việc kiến nghị trực tiếp được thực hiện ngay tại Tòa đối với những vi phạm nhỏ Tòa án có thể khắc phục ngay Việc kiến nghị bằng văn bản đối với những vi phạm trong các văn bản
tố tụng của Tòa án
VKS kiến nghị với các cơ quan, tổ chức: Qua công tác kiểm sát, VKS thường kiến nghị với các cơ quan, tổ chức về việc chậm cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của VKS, kiến nghị khắc phục một số sai sót để phòng ngừa vi phạm (như thiếu thủ tục trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thể thức văn bản chưa đúng quy định … )
1.2.3 Giai đoạn 2015 đến nay (thực hiện BLTTDS năm 2015)
BLTTDS năm 2015: về cơ bản nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm được giữ nguyên như BLTTDS sửa đổi 2011, đó là quyền yêu cầu, quyền kiến nghị và quyền kháng nghị Tuy nhiên thực hiện Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND cấp tỉnh không còn thẩm quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện mà thẩm quyền này được giao cho VKSND cấp cao - Một cấp kiểm sát mới được thành lập từ ngày 1 tháng 6 năm 2015; đồng thời VKSND cấp cao có thẩm quyền kháng nghị bản
án, quyết định của TAND cấp tỉnh VKDND tối cao chỉ kháng ghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cấp cao và chỉ kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác (TAND cấp tỉnh
và cấp huyện) khi xét thấy cần thiết
1.3 Kinh nghiệm của một số nước về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan công tố/kiểm sát trong việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục xét
xử giám đốc thẩm
- Quy định về thủ tục giám đốc thẩm
Thủ tục tố tụng giám đốc thẩm tại Toà phá án ở những nước thực hiện chế độ hai cấp xét xử (thường là các nước theo truyền thống luật dân sự và
Trang 37các nước theo truyền thống xã hội chủ nghĩa trước đây như Liên bang Nga, Trung Quốc…), sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm), nếu không đồng ý với phán quyết của Toà án, đương sự có quyền kháng cáo để Toà án có thẩm quyền xét
xử lại (phúc thẩm) Sau khi đã xét xử phúc thẩm hoặc sau khi xét xử sơ thẩm
mà không có kháng cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn pháp luật quy định thì phán quyết của Toà án là chung thẩm, có hiệu lực thi hành Tuy nhiên, trong trường hợp phán quyết chung thẩm của Toà án có sai lầm, pháp luật của các nước đều quy định cho phép kháng cáo, kháng nghị để mở thủ tục xét lại các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật với các tên gọi khác nhau như: thủ tục phá án, thủ tục giám đốc thẩm…, nhằm hạn chế tối đa những phán quyết sai lầm của Toà án, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các chủ thể khác
Một số quốc gia khác (thường là các nước theo truyền thống thông luật, Nhật Bản…) lại không áp dụng chế độ hai cấp xét xử Nếu không đồng ý với phán quyết của Toà án, đương sự có quyền kháng cáo nhưng tại mỗi cấp Toà
án khác nhau, pháp luật lại quy định các căn cứ kháng cáo khác nhau Ở các quốc gia này, không có khái niệm bản án có hiệu lực pháp luật, bản án chung thẩm… và vì vậy, không có thủ tục xét lại bản án có hiệu lực pháp luật mà các nước theo truyền thống luật dân sự gọi là thủ tục phá án hoặc thủ tục giám đốc thẩm Các nước này thường quy định thủ tục tại Toà sơ thẩm và thủ tục tại Toà kháng cáo (Appeal Court) Tại mỗi Toà kháng cáo cũng có những căn
cứ, thủ tục khác nhau Mặc dù không phải là quốc gia điển hình theo truyền thống thông luật song pháp luật tố tụng Toà án của Nhật Bản có khá nhiều điểm tương đồng với pháp luật các nước này Theo các quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự và Quy chế số 5 ngày 17 tháng 11 năm
1996 của Tòa án tối cao Nhật Bản về thủ tục tố tụng dân sự (sau đây gọi tắt là Quy chế), chế độ xét xử được thực hiện theo 3 cấp: cấp sơ thẩm; cấp phúc thẩm Koso; cấp phúc thẩm Jokoku, Kokoku hoặc tái thẩm Trong các thủ tục
Trang 38này, phúc thẩm Jokoku có tính chất gần giống với tính chất của thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng Toà án ở Việt Nam, Liên bang Nga, Trung Quốc hoặc thủ tục phá án theo pháp luật của Cộng hoà Pháp và một số nước khác trên thế giới Sở dĩ pháp luật tố tụng Toà án ở Nhật Bản gọi thủ tục này là thủ tục phúc thẩm vì theo quan điểm lập pháp và theo pháp luật hiện hành thì không
có khái niệm “bản án có hiệu lực pháp luật” (thực chất là hiệu lực thi hành) như các nước khác Sau khi phúc thẩm Koso (có tính chất tương tự như phúc thẩm ở nước ta), nếu thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật thì đương sự
có quyền kháng cáo Jokoku và bản án chưa được thi hành.
Như vậy, thủ tục giám đốc thẩm chỉ có trong pháp luật các nước theo truyền thống luật châu Âu lục địa và truyền thống luật xã hội chủ nghĩa, không có trong pháp luật các nước theo truyền thống thông luật và một số nước khác như Nhật Bản…
- Quy định về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố/kiểm sát trong việc giải quyết vụ án dân sự
Trong lĩnh vực dân sự chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố/kiểm sát ở nhiều nước hạn chế hơn nhiều so với lĩnh vực hình sự, do ảnh hưởng từ nguyên tắc tự định đoạt của các bên trong quan hệ dân sự:
Ở Pháp, Viện công tố Pháp có thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc với hai tư cách: Thứ nhất, với vai trò đại diện cho lợi ích chung, bảo vệ trật tự công, Viện công tố có thể tự mình khởi kiện (khởi tố) vụ án dân sự, đưa yêu cầu giải quyết việc dân sự ra trước Toà án (như đưa ra yêu cầu tuyên bố một người mất tích hay là đã chết, đưa ra yêu cầu Toà án chỉ định người quản
lý di sản thừa kế…), hoặc tham gia tố tụng với tư cách bị đơn đại diện cho Nhà nước khi bị kiện; thứ hai, với vai trò đại diện và bảo vệ luật pháp, Viện công tố có quyền kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm) và tham gia
tố tụng để cho ý kiến về việc áp dụng pháp luật tại phiên toà giải quyết vụ việc dân sự [4]
Trang 39Viện kiểm sát Liên bang Nga tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người nhân danh Liên bang Nga và vì lợi ích của luật để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích xã hội, Kiểm sát viên Liên bang Nga thực hiện 2 nhóm quyền cơ bản: Thứ nhất, khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền
tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập hợp người không xác định, lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga, các tổ chức tự quản địa phương; thứ hai, tham gia tố tụng và phát biểu kết luận đối với những vụ án liên quan đến việc buộc đi ở nơi khác, yêu cầu khôi phục việc làm, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ, hoặc trong những trường hợp khác do luật quy định [4]
Viện kiểm sát Trung Quốc được biểu hiện trên hai phương diện chủ yếu: Thứ nhất, nhân danh lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng để khởi kiện vụ án dân sự, cụ thể là trường hợp tài sản quốc gia, tài sản tập thể bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây nên, mà cơ quan, tổ chức bị thiệt hại không tự đề xuất khởi kiện dân sự, Viện kiểm sát có thể quyết định việc khởi kiện dân sự kèm theo cùng với việc đưa ra cáo trạng buộc tội Việc khởi kiện dân sự sẽ được xét xử đồng thời với vụ án hình sự Kiểm sát viên tham gia vào quá trình giải quyết vụ án có quyền, nghĩa vụ tương tự như nguyên đơn, trừ quyền hoà giải
và nghĩa vụ nộp các lệ phí tố tụng; thứ hai, thực hiện chức năng giám sát pháp luật trong tố tụng dân sự thông qua hoạt động kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm [4]
Cơ quan Công tố viên Nhật Bản có vai trò như người đại diện cho lợi ích công, tham gia tố tụng với vị trí là người đại diện cho những đương sự không có khả năng tự thực hiện các quyền dân sự của mình, như: yêu cầu tước bỏ hoặc hạn chế quyền của cha mẹ trong trường hợp nếu cha mẹ lạm dụng quyền của mình hoặc có lỗi nghiêm trọng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái; yêu cầu Toà án tước bỏ quyền quản lý của cha mẹ đối với tài sản của con cái trong trường hợp nếu việc cha mẹ quản lý tài sản đó gây thiệt