Trước thực tế đó, việc nghiên cứu một cách khoa học và nghiêm túc, chỉ ra những tồn tại, vi phạm, phân tích các nguyên nhân và đề ra các giải pháp để đảm bảo áp dụng hình phạt đúng đối v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Phạm Thị Đào
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG
HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, 6 SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI 6
1.1 Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe của con người 6 1.2 Quy định của Bộ luật hình sự về áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người 15 1.3 Những yếu tố tác động đến chất lượng áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người 25
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN XÉT
XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 28
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân cư tỉnh Hải Dương 28 2.2 Thực trạng áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Hải Dương 29 2.3 Một số bất cập hạn chế trong áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người và nguyên nhân 50
Chương 3: MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI 63
3.1 Một số yêu cầu cần đảm bảo trong áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người 63 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Hải Dương 65
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả thụ lý, xét xử các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của
con người trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 29 Bảng 2.2 Loại và mức hình phạt được áp dụng đối với các tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe của con người của trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 31 Bảng 2.3 Mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người trên địa bàn tỉnh Hải Dương
(2013 - 2017) 33 Bảng 2.4 Mức hình phạt áp dụng đối với tội giết con mới đẻ trên địa bàn tỉnh Hải
Dương (2013 - 2017) 34 Bảng 2.5 Mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 34 Bảng 2.5 Mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng
vệ chính đáng trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 35 Bảng 2.6 Mức hình phạt áp dụng đối với tội làm chết người trong khi thi hành công
vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 36 Bảng 2.7 Mức hình phạt áp dụng đối với tội vô ý làm chết người trên địa bàn tỉnh
Hải Dương (2013 - 2017) 37 Bảng 2.8 Mức hình phạt áp dụng đối với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy
tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 38 Bảng 2.8 Mức hình phạt áp dụng đối với tội bức tử trên địa bàn tỉnh Hải Dương
(2013 - 2017) 39 Bảng 2.9 Mức hình phạt áp dụng đối với tội xúi giục hoặc giúp người khác tự giác
trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 40 Bảng 2.10 Mức hình phạt áp dụng đối với tội không cứu giúp người đang ở trong
tình trạng nguy hiểm đến tính mạng trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 41
Trang 5Bảng 2.11 Mức hình phạt áp dụng đối với tội đe dọa giết người trên địa bàn tỉnh
Hải Dương (2013 - 2017) 42 Bảng 2.12 Mức hình phạt áp dụng đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 43 Bảng 2.13 Mức hình phạt áp dụng đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 44 Bảng 2.14 Mức hình phạt áp dụng đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 45 Bảng 2.15 Mức hình phạt áp dụng đối với tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 46 Bảng 2.16 Mức hình phạt áp dụng đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 47 Bảng 2.17 Mức hình phạt áp dụng đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017) 48
Trang 6Hình sự sơ thẩm Quyết định hình phạt Trách nhiệm hình sự Tòa án nhân dân Hội thẩm nhân dân
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hình phạt là một phạm trù pháp lý và xã hội phức tạp, mang tính khách quan, gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật, vì thế nó được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác nhau như triết học, thần học, giáo dục học, đạo đức học, tâm lý học, tội phạm học Trong lĩnh vực khoa học Luật hình
sự, quy định hình phạt là một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu hết sức quan trọng nhằm đó làm sáng tỏ việc áp dụng hình phạt trong từng tội phạm cụ thể
Áp dụng hình phạt là một vấn đề quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa
án Việc áp dụng hình phạt đúng sẽ mang lại hiệu quả tích cực trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; đồng thời nó mang lại niềm tin cho nhân dân đối với công tác xét xử của Tòa án; ngược lại nếu việc áp dụng pháp luật chưa chính xác sẽ
để lại nhiều hậu quả tiêu cực về mọi mặt của xã hội
Trong những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh Hải Dương, các loại tội phạm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trật tự, phát triển kinh tế
xã hội và đời sống của người dân Từ thực tiễn áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương đã góp phần đáng kể vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung của cả nước Bên cạnh những mặt đã đạt được thì việc áp dụng hình phạt đối với các tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hải Dương cũng còn bất cập, hạn chế trong việc xác định các tình tiết của vụ án, việc ra các quyết định áp dụng hình phạt chưa chính xác, hạn chế trong tổng hợp hình phạt và hạn chế trong các trường hợp cụ thể đã làm ảnh hưởng chung tới kết quả đầu tranh phòng, chống tội phạm, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với hệ thống Tòa án
Trước thực tế đó, việc nghiên cứu một cách khoa học và nghiêm túc, chỉ ra những tồn tại, vi phạm, phân tích các nguyên nhân và đề ra các giải pháp để đảm bảo
áp dụng hình phạt đúng đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trong hoạt động xét xử của Tòa án trên địa bàn tỉnh Hải Dương, nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm là đòi hỏi mang tính cấp thiết
Trang 8Chính vì lý do đó mà học viên chọn Đề tài "Áp dụng hình phạt đối với các
tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người từ thực tiễn tỉnh Hải Dương" để
nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ là hết sức cần thiết cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Theo khảo sát của tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc áp dụng hình phạt đối với các nhóm tội, từ lý luận chung của khoa học Luật hình sự cũng như tình hình nghiên cứu cụ thể, như: Th.s Nguyễn Mai Bộ có công trình bình luận khoa học BLHS năm 1999 (phần các tội phạm) do Nxb chính trị quốc gia xuất bản năm 2011; Th.s Đinh Văn Quế - bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999; phần các tội phạm, tập IV Các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, Nxb Tổng hợp, TP.HCM năm 2001; TS Cao Thị Oanh - Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), Nxb giáo dục, năm 2010; Các bài viết về những vấn đề lý luận
và thực tiễn áp dụng hình phạt theo luật hình sự Việt Nam đăng tải trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật; tạp chí Tòa án nhân nhân dân, Công an nhân dân, tạp chí Kiểm sát trong những năm gần đây Đối với tình hình nghiên cứu thực tế; đã có một số công trung nghiên cứu đã tập trung vào áp dụng hình phạt, cụ thể như sau: Luận văn thạc sĩ luật học đã nghiên cứu về áp dụng hình phạt như: "Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội" của tác giả Trần Đức Ninh bảo vệ năm 2013 của Học viện khoa học xã hội; tác giả Phạm Thị Nga với đề tài "Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong việc định tội danh và áp dụng hình phạt" bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2004; tác giả Phạm Đình Dũng đã bảo vệ đề tài "Căn cứ áp dụng hình phạt: Những vấn đề lý luận và thực tiễn" bảo vệ tại Khoa luật Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2006; tác giả Nguyễn Thị Bình bảo vệ năm 2010 với đề tài
"Quyết định hình phạt trong đồng phạm"
Các công trình nghiên cứu trên rất có giá trị để luận văn có thể kế thừa thông tin, số liệu, đối chứng, ý tưởng nghiên cứu mà vẫn không bị trùng lặp vì có sự khác nhau về các yếu tố như: Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, không gian nghiên cứu Nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về
"Áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người từ
Trang 9thực tiễn tỉnh Hải Dương" Do vậy, công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm bổ sung thêm những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người; cung cấp thêm những thông tin về thực trạng áp dụng hình phạt trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng Những vấn đề bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2013 - 2017; từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về loại tội phạm này; giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt nói chung và đối với các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe của con người được đúng và chính xác
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận và các quy định pháp luật về áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
- Đánh giá thực trạng áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Đưa ra một số yêu cầu và đề xuất giải pháp đảm bảo áp dụng hình phạt đúng đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật về áp dụng hình phạt và thực tiễn áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người từ hoạt động xét xử trên địa bàn tỉnh Hải Dương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Số liệu nghiên cứu đề tài được giới hạn từ số liệu xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương, từ năm 2013 đến năm 2017 về các tội xâm phạm, tính mạng sức khỏe của con người
Trang 10Về cơ sở pháp lý: Luận văn nghiên cứu BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và những điểm mới của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Về không gian: Đề tài luận văn được thực hiện trên phạm vi tỉnh Hải Dương
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu là dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - xít, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người, về chính sách hình sự, về cải cách tư pháp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; phương pháp nghiên cứu những vụ án điển hình; phương pháp thống kê, tổng hợp Để hoàn thành mục đích nghiên cứu tác giả vận dụng kết hợp giữa các phương pháp trong từng nội dung của đề tài, trong đó phương pháp thống kê và phương pháp so sánh là những phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong đề tài này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe trong khoa học hình sự Việt Nam Luận văn góp tiếng nói khoa học về lý luận áp dụng hình phạt và kiểm chứng thông qua thực tiễn hoạt động xét xử trên địa bàn tỉnh Hải Dương
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Đề tài này sẽ góp phần làm rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của thực tiễn áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Hải Dương Những đề xuất, kiến nghị của luận văn có thể phục vụ tốt hơn cho công tác lập pháp và hoạt động, áp dụng BLHS liên quan đến nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trong công tác đấu tranh và phòng, chống tội phạm trên cả nước nhất là đối với địa bàn tỉnh Hải Dương Ngoài
Trang 11ra, luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, học tập về
áp dụng hình phạt
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu thành 03 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Chương 2: Thực trạng áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối
với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG,
SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI
1.1 Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
1.1.1.1 Các khái niệm có liên quan
Khái niệm về hình phạt:
Trong lĩnh vực khoa học Luật hình sự, hình phạt là một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu Đã có rất nhiều nhà khoa học đưa ra hai loại quan điểm khác nhau về hình phạt; Loại thứ nhất, coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù người phạm tội, lấy sự khắc nghiệt của hình phạt làm điều răn cho người phạm tội; còn loại quan điểm thứ hai, coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết để đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải tạo giáo dục người phạm tội
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh quan niệm "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất do luật quy định, được Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án" [7.tr 26] Còn GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa thì định nghĩa:
"Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất quy định trong
LHS, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ
và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân" [9 tr 24]
Theo quy định tại Điều 26 BLHS năm 1999 "Hình phạt là biện pháp cưỡng
chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định"
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp nước ta đưa khái niệm hình phạt vào
Trang 13BLHS Việc quy định khái niệm hình phạt trong LHS có ý nghĩa đảm bảo nhận thức thống nhất về hình phạt trong pháp luật Hình sự Đến BLHS năm 2015, Nhà nước ta xác định người phạm tội không chỉ là cá nhân mà còn có cả pháp nhân thương mại nên khái niệm về hình phạt cũng được sửa đổi so với BLHS năm 1999 Tại Điều 30
BLHS năm 2015 quy định: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất
của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó"
Trên cơ sở các quan điểm của các nhà khoa học và các quy định trong BLHS thì khái niệm về hình phạt ở nước ta được thể hiện thống nhất theo tư tưởng tiến bộ
và nhân đạo của hình phạt Từ đó, có thể khái quát khái niệm về hình phạt như sau: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất, được quy định trong LHS, do Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật đối với chính cá nhân, pháp nhân thương mại có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của cá nhân, pháp nhân thương mại nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội và mang tính chất phòng ngừa chung
Khái niệm về áp dụng hình phạt:
Áp dụng pháp luật là một trong các hình thức thực hiện pháp luật, vừa có những đặc điểm chung như các dạng thực hiện pháp luật khác, vừa có những đặc điểm riêng của mình Nội dung của áp dụng pháp luật bao gồm: Xác định sự kiện pháp lý cần áp dụng pháp luật; Nhận thức quy định của pháp luật áp dụng; So sánh
sự phù hợp giữa quy định pháp luật áp dụng và sự kiện pháp lý để xác định quy phạm pháp luật cần áp dụng; Ra quyết định áp dụng pháp luật
Trong khoa học pháp lý nước ta, khái niệm áp dụng hình phạt rất ít được sử dụng; mà thay vào đó là khái niệm quyết định hình phạt Nhiều nhà khoa học quan niệm áp dụng hình phạt và quyết định hình phạt là một PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí
đã đưa ra định nghĩa như sau: "Áp dụng hình phạt là việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Tòa án có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước thực hiện sau khi
đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể để quyết định khung hình
Trang 14phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho cá nhân người phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự" [3
tr 19] Định nghĩa tương tự cũng được đưa ra trong các công trình nghiên cứu khác
Theo khái niệm trên thì áp dụng hình phạt vẫn còn thiếu những dấu hiệu đặc trưng của áp dụng pháp luật nói chung Áp dụng hình phạt là một giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự do Tòa án tiến hành sau khi thực hiện định tội danh, áp dụng chế tài quy phạm pháp luật hình sự đối với người bị kết tội theo trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định
Từ những quan niệm trên, có thể định nghĩa: Áp dụng hình phạt là hoạt động
nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự, do Tòa án có thẩm quyền (Hội đồng xét xử), nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho chính người phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của BLHS
Khái niệm về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ con người:
Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người được quy định tại Chương XII BLHS năm 1999, đã có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết của các nhà khoa học nghiên cứu về các tội này
Theo Bình luận khoa học BLHS năm 1999 (Nhà xuất bản Công an nhân dân của nhiều tác giả, năm 2002), Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi, gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến quyền sống, quyền được bảo hộ về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người
Theo giáo trình luật hình sự Việt Nam (trường Đại học Luật Hà Nội năm 2003): Tội phạm xâm phạm tính mạng sức khỏe của con người là những hành vi
Trang 15hành động hoặc không hành động, có lỗi (vô ý hoặc cố ý) xâm phạm đến quyền được tôn trọng, bảo vệ về sức khỏe và tính mạng
Từ những kết quả trên, có thể đưa ra định nghĩa: Các tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về quyền được sống, quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người
Khái niệm về áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người:
Từ khái niệm áp dụng hình phạt đến khái niệm về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, có thể hiểu về áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người như sau:
"Áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con
người là hoạt động của Tòa án có thẩm quyền (Hội đồng xét xử) nhân danh Nhà nước trên cơ sở xác định các tình tiết của vụ án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người đã được định tội danh, căn cứ vào quy định của BLHS về áp dụng hình phạt (hệ thống hình phạt, các quy định chung về áp dụng hình phạt, chế tài các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người) để lựa chọn loại và mức hình phạt được quy định trong chế tài các tội phạm đó để quyết định áp dụng đối với người bị kết tội hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của BLHS "
1.1.1.2 Đặc điểm áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Qua việc nghiên cứu các khái niệm trên và đặc điểm của áp dụng hình phạt nói chung, chúng tôi nêu cụ thể hơn các đặc điểm của áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người có các đặc điểm như sau:
+ Thứ nhất: Áp dụng hình phạt là hoạt động chỉ thuộc thẩm quyền của Tòa
án và có quan hệ chặt chẽ với hoạt động định tội danh Nếu như quá trình định tội danh diễn ra trong suốt quá trình tố tụng hình sự do cả Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án thực hiện, thì hoạt động áp dụng hình phạt chỉ duy nhất Tòa án được quyền thực hiện nhân danh Nhà nước Là chủ thể duy nhất có quyền xác định loại
Trang 16hình phạt và mức hình phạt để áp dụng với người phạm tội nên hoạt động này chỉ thông qua phiên tòa khi Tòa án thực hiện chức năng xét xử của mình
+ Thứ hai: Hoạt động áp dụng hình phạt đòi hỏi sự tuân thủ các căn cứ và nguyên tắc trong quá trình áp dụng Điều này được thể hiện trực tiếp trong Bộ luật hình sự hoặc thể hiện trong tinh thần của các điều luật Bộ luật hình sự quy định về các căn cứ để Tòa án áp dụng hình phạt, tức là các tiêu chí mà dựa vào đó, Tòa án
sẽ đưa ra loại hình phạt và mức hình phạt phù hợp với trường hợp cụ thể của mỗi bị cáo, trên cơ sở đánh giá tổng thể các yếu tố về khách quan, chủ quan, về con người, tâm lý với mục đích đạt được là hình phạt đó sẽ không chỉ là "cái giá" mà các bị cáo phải gánh chịu do hành vi phạm tội của mình, mà còn là "cơ hội" để bị cáo đó sửa chữa, cải tạo nhằm hòa nhập cộng đồng, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội Việc áp dụng hình phạt có vai trò vô cùng quan trọng đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Do vậy, đòi hỏi người được Nhà nước trao quyền phải có sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật, hiểu biết về các yếu tố, tình tiết liên quan đến từng trường hợp phạm tội và người phạm tội mới có thể đưa ra một quyết định (bản án) có giá trị pháp lý cũng như giá trị nhân văn cao
+ Thứ ba: Quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án có quyền lựa chọn và tính tùy nghi cao Trong từng điều luật của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người đều quy định về hình phạt có tính lựa chọn giữa hình phạt tù có thời hạn với tù chung thân, tử hình (đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng) Khi áp dụng Tòa án lựa chọn một trong những hình phạt chính được quy định đối với người bị kết tội
Ngoài chế tài lựa chọn, các chế tài quy định về từng loại hình phạt đều có một khoảng tùy nghi nhất định và Tòa án có quyền quyết định mức cụ thể trong phạm vi tùy nghi đó
Khả năng lựa chọn rộng, tùy nghi cao đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải có trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị, nghề nghiệp vững vàng và lương tâm, đạo đức trong sáng vì công lý để trong từng trường hợp cụ thể lựa chọn hình phạt áp dụng đối với người phạm tội cho phù hợp
Trang 171.1.2 Phân loại áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
1.1.2.1 Áp dụng hình phạt chính đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Điều 28 Bộ luật hình sự năm 1999 xác định mục đích của hình phạt: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người
có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm"
Điều 21 Bộ luật hình sự năm 1999 phân chia hệ thống hình phạt thành hai nhóm, trong đó hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình
Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người được quy định trong
Bộ luật hình sự năm 1999 gồm có 17 điều luật, trong đó có 6 điều quy định về hình phạt bổ sung Mức hình phạt cao nhất là tử hình
Bộ luật hình sự Việt Nam không có quy phạm định nghĩa về hình phạt chính Tuy nhiên nhiều nhà khoa học đã đưa ra các quan điểm khác nhau về hình phạt chính, như "Hình phạt chính là hình phạt được tuyên độc lập đối với một tội phạm nhất định"
Từ quan điểm của các nhà khoa học, có thể đưa ra khái niệm hình phạt
chính: "Là hình phạt cơ bản được áp dụng cho một loại tội phạm và được tuyên độc
lập với mỗi tội phạm, Tòa án chỉ có thể tuyên án độc lập một hình phạt chính"
Như vậy, hình phạt chính là hình phạt cơ bản được quy định trong mỗi điều luật Một tội phạm chỉ được áp dụng một hình phạt chính Đối với các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe của con người, Tòa án chỉ được áp dụng một hình phạt chính là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chung thân hoặc tử hình Các hình phạt này được tuyên độc lập với nhau Trong một tội phạm không thể có hai hình phạt chính
1.1.2.1 Áp dụng hình phạt bổ sung đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Hình phạt bổ sung được quy định trong một số điều luật cụ thể về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người Mặc dù, trong Bộ luật hình sự Việt
Trang 18Nam chưa có quy phạm định nghĩa thế nào là hình phạt bổ sung, tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, một số nhà khoa học đã đưa ra các quan điểm khác nhau về
hình phạt bổ sung, như: "Hình phạt bổ sung là hình phạt được bổ sung thêm cho
hình phạt chính và không được tuyên độc lập mà chỉ có thể kèm theo một hình phạt chính Tùy theo từng trường hợp cụ thể của vụ án, kèm theo một hình phạt chính Tòa án có thể tuyên một hoặc một vài hình phạt bổ sung" hoặc có quan điểm cho
rằng: "Hình phạt bổ sung là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của
Nhà nước, được quy định trong BLHS, do Tòa án có thể hoặc bắt buộc áp dụng kèm theo hình phạt chính đối với người bị kết án về một tội phạm cụ thể mà luật định, được thể hiện ở việc hạn chế một số quyền, lợi ích của họ nhằm bổ sung cho hình phạt chính trong việc đạt được mục đích của hình phạt" Từ những quan điểm trên
của các nhà khoa học, có thể hiểu hình phạt bổ sung như sau: Hình phạt bổ sung là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước được luật quy định, do Tòa án có thể áp dụng hình phạt bổ sung thêm cho hình phạt chính và không được tuyên độc lập mà chỉ tuyên kèm theo một hình phạt chính Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung
Khái niệm như trên cũng thống nhất với quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật hình sự năm 1999 "Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung"
Qua nghiên cứu hình phạt bổ sung cho thấy, ngoài đặc điểm của hình phạt nói chung, thì hình phạt bổ sung còn có các đặc điểm riêng sau:
+ Hình phạt bổ sung không được áp dụng độc lập đối với mỗi tội phạm cụ thể
mà chỉ được áp dụng bổ sung cho hình phạt chính (nếu điều luật có quy định) và không được áp dụng đối với tất cả các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự
+ Trong hệ thống hình phạt, hình phạt bổ sung không được sắp xếp theo một trật tự nhất định như các hình phạt chính
+ Trong hệ thống hình phạt, hình phạt bổ sung là những hình phạt không tước quyền tự do thân thể của người bị kết án
+ Tòa án có thể áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung kèm theo hình phạt chính đối với mỗi loại tội phạm cụ thể
Trang 19+ Hình phạt bổ sung được quy định dưới dạng bắt buộc áp dụng hoặc có thể tùy nghi áp dụng
1.1.3 Ý nghĩa của việc áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
1.1.3.1 Ý nghĩa về phương diện chính trị - xã hội
Việc áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người có ý nghĩa đối với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, được thể hiện thông qua những ảnh hưởng, tác động của việc áp dụng hình phạt đúng hay sai Cụ thể:
Nếu áp dụng hình phạt đúng sẽ là cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt
và đương nhiên trong trường hợp này sẽ có tác động tích cực tới công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Hiệu quả của hình phạt càng cao trong thực tế thì càng tiến gần đến mục đích của hình phạt Việc nhà nước xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về hình phạt chỉ có ý nghĩa khi việc áp dụng hình phạt trong thực tế được đúng
và việc Tòa án áp dụng hình phạt đúng cũng sẽ là cơ sở để việc chấp hành hình phạt phát huy tác dụng Nếu Tòa án áp dụng hình phạt không đúng, không tương xứng với tích chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội đã gây ra hoặc không phù hợp với nhân thân người phạm tội sẽ làm giảm hiệu quả của hình phạt, người phạm tội
bị kết án sẽ không thấy được tính đúng đắn của bản án Từ đó, không tích cực lao động, rèn luyện, cải tạo bản thân thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, sẽ gây dư luận không tốt, làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với pháp luật vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, xa hơn nữa là không bảo đảm mục đích của hình phạt
Áp dụng hình phạt đúng là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt được mục đích của hình phạt Điều 28 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là Điều 31 Bộ luật hình sự năm
2015) quy định: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo
dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm" Vì vậy, khi áp dụng hình phạt Tòa án luôn phải cân nhắc để có cần áp dụng
hình phạt hay không và đưa ra loại và mức hình phạt tương xứng bảo đảm hai mục
Trang 20đích trừng trị và giáo dục của hình phạt Nếu Tòa án áp dụng hình phạt thiên về trừng trị sẽ làm cho hình phạt quá nặng, người phạm tội có thể nẩy sinh tâm lý tiêu cực không chấp hành hoặc chấp hành hình phạt một cách miễn cưỡng mà không thực sự nhận ra sai phạm để có hướng sửa chữa, cải tạo, hoàn lương để hòa nhập cộng đồng Ngược lại, nếu Tòa án áp dụng hình phạt quá thiên về tính giáo dục sẽ làm cho pháp luật thiếu tính mạnh mẽ, người phạm tội coi thường pháp luật, mất niềm tin đối với quần chúng nhân dân, không thể hiện được tính răn đe, phòng ngừa đối với những người có ý định phạm tội Do đó, Tòa án không được đề cao hay coi nhẹ mặt nào mà phải đặt trong mối liên hệ tổng quát trên cơ sở các căn cứ áp dụng hình phạt để áp dụng một hình phạt cụ thể, tương xứng với tính chất, mức độ, hành
vi phạm tội của người phạm tội
1.1.3.2 Ý nghĩa về phương diện pháp lý
Hình phạt là sự biểu hiện của công bằng xã hội mà công bằng là một giá trị pháp luật cơ bản, là đòi hỏi, dấu hiệu bắt buộc của công lý Do đó, bảo đảm và thực thi công lý được nhìn nhận là một chức năng xã hội quan trọng của hình phạt:
"Trong lĩnh vực luật hình sự, sự biểu hiện của công lý trước tiên là kịp thời nhận diện những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm, từ đó, đặt ra tính không thể tránh khỏi việc áp dụng hình phạt lên các hành vi phạm tội đó"
Hình phạt mang ý nghĩa pháp lý khi nó tuân thủ một cách chặt chẽ nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự Nếu mức độ nghiêm trị của hình phạt không tương xứng với mức độ và hậu quả xã hội mà tội phạm gây ra thì sẽ không thể bảo đảm công bằng xã hội cho những nạn nhân và người bị hại của tội phạm Nếu mức
độ tác động của hình phạt quá nghiêm khắc, quá mức cần thiết đối với mức độ và hậu quả xã hội mà tội phạm gây ra thì sẽ không thể bảo đảm sự công bằng đối với người phạm tội Nếu cùng một mức độ và hậu quả mà hình phạt áp dụng đối với các tội phạm giống nhau mà mức độ nghiêm trị, độ hà khắc của hình phạt lại khác nhau thì cũng không thể bảo đảm các giá trị công bằng đối với các cá nhân người phạm tội cụ thể Hình phạt một mặt nghiêm trị tội phạm: mặt khác, nó là phương tiện, cách thức khắc phục, phục hồi và bồi hoàn trong khả năng, chừng mực có thể các hậu quả xã hội do tội phạm gây ra đối với xã hội Áp dụng hình phạt đúng còn góp
Trang 21phần quan trọng vào việc duy trì, củng cố nền pháp chế xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc pháp chế trong áp dụng hình phạt đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động xét xử và áp dụng hình phạt phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Hiến pháp, pháp luật
Vì hình phạt đối với những người phạm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người chỉ có thể và phải quy định trong đạo luật, chỉ có luật mới có thể xác định hình phạt cho mỗi tội phạm nói chung và người phạm tội xâm phạm tính mạng sức khỏe của con người nói riêng,
Yêu cầu hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe của con người phải được quy định trong đạo luật hình sự Đó là sự thể hiện rõ nét nguyên tắc pháp chế và hình phạt Hiện nay, văn bản luật duy nhất quy định các hình phạt là
Bộ luật hình sự Trong Bộ luật hình sự hình phạt được quy định ở cả phần chung và phần các tội phạm Do đó, nguyên tắc áp dụng hình phạt là khi xét xử về tội cụ thể nào của Chương XII thì trước hết phải căn cứ vào các điều luật cụ thể đó, ngoài việc phải tuân thủ các nguyên tắc khác và các quy định khác của Hiến pháp và pháp luật hình sự trong áp dụng hình phạt
1.2 Quy định của Bộ luật hình sự về áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
1.2.1 Quy định về các hình phạt trong chế tài các tội xâm phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
1.2.1.1 Quy định về các hình phạt chính trong chế tài các tội xâm phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trong Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) và trong Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017)
Chương XIV "các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người" của BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có 34 điều (từ Điều 123 đến Điều 156) trong đó có 18 điều (từ Điều 123 đến Điều 140) quy định
về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người So với BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì BLHS năm 2015 tăng 03 điều và có nhiều điểm
Trang 22được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta
Đối với hình phạt chính có 44 lượt hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người Trong đó có 01 lượt hình phạt cảnh cáo (khoản 1 Điều 132); 04 lượt hình phạt tiền (Khoản 1 Điều 135; khoản 1 Điều 136; khoản 1 Điều 138; khoản 1 Điều 139); 06 lượt cải tạo không giam giữ; 31 lượt hình phạt tù
có thời hạn; 01 lượt hình phạt chung thân; 01 lượt hình phạt tử hình
Những điểm mới về hình phạt giữa BLHS năm 2015 và BLHS năm 1999 cụ thể như sau:
- BLHS năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) bổ sung các tình tiết định tội, định khung tăng nặng TNHS
- Bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính áp dụng đối với một số tội danh
về gây thương tích như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng; tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ; tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác do vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
- Một số tội tăng mức hình phạt chính: Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97 BLHS năm 1999 – nay là Điều 127 BLHS năm 2015) Tại khoản
1 tăng mức hình phạt khởi điểm từ 02 – 07 năm, nay là từ 05 năm – 10 năm; khoản
2 từ 07 – 15 năm, nay từ 08 – 15 năm Tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS năm
1999 – nay là Điều 128 BLHS năm 2015) Tại khoản 1 tăng mức hình phạt khởi điểm từ 06 tháng – 05 năm, nay bổ sung thêm hình phạt chính là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù là từ 01 năm – 05 năm Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99 BLHS năm 1999 – nay
là Điều 129 BLHS năm 2015), BLHS năm 2015 giảm mức hình phạt từ 01 – 06
Trang 23năm, nay chỉ còn từ 01 – 05 năm tại khoản 1 Tội xúi giục người khác tự sát (Điều
101 BLHS năm 1999 – nay là Điều 131 BLHS năm 2015) BLHS năm 2015 bổ sung thêm hình phạt chính là cải tạo không giam giữ đến 03 năm Tội không cứu giúp người đang trong trạng thái nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102 BLHS năm
1999 – nay là Điều 132 BLHS năm 2015) BLHS năm 2015 bổ sung thêm khoản 3
và áp dụng mức hình phạt từ 03 – 07 năm Tội đe dọa giết người (Điều 103 BLHS năm 1999 – nay là Điều 133 BLHS năm 2015) BLHS năm 2015 tăng mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù tăng từ 03 tháng lên 06 tháng đến
03 năm Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác (Điều
104 BLHS năm 1999 – nay là Điều 134 BLHS năm 2015) BLHS năm 2015 bổ sung thêm khoản và tăng mức hình phạt trong từng khoản phù hợp với tỷ lệ thương tích Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105 BLHS năm 1999 – nay là Điều
135 BLHS năm 2015) BLHS năm 2015 ngoài việc bổ sung thêm hình phạt tiền còn giảm mức hình phạt tại các khoản
1.2.1.2 Quy định về các hình phạt bổ sung trong chế tài các tội xâm phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trong Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) và trong Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi
Trang 24hình phạt bổ sung đối với các tội này được quy định chủ yếu là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc một công việc nhất định từ 01 đến 05 năm Riêng đối với tội giết người thì quy định cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm; phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm
Việc quy định loại hình phạt bổ sung này rất phù hợp đối với các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người, bảo đảm xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền con người, quyền cơ bản của công dân
1.2.2 Quy định của Bộ luật hình sự về căn cứ quyết định hình phạt
Theo tác giả Võ Khánh Vinh thì "căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy định hoặc do giải thích luật mà có buộc Tòa án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội" [43,tr.27]
Điều 45 BLHS năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) nay là Điều 50 BLHS năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017): "Khi quyết định hình phạt, Tòa
án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS"
Các căn cứ quyết định hình phạt đều có vai trò quan trọng trong việc áp dụng hình phạt của Tòa án Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử và áp dụng hình phạt, việc nhận thức, đánh giá vai trò của mỗi căn cứ lại có sự khác nhau giữa các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Điều này phụ thuộc vào các nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, song phần lớn Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đều có chung nhận thức, căn cứ vào quy định của BLHS là căn cứ có tính căn bản, tiền đề đảm bảo cho việc áp dụng hình phạt được chính xác, đúng đắn
Căn cứ quyết định hình phạt cụ thể theo quy định tại Điều 45 BLHS năm
1999 (nay là Điều 50 BLHS năm 2015) bao gồm:
1.2.2.1 Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự
Căn cứ đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng làm tiền đề đảm bảo cho việc quyết định hình phạt đúng, đó chính là các quy định của BLHS hiện hành (bao gồm cả phần chung và phần các tội phạm) Phần chung của BLHS có nguyên tắc và phần
Trang 25các tội phạm sẽ chỉ ra tội danh cụ thể, loại hình phạt và mức hình phạt đối với người
đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể, xâm phạm tới một trong các khách thể được Luật hình sự bảo vệ
Khi áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người Căn cứ vào quy định của BLHS trước hết là xem xét các quy định về QĐHP được quy định ở phần chung và các quy định tại Chương XII - Các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người của BLHS năm 1999 (Chương XIV BLHS năm 2015) Căn cứ vào các quy định tại chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người để xác định hành vi phạm tội là tội phạm cụ thể nào
và hình phạt được các nhà làm luật quy định cụ thể áp dụng cho tội phạm đó ra sao? Việc quy định khi quyết định hình phạt Tòa án phải căn cứ vào quy định của BLHS cũng là tiền đề để Tòa án xem xét đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với người phạm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người Bởi các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS được quy định tại Điều 46 và Điều 48 của BLHS năm 1999 (nay là Điều 51 và 52 BLHS năm 2015), là yếu tố vô cùng quan trọng khi Tòa án xét xử và quyết định hình phạt
Theo Điều 45 BLHS năm 1999 và Điều 50 BLHS hiện hành, căn cứ vào
"quy định của BLHS" là căn cứ quyết định hình phạt đầu tiên Điều này cho thấy các nhà lập pháp đã nhận thức và đánh giá cao vai trò quan trọng của căn cứ này Chính sự ghi nhận trong BLHS có tính bắt buộc đối với Tòa án khi áp dụng hình phạt đã tránh được tình trạng tùy tiện, áp dụng hình phạt không tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đối với các bị cáo Hơn nữa, sự ghi nhận căn
cứ này trong BLHS còn tạo cơ sở pháp lý giúp cho việc áp dụng hình phạt được chính xác và thống nhất trên phạm vi toàn quốc
1.2.2.2 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
Để lựa chọn và xác định đúng hình phạt cụ thể áp cho người phạm tội thì Tòa
án phải dựa vào các căn cứ tiếp theo được quy định trong Điều 45 BLHS năm 1999 (nay là Điều 50 BLHS năm 2015) đó là "tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội" Trong thực tiễn mỗi loại tội phạm có thể gây ra tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau; nhân thân người phạm tội cũng như các
Trang 26tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS cũng khác nhau Do đó, khi áp dụng hình phạt cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Việc quy định "tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội" là căn cứ tiếp theo khi quyết định hình phạt
có ý nghĩa giúp cho Tòa án có thể quyết định một hình phạt tương xứng đối với các
bị cáo trên thực tế Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người chính là mức độ thiệt hại về sức khỏe, quyền sống, bất khả xâm phạm của con người Hành vi gây ra thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người càng lớn thì tội phạm càng nặng và hình phạt càng cao và ngược lại
Áp dụng hình phạt thực chất là việc lựa chọn loại hình phạt cụ thể và mức hình phạt cụ thể trong khung hình phạt cho phép Trong áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, dựa vào quy định của BLHS Tòa án có thể xác định được hành vi phạm tội của một chủ thể nào đó đã phạm tội
gì thuộc chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người Tội phạm đó cấu thành điểm, khoản nào của điều luật tương ứng và chế tài hình phạt được quy định ở giới hạn nào Tuy nhiên, nếu Tòa án chỉ dựa vào quy định của BLHS mà không xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thì sẽ không có được mức hình phạt chính xác và phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Trên thực tế áp dụng hình phạt đối với các tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người nói riêng, có quan điểm cho rằng khi
áp dụng hình phạt, Tòa án chỉ cần căn cứ vào "mức độ nguy hiểm cho xã hội" chứ không cần phải căn cứ vào "tính chất của hành vi phạm tội" như Điều 45 và Điều 50 BLHS quy định Tuy nhiên, chúng tôi không tán thành quan điểm này mà cho rằng khi áp dụng hình phạt, Tòa án vẫn phải căn cứ vào "tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội" Ở góc độ này, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm của tác giả Võ Khánh Vinh trong tác phẩm "Tội phạm học, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự": "Bởi vì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được nhà làm luật cân nhắc và thể hiện khi quy định tội phạm, quy định chế
Trang 27tài và khung chế tài đối với tội phạm Do vậy, tất yếu nhà làm luật cũng quy định là khi quyết định hình phạt Tòa án phải cân nhắc cả tính chất lẫn mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện"
1.2.2.3 Căn cứ vào nhân thân người phạm tội
Nhân thân người phạm tội là một phạm trù xã hội pháp lý phức tạp được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như Luật hình sự, tội phạm học, tâm lý học, triết học theo giáo trình luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội thì: "Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ Những đặc điểm đó có thể là tuổi, nghề nghiệp, thái độ làm việc, thái độ trong quan hệ với những người khác, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh gia đình và đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tôn giáo, tiền án, tiền sự " [39 tr 97]
Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm nói lên tính chất của một con người Những đặc điểm đó có ảnh hưởng nhất định đến hành vi phạm tội và đến khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội Xét đến nhân thân người phạm tội là xét đến tổng hợp những quan hệ giữa người ấy với xã hội, gia đình, với những người khác và những đặc điểm của bản thân người phạm tội, cũng như các yếu tố khác bao gồm: Nghề nghiệp công tác, tuổi đời, học vấn, tình trạng sức khỏe, hoàn cảnh gia đình, phong tục tập quán sinh sống, ý thức kỷ luật của người phạm tội Tất cả những yếu tố này thuộc về cá nhân người phạm tội Trong thực tế khi
áp dụng hình phạt, mỗi bị cáo có nhân thân khác nhau thì Tòa án dựa vào nhân thân của từng bị cáo kết hợp với các căn cứ áp dụng hình phạt khác để xem xét, quyết định hình phạt có căn cứ tương ứng đối với từng bị cáo
Nhân thân người phạm tội được ghi trong lý lịch bị can và tài liệu tra cứu của
cơ quan điều tra Tuy nhiên, không phải mọi tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội đều được xem xét khi áp dụng hình phạt mà chỉ những tình tiết có liên quan đến hành vi phạm tội mới được xem xét để áp dụng hình phạt, đó là những tình tiết phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hình vi phạm tội như: phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm hoặc phạm tội có tính chất chuyên
Trang 28nghiệp Nhóm tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội khác phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội như: thái độ ăn năn, hối cải, đầu thú, tự thú, lập công lớn ; hay nhóm tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của họ như: người già, phụ nữ có thai
Tòa án phải cân nhắc những tình tiết này khi áp dụng hình phạt sẽ bảo đảm hình phạt áp dụng cho mỗi bị cáo phù hợp với các nguyên tắc của luật hình sự, phù hợp với đường lối và chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong xử lý tội phạm
Nhân thân người phạm tội được luật hình sự nhiều nước trên thế giới quy định là căn cứ cho việc áp dụng hình phạt bên cạnh những căn cứ khác Tùy theo từng nước khác nhau thì có quy định khác nhau, nhưng nhìn chung các tình tiết này đều có đặc điểm chung là giúp cho Tòa án đánh giá chính xác tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội
Như vậy, khi áp dụng hình phạt Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS hoặc quy định của Bộ luật này; tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để áp dụng hình phạt thì Tòa án chỉ có thể lựa chọn hình phạt cụ thể tuyên cho bị cáo Tuy nhiên, hình phạt có thể vẫn chưa phù hợp với khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội cũng như hoàn cảnh đặc biệt của họ Do đó, các nhà làm luật quy định nhân thân người phạm tội là một trong những căn cứ quyết định hình phạt
là vô cùng cần thiết bởi việc quy định này không chỉ giúp cho Tòa án đánh giá đúng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà còn giúp cho Tòa án áp dụng hình phạt phù hợp với khả năng cải tạo, giáo dục của bị cáo và hoàn cảnh đặc biệt của họ
1.2.2.4 Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
BLHS năm 1999 (nay là BLHS năm 2015) quy định các tình tiết giảm nhẹ TNHS và các tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều 46 (Điều 51) và Điều 48 (Điều 52)
là một bước tiến vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý giúp cho Tòa án khi áp dụng hình phạt Theo quy định tại Điều 51 BLHS năm 2015 thì những tình tiết giảm nhẹ TNHS của người phạm tội được mở rộng hơn so với Điều 46 BLHS năm 1999
Trang 29Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 46 BLHS năm 1999 và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định trong phần chung của BLHS năm 1999 BLHS năm 2015 vừa có hiệu lực pháp luật ngày 01.01.2018 nên Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao chưa ban hành Nghị quyết hướng dẫn đối với những quy định tại Điều 51 Do vậy, khi áp dụng hình phạt, Tòa án vẫn căn cứ vào Nghị quyết số 01/2000 để xem xét trước khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể chia thành các nhóm sau:
Thứ nhất: Nhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Những tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc nhóm này bao gồm: Phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn Mức độ giảm nhẹ TNHS phụ thuộc vào mức độ thiệt hại xẩy ra trên thực tế Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng Mức độ giảm nhẹ TNHS phụ thuộc vào mức độ ít nghiêm trọng của hành vi phạm tội; phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng; phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra Trong trường hợp này mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật của người khác càng cao thì mức độ giảm nhẹ TNHS càng nhiều; phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do tự mình gây ra Mức độ phạm tội phụ thuộc vào mức độ khó khăn và mức độ cố gắng tìm cách khắc phục của người phạm tội; phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức Mức độ giảm nhẹ TNHS của người phạm tội phụ thuộc vào mức độ bị đe dọa, cưỡng bức, phạm tội do lạc hậu; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
Thứ hai: Nhóm tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội, gồm có: Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm, mức độ giảm nhẹ TNHS của người phạm tội phụ thuộc vào thái độ của người đó đối với việc ngăn chặn có tích cực hay không, mức độ thiệt hại được ngăn chặn; người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, mức độ giảm nhẹ TNHS của người phạm tội phụ thuộc vào sự cố gắng của
Trang 30người phạm tội cũng như mức độ hậu quả được khắc phục trên thực tế; người phạm tội tự thú; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm, lập công chuộc tội, có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, công tác
Thư ba: Nhóm tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội, bao gồm: Người phạm tội là phụ nữ có thai, người phạm tội là người già (người đủ 70 tuổi trở lên)
Các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại Điều 48 BLHS năm 1999 (nay là Điều 52 BLHS năm 2015) Theo đó, ta có thể chia các tình tiết tăng nặng TNHS thành hai nhóm như sau:
Thứ nhất: Các tình tiết tăng nặng TNHS ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bao gồm: Phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội; phạm tội có tính chất côn đồ; phạm tội vì động cơ đê hèn; cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác trong khi phạm tội hoặc dùng phương tiện, thủ đoạn
có khả năng gây nguy hiểm cho nhiều người; phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già (đủ 70 tuổi), người đang trong tình trạng không thể tự vệ được, phạm tội đối với người lệ thuộc mình về vật chất, công tác hoặc các mặt khác; xâm phạm tài sản Nhà nước; phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; xúi giục người chưa thành niên phạm tội; lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
Thứ hai: Những tình tiết tăng nặng TNHS phản ánh khả năng cải tạo giáo dục của người phạm tội bao gồm: Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, sau khi phạm tội đã có những hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che dấu tội phạm
Những tình tiết này có ý nghĩa về mặt lượng hình làm giảm nhẹ, tăng nặng TNHS, hình phạt đối với người phạm tội trong một khung hình phạt nhất định Các tình tiết này có ý nghĩa quan trọng đối với Tòa án trong áp dụng hình phạt nói chung, áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con
Trang 31người nói riêng Việc quy định các tình tiết này là các căn cứ quyết định hình phạt không chỉ hướng dẫn cho các Tòa án đánh giá mức độ, nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội để từ đó tuyên một hình phạt phù hợp
mà còn đảm bảo việc áp dụng thống nhất các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS trong phạm vi cả nước, hạn chế tình trạng tùy tiện trong áp dụng hình phạt
1.3 Những yếu tố tác động đến chất lượng áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
1.3.1 Chất lượng về hệ thống quy định của pháp luật
Với một hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ và được nhận thức, được hướng dẫn thi hành một cách thống nhất, kịp thời, thể hiện chính sách hình sự hướng thiện, coi trọng tính phòng ngừa, tôn trọng và bảo vệ quyền con người phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đời sống xã hội sẽ là điều kiện tiên quyết cho việc áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng hình phạt nói riêng trong hoạt động xét xử của TAND đúng đắn được Hội đồng xét xử sẽ không rơi vào tình trạng lúng túng và phân vân vì thiếu văn bản quy phạm pháp luật để làm căn cứ áp dụng hoặc trước những quy phạm pháp luật chung chung, trừu tượng Điều đó có ý nghĩa thiết thực đối với việc khắc phục tình trạng chủ quan, tùy tiện, thiếu thống nhất khi ban hành bản án, quyết định trong áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay
Cùng với pháp luật hình sự, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự cũng
có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng áp dụng hình phạt của Tòa
án Pháp luật tố tụng quy định trình tự, thủ tục tố tụng trong đó có các quy định khi xét xử, Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực
sự dân chủ, khách quan, thẩm phán và hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, cân nhắc ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để ra những bản án có tính răn đe và thuyết phục cao
1.3.2 Chủ thể áp dụng pháp luật
Áp dụng hình phạt là hoạt động riêng của Hội đồng xét xử, tức là của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Để áp dụng hình phạt chính xác, đúng pháp luật phụ
Trang 32thuộc rất nhiều vào ý thức pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Nếu ý thức pháp luật của Hội đồng xét xử không cao như việc hiểu sai điều luật, đánh giá sai các tình tiết khách quan của vụ án hoặc đánh giá xem xét một cách qua loa, chiếu lệ dẫn đến việc lựa chọn và ấn định hình phạt theo cảm tính, theo kinh nghiệm, mang tính chủ quan, duy ý chí Ngược lại, nếu ý thức pháp luật, trình độ nhận thức pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ở tầm cao sẽ lựa chọn và quyết định hình phạt thỏa đáng, chính xác là sản phẩm của cả quá trình nghiên cứu, cân nhắc các căn cứ áp dụng hình phạt
Để hình phạt được lựa chọn và áp dụng đúng, đòi hỏi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng Trong đó, Thẩm phán là nhân vật trung tâm có vai trò quan trọng, quyết định việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Tòa án thông qua hoạt động xét xử, quyết định đến chất lượng của hoạt động xét xử và thực trạng của việc áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người Để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, việc nâng cao chất lượng của đội ngũ Thẩm phán làm công tác xét xử hình sự là rất cần thiết
Đề cao trách nhiệm và tăng cường vai trò của Hội thẩm nhân dân trong xét xử là yêu cầu cấp bách đòi hỏi cần phải nghiên cứu và mạnh dạn áp dụng các giải pháp đổi mới cả về tổ chức và trình độ của Hội thẩm nhân dân để thực hiện ngày càng có hiệu quả hơn các nguyên tắc: Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, nguyên tắc khi xét xử; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1.3.3 Chất lượng quản lý của hệ thống Tòa án
Chất lượng hoạt động xét xử nói chung, chất lượng áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người nói riêng còn phụ thuộc vào yếu tố tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án Do đó, để nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động xét xử, Đảng và Nhà nước ta coi trọng đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án Ngoài việc nêu yêu cầu đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị còn đặc biệt nhấn mạnh đến việc đổi mới
Trang 33hoạt động xét xử của Tòa án Hướng đổi mới là nâng cao năng lực xét xử cho Tòa
án nhân dân cấp huyện để Tòa án nhân dân cấp huyện trở thành cơ quan xét xử sơ thẩm là chủ yếu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử phúc thẩm là chủ yếu và Tòa án nhân dân Tối cao tổng kết kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất trong toàn ngành Muốn làm được điều đó thì trước hết phải bổ sung thêm lực lượng Thẩm phán của Tòa án nhân dân, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân địa phương, cần trang bị kịp thời cơ sở vật chất, phương tiện cần thiết cho Tòa án nhân dân, thực hiện mở rộng quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyên theo tinh thần cải cách tư pháp lấy Tòa án là trung tâm
Qua đó cho thấy, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan Tòa án nhân dân là yêu cầu, là điều kiện không thể thiếu được để không ngừng nâng cao năng lực xét xử, nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa
án nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, để Tòa án nhân dân thực sự là cơ quan thực thi công lý, công bằng xã hội chủ nghĩa, để hoạt động của Tòa án nhân dân thực sự là hoạt động trọng tâm của nền tư pháp nước ta
Kết luận chương 1
Hình phạt là một phạm trù pháp lý và xã hội phức tạp, mang tính khách quan, gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và pháp luật, vì thế nó được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như triết học, thần học, giáo dục học, đạo đức, tâm lý học, tội phạm học, khoa học Luật hình sự Trong lĩnh vực khoa học Luật hình sự, hình phạt là một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu, trong đó việc làm sáng tỏ áp dụng hình phạt là một vấn đề hết sức quan trọng Trong chương
1, đã làm rõ được những vấn đề chung về áp dụng hình phạt Nội dung thứ nhất là khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng hình phạt Nội dung thứ hai là nêu lên quy định của Bộ luật hình sự về áp dụng hình phạt và các căn cứ áp dụng hình phạt Ngoài ra, bài viết còn đi sâu giải thích và làm sáng tỏ hơn nội dung của các nguyên tắc và căn cứ áp dụng hình phạt, từ đó rút ra những yếu tố tác động đến chất lượng
áp dụng hình phạt để người đọc hiểu rõ hơn và có cái nhìn toàn diện hơn về áp dụng hình phạt và là cơ sở để hoàn thiện hơn các quy định nhằm đảm bảo cho việc áp dụng hình phạt được chính xác và đúng đắn
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân cư tỉnh Hải Dương
Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm của phía Bắc Hà Nội - Hải Phòng- Quảng Ninh, tiếp giáp với các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hưng Yên và thành phố cảng Hải Phòng
Tỉnh Hải Dương bao gồm 10 huyện, 01 thành phố và 01 thị xã với dân số khoảng 1,8 triệu người, trong đó trên 60% trong độ tuổi lao động Tỷ lệ dân số cao (khoảng 84,5%) sống ở khu vực nông thôn và chủ yếu làm nghề nông
Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.652km2, có nhiều tuyến đường bộ (Quốc
lộ 5A, 5B, 188, 18 ) đường sắt, đường thủy, gần 02 sân bay Nội Bài và Cát Bi Hải Dương cũng là một trong những tỉnh có nền kinh tế phát triển nhanh, nhiều nhà máy, nhiều khu công nghiệp được mở rộng Bên cạnh những lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế, dân số thì vấn đề an ninh, trật tự là một trong những yêu cầu cần thiết và cấp bách của một tỉnh đang phát triển như Hải Dương Tình hình tội phạm ở tỉnh Hải Dương mỗi năm đều có sự gia tăng, trong đó nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người là một loại tội phạm nguy hiểm và có tỷ lệ không nhỏ trong tổng số tội phạm trên địa bàn tỉnh; Tình hình tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người có diễn biến phức tạp ở Hải Dương còn có nguyên nhân từ sự khác biệt về văn hóa, sinh hoạt giữa các vùng miền do tình trạng dân nhập cư từ các nơi khác đến, đã làm cho tình trạng an ninh trật tự tại tỉnh Hải Dương thời gian qua hết sức phức tạp, gây lo lắng cho cộng đồng xã hội Điều này được thể hiện rõ nét
qua số liệu thống kê lượng vụ án qua các năm
Trang 352.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Hải Dương
2.2.1 Kết quả thụ lý và xét xử các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người ở Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương (2013 - 2017)
Theo số liệu thống kê, số vụ án và số bị cáo bị xét xử về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2013 đến năm 2017 diễn biến như sau:
Bảng 2.1 Kết quả thụ lý, xét xử các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức
khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017)
Năm
Kết quả thụ lý - xét xử tội
phạm chung
Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Tỷ lệ %
Số vụ án
(1)
Số bị cáo (2)
Số vụ án (3)
Số bị cáo (4)
(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương)
Qua bảng số liệu thống kê cho thấy, trong thời gian 5 năm (từ 2013 - 2017), TAND tỉnh Hải Dương đã xét xử 5.321 vụ án với 10.057 bị cáo, trong đó xét xử
911 vụ án với 1.428 bị cáo về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Số vụ án mà TAND tỉnh Hải Dương xét xử tăng từ năm 2014 đến năm 2017 Đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người năm 2017 xẩy ra nhiều nhất với 256 vụ án - 358 bị cáo, năm 2013 xẩy ra ít nhất với 126 vụ án - 227 bị cáo Bảng số liệu này cho biết tổng số vụ án và số bị cáo đã bị đưa ra xét xử và bị Tòa án tuyên bản án buộc tội các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Trang 36Biểu đồ 2.1: Kết quả thụ lý, xét xử các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức
khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017)
Số bị cáo
2.2.2 Kết quả áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe của con người của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương (2013 - 2017)
Từ năm 2013 đến năm 2017, TAND tỉnh Hải Dương đã đưa ra xét xử 911 vụ
án với 1.428 bị cáo về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người với các
loại và mức hình phạt được thể hiện như sau
Trang 37Bảng 2.2 Loại và mức hình phạt được áp dụng đối với các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe của con người của trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017)
bổ sung
Miễn TNHS hoặc miễn hình phạt
Cảnh cáo
Phạt tiền
Cải tạo không giam giữ
Cho hưởng
án treo
3 năm
tù trở xuống
Tù từ trên 3 năm đến 7 năm
Tù từ trên 7 năm đến
15 năm
Trên 15 năm
Tù chung thân, tử hình
851 bị cáo chiếm tỷ lệ 59,6%; tù từ trên 03 năm đến 07 năm với 167 bị cáo chiếm tỷ lệ 11,6%; tù từ 03 năm trở xuống với 206 bị cáo chiếm tỷ lệ 14,1%; cho hưởng án treo với 103 bị cáo chiếm tỷ lệ 7,2%; tù chung thân và tử hình với 23
bị cáo chiếm tỷ lệ 1,6%
Nhìn chung mức hình phạt mà Hội đồng xét xử áp dụng chủ yếu là hình phạt
tù có thời hạn, hình phạt tù cho hưởng án treo rất ít, thậm chí không sử dụng các loại hình phạt khác (các loại hình phạt không phải là tù rất ít khi được áp dụng đối với nhóm tội này)
Trang 38Bảng 2.2 Loại và mức hình phạt được áp dụng đối với các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe của con người của trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017)
Loại hình phạt bổ sung không được TAND hai cấp tỉnh Hải Dương áp dụng
khi xét xử đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Cơ cấu về mức hình phạt của từng loại tội xâm phạm tính mạng sức khỏe của
con người trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2013 đến năm 2017 chủ yếu tập
trung vào các tội Giết người, vô ý làm chết người; cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại sức khỏe cho người khác
2.1 Áp dụng hình phạt đối với một số tội phạm cụ thể về xâm phạm tính
mạng, sức khỏe của con người
Trang 39Bảng 2.3 Mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người trên địa bàn tỉnh Hải
án treo
Tù 03 năm trở xuống
Tù từ trên
03 năm đến
07 năm
Tù từ trên
07 năm đến
15 năm
Tù từ trên
15 năm đến
20 năm
Chung thân
Tử hình
lệ 6,1 % Không áp dụng hình phạt bổ sung
Trang 40Bảng 2.4 Mức hình phạt áp dụng đối với tội giết con mới đẻ trên địa bàn
bổ sung
Cho hưởng
án treo
Tù 03 năm trở xuống
Tù từ trên 03 năm đến
07 năm
Tù từ trên 07 năm đến
15 năm
Tù từ trên 15 năm đến 20 năm
Chung thân
Tử hình
Bảng 2.5 Mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2013 - 2017)
bổ sung
Cho hưởng
án treo
Tù 03 năm trở xuống
Tù từ trên 03 năm đến
07 năm
Tù từ trên 07 năm đến 15 năm
Tù từ trên 15 năm đến 20 năm
Chung thân
Tử hình