LÊ VĂN QUYẾT NGHIÊN CỨU BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ THUẬT DI CHUYỂN CHO ĐỘI TUYỂN CẦU LÔNG NAM TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN GIA THIỀU – HÀ NỘI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành h
Trang 1LÊ VĂN QUYẾT
NGHIÊN CỨU BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ THUẬT DI CHUYỂN CHO ĐỘI TUYỂN CẦU LÔNG NAM TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN GIA THIỀU - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LÊ VĂN QUYẾT
NGHIÊN CỨU BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ THUẬT DI CHUYỂN CHO ĐỘI TUYỂN CẦU LÔNG NAM TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN GIA THIỀU – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành học: Giáo dục Thể Chất
Hướng dẫn khoa học:
ThS NGUYỄN THỊ THU HỒNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Tôi tên là: LÊ VĂN QUYẾT
Sinh viên: Lớp K40
Khoa : GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những vấn đề tôi đưa ra và bàn luận, nghiên cứu trong đề tài không trùng với bất kì đề tài nào trước đây Tôi xin tự chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về đề tài
Trang 4CLB Câu lạc bộĐHTT Đại hội thể thaoGDTC Giáo dục thể chất
HKPĐ Hội khỏe phù đổngHLV Huấn luyện viênNLDC Năng lực di chuyển
XHCN
Vận động viên
Xã hội chủ nghĩa
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về Thể dục thể thao trường học 4
1.2 Lịch sử phát triển môn cầu lông 5
1.2.1 Nguồn gốc ra đời và sự phát triển của môn cầu lông 5
1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh Trung Học Phổ Thông (THPT) 7
1.3.1 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi THPT 7
1.3.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi THPT 9
1.4 Đặc điểm môn cầu lông 11
1.4.1 Khái niệm năng lực di chuyển 11
1.4.2 Tầm quan trọng của năng lực di chuyển 11
1.4.3 Kỹ thuật di chuyển cơ bản 12
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 18
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 18
2.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm 18
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm 19
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 19
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 19
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê 20
2.3 Tổ chức nghiên cứu 21
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.3.2 Địa điểm nghiên cứu 21
2.3.3 Thời gian nghiên cứu 21
Trang 6nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội 233.1.1 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy giáo dục thể chất 233.1.2 Thực trạng công tác quản lý và trình độ chuyên môn đội ngũ giáo viên thể dục thể thao trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội 233.1.3 Thực trạng kết quả thi đấu một số giải của đội tuyển nam Cầu lông trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội 253.1.4 Kế hoạch huấn luyện cho đội tuyển nam Cầu lông trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội 263.1.5 Nghiên cứu lựa chọn test đánh giá năng lực di chuyển của đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội 263.1.6 Đánh giá thực trạng năng lực di chuyển của đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội 283.2 Lựa chọn, đánh giá bài tập nâng cao năng lực di chuyển cho đội tuyển
cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội 29
3.2.1 Lựa chọn các bài tập nâng cao năng lực di chuyển cho đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội 293.2.2 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các bài tập nâng cao năng lực di chuyển cho đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội 33
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập môn
GDTC 23
Bảng 3.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT của trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội (n = 6) 24
Bảng 3.3 Kết quả thi đấu một số giải Cầu lông của đội tuyển nam Cầu lông trường THPT Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội 25
Biểu đồ 3.1 Mức độ phân chia thời gian tập luyện theo chương trình huấn luyện cũ 26
Bảng 3.4: Kết quả phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá NLDC của đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội (n=50) 27 Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra di chuyển đánh cầu cao sâu vào ô của đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội 29
Bảng 3.6: Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập nâng cao NLDC cho đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội (n=50) 31
Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiêm (n A = n B = 10 VĐV) 35
Bảng 3.8 Tiến hành thực nghiệm 36
Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm (nA = nB = 10 VĐV) 37
Biểu đồ 3.2: Nhảy dây trong vòng 1 phút, tính số lần 38
Biểu đồ 3.3: Di chuyển tiến - lùi trong vòng 1 phút, tính số lần 39
Biểu đồ 3.4: Di chuyển ngang sân đơn trong vòng 1 phút, tính số lần 39
Bảng 3.10: Kết quả các giải đấu nổi bật của đội tuyển cầu lông tham gia trước và sau khi thực nghiệm 40
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa xã hội Trong một xã hội hiện đại văn minh với trình độ khoa học phát triển không thể thiếu được TDTT Tập luyện thi đấu thể thao không chỉ nâng cao sức khỏe cho người tập, nâng cao thành tích thể thao mà còn mang lại vinh quang cho đất nước
Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất cho nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà Nước Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng…
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của toàn dân tộc đã từng chỉ
dặn đồng bào ta: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần
có sức khỏe Muốn giữ sức khỏe thì nên thường xuyên tập thể dục thể thao.Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp.”[2]
Tại điều 31, chương III của Luật TDTT (năm 2006) đã quy định: “Nhà nước có chính sách phát triển thể thao thành tích cao, đầu tư tập trung xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; đào tạo, bồi dưỡng vận động viên (VĐV), huấn luyện viên (HLV) đạt trình độ quốc gia, quốc tế; tổ chức thi đấu thể thao thành tích cao”.[14]
Để thực hiện Luật TDTT Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số
2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2010 phê duyệt “Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020” Mục tiêu tổng quát của Chiến lược này là: “ xây dựng và phát triển nền TDTT nước nhà, tăng sức khỏe nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng tuổi thọ của người Việt Nam theo tinh thần vì sự nghiệp dân cường, nước thịnh, hội nhập và phát triển”
Trang 9Cầu lông được du nhập vào nước ta từ những năm 1960, muộn hơn so với các môn thể thao khác, nhưng nó đã dần phổ biến ở cả thành thị và nông thôn, được nhiều người ưa thích và tham gia tập luyện Tập luyện cầu lông giúp phát triển toàn diện các năng lực thể chất, nâng cao sức khỏe, rèn luyện ý chí đạo đức Đặc biệt phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính, mọi tầng lớp nhân dân lao động, với dụng cụ tập luyện đơn giản, dễ tập nên phong trào cầu lông phát triển rộng rãi
Trong giảng dạy, Cầu lông là môn thể thao cơ bản có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục thể chất (GDTC), là cơ sở phát triển toàn diện các tố chất thể lực cho các môn thể thao khác Đặc điểm của thi đấu cầu lông là VĐV luôn phải di chuyển liên tục, cùng với việc kết hợp các động tác đánh cầu hợp lí, nhanh, mạnh, tốc độ để thể hiện ý đồ chiến thuật trong thi đấu Phát triển năng lực di chuyển là nền tảng để tiếp thu và nắm vững những kỹ chiến thuật Hay nói cách khác, việc tiếp thu và vận dụng có hiệu quả kỹ thuật, chiến thuật cầu lông chỉ có thể thực hiện trên nền tảng thể lực chung và thể lực chuyên môn vững chắc sau khi đã tập thuần thục tất cả các bài tập nâng cao năng lực di chuyển trong cầu lông
Trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội là một ngôi trường có bề dày lịch sử về thành tích thể thao Với sự quan tâm của lãnh đạo Ban giám hiệu nhà trường, đội tuyển cầu lông nam đã tham gia nhiều giải của quận, huyện và thành phố Tuy nhiên thành tích thi đấu của đội tuyển cầu lông nam của nhà trường vẫn còn ở mức độ khiêm tốn : giải ba đôi nam các trường THPT huyện
và giải khuyến khích đơn nam Hội Khỏe Phủ Đổng cấp thành phố Một trong những nguyên nhân làm cho thành tích cầu lông của trường còn thấp là do kỹ thuật di chuyển của các em còn hạn chế
Trang 10Xuất phát từ những lý do nêu trên, để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như huấn luyện môn Cầu lông của Nhà trường, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật di chuyển
cho đội tuyển cầu lông nam trường Trung học Phổ thông Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội”
* Mục đích nghiên cứu
Qua quan sát và tìm hiểu thực trạng việc tập luyện của đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội, cho thấy kỹ thuật di chuyển của các em còn rất nhiều hạn chế Việc tìm ra những nguyên nhân, sai lầm thường mắc làm hạn chế năng lực di chuyển của các em, để lựa chọn một
số bài tập khắc phục những sai lầm đó góp phần nâng cao thành tích cho đội
tuyển nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội
* Giả thuyết khoa học
Việc vận dụng kỹ thuật di chuyển vào trong tập luyện và thi đấu của các em trong đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội còn rất nhiều hạn chế Nếu lựa chọn được một số bài tập thích hợp và hiệu quả thì thành tích của các em đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội sẽ được nâng cao
Trang 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về Thể dục thể thao trường học
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục
Xẫ Hội Chủ Nghĩa (XHCN) Nhằm đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, đào tạo con người có: Đức - Trí - Thể - Mỹ - Lao động và hoàn thiện thể chất
Tăng cường sức khỏe cho nhân dân, nâng cao trình độ thể chất, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần và giáo dục con người Đảng ta đã
khẳng định: “Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người”, Nhân tố con người đóng vai trò quan trọng và được đặt ở vị trí
trung tâm trong tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội.[1]
Như lời Bác Hồ nói:“Con người là vốn quý của xã hội, bảo vệ sức khỏe cho con người là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của ngành TDTT”.[2]
Vì vậy, phải quan tâm và bồi dưỡng nhân tố con người phát triển toàn
diện, con người XHCN và Bác cũng đã từng nhấn mạnh “Muốn xây dựng XHCN trước hết phải có con người XHCN”.[2]
Đào tạo và bồi dưỡng nhân tố con người là trách nhiệm chung của Đảng và Nhà nước, nhưng trước tiên thuộc về ngành Giáo dục và Đào tạo
trong đó có ngành TDTT Mac và Angghen từng nói “Sự kết hợp giữa trí dục
và thể dục, lao động không chỉ là một trong những phương tiện để nâng cao sản xuất mà còn là phương thức duy nhất để đào tạo ra những con người phát triển toàn diện” GDTC đặc biệt là GDTC cho thế hệ trẻ là một bộ phận không thể thiếu trong nền giáo dục quốc dân, Bác Hồ nói: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng Nhà nước, gây dựng Nhà nước, gây đời sống mới việc gì cũng cần
có sức khỏe mới thành công”[2], chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta luôn
quan tâm tới sự phát triển của nền TDTT nước nhà
Trang 12Đại hội Đảng lần 3 năm 1960 của Đảng lao động Việt Nam đã định hướng công tác giáo dục rèn luyện thể chất đối với tuổi trẻ học đường đã được hội nghị TW 2 tháng 3 năm 1963 phát triển con người toàn diện
Chỉ thị 06 tháng 10 năm 1980 của Ban Bí Thư TW Đảng về công tác giáo dục thể chất đã đề cập tới vấn đề quan trọng như vai trò tác dụng của TDTT và Giáo dục Quốc phòng, thể dục thể thao quần chúng, nhất là thể dục thể thao trong trường học.[4]
Nghị quyết Đại hội 7 của ĐCSVN tháng 6 năm 1991 khẳng định công tác TDTT cần coi trọng nâng cao giáo dục thể chất trong trường học.[4]
Chỉ thị 112 /CT ngày 9/5/1999 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác TDTT trong những năm trước mắt đối với HSSV trước mắt cần phải dạy và học TDTT”.[3]
1.2 Lịch sử phát triển môn cầu lông
1.2.1 Nguồn gốc ra đời và sự phát triển của môn cầu lông
Cầu lông được bắt nguồn từ trò chơi dân gian của một số dân tộc vùng Nam Á và Đông Nam Á vào khoảng cách đây 2000 năm
Theo các tài liệu của Trung Quốc thì môn cầu lông được bắt nguồn từ trò chơi POONA của Ấn Độ Trò chơi này được phổ biến rộng rãi ở vùng POONA và có tiền thân giống như môn cầu lông ngày nay Khi chơi trò này người ta dùng bảng gỗ đánh vào một quả bóng được dệt bằng sợi nhung, ở trên có gắn lông vũ hai người đánh qua đánh lại cho nhau
Vào những năm 60 của thế kỷ XIX, một số sĩ quan người Anh phục viên đã đem trò chơi này từ Ấn Độ về Anh Quốc và thay đổi dần cách chơi Năm 1873 tại vùng Badminton của nước Anh, một sĩ quan quân đội đã phổ biến trò chơi này cho giới quí tộc của vùng Do tính hẫp dẫn của trò chơi nên chẳng bao lâu nó được phổ biến rộng rãi trên khắp nước Anh Badminton từ
đó trở thành tên gọi tiếng Anh của môn cầu lông.[15]
Trang 13Hiệp hội cầu lông quốc tế, ban đầu lấy tên là International Badminton Federation (IBF) hiện nay đổi thành Badminton World Federation (BWF), được thành lập năm 1934vớiCanada, Đan Mạch, Anh, Pháp, Hà Lan, Ireland, New Zealand, Scotland, và xứ Wales là các thành viên sáng lập. India tham gia với tư cách là một chi nhánh vào năm 1936 Hiện nay BWF chi phối tất cả các hoạt động cầu lông trên thế giới và tổ chức các giải đấu quốc tế
Ban đầu chỉ có 9 thành viên sáng lập, giờ đây BWF có hơn 200 thành viên, từ Aruba đến Zambia
Tại các Thế vận hội 1972 và 1988, cầu lông mới chỉ được đưa vào như môn thể thao trình diễn Nhưng bắt đầu từ 1992, môn này trờ thành môn thi đấu chính thức tại Olympic.[15]
Cầu lông được du nhập vào Việt Nam theo 2 con đường: thực dân hóa
và việt kiều về nước Mãi đến năm 1960 mới xuất hiện một vài câu lạc bộ ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn Đến năm 1961 Hà Nội tổ chức thi đấu giao hữu giữa các thànhviên lần đầu tiên tại vườn Bách Thảo Hà Nội song số người tham gia còn ít, trình độ chuyên môn còn ở mức thấp Những năm sau đó do đất nước bị chiến tranh phong trào không được nhân lên mà còn tạm thời bị lắng xuống Đến năm 1975 sau khi đất nước thống nhất, phong trào tập luyện cầu lông mới thực sự phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Từ năm 1977 đến năm 1980 phong trào chủ yếu phát triển ở các thành phố, thị xã như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, An Giang, Cửu Long, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lai Châu… Năm 1980 giải vô địch cầu lông toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội đã đánh dấu 1 bước ngoặt của cầu lông Việt Nam trên đà phát triển theo hướng phong trào sâu rộng và nâng cao thành tích TT.[15]
Tháng 10/1990 Liên đoàn Cầu lông Việt Nam được thành lập Năm
1993 Liên đoàn Cầu lông Việt Nam trở thành thành viên chính thức của liên
Trang 14đoàn cầu lông Châu Á “ABF” Năm 1994 Liên đoàn Cầu lông Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Liên đoàn Cầu lông TG “BWF” [15]
1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh Trung học Phổ thông (THPT)
Trong quá trình tập luyện và thi đấu các môn thể thao nói chung và môn Cầu lông nói riêng, người tập sẽ luôn xuất hiện trạng thái tâm lý Tâm lý đóng vai trò hết sức quan trọng, nhất là trong thi đấu nó cùng các yếu
tố khác như kỹ thuật, chiến thuật, thể lực tạo nên thành tích thể thao Cầu lông
là môn thể thao đòi hỏi sự nỗ lực ý chí cao, khả năng hoạt động của hệ thần kinh và cơ bắp dẻo dai, bền bỉ
Ở lứa tuổi 16 – 18, các em có những bước phát triển lớn về thể chất và tinh thần, có những đặc điểm nổi bật là sự hình thành giới tính, đang tách dần tuổi thơ ấu để chuyển sang giai đoạn trưởng thành Do đó ở thời kỳ này, các
em được hình thành những phẩm chất mới về ý chí, tình cảm tạo điều kiện để chuẩn bị thành người lớn
Sự phát triển cơ thể cơ thể nam và nữ ở lứa tuổi học sinh trung học cơ
sở đã có sự khác nhau đáng kể do sự khác nhau về giới tính Đến tuổi học sinh THPT, sự khác nhau ấy càng rõ rệt hơn về tầm vóc, khả năng hoạt động thể lực và tâm lý Do đó trong quá trình huấn luyện cần căn cứ vào đặc điểm tâm lý và giới tính để phát triển một cách toàn diện
1.3.1 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi THPT
Ở lứa tuổi này có bước phát triển nhảy vọt, cơ thể có những biến đổi đa dạng về cấu tạo, chức năng sinh lý dưới tác dụng của nhiều yếu tố như môi trường sống, di truyền và quá trình tập luyện TDTT Những ảnh hưởng tới người tập do hoạt động tập luyện cần phù hợp với đặc điểm giới tính và lứa
tuổi, trình độ tập luyện của đối tượng
- Hệ thần kinh: Lứa tuổi 16 - 18 hệ thần kinh đang tiếp tục được phát
triển đi đến hoàn thiện, kích thước não và thành tủy đạt đến mức của người
Trang 15trưởng thành Khả năng tư duy nhất là khả năng phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển tạo thuận lợi cho việc hình thành phản xạ có điều kiện Ngoài ra dưới tác động của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng làm ảnh hưởng đến hoạt động thể lực Nhờ có hệ thống tín hiệu thứ II phát triển và hoàn thiện nên sự kìm chế bản thân đã được củng cố hơn, cơ quan tiền đình phát triển tốt, khả năng tiếp thu và hình thành kỹ thuật động tác nhanh
- Hệ tuần hoàn: Đang trên đà phát triển mạnh để kịp với sự phát triển
của toàn thân, nhưng còn thiếu cân đối gây nên sự mất thăng bằng tạm thời ở các bộ phận cơ thể như sự mất thăng bằng giữa hệ tim và mạch máu Do tim của các em phát triển chậm hơn so với mạch máu, cơ năng hoạt động điều tiết của tim chưa tốt, sự co bóp của tim còn yếu Hoạt động quá nhiều, căng thẳng dẫn đến mệt mỏi, kích thước tương đối và tuyệt đối của tim tăng dần theo lứa tuổi, kích thước tim của các em chịu ảnh hưởng rất lớn của quá trình tập luyện Nếu tập luyện thường xuyên sẽ tăng khả năng chịu đựng với khối lượng cao nhưng cần chú ý cho VĐV trong quá trình tập luyện phải tuân thủ theo nguyên tắc từ khối lượng nhỏ đến khối lượng lớn, tránh tăng khối lượng
đột ngột sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của mạch máu
- Hệ vận động: Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển xương của các
em nữ phát triển kém hơn các em nam, mỗi năm nữ cao thêm 0.5 - 1cm Ở lứa tuổi này các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay hầu như đã hoàn thiện, vẫn
có thể bị cong vẹo Riêng các em nữ xương xốp hơn các em nam, ống tủy rỗng hơn, chiều dài ngắn hơn, bắp thịt nhỏ hơn và yếu hơn nên xương của nữ không khỏe bằng nam Đặc biệt xương chậu của nữ to và yếu hơn Vì vậy không thể sử dụng các bài tập có khối lượng và cường độ vận động như nam cần phải có sự phù hợp về đặc điểm giới tính
Trang 16- Hệ bài tiết: Chịu sự tác động của các tuyến nội tiết, có tác dụng đối
với sự điều hòa thân nhiệt, do tiêu hóa và bài tiết tốt nên ở lứa tuổi này các em
có khả năng phục hồi rất nhanh so với người lớn.
- Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển chậm hơn xương, các bắp cơ lớn
phát triển tương đối nhanh, còn các cơ nhỏ phát triển chậm hơn, các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi Các cơ duỗi của nữ lại càng yếu ảnh hưởng đến việc phát triển sức mạnh Vì vậy, nếu được tập luyện một cách có khoa
học thì các loại cơ đều được phát triển và hoàn thiện ở mức cao
- Hệ hô hấp: Đã phát triển và tương đối hoàn thiện vòng ngực trung
bình của nam từ 69 - 74 cm Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100 - 120
cm2 gần bằng tuổi trưởng thành Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng khoảng 3 - 4 lít, tần số hô hấp gần giống người lớn từ 10 - 20 lần/phút Tuy nhiên cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực nhỏ, chủ yếu là co
giãn cơ hoành Trong tập luyện cần thở sâu và chú ý thở bằng ngực
- Hệ sinh dục: Đã phát triển và sự phân hóa giới tính được thể hiện rõ
ràng Sự phát triển của hệ sinh dục ở lứa tuổi này sẽ làm thay đổi về tâm lý do
đó khi sử dụng các hình thức, phương pháp giáo dục thì người giáo viên, huấn luyện viên phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề này
1.3.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi THPT
Trong quá trình tập luyện và thi đấu các môn thể thao nói chung và môn cầu lông nói riêng, người tập sẽ luôn xuất hiện trạng thái tâm lý Tâm lý đóng vai trò hết sức quan trọng, nhất là trong thi đấu nó cùng các yếu
tố khác như kỹ thuật, chiến thuật, thể lực tạo nên thành tích thể thao Cầu lông
là môn thể thao đòi hỏi sự nỗ lực ý chí cao, khả năng hoạt động của hệ thần kinh và cơ bắp dẻo dai, bền bỉ
Ở lứa tuổi này các em có những bước phát triển lớn về thể chất và tinh thần, có những đặc điểm nổi bật là sự hình thành giới tính, đang tách dần tuổi
Trang 17thơ ấu để chuyển sang giai đoạn trưởng thành Do đó ở thời kỳ này, các em được hình thành những phẩm chất mới về ý chí, tình cảm tạo điều kiện để chuẩn bị thành người lớn
Các hoạt động trí tuệ và học tập của các em đang phát triển mạnh mẽ so với các lứa tuổi thấp hơn, do vậy sự ghi nhớ trừu tượng của các em phát triển hơn hẳn
Ở lứa tuổi này, học tập được thúc đẩy bởi nhiều động cơ mà ý nghĩa nhất là động cơ thực tiễn, xuất phát từ những động cơ đúng đắn và rất nhạy cảm với những cái mới đã thúc đẩy các em có thái độ tự giác, tích cực trong tập luyện duy trì thể trạng và năng lực hoạt động TDTT Nếu các em có động
cơ đúng đắn sẽ tích cực tập luyện, thi đấu để thực hiện mục đích hoạt động
TD, TT Đây là điều mà các giáo viên, huấn luyện viên cần chú ý, định hướng cho các em để xây dựng thái độ đúng đắn, tạo hứng trong học tập, nâng cao chất lượng giờ học GDTC
Do đặc điểm trí nhớ đối với lứa tuổi học sinh THPT khá tốt nên giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan, kết hợp với giảng giải phân tích các chi tiết kỹ thuật động tác, giải thích rõ ý nghĩa cũng như cách sử dụng các phương tiện, phương pháp trong GDTC để các em có thể tự tập một cách độc lập trong thời gian nhàn rỗi
Mặt khác ở lứa tuổi này, phần lớn các em chỉ tập chung học một số môn có liên quan tới nghề của mình trong tương lai, chưa chú tâm vào các môn học khác hoặc chỉ lấy điểm trung bình Do vậy, giáo viên và HLV cần giúp cho học sinh hiểu được ý nghĩa, tác dụng và nhiệm vụ GDTC trong nhà trường phổ thông
Ngoài ra ở lứa tuổi này giáo viên và HLV có được thiện cảm và sự tôn trọng của các em thì đó là một trong những điều kiện thuận lợi cho công tác giảng dạy và huấn luyện, giáo viên cần phải là người thân thiện và gương mẫu
Trang 18Do vậy việc nắm vững những đặc điểm tâm lý lứa tuổi là điều rất quan trọng đối với các giáo viên và HLV Cần phải thường xuyên quan sát, giáo dục phù hợp trên cơ sở tích cực, sáng tạo, biết điều chỉnh và tổ chức hoạt động cho các em, tạo điều kiện phát triển tốt khả năng của mình, giáo dục các
em trở thành con người có năng lực và nhân cách tốt
1.4 Đặc điểm môn cầu lông
1.4.1 Khái niệm năng lực di chuyển
Di chuyển là một trong những kĩ thuật rất quan trọng trong tập luyện và thi đấu cầu lông Muốn đánh cầu đúng, chính xác, đưa cầu đến đúng vị trí như ý đồ chiến thuật, đòi hỏi trước hết phải chọn được vị trí và tư thế chuẩn bị thích hợp
Sự di chuyển của cơ thể thường được tiến hành thông qua 2 dạng sau:
Di chuyển do trọng tâm: Được tiến hành khi trọng tâm rời khỏi chân
đế Trọng tâm càng rời xa chân đế thì góc nghiêng của chân khi di chuyển càng nhỏ, lực di chuyển càng lớn và ngược lại Di chuyển do trọng tâm có ảnh hưởng lớn đến di chuyển đạp chân và nó trở thành điều kiện tiên quyết của di
chuyển đạp chân
Di chuyển do lực đạp của chân: Là hoạt động cơ bản, khi lực đạp chân
tác dụng thông qua trọng tâm cơ thể đòi hỏi lực tác động phải lớn Chính vì vậy quá trình di chuyển, VĐV luôn luôn phải khuỵu gối về hướng di chuyển
để tạo góc độ nhỏ kết hợp với lực đạp của chân đưa cơ thể tiến về trước, lùi
về sau hoặc di chuyển sang hai bên thực hiện đánh cầu
1.4.2 Tầm quan trọng của năng lực di chuyển
Kỹ thuật di chuyển là yếu tố cơ bản nhất quyết định đến thắng bại trong một trận đấu cầu lông Di chuyển tốt ngoài việc tạo thuận lợi trong việc kiểm soát cầu còn giúp VĐV tiết kiệm sức Các tay vợt hàng đầu thế giới như Lee Chong Wei, Lin Dan…đều di chuyển rất khoa học Tuy nhiên, người mới chơi thường hay di chuyển theo quán tính, vừa không hiệu quả vừa mất sức
Trang 19Di chuyển tốt đơn giản là khả năng tiếp cận cầu nhanh nhất mà vẫn giữ được thăng bằng để thực hiện cú đánh và chuẩn bị cho tình huống tiếp theo : “Vùng trung tâm”: Để di chuyển tốt, việc xác định vùng trung tâm là yếu tố quyết định Đây là vị trí mà ở đó bạn có khả năng kiểm soát được mọi
cú đánh từ phía đối phương Theo lý thuyết, vùng trung tâm thường trùng với điểm giữa sân Nhưng trên thực tế, việc một VĐV lựa chọn vùng trung tâm dựa trên đánh giá về sở trường của bản thân và của đối thủ
1.4.3 Kỹ thuật di chuyển cơ bản
1.4.3.1 Di chuyển đơn bước
Là khi di chuyển chỉ thay đổi một chân còn chân kia vẫn làm trụ
Kỹ thuật này được áp dụng nhiều nhất trong trường hợp đánh cầu bên phải, bên trái, vụt cầu khi đầu đối phương đánh sang rơi gần người Đây là một kỹ thuật di chuyển phòng thủ hiệu quả nhất, khi đối phương vụt mạnh gần người
Tư thế chuẩn bị (TTCB): Từ tư thế chuẩn bị 2 chân rộng bằng vai, 2 gối khuỵu, trọng tâm hạ thấp, người hơi đổ về trước, mắt nhìn thẳng, 2 tay co
để phía trước Từ tư thế này sẽ có 2 dạng di chuyển là:
* Di chuyển ở tư thế đánh cầu phải
Dùng gót chân trái làm trụ, xoay bàn chân sang phải, tạo với hướng đánh cầu 1 góc khoảng từ 130 đến 1350
( góc hợp bởi má trong bàn chân với hướng đánh), chân phải bước lùi về sau một bước rộng chừng 50 – 80cm sao cho mũi bàn chân thẳng với đường kéo dài từ gót chân trái song song với hướng đánh, bàn chân tạo với đánh một góc 450 Trọng tâm dồn vào chân phải,
thân người xoay nghiêng sang phải, toàn thân tạo thành tư thế đánh cầu phải
*Di chuyển ở tư thế đánh cầu trái
Nếu dùng gót chân phải làm trụ thì cũng có thể thực hiện các bước di chuyển trên, nhưng có khác các bước ở chỗ tạo nên tư thế đánh cầu sau khi di
Trang 20chuyển là: Khi dùng gót chân phải làm trụ, xoay mũi bàn chân sang trái, tạo hướng đánh cầu một góc chừng 130 – 1350, bước chân trái về sau một bước khoảng 50 – 80cm, sao cho mũi bàn chân trái cùng chạm với đường kéo dài
từ gót chân phải song song với hướng đánh cầu, bàn chân sau tạo với hướng đánh một góc 450 Trọng tâm dồn vào chân trái, người vặn sang trái, toàn thân
ở tư thế đánh cầu trái
* Di chuyển ở tư thế lùi sau đánh cầu phải
Khi thấy điểm rơi của cầu sát bàn chân trái hoặc ở gốc ¼ hình tròn phía sau, bên phải thì lấy nửa trước bàn chân trái làm trụ, chân phải bước về phía sau một bước rồi phối hợp với kỹ thuật đánh cầu phải Sau đó, đạp mạnh
chân phải trở về vị trí chuẩn bị ban đầu
* Di chuyển ở tư thế lùi sau đánh cầu trái
Khi thấy điểm rơi của cầu sát bàn chân trái hoặc ở góc ¼ hình tròn phía sau bên trái thì lấy nửa trước bàn chân làm trụ, chân trái lùi về phía sau một bước rồi phối hợp với kỹ thuật đánh cầu trái tay Sau đó lại đạp mạnh chân
trái trở về vị trí chuẩn bị ban đầu
1.4.3.2 Di chuyển đa bước (nhiều bước)
Là di chuyển có sự thay đổi vị trí của 2 chân và thường là từ 2 bước trở lên Động tác này được sử dụng thường xuyên và có ảnh hưởng trực tiếp đến thành tích của kỹ thuật các động tác tay, cũng như việc thực hiện các dạng chiến thuật Đây là một kỹ thuật rất đa dạng và phong phú, được áp dụng để đánh trả những đường cầu ở xa vị trí đứng của mình Nó là biện pháp phòng thủ và tấn công rất cơ bản không thể thiếu được trong tập luyện và thi đấu cầu lông
Kỹ thuật di chuyển nhiều bước gồm có:
* Di chuyển ngang
Trang 21Đứng ở tư thế chuẩn bị cơ bản giữa sân (trên vạch trung tâm) Nếu di chuyển sang phải thì đạp mạnh chân trái quay người 900 sang phải, chân trái bước về trước, trọng tâm hạ thấp, 2 gối khuỵu sau đó bước tiếp chân phải rồi lại chân trái cứ lần lượt như vậy cho tới khi bước cuối cùng là chân trái ở trên chạm mép biên dọc phải Trọng tâm dồn nhiều vào chân trái, gối chân trái khuỵu nhiều, thân người vặn sang phải ở tư thế đánh cầu phải, cùng với bước cuối là động tác tay lăn vợt về phía trước Sau đó lại đạp mạnh chân trái đẩy người quay 1800 để tiếp tục di chuyển ngược lại
* Di chuyển tiến, lùi
Di chuyển tiến lùi là thực hiện các bước di chuyển đưa cơ thể di chuyển
về phía trước hay lùi về phía sau để đánh cầu
Động tác kỹ thuật:
- Từ tư thế cơ bản đổ người về phía trước đồng thời đạp mạnh chân thuận bước về trước, sau đó sau đó bước tiếp chân kia, trọng tâm hạ thấp gối khuỵu bước dài
- Bước cuối cùng ở gần lưới sao cho chân thuận ở trên để thực hiện động tác đánh cầu phía trước
- Trọng tâm lúc này dồn vào chân trước, sau đó đạp nhanh chân trước theo hướng ngược lại để bước lùi về sau, thân trên ngửa ra và trọng tâm lại đổ
về sau ở tư thế cao
1.4.3.3 Di chuyển bước nhảy
* Nhảy về trước:
Là một động tác di chuyển rất quan trọng, được áp dụng nhiều để đánh những quả bỏ nhỏ sát lưới hay dọc biên Cách di chuyển này rất nhanh, hợp lý đối với những đường cầu xa vị trí đứng của mình mà di chuyển bước không
có kết quả
Trang 22Từ TTCB cơ bản, dùng sức mạnh bột phát của chân bật người lên trên
về trước theo hướng di chuyển Chân đưa trước, bước vươn dài (thường thì chân đưa trước sẽ cùng phía tay đánh cầu) Người lúc này có giai đoạn bay trên không về hướng di chuyển Khi chạm đất chân trước khuỵu gối, trọng tâm dồn vào chân trước Người cùng với tay cầm vợt vươn dài về trước tới
hướng đánh cầu Sau đó đạp mạnh chân phía trước đẩy người trở về TTCB
* Nhảy có bước đệm:
Cũng giống như di chuyển bước nhảy về trước, nhưng chỉ khác là ở động tác này có 2 giai đoạn bật và bay Đầu tiên 2 chân dùng sức mạnh bộc phát bật lên cao về phía di chuyển đưa cơ thể bay ở trên không về hướng di chuyển, nhanh chóng dùng một chân tiếp xúc với mặt đất (thường là chân trái, nếu đánh cầu bằng tay phải), tiếp tục dùng chân chạm đất bật mạnh, theo quán tính lần bật trước đưa cơ thể bay nhanh hơn về hướng di chuyển Chân khác phía với chân vừa chạm đất vươn dài về trước (thường là chân cùng bên với tay cầm vợt) Khi tiếp xúc đất thì giống như cách di chuyển nhảy về trước và
nhanh chóng đạp chân trước lật cơ thể về TTCB cơ bản
* Nhảy lên cao vụt hoặc chặn cầu:
Là kỹ thuật được áp dụng nhiều nhất trong tấn công, cho phép ta chiếm lĩnh được chiều cao của đường cầu bay, đánh cầu được nhanh, điểm vụt cắm sát lưới
Từ TTCB cơ bản nhanh chóng dùng sức mạnh bột phát của chân, bật mạnh nâng cơ thể lên cao Khi cảm giác thấy người lên tới điểm cao nhất dừng lại thì thực hiện động tác tay đánh cầu và rơi xuống Chân chạm đất trước tiên là chân ngược phía với tay cầm vợt Sau đó chân kia hạ xuống tiếp
Trang 23*Phương pháp giảng giải, thị phạm :
Là phương pháp giảng dạy chính được sử dụng thường xuyên trong cả quá trình, song đặc biệt quan trọng ở giai đoạn đầu của quá trình tập luyện nhằm làm cho người tập nhanh chóng định hình được động tác kỹ thuật để từ
đó chuyển sang thực hiện kỹ năng động tác
Quá trình giảng giải phải đảm bảo theo yêu cầu: đầy đủ, ngắn gọn dễ hiểu, đồng thời lặp lại để cho người tập nắm bắt một cách nhanh nhất các yêu cầu kỹ thuật Quá trình giảng giải còn cần phải sử dụng chính xác các thuật ngữ chuyên môn cầu lông để tạo khái niệm về mỗi kỹ thuật hoặc mỗi bài tập được sử dụng
Với những kỹ thuật phức tạp (khó), có thể áp dụng phương pháp phân đoạn để người tập dẽ dàng tiếp thu từng phần động tác, sau đó gộp lại hoàn chỉnh động tác Trong giảng dạy cũng có thể thị phạm cả động tác sai nếu thấy cần thiết để người tập tự mình so sánh phát hiện những sai lầm của mình
mà sửa chữa kịp thời
*Phương pháp sử dụng các bài tập định mức:
Phương pháp bài tập là phương tiện để GDTC nói chung và giảng dạy cầu lông nói riêng Biết sử dụng hợp lí các bài tập trong giảng dạy sẽ góp phần nâng cao thành tích tập luyện, ngược lại nếu sử dụng không đúng sẽ không nâng cao được thành tích mà còn có thể gây tác hại cho người tập Khi sử dụng phương pháp bài tập cần quán triệt các nguyên tắc giảng dạy là đi từ dễ lên khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ cái đã biết đến cái chưa biết Tùy thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng khác nhau mà đặt ra các bài tập cho phù hợp với đối tượng về hình thức, nội dung, lượng vận động cũng như cường độ vận động mới có thể đảm bảo được hiệu quả trong quá trình
giảng dạy và huấn luyện
* Phương pháp thi đấu:
Là một phương pháp được sử dụng rất phổ biến trong giảng dạy và huấn luyện cầu lông Phương pháp này có ưu điểm là vừa có thể giảng dạy kỹ,
Trang 24chiếm thuật, phát triển thể lực và tâm lý cho người học đạt hiệu quả, lại vừa tạo được sự hưng phấn trong quá trình học tập của người học
Các bài tập thi đấu trong cầu lông cũng được sử dụng thường xuyên ở giai đoạn nâng cao, đồng thời phát triển được các tố chất thể lực của người học Thi đấu phải đảm bảo tính nghiêm túc, nhiệt tình với nhiều đối tượng khác nhau, do đó phải chọn những đối tượng có trình độ tương đương hoặc khá hơn để thi đấu Từ đó rút ra những bài học cho bản thân, nâng cao tâm
lý, ý chí, phẩm chất trong thi đấu cầu lông
Trang 25CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của để tài tôi tiến hành giải quyết hai nhiệm vụ:
+ Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến kỹ thuật di
chuyển của đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội
+ Nhiệm vụ 2: Lựa chọn một số bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật di
chuyển cho đội tuyển cầu lông nam trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu trên tôi sử dụng các phương pháp sau:
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Việc sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu là phục vụ chủ yếu cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Các tài liệu chuyên môn có liên quan được lấy từ các nguồn tài liệu khác nhau với số lượng hơn hẳn và khai thác các nguồn tài liệu chưa được tiếp xúc Đây là sự tiếp nối, bổ sung các luận cứ khoa học và tìm hiểu một cách triệt để những vấn đề liên quan đến việc nghiên cứu các bài tập phát triển sức mạnh đội tuyển nam Cầu lông trường thpt Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã tham khảo, phân tích và tổng hợp những nguồn tài liệu khác nhau được trích dẫn đầy đủ trong phần phục lục của đề tài
2.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát sư phạm để quan sát các buổi tập của các em trong đội tuyển, các trận thi đấu và cách thức tiến hành giảng dạy của giáo viên, để tìm ra nguyên nhân, hiệu quả thi đấu, số lần thực hiện bật nhảy, mức độ thành công của bật nhảy đập cầu Trên cơ sở đó chúng tôi xây dựng những bài tập hợp lý hơn và mang tính khoa học
Trang 262.2.3 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Là phương pháp phỏng vấn bằng phiếu hỏi được đề tài sử dụng trong quá trình điều tra thực trạng việc sử dụng các bài tập nâng cao kỹ thuật di chuyển
Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề sau :
1 Tìm hiểu về kế hoạch huấn luyện cho đội tuyển nam Cầu lông nói chung và lứa tuổi 16 -18 nói riêng của trường THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội
2 Các bài tập sử dụng cho công tác huấn luyện là bài tập nhằm nâng cao
kỹ thuật di chuyển cho đội tuyển nam Cầu lông THPT Nguyễn Gia Thiều - Hà Nội
3 Công tác kiểm tra đánh giá trình độ của đội tuyển chú trọng đến những nội dung kiểm tra về kỹ thuật di chuyển
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Đề tài sử dụng các test đánh giá có độ chính xác cao nhằm thu thập số
liệu về tình trạng thực tế của các đối tượng trong quá trình nghiên cứu, sau đó
sử dụng các phương pháp tính toán và sử dụng kết quả thu được để đánh giá thực trạng và sự thay đổi của các đối tượng đó trong giai đọa nghiên cứu
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được đề tài sử dụng với mục đích kiểm nghiệm hiệu quả các bài tập đã lựa chọn áp dụng vào trong huấn luyện cầu lông
Đối tượng thực nghiệm của đề tài bao gồm 20 nam trong đội tuyển nam Cầu lông trường THPT Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội Quá trình thực nghiệm
sư phạm được tiến hành dưới hình thức thực nghiệm song song
20 em sẽ được chia đều ngẫu nhiên thành 2 nhóm
- Nhóm thực nghiệm sẽ tập luyện theo các bài tập mà đề tài đã lựa chọn
- Nhóm đối chứng tập luyện theo các bài tập mà HLV của nhà trường đưa ra
Trang 27Thời gian thực nghiệm được tiến hành trong 6 tuần, áp dụng cho cả hai nhóm.
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê
Chúng tôi sử dụng phương pháp toán học thống kê để xử lý, đánh giá hiệu quả các bài tập nâng cao KTDC được đề xuất do chúng tôi lựa chọn
Các thuật toán thống kê sử dụng nhằm xử lý các số liệu thu được sau khi thực nghiệm để việc rút ra kết luận có sức thuyết phục và độ chính xác cao hơn Các công thức toán học thống kê sử dụng gồm :
* Công thức tính giá trị trung bình:
1 Số trung bình cộng:
n
x
x iTrong đó: x là giá trị trung bình của tập hợp mẫu
) (
) (
B B A
A
n n
x x x
: phương sai chung
3 Công thức so sánh hai số trung bình với với na< 30; nb <30)
Trang 282.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng chủ thể: Bài tập nâng cao hiệu quả KTDC cho đội tuyển nam Cầu lông trường THPT Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội
- Đối tượng khách thể: 20 học sinh nam đội tuyển nam Cầu lông trường thpt Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội
+ Nhóm đối chứng 10 em
+ Nhóm thực nghiệm 10 em
2.3.2 Địa điểm nghiên cứu
- Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2
-Trường THPT Nguyễn Gia Thiều – Hà Nội
2.3.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 11/2017 đến tháng 5/2018 theo ba giai đoạn cơ bản sau: