Trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang dần dần từng bước chuyển nền kinh tế nước ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, quan hệ sản xuất ngày càng trở nên phức tạp thì đòi hỏi vai trò quản lý của Nhà nước cũng phải đổi mới để điều khiển nền kinh tế vĩ mô của đất nước sao cho hoạt động lành mạnh và không ngừng phát triển. Qua các kỳ Đại Hội Đảng đã xác định phấn đấu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. . . Đó là trách nhiệm và cần có sự cố gắng của toàn Đảng, toàn dân. Trong khi cả nước đang chuyển dần vào guồng quay của kinh tế thị trường, tìm mọi cách hạn chế tối đa những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trường nhằm đưa đất nước thoát khỏi cảnh đói nghèo, thì một số các cán bộ có chức có quyền lạm dụng quyền chức để tham nhũng, chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trong nhiều năm liền làm thiệt hại cho Nhà nước đến hàng nghìn tỷ đồng mà các cơ quan chức năng không hề hay biết chỉ đến khi mà các doanh nghiệp này phá sản thì mới hay. Hơn thế nữa chính những lỗ hổng trong các văn bản đã quy định về chế độ kế toán tài chính cũng là những nguyên nhân để các “ con mọt ” tha hồ hoành hành, đục khoét của cải của nhân dân. Như vậy phải chăng vai trò kiểm tra - kiểm soát của Nhà nứơc đã không phát huy hết hiệu lực, chính những thực trạng đó và nhu cầu phát triển của kinh tế thị trường đã đặt ra đòi hỏi cấp bách đó là sự ra đời và phát triển của kiểm toán. Kiểm toán ra đời và đặc biệt là sự ra đời của kiểm toán độc lập có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp, các Nhà đầu tư trong mọi thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân và đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Với quy mô là đề án môn học nghiên cứu về vấn đề kiểm toán nói chung và hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng, trong phạm vi bài viết này của em gồm có 3 phần chính. Phần 1 : Những lý luận chung về kiểm toán và kiểm toán độc lập. Phần 2 : Vai trò và ý nghĩa của kiểm toán độc lập ở Việt nam đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Phần 3 : Thực trạng và phướng hoàn thiện hệ thống kiểm toán độc lập ở nước ta.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU Trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang dần dần từng bước chuyển nền kinh
tế nước ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với một nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần, quan hệ sản xuất ngày càng trở nên phức tạp thì đòihỏi vai trò quản lý của Nhà nước cũng phải đổi mới để điều khiển nền kinh tế vĩ
mô của đất nước sao cho hoạt động lành mạnh và không ngừng phát triển
Qua các kỳ Đại Hội Đảng đã xác định phấn đấu dân giầu, nước mạnh, xã hộicông bằng văn minh Đó là trách nhiệm và cần có sự cố gắng của toàn Đảng,toàn dân Trong khi cả nước đang chuyển dần vào guồng quay của kinh tế thịtrường, tìm mọi cách hạn chế tối đa những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trườngnhằm đưa đất nước thoát khỏi cảnh đói nghèo, thì một số các cán bộ có chức cóquyền lạm dụng quyền chức để tham nhũng, chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa,nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trong nhiều năm liền làm thiệt hại cho Nhànước đến hàng nghìn tỷ đồng mà các cơ quan chức năng không hề hay biết chỉ đếnkhi mà các doanh nghiệp này phá sản thì mới hay Hơn thế nữa chính những lỗhổng trong các văn bản đã quy định về chế độ kế toán tài chính cũng là nhữngnguyên nhân để các “ con mọt ” tha hồ hoành hành, đục khoét của cải của nhândân Như vậy phải chăng vai trò kiểm tra - kiểm soát của Nhà nứơc đã không pháthuy hết hiệu lực, chính những thực trạng đó và nhu cầu phát triển của kinh tế thịtrường đã đặt ra đòi hỏi cấp bách đó là sự ra đời và phát triển của kiểm toán.Kiểm toán ra đời và đặc biệt là sự ra đời của kiểm toán độc lập có ý nghĩa rất quantrọng đối với các doanh nghiệp, các Nhà đầu tư trong mọi thành phần kinh tế củanền kinh tế quốc dân và đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế đất nước
Với quy mô là đề án môn học nghiên cứu về vấn đề kiểm toán nói chung vàhoạt động kiểm toán độc lập nói riêng, trong phạm vi bài viết này của em gồm có
3 phần chính
Phần 1 : Những lý luận chung về kiểm toán và kiểm toán độc lập
Phần 2 : Vai trò và ý nghĩa của kiểm toán độc lập ở Việt nam đối với cácdoanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Phần 3 : Thực trạng và phướng hoàn thiện hệ thống kiểm toán độc lập ở nướcta
Đây là một đề tài nghiên cứu về một vấn đề còn khá mới mẻ và còn có nhiềutranh luận nên trong bài viết này của em chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót Em
Trang 2mong được sự giúp đỡ chỉ bảo của các thầy cô để em có một cách hiểu và nhìnnhận đúng hơn về lĩnh vực kiểm toán.
PHẦN I : NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG
I:ĐỊNH NGHĨA VÀ CHỨC NĂNG CỦA KIỂM TOÁN
1.Sự phát triển của kiểm toán
Có thể nói tiền thân của kiểm toán ra đời từ rất lâu, ngay từ thờinguyên thuỷ người cổ đại đã đánh dấu trên các thân cây, buộc nút trêncác dây thừng để theo dõi chi tiêu, kết quả, và để đối chiếu với cácTài sản Đặc biệt với sự ra đời của hệ thống kế toán kép và sự pháttriển ngày càng hoàn thiện của hệ thống phương pháp kế toán (tk 17-20) Nên hầu hết các nhu cầu kiểm tra Tài chính đã được thoả mãn
Trong thế kỷ 20, xã hội -khoa học phát triển mạnh dẫn đến sản xuấtngày càng phát triển, các mối quan hệ về Tài chính, sản xuất ngàycàng đa dạng, đòi hỏi công tác quản lý về mọi mặt cũng phải được nângcao Nhưng thực tế cho thấy vào những năm 30 của thế kỷ 20 này bằng
sự phá sản của hàng loạt các tổ chức Tài chính tín dụng lớn ở Bắc Mỹ vàTây Âu, chức năng tự kiểm tra của kế toán mới chịu bộc lộ những yếuđiểm của mình so với nhu cầu quản lý của các tổ chức Tài chính, cácdoanh nghiệp sản xuất và dịch vụ, các đơn vị sự nghiệp công cộng Cũngchính hậu quả đó đã dẫn đến những người quan tâm nghi nghờ hoặc chỉ tinmột phần vào kết quả thông báo tình hình Tài chính của đơn vị Dovậy việc xuất hiện một tổ chức kiểm tra ngoài kế toán đó là một nhu cầutất yếu, thoả mãn được sự mong mỏi của các bên
Ở những nước có nền kinh tế sớm phát triển thì công việc kiểmtra ngoài kế toán của một tổ chức độc lập cũng phát triển khá sớm chẳnghạn : ở Pháp viêc kiểm tra bên ngoài một cách độc lập do những ngườichuyên nghiệp đảm nhiệm đã được xác định trong đạo luật về các công tythương mại ngày 24/07/1966, và năm 1960 kiểm toán nội bộ ở Pháp chínhthức được thành lập nhằm mở rộng, tăng cường, ổn định và hiệu quả củacác xí nghiệp Đến năm 1965 đã thành lập Hội kiểm soát viên nội bộ của
Trang 3Pháp, sau này trở thành viện nghiên cứu kiểm toán và kiểm soát viên nội
bộ ( IFACI) vào năm 1973 Ơ Mỹ sau cuộc khủng hoảng về kinh tế thếgiới (1929-1933), năm 1934 uỷ ban bảo vệ và trao đổi tiền tệ (SEC) đãđược thành lập và quy chế kiểm toán viên bên ngoài đã bắt đầu có hiệulực, đồng thời trường đào tạo kế toán viên công chứng (AICPA) đã in ramẫu chuẩn đầu tiên về báo cáo kiểm toán Tài khoản của các công ty vàđặc biệt là sự ra đời của văn phòng kế toán trưởng (GAO) Ở Trung Quốcviệc cải cách mở cửa bên cạnh công tác kiểm tra kiểm soát mạnh mẽ nên
đã tạo ra đươc những thành tựu lớn, kiểm toán Nhà nước được xây dựng
từ năm 1983,kiểm toán Độc Lập được xây dựng từ năm 1981
Như vậy có thể nói hầu hết ở các nước trên thế giới song song vớiviệc quản lý đều có một hệ thống kiểm tra kiểm soát độc lập ở bên cạnh.Còn đối với Việt nam chúng ta từ những năm 1945 Bác Hồ đã ký Sắclệnh tổ chức thanh tra đặc biệt (SL 64/SL ngày 23/11/1945) tiếp theo đó làsắc lệnh 57 ngày 04/06/1946 quy định tổ chức bộ máy cán bộ trong đólập ra các nha thanh tra , sắc lệnh số 76/SL ngày 25/08/1946 về tổ chức bộmáy Tài chính và nha thanh tra Tài chính thuộc Bộ Giai đoạn này ĐấtNước đang đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội theo mô hình kinh tế kếhoạch hoá tập trung với các thành phần kinh tế trong đó kinh tế QuốcDoanh là chủ yếu thì các biện pháp đó là phù hợp Nhưng chuyển sang
cơ chế thị trường (1986) xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp dưới
sự quản lý của Nhà nước làm xuất hiện nhiều thành phần kinh tế mới vớicác mối quan hệ đa dạng và phức tạp thì hệ thống thanh tra kiểm tra kiểmsoát cũng phải thay đổi để phù hợp trong điêù kiện mới và đặc biệt với sự
ra đời của các công ty kiểm toán độc lập, cơ quan kiểm toán Nhà nước,
và gần đây đó là sự ra đời của kiểm toán nội bộ đã chứng tỏ kiểm toán ởViệt nam đang từng bước được nhìn nhận, xây dựng, đáp ứng được yêucầu của nền kinh tế
Như vậy sự ra đời của kiểm toán là một tất yếu khách quan cùngvới sự phát triển kinh tế xã hội góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, ổnđịnh chính trị, đó là một nhu cầu văn minh của xã hội
2.Bản chất và chức năng của kiểm toán.
A.Kiểm tra,kiểm soát-một chức năng của quản lý
Trang 4Nói một cách chung nhất, quản lý là một quá trình định hướng và tổchức thực hiện các định hướng đã định trên cơ sơ những nguồn lực xácđịnh nhằm đạt hiệu quả cao nhất Quá trình này bao gồm nhiều chức năng
và có thể chia thành nhiều giai đoạn, ở giai đoạn định hướng cần có những
dự báo về nguồn lực và mục tiêu cần và có thể đạt tới, kiểm tra lại cácthông tin về nguồn lực và mục tiêu, xây dựng các trương trình, kếhoạch Sau đó có thể đưa ra các quyết định cụ thể để tổ chức thực hiện.Trong giai đoạn tổ chức thực hiện, cần kết hợp các nguồn lực theo cácphương án tối ưu, đồng thời thường xuyên kiểm tra diễn biến và kết quảcủa các quá trình để điều hoà các mối quan hệ, điều chỉnh các định mức
và mục tiêu trên quan điểm tối ưu hoá kết quả hoạt động Nhưng kiểm trakhông phải là một giai đoạn của quản lý mà nó được thực hiện ở tất cảcác giai đoạn của quá trình này, bởi vậy cần phải quan niệm kiểm tra làmột chức năng của quản lý Tuy nhiên chức năng này được thể hiện rấtkhác nhau tuỳ thuộc vào cơ chế kinh tế và cấp quản lý, vào loại hình hoạtđộng cụ thể, vào truyền thống văn hoá và những điều kiện kinh tế xã hộitrong từng thời kỳ lịch sử cụ thể
Về phân cấp quản lý, có nhiều mô hình khác nhau nhưng thường làphân thành quản lý vĩ mô của Nhà nước và quản lý vi mô của các đơn vị
cơ sở Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra của mình hoặc trực tiếphoặc gián tiếp Nhà nước trực tiếp kiểm tra mục tiêu chương trình, kếhoạch, kiểm tra các nguồn lực, kiểm tra quá trình và kết quả thực hiện cácmục tiêu của các đơn vị, kiểm tra tính trung thực của các thông tin và tínhpháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ Mặt khác Nhà nước có thể sửdụng kết quả kiểm tra của các chuyên gia hoặc các tổ chức kiểm tra độclập để thực hiện điều tiết vĩ mô qua các chính sách của mình hoặc thamgia đầu tư hay với cương vị là khách hàng của đơn vị Đối với các đơn vị
cơ sơ để đảm bảo hiệu quả hoạt động thì cơ sở đều phải tự kiểm tra mọihoạt động của mình trong tất cả các khâu: Rà soát các tiềm lực, xem xétlại các dự báo, các mục tiêu và định mức, đối chiếu và truy tìm các thông
số về sự kết hợp soát xét lại các thông tin thực hiện để điều chỉnh kịp thờitrên quan điểm bảo đảm hiệu năng của mọi nguồn lực và hiệu quả kinh tếcuối cùng cuả các hoạt động
Như vậy :
Trang 5- Kiểm tra gắn liền với quản lý, đồng thời gắn liền với mọi hoạtđộng ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm tra
- Quản lý gắn với cơ chế kinh tế, với điều kiện xã hội cụ thể Khi các điều kiện tiền đề thay đổi thì hoạt động kiểm tra cũng thay đổitheo
- Kiểm tra nảy sinh và phát triển từ chính nhu cầu quản lý Khinhu cầu kiểm tra chưa nhiều, chưa phức tạp, kiểm tra được thực hiệnđồng thời với các chức năng quản lý khác trên cùng một bộ máy thốngnhất và khi nhu cầu thay đổi tới mức độ cao, kiểm tra cũng cần được tách
ra thành một hoạt động độc lập và được thực hiện bằng một hệ thốngchuyên môn độc lập
B : Bản chất của kiểm toán
Kiểm toán đó là một lĩnh vực còn mới mẻ do vây việc nêu ra kiểm toán
là gì còn là một vấn đề phải bàn luận Đã có nhiều quan điểm về kiểmtoán chẳng hạn có 3 quan điểm sau:
Quan điểm 1: Quan điểm về kiểm toán của Vương Quốc Anh
“ Kiểm toán đó là một sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về nhữngbản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổnhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụpháp định có liên quan ”
Với nội dung trên, định nghĩa đã nêu khá đầy đủ các mặt đặc trưng
cơ bản của kiểm toán Tuy nhiên, quan niệm này chỉ phù hợp với kiểmtoán tài chính có đối tượng là bản khai tài chính, do kiểm toán viên độclập hoặc được bổ nhiệm tiến hành trên cơ sở các chuẩn mực chung
Quan điểm 2: kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, mộtchức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán, nộidung của hoạt động này là rà soát các thông tin kế toán từ chứng từ kếtoán, định khoản và ghi sổ kế toán, tính giá các đối tượng kế toán và tổnghợp cân đối kế toán
Quan điểm này mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm toán chưaphát triển và trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung Trong cơ chế này Nhànước vừa là chủ sở hữu, vừa lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế Do đó, chứcnăng kiểm tra của Nhà nước được thực hiện trực tiếp với mọi thực thểkinh tế xã hội thông qua nhiều khâu kể cả kiểm tra kế hoạch, kiểm tra tàichính thường xuyên qua giám sát viên của Nhà nước đặt tại xí nghiệp, đó
Trang 6là kế toán trưởng, đến việc quyết toán và thanh tra các nghiệp vụ cụ thể.Tuy nhiên quan điểm này mâu thuẫn với việc công nhận kiểm toán là mộthoạt động độc lập có phương pháp riêng và được thực hiện bởi một bộmáy riêng biệt
Quan điểm 3 : Quan điểm hiện đại
Ta thấy trong quá trình phát triển kiểm toán không chỉ giới hạn ở kiểmtoán bảng khai tài chính hay tài liệu kế toán mà còn thâm nhập vào nhiềulĩnh vực khác như hiệu quả của hoạt động kinh tế, hiệu năng quản lý,hiệu lực của hệ thống pháp lý trong từng loại hoạt động Vì vậy,theo quan điểm hiện đại thì phạm vi của kiểm toán rất rộng gồm nhữnglĩnh vực chủ yếu sau :
Lĩnh vực 1: Kiểm toán thông tin hướng vào việc đánh giá tính trungthực và hợp pháp của các tài liệu là cơ sở pháp lý cho việc giải quyết cácmối quan hệ về kinh tế, tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tàiliệu đó
Lĩnh vực 2: Kiểm toán quy tắc hướng vào việc đánh giá tình hình thựchiện các thể lệ, chế độ, luật pháp ở đơn vị được kiểm toán trong quá trìnhhoạt động
Lĩnh vực 3: Kiểm toán hiệu quả có đối tượng trực tiếp là sự kết hợpgiữa các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh :mua, bán, sản xuất hay dịch vụ Giúp ích trực tiếp cho việc hoạch địnhchính sách và phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện hay cải tổhoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán
Như vậy quan điểm hiện đại đã khắc phục được các yếu điểm của 2quan điểm trên đó là không chỉ giới hạn ở các bản khai Tài chính, cácTài liệu kế toán mà còn đi sâu vào các lĩnh vực khác
C Chức năng của kiểm toán
Kiểm toán có 2 chức năng cơ bản đó là chức năng xác minh vàchức năng bày tỏ ý kiến, đây là 2 chức năng quan trọng để đưa ra những
ý kiến thuyết phục, tạo niềm tin cho những người quan tâm vào những kếtluận của kiểm toán cho dù là kiểm toán hướng vào lĩnh vực nào trong 4lĩnh vực chủ yếu trên
Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tàiliệu và tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bản
Trang 7khai tài chính xem có tuân thủ theo chế độ tài chính hiện hành haykhông
Theo thông lệ Quốc tế thì chức năng xác minh được cụ thể hoá thànhcác mục tiêu và tuỳ thuộc vào đối tượng hay loại hình kiểm toán mà mụctiêu có thể khác nhau : VD có 6 mục tiêu về kiểm toán bản khai tài chính :
1 Xác minh tính hiệu lực
2 Xác minh tính trọn vẹn
3 Xác minh việc phân loại và trình bày
4 Xác minh về nguyên tắc tính giá
5 Xác minh về quyền và nghĩa vụ
6 Xác minh về tính chính xác, máy móc
Và 7 mục tiêu về kiển toán nội bộ :
1 Xác minh tính hiệu lực
2 Xác minh tính trọn vẹn
3 Xác minh về việc phân loại
4 Xác minh về việc tính giá
5 Xác minh về tính cho phép hay được phép
6 Xác minh về việc ghi sổ và cộng sổ kịp thời so với thời gian quyđịnh
7 Xác minh về việc đảm bảo các nghiệp vụ đều hợp lý
Chức năng bày tỏ ý kiến được thể hiện dưới 2 góc độ
Góc độ tư vấn đưa ra các lời khuyên trong thư quản lý về vấn đềthực hiện các quy tắc kế toán về hoạch định các chính sách, thực thi cácchế độ, pháp luật, về hiệu quả kinh tế và hiệu năng quản lý bày tỏ ý kiếnđược thể hiện qua việc phán xử như một quan toà hoặc kết hợp với xử lýtại chỗ như công việc của thanh tra
Như vậy có thể nói : “ Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến vềthực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống các phương pháp kỹthuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên cónghiệp vụ tương xứng trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực :
II.KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
1 Định nghĩa
Kiểm toán độc lập đó là loại kiểm toán được phân chia từ kiểm toán nóichung theo chức năng và chủ thể kiểm toán Ra đời do yêu cầu cung cấpthông tin tin cậy của nền kinh tế thị trường đòi hỏi qua quá trình phát
Trang 8triển của nền kinh tế nói chung, kiểm toán độc lập được tách ra và pháttriển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường Nền kinh tếthị trường đòi hỏi các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế muốnquản lý và điều hành sản xuất kinh doanh cần phải có thông tin chính xác,kịp thời và tin cậy Để đáp ứng được yêu cầu đó, đòi hỏi phải có một bênthứ 3 độc lập khách quan có trình độ chuyên môn cao, dược pháp luật chophép, cung cấp thông tin tin cậy cho các đối tượng quan tâm Vì vậy nó
đã hình thành nên loại kiểm toán độc lập này Luật pháp nhiều Quốc giaquy định chỉ có các báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập mới cógiá trị pháp lý và độ tin cậy
Hơn thế nữa kiểm toán độc lập đó là một hoạt động đặc trưng của kinh
tế thị trường đó là các tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấntheo yêu cầu của khách hàng, khi kinh tế thị trường phát triển thì các mốiquan hệ giữa các tổ chức kinh doanh ngày càng nhiều và tính cạnh tranhngày càng cao giữa các doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn tồn tại thì phảiquản lý tốt, để quản lý được tốt thì thông tin trung thực cũng góp phầnquan trọng Do vậy kiểm toán độc lập ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu củanền kinh tế, cụ thể là các tổ chức các, đơn vị kinh doanh ở các nước trênthế giới, đặc biệt là các nước có nền kinh tế sớm phát triển thì kiểm toánđộc lập được ra đời sớm Ngày nay trên thế giới quy mô và chất lượngcủa các tổ chức kiểm toán độc lập ngày càng lớn mạnh, điều đó được thểhiện qua các tổ chức kiểm toán độc lập điển hình sau
1 Công ty kiểm toán Deloitte Touche Tohmastu (DTTI)
2 Đây là một công ty trong 6 công ty kiểm toán lớn nhất Thế giới, hiện cókhoảng 600 văn phòng trên thế giới, cung cấp các dịch vụ kế toán, kiểmtoán và tư vấn Tài chính, thuế, cổ phần hoá, đầu tư, quản lý doanhnghiệp
Từ năm 1992, DTTI đã vào Việt nam từ văn phòng DTT quốc tếkhu vực Châu á - Thái Bình Dương DTTI đã giúp Bộ tài chính và công tykiểm toán VACO tổ chức các khoá đào tạo kế toán, kiểm toán quốc tế tạiViệt nam, trợ giúp cho các chuyên gia của Việt nam tiếp cận với thịtrường thế giới và các nguyên tắc chuẩn mực kiểm toán quốc tế, cung cấpcác thông tin chuyên nghành cho Bộ tài chính nhằm truyền bá các kiếnthức quốc tế vào Việt nam Cùng với công ty VACO triển khai các dịch vụ
tư vấn và kiểm toán ở Việt nam
Trang 9Đến tháng 12/1993 DTT được phép đặt văn phòng đại diện tại Việtnam và tháng 04/1995 DTT đã được phép thành lập công ty liên doanhvới công ty kiểm toán Việt nam (VACO) tại Việt nam đây là một kết quả,một lỗ lực quan trọng nhằm hiểu rõ các phong tục tập quán, các chínhsách pháp luật và nhiều các lĩnh vực khác để các cuộc kiểm toán đạt đượckết quả cao
2 Công ty Price Waterhouse (PW)
Đây cũng là 1 trong 6 công ty kiểm toán quốc tế lớn nhất thế giới,hiện công ty có khoảng trên 450 văn phòng nhằm cung cấp các dịch vụ kếtoán, kiểm toán và tư vấn trên khắp thế giới
PW vào Việt nam từ chi nhánh Hồng Kông năm 1992 đã giúp Bộ tàichính và công ty VACO tổ chức hội thảo về thuế, kế toán, kiểm toán, trợgiúp các chuyên gia Việt nam tiếp cận thị trường thế giới trong lĩnh vựcchuyên ngành, tổ chức các khoá đào tạo tại Việt nam cùng với công tyVACO, PW đã cung cấp các dịch vụ nghề nghiệp cho các khách hàng ởViệt nam
Hiện nay PW đã có chi nhánh ở Hà nội và TPHCM với tên gọi : Công
ty trách nhiệm hữu hạn Price Waterhouse Việt nam
3 Công ty Arthur Andersen (AA)
Cũng là 1 công ty trong 6 công ty kiểm toán lớn nhất thế giới với khoảng
300 văn phòng trên thế giới AA cung cấp các dịch vụ kế toán, kiểm toán,
tư vấn như mọi công ty kiểm toán quốc tế lớn khác
AA vào Việt nam từ tháng 05/1991 thông qua chi nhánh Philippin vàThái lan, công ty giúp Việt nam đào tạo các khoá về đào tạo kiểm toán
và kế toán Kết hợp với thực hiện một số dịch vụ chuyên ngành ở Việtnam Tháng 08/1995 AA được phép thành lập chi nhánh ở Việt nam có tênCông ty trách nhiệm hữu hạn Arthur Andersen Việt nam
4 Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC)
IFAC được thành lập từ năm 1977 có khoảng 100 tổ chức thành viênvới mục tiêu là phát triển và tăng cường sự phối hợp nghiệp vụ kế toán vàkiểm toán độc lập trên phạm vi toàn thế giới với những nguyên tắc vàchuẩn mực phổ biến, tiến dần thành thông lệ của hầu hết các nước trên thếgiới, đáp ứng được yêu cầu của các chính phủ, các doanh nghiệp, cácNhà tín dụng, các cổ đông cũng như đáp ứng mối quan tâm của côngchúng trên thế giới Mục tiêu của IFAC là thúc đẩy các nước trên thế giới
Trang 10tiến dần đến sự thống nhất và hoà hợp với xu hướng phát triển của nềnkinh tế thế giới với các tập đoàn xuyên quốc gia, toàn cầu.
Qua trên ta thấy được hoạt động kiểm toán độc lập của các tổ chứckiểm toán độc trên thế giới ngày càng lớn mạnh và phát triển khôngngừng với mục tiêu là kết hợp rộng rãi giữa các quốc gia trên thế giới đểtrao đổi, bồi dưỡng kinh nghiệm về kế toán, kiểm toán và tư vấn Các tổchức trên cũng có các chi nhánh ở Việt nam Còn ở Việt nam chúng takiểm toán độc lập ra đời muộn so với các nước trên thế giới, băng sự rađời của các tổ chức kiểm toán độc lập
Ngày 13/05/1991 công ty kiểm toán Việt nam (VACO) chính thứcđược thành lập và một loạt các tổ chức kiểm toán độc lập khác như : Công
ty dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn Tài chính (AASC), công ty tư vấn
và kiểm toán (A and C), công ty kiểm toán đà nẵng (ĐAC), công ty kiểmtoán và dịch vụ tin học (ATSC), công ty kiểm toán Hạ long (HAACO).Các công ty 100% vốn nước ngoài gồm :Cong ty Ernst and Young (E andY), KPMG Peat Marwick Việt nam, Price waterhouse Việt nam (PW),Arthur Andersen Việt nam (AA), các công ty liên doanh như VACO-DTTI, và công ty Coopers and Lybrand AISE Đã chứng tỏ sự hiện diệnchính thức của kiểm toán độc lập ở Việt nam đánh dấu một bước ngoặtlớn trong làng kiểm toán chứng tỏ Việt nam đã hoà nhập vào xu hướngphát triển của các nước trên thế giới
Theo quan điểm của liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC)thì kiểm toánđộc lập đó là một quá trình kiểm toán viên độc lập tiến hành kiểm tra vàtrình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính được kiểm toán Còn quychế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân ban hành kèm theonghị định số 07/cp ngày 29/01/1994 của chính phủ thì : “ Kiểm toán độclập đó là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệpthuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn và hợp lý của cácTài liệu số liệu kế toán và các báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp,các cơ quan, các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội khi có yêu cầu của đơn
vị này”
3 Vai trò của kiểm toán độc lập trong quản lý vĩ mô- vi mô
Sự ra đời và phát triển của các tổ chức kiểm toán độc lập trong nềnkinh tế quốc dân là xu hướng tất yếu khách quan và có tính quy luật Kiểm
Trang 11toán độc lập là một công cụ quản lý tài chính đắc lực góp phần nâng caotính hiệu quả của nền kinh tế thị trường
Đặc trưng của nền kinh tế thị trường đó là nhiều thành phần kinh tế, tự
do sản xuất, kinh doanh theo luật định và tự do cạnh tranh Để tồn tại vàphát triển thì mỗi doanh nghiệp phải tự thân vận động, làm mọi cách đểhạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường Với đặc trưng về tư vấntài chính và kế toán của mình kiểm toán độc lập giúp cho các doanhnghiệp tồn tại và phát triển trong cạnh tranh hay nói một cách khác các tổchức, các doanh nghiệp cần có kiểm toán độc lập để giúp cho công việcsản xuất kinh doanh của mình đạt hiệu quả cao
Còn ở tầm vĩ mô kiểm toán độc lập tạo được sự khách quan hết sức cầnthiết để tập trung phân bổ đồng vốn một cách phù hợp với quy luật và đạthiệu quả kinh tế cao nhất để lành mạnh hoá và ổn định thị trường Hơnthế nữa Nhà nước dưạ vào kết quả của kiểm toán độc lập để đề ra cácchính sách vĩ mô điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đặc biệt trong thời gian gầnđây các doanh nghiệp trong nuớc làm ăn thua lỗ không phải là ít bên cạnh
đó là việc tham nhũng của các cán bộ có chức có quyền ,móc ngoặc vớinhau để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa ,tài sản của nhân dân điểnhình là các vụ án như Nhà máy dệt Nam Định và gần đây là vụ án Minhphụng –EFCO, Tân Trường Xanh đã làm thiệt hại cho nhà nước hàngnghìn tỷ đồng Những vấn đề đó cũng là do các cỏ quan quản lý của nhànước lỏng lẻo trong kiểm tra kiểm soát ,do vậy hoạt động kiểm toán cầnphải phát huy trách nhiệm của mình hơn nữa để giúp nhà nuớc ngăn chặnnhững thiệt hại không đáng có
Có thể nói kiểm toán độc lập có một vai trò rất quan trọng trong nềnkinh tế thị trường, điều đó được thể hiện thông qua các tổ chức kiểm toánđộc lập trên thế giới ngày một hùng mạnh cả về số lượng các công ty kiểmtoán, các kiểm toán viên độc lập, về chất lượng các cuộc kiểm toán, đặcbiệt phạm vi kiểm toán và tư vấn ngày càng được mở rộng trong mọi lĩnhvực và mọi khía cạnh của nền kinh tế, việc kiểm toán độc lập ra đời làmột tổ chức trung gian độc lập khách quan với các bên có liên quan đó làmột tất yếu khách quan và thiết thực đối với sự phát triển kinh tế đấtnước
Đối với các đơn vị có liên quan thì hoạt động kiểm toán cũng gópphần quan trọng cho việc quản lý và tổ chức thực hiện Bởi vì các chủ
Trang 12doanh nghiệp, người có nghĩa vụ và trách nhiệm lập báo cáo tài chính đềumuốn giấu các phần yếu kém và khuyếch chương kết quả của mình trênbản báo cáo tài chính đó Trái lại các cổ đông những người quan tâm đếnkết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp lại đòi hỏi sựtrung thực chính xác của bản báo cáo tài chính, do đó họ cần những thôngtin trung thực và chính xác thông qua kiểm toán độc lập
Bản báo cáo Tài chính của doanh nghiệp đă được kiểm toán viên độc lập và xác nhận là trung thực và hợp lý sẽ là cơ sở pháp lý cho các cơ quanNhà nước quản lý điều hành doanh nghiệp và những người quan tâm xử lýcác quan hệ trong kinh doanh
- Ngân hàng cần có thông tin trung thực để cho vay vốn
- Các cổ đông, những người lao động, công ty có vốn, đơn vị nước ngoài đều cần có thông tin trung thực để xem xét kinh doanh của mình một cách có hiệu quả
Trang 13PHẦN 2: VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ QUỒC DÂN
I Ý nghĩa, tác dụng của kiểm toán độc lập
kế toán nói riêng và hoạt động của các đơn vị nói chung
Hoạt động tài chính bao gồm các mối quan hệ đa dạng, luônbiến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể Để hướng cácnghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết tốt các quan hệ trên, mà cần thườngxuyên soát xét lại việc thực hiện để hướng các nhiệm vụ vào quỹ đạomong muốn Trong đó hoạt động tài chính lại bao gồm nhiều mối quan hệ
về đầu tư, kinh doanh, phân phối và thanh toán Tính phức tạp của hoạtđộng này càng tăng lên bởi mối quan hệ chặt chẽ giữa các quan hệ tàichính với lợi ích của mỗi người Trong khi đó thông tin kế toán là sự phảnánh hoạt động của tài chính, là sản phẩm của quá trình sử lý thông tinbằng các phương pháp kỹ thuật đặc thù Do đó nhu cầu hướng dẫn nghiệp
vụ và củng cố nền nếp trong quản lý tài chính càng đòi hỏi thường xuyên
và ở mức cao hơn
Trong khi đó kiểm toán độc lập có chức năng tư vấn về Tàichính kế toán sẽ giúp cho đơn vị tránh được những yếu điểm, khiếmkhuyết trong quá trình tổ chức thực hiện để có được hiệu quả về nền nếptài chính ngày càng cao
2.Tạo niềm tin cho những người quan tâm đến kết quả hoạt động Đặc
biệt trong kinh tế thị trường có nhiều ngươig cần quan tâm tới tình hình Tài chính và sự phản ánh của nó trong Tài liệu kế toán đó là:
- Các cơ quan Nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ
mô nền kinh tế với mọi thành phần kinh tế, mọi hoạt động xã hội Do vậy Nhà nước phải giám sát chặt chẽ theo đúng pháp luật và có hiệu quả
- Các Nhà đầu tư không chỉ có đầu tư trong nước mà còn có đầu tư
từ nước ngoài cần có thông tin tin cậy để có hướng đầu tư đúng đắn, đểđiều hành sử dụng vốn đầu tư và sau đó là sự phân chia kết quả của hoạtđộng đầu tư Trong cơ chế thị trường do tính đa phương hoá đầu tư và đa
Trang 14dạng của các thành phần kinh tế nên các Nhà đầu tư cũng phong phú và đadạng gồm: Nhà nước, tư nhân, các đơn vị nước ngoài, các cổ đông,xãviên Do vậy để thu hút vốn và các Nhà đầu tư nhằm tạo cơ hội thuậnlợi cho họ, xây dựng hợp lý mọi nguồn vốn đầu tư, cần có những thông tintrung thực, khách quan về tình hình tài chính mà chủ yếu là các bản khai
về tài chính, tài sản thu nhập, các bản thuyết trình kèm theo
- Các Nhà quản trị doanh nghiệp và các Nhà quản lý khác vì côngviệc kinh doanh mà không thể kiểm soát hết hàng ngàn, hàng vạn nghiệp
vụ tài chính, kế toán đã xảy ra trong doanh nghiệp Các chủ doanh nghiệpthường uỷ quyền việc kiểm soát các nghiệp vụ tài chính, kế toán chongười phụ tá hoặc một trong những cổ đông phụ trách, vì thế để biết đuợcmột cách chính xác, trung thực tình hình tài chính, kế toán của mình vàothời hạn nào đó, các chủ doanh nghiệp đã mời các kiểm toán viên chuyênnghiệp độc lập có uy tín thực hiện việc kiểm tra và nhận xét bản báo cáotài chính của doanh nghiệp mình do người phụ trách kế toán lập
Những nhận xét của kiểm toán viên sẽ giúp cho các chủ doanh nghiệp kịp thời phát hiện ra những sai sót, lãng phí, vi phạm pháp luật do
cố tình hay vô ý để xử lý kịp thời ngăn ngừa các tổn thất Điều đó giúp doanh nghiệp hạn chế được những rủi ro, biết phát hiện ra những thế mạnh, tiềm năng tài chính nội tại đang có trong doanh nghiệp mà chỉ có những kiểm toán viên với bề dày kinh nghiệm thực tế mới có thể phát hiệnra
-Bên cạnh đó những chủ doanh nghiệp làm ăn chính đáng có hiệu quả nhưng vì lý do nào đó bị tai tiếng thì kiểm toán viên sẽ là người xác nhận, bảo vệ cho họ Nhận xét của những kiểm toán viên có uy tín sẽ làm tăng thêm tính pháp lý của bản báo cáo tài chính và danh tiếng của doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp càng có lợi thế hơn trong sản xuất kinh doanh và thuận lợi trong quan hệ tài chính với các đơn vị tài chính bên ngoài Hơn thế nữa các Nhà quản trị doanh nghiệp, các Nhà quản lý khác cần những thông tin trung thực không chỉ trên bảng khai tài chính mà còn những thông tin cụ thể về tài chính về hiệu quả và hiệu năng của mỗi bộ phận để có những quyết định trong mọi giai đoạn quản lý kể cả tiếp nhận vốn liếng, chỉ đạo và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý
Trang 15-Người lao động, khách hàng, các Nhà cung cấp và những người quan tâm khác cũng cần hiểu rõ thực chất về kinh doanh, tình hình tài chính của các đơn vị như số lượng, chất lượng sản phẩm hàng hoá,cơ cấu sản xuất và khả năng thanh toán
Như vậy để có thông tin trung thực thì chỉ có qua kiểm toán mới
có được Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường thì vai trò của kiểm toán độc lập là hết sức quan trọng
II.Vai trò của kiểm toán độc lập đối với khách thể của kiểm toán độc
có thể nói đối tượng (khách thể) của kiểm toán độc lập rộng hơn so với kiểm toán Nhà nước Khi nền kinh tế thị trường phát triển, các thành phầnkinh tế các tổ chức kinh tế đa dạng và phức tạp, bên cạnh đó mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, sự quan tâm đến tình hình tài chính của nhau ngàycàng tăng hay nói cách khác ngày càng có nhiều đối tượng quan tâm đến tin tức tài chính của doanh nghiệp Nhưng không phải tất cả mọi người đềutin ngay vào bản tự báo cáo của doanh nghiệp mà phải có sự kiểm tra độ tin cậy của bản báo cáo đó Điều đó dẫn đến nhu cầu về kiểm toán độc lậpngày càng cao và khách thể của kiểm toán độc lập ngày càng mở rộng Ở Trung Quốc thì đối tượng bắt buộc phải được kiểm toán độc lập xác nhận gồm:
- Tất cả các công ty có vốn đầu tư nước ngoài(Công ty 100% vốn nước ngoài, liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh)
- Tất cả các công ty có phát hành cổ phiếu(tham gia thị trường chứng khoán) đều phải được kiểm toán độc lập xác nhận trên báo cáo tài chính hai năm liềnvà phải có lãi
- Các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện tư nhân hoá
Riêng ngân hàng Thượng Hải quy định: “Tất cả khách hàng muốn vay tiền của ngân hàng Thượng Hải đều phải nộp báo cáo tài chính đã
Trang 16được kiểm toán viên xác nhận” Nhưng ở Việt nam ta, thông tư số 22 quy định khách thể kiểm toán độc lập gồm:
- Các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
- Các doanh nghiệp liên doanh giữa các tổ chức trong và ngoài nước
1.Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(Gồm các doanh nghiệp giữa các tổ chức trong và ngoài nước và cácdoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài)
Đại hội Đảng 8 đã đề ra là đưa đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước nhằm tiến nhanh, tiến mạnh, vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội Do đó để thực hiện được những mục tiêu trên thì cơ chế quản lý kinh tế cũng phải được hoàn thiện cho phù hợp đặc biệt
đó là nguồn vốn lớn lao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Việt nam ta đã phải trải qua nhiều cuộc khánh chiến trường kỳ đi lên xây dựng đất nước từ một nền kinh tế nhỏ bé, lạc hậu, công nghiệp nhỏ là chủ yếu với một cơ sở hạ tầng bị chiến tranh tàn phá nặng nề đặc biệt trải qua một thời gian dài với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp cho nên nền kinh tế vốn đã yếu kém càng trở lên khó khăn hơn trước, từ những thực tế đó Đại Hội Đảng 6 (12/86) đã quyết địnhchuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nuớc cùng với chinh sách mở cửa “Việt nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước trên thế giới” để nhằm thu hút sự đầu tư giúp đỡ của nước ngoài, để đưa đất nước đi lên hoà nhập với nền kinh tế thế giới thông qua thực hiện phân công lao động quốc tế Chủ trương của Nhà nước là tăng tốc độ phát triển kinh tế, đạt bình quân 400usd/1 người một năm vào cuối thế kỉ 20,muốn đạt mục tiêu này thì tốc độ phát triển bình quân hàng năm phải đảm bảo đạt là 7% trở lên và nhu cầu về vốn đầu
tư phải có từ 4,2 tỷ usd trở lên cho mỗi năm tức là tích luỹ phải đạt trên 22% thu nhập quốc dân hàng năm Đây là con số tích luỹ vượt quá khả
Trang 17năng nền kinh tế nước ta cho nên nhu cầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài lànguồn bổ xung quan trọng để nước ta có thể đạt được 26,3 tỷ usd tổng sảnphẩm thu nhập năm 2000 đảm bảo gấp đôi thu nhập quốc dân năm 1990
Vì nếu có vốn đầu tư nước ngoài có thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và dịch vụ, không những thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn giúp
ta giải quyết tình trạng thất nghiệp đang đè nặng nên nền kinh tế của đất nước Hơn thế nữa thông qua đầu tư của các nước phát triển chúng ta có điều kiện tiếp nhận những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới nhờ đó có thể giảm bớt được khoảng cách tăng trưởng cuả ta so với các nước
Chỉ có dựa vào sự thu hút vốn đầu tư quốc tế chúng ta mới đủ khả năng khai thác có hệu quả những tiềm năng của đất nước mà bao năm qua không có vốn chúng ta không thể đưa vào khai thác như dầu mỏ, khoáng sản Bên cạnh đó thông qua hợp tác liên doanh với nước ngoài chúng tacòn học được kinh ngiệm quản lý kinh doanh, học tập cách làm thương mại và phong cách làm việc trong điều kiện kinh tế thị trường của các doanh nghiệp nước ngoài
Thực trạng hơn 10 năm qua chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn đó là không ngừng tăng trưởng kinh tế đưa đất nước dần thoát ra khỏi đói nghèo, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện Mặc dù trong năm qua khu vực có những biến động, khủng khoảng lớn về kinh tế nhưng tốc độ tăng trưởng của Việt nam vẫn đạt 5.6%(năm 1998) cao nhất trong khu vực Đông Nam Á Có được thành tựu đó là nhờ sự lỗ lực của toàn Đảng, toàn dân ta trong đó cũng có sự đóng góp của các doanh nghiệp Việt nam có vốn đầu tư nước ngoài Đặc biệt là nguồn vốn FDI trong 10 năm qua không chỉ thay đổi về số lượng dự án mà tổng số vốn đầu tư và chất lượng đầu tư cũng thay đổi đáng kể Từ 1988-1990 FDI chỉ dừng lại ở những dự án vừa và nhỏ với quy mô trung bình 8,5 triệu USD /1dự án Cuối năm 1990 có khoảng 203 dự án với tổng số vốn
1726 triệu USD Đến giai đoạn 91-95 tỷ lệ tăng trung bình là 50 % tuy nhiên do ảnh hưởng của khủng khoảng kinh tế khu vực lên đầu tư trực tiếpvào Việt nam bị ảnh hưởng và chững lại có suy giảm nên 1996 tổng FDI là8,5 tỷ USD tăng 30% so với năm 95 với độ lớn trung bình của dự án là 26,1 triệu USD thì đến năm 1997 tổng FDI chỉ còn khoảng 4,4 tỷ với trungbình 13,1 triệu USD/dự án Năm 1998 có khoảng 260 dự án với tổng số
Trang 18vốn là 4827,6 triệu USD Cũng theo số liệu thống kê năm 1997 các doanhnghiệp có vốn đầu tư nuớc ngoài đã tạo ra 7,8 % GDP chưa kể xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt-Xô Petro Tính đến hết ngày 30/9/1998 có 1052 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam.
Những con số trên cho thấy FDI ở Việt nam ngày càng có xu hướng gia tăng nhưng để cho việc đầu tư vào nền kinh tế trong nước đảm bảo và đạt hiệu quả cao, đôi bên cùng có lợi thì Đảng và Nhà nước ta cũng
đã quy định về việc áp dụng chế độ kế toán Tài chính vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi cấp bách đặc biệt là kiểm toán độc lập trong lĩnh vực này cũng được nâng cao không chỉ đối với Việt nam
mà còn đối với cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư vào Việt nam
Điều 98 NĐ 18-CP ngày 16/3/1993 của chính phủ quy định chi tiết luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam đã quy định: “Báo cáo kế toán của doanh nghiệp có vốn đầu tư nuớc ngoài phải được công ty kiểm toán xác nhận trước khi gửi cho Uỷ Ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư và cơ quan thuế trong vòng 3 tháng kể từ ngày khoá sổ năm tài chính của doanh nghiệp”
Điều 2 quy chế kiểm toán độc lập (ban hành kèm theo nghị định 07/
cp ra ngày 29/01/94 của chính phủ cũng đã quy định: “Báo cáo quyết toán của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ phần, xí nghệp tư doanh hoạt động theo lụât công ty, luật doanh nghiệp tư nhân phải có xác nhận của kiểm toán độc lập mới có giá trị pháp lý”
Thông tư 27 TC/CĐKT quy định : “Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam thì công việc kiểm toán được thực hiện hàng năm Báo cáo quyết toán gửi cho các
cơ quan quản lý Nhà nước phải kèm theo báo cáo kiểm toán của tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động hợp pháp tại Việt nam hoặc một tổ chức kiểm toán độc lập khác được Bộ tài chính chấp nhận”
Đảng và chính phủ ta khuyến khích các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng chế độ kế toán thống kê quy định tại pháp lệnh thống
kê ngày 10/5/1988 Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể thực hiện chế độ kế toán và thống kê theo những tiêu chuẩn và quy tắc phổ biến được Bộ tài chính và Tổng cục thống kê chấp thuận và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính và thống kê Việt nam