1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý môi trường tại các cơ sở khai thác, chế biến đá vôi trên địa bàn thành phố sơn la, tỉnh sơn la

101 327 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm Thị Mai Thảo Tên đề tài: “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý môi trường tại các cơ sở khai thác, chế biến đá vôi trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn L

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC CƠ SỞ KHAI THÁC, CHẾ BIẾN ĐÁ VÔI TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

CAO MINH THU

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC CƠ SỞ KHAI THÁC, CHẾ BIẾN ĐÁ VÔI TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

CAO MINH THU

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

MÃ SỐ: 8440301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHẠM THỊ MAI THẢO

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 3

Cán bộ hướng dẫn chính: TS Phạm Thị Mai Thảo

Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS Phạm Văn Lợi

Cán bộ chấm phản biện 2: TS Lê Ngọc Thuấn

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại: Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 21 tháng 5 năm 2018

Trang 4

quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Cao Minh Thu

Trang 5

tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa học Qua đây tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn TS Phạm Thị Mai Thảo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cho tôi những lời khuyên cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ quý báu của Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Sơn La, Doanh nghiệp tư nhân Nhất Trí Thành, CTCP đầu tư và xây dựng Tuấn Cường, Chính quyền địa phương và bà con nông dân thành phố Sơn La đã nhiệt tình hỗ trợ, hợp tác và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn

Trong thời gian nghiên cứu và làm luận văn, tôi cũng đã nhận được sự hỗ trợ, tạo điều kiện và giúp đỡ từ Phòng phân tích chất lượng môi trường của Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ môi trường (CETRA), tôi xin trân trọng cảm ơn

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân luôn quan tâm, động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Cao Minh Thu

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tổng quan tình hình khai thác, chế biến đá vôi 3

1.1.1 Tình hình khai thác, chế biến đá vôi trên Thế giới 3

1.1.2 Tình hình khai thác, chế biến đá vôi ở Việt Nam 5

1.1.3 Tình hình khai thác và chế biến đá vôi tại Thành phố Sơn La 8

1.2 Tổng quan phương pháp và công nghệ khai thác, chế biến đá vôi 10

1.2.1 Phương pháp và công nghệ khai thác, chế biến đá vôi ở Việt Nam 10

1.2.2 Một số công nghệ tiên tiến về khai thác, chế biến đá vôi trên thế giới 14

1.3 Tác động của hoạt động khai thác, chế biến đá vôi tới môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội 17

1.3.1 Tác động tới môi trường không khí 17

1.3.2 Tác động tới môi trường đất 19

1.3.3 Tác động tới môi trường nước 20

1.3.4 Tác động tới môi trường sinh thái – cảnh quan 21

1.3.5 Tác động tới kinh tế - xã hội 22

1.3.6 Tác động tới sức khoẻ cộng đồng 25

1.4 Tổng quan quy định pháp luật về quản lý môi trường liên quan đến khai thác, chế biến đá vôi 27

1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu 30

1.5.1 Điều kiện tự nhiên 30

1.5.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 35

CHƯƠNG 2: PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Phạm vi nghiên cứu 38

2.2 Đối tượng nghiên cứu 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu 38

Trang 7

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

3.1 Đặc điểm của mỏ đá Noong Ẳng và mỏ đá Pom Ư Hừ 44

3.1.1 Vị trí tiếp giáp 44

3.1.2 Quy trình khai thác và chế biến của hai mỏ đá vôi 48

3.2.Kết quả đánh giá chất lượng môi trường không khí của mỏ đá Poom Ư Hừ và mỏ đá Noong Ẳng 49

3.2.1 Kết quả phân tích môi trường không khí khu vực sản xuất mỏ đá 49

3.2.2 Kết quả phân tích môi trường không khí xung quanh mỏ đá 52

3.3 Đánh giá hiện trạng tuân thủ các quy định quản lý của Nhà nước về môi trường tại mỏ đá Poom Ư Hừ và mỏ đá Noong Ẳng 57

3.3.1 Thủ tục lập Báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) 57

3.3.2 Thủ tục đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại 62

3.3.3 Thủ tục lập Báo cáo giám sát môi trường định kỳ 65

3.3.4 Thủ tục cải tạo, phục hồi môi trường 67

3.4 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá vôi đến sức khoẻ cộng đồng qua ý kiến của người dân và công nhân làm việc tại mỏ 68

3.5 Đề xuất biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá vôi đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng 74

3.5.1 Biện pháp kỹ thuật 74

3.5.2 Biện pháp quản lý 79

3.5.3 Biện pháp bảo vệ sức khỏe người dân, công nhân lao động 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Lớp: CH2AMT Khoá: 2A

Cán bộ hướng dẫn: TS Phạm Thị Mai Thảo

Tên đề tài: “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý môi

trường tại các cơ sở khai thác, chế biến đá vôi trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh

Sơn La”

Tóm tắt luận văn: Khai thác, chế biến đá vôi hiện nay ở tỉnh Sơn La là một

trong những ngành công nghiệp khai khoáng đặc biệt quan trọng, tuy nhiên bên cạnh những lợi ích kinh tế mà ngành khai thác khoáng sản mang lại thì hoạt động này cũng đã gây ra những tác động tiêu cực Ảnh hưởng của hoạt động khai thác, chế biến đá vôi đến môi trường không khí và sức khỏe con người xung quanh hai

mỏ đá Noong Ẳng và Pom Ư Hừ tại thành phố Sơn La đã được xác định dựa trên cơ

sở phân tích số liệu quan trắc môi trường không khí và quá trình khảo sát thực tế tại hai mỏ đá Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại khu vực khai trường, độ ồn vượt quy chuẩn cho phép QCVN 24:2016/BYT Trong khi đó, tại khu vực không khí xung quanh (nhà ở công nhân và dân cư) thời điểm nổ mìn, độ ồn và nồng độ Bụi lơ lửng vượt quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT, QCVN 26:2010/BTNMT Điều này gây

ô nhiễm môi trường không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động và người dân sống xung quanh Cụ thể, độ ồn lớn và Bụi phát sinh trong quá trình làm việc

đã làm công nhân bị mắc các bệnh như như đau mắt, viêm họng, đau tai Quá trình khai thác và chế biến đã làm những người dân sống xung quanh mỏ đá bị mắc các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, đau tai Từ các kết quả trên, các biện pháp quản lý môi trường đã được đề xuất nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí cũng như không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người tại khu vực khai thác

Từ khóa: khai thác đá vôi, môi trường không khí, quản lý môi trường

Trang 9

CBCNV Cán bộ công nhân viên CTCP Công ty cổ phần

CTNH Chất thải nguy hại CTR Chất thải rắn ĐTM Đánh giá tác động môi trường HTKT Hệ thống khai thác

ÔNMT Ô nhiễm môi trường PM10 Chất dạng hạt (Particulate matter) QCVN Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Việt Nam TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TNMT Tài nguyên Môi trường TSP Tổng bụi lơ lửng

VLXD Vật liệu xây dựng

Trang 10

Bảng 1.3: Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng đá xây dựng, đất sét gạch

ngói thành phố Sơn La đến năm 2020 [5] 35

Bảng 2.1: Bảng thống kê đối tượng, số lượng, nội dung phiếu điều tra 40

Bảng 2.2: Thông tin lấy mẫu tại mỏ đá Noong Ẳng và mỏ Pom Ư Hừ 41

Bảng 3.1: Đặc điểm của mỏ đá Noong Ẳng và mỏ đá Pom Ư Hừ 45

Bảng 3.2: Kết quả phân tích môi trường không khí khu vực sản xuất tại 2 mỏ đá50 Bảng 3.3: Kết quả phân tích môi trường không khí xung quanh 2 mỏ đá 53

Bảng 3.4: Đánh giá hiện trạng thực hiện các biện pháp giảm thiểu ÔNMT không khí, tiếng ồn của 2 mỏ đá 57

Bảng 3.5: Đánh giá hiện trạng thực hiện các biện pháp giảm thiểu ÔNMT nước thải của 2 mỏ đá 60

Bảng 3.6: Đánh giá hiện trạng thực hiện biện pháp quản lý CTR của 2 mỏ đá 61

Bảng 3.7: Danh sách CTNH đã đăng ký thường xuyên phát sinh 63

Bảng 3.8: Đánh giá việc tuân thủ thủ tục đăng ký sổ chủ nguồn thải CTNH 64

Bảng 3.9: Đánh giá hiện trạng tuân thủ thủ tục lập Báo cáo giám sát môi trường định kỳ của 2 mỏ đá 65

Bảng 3.10: Vị trí, chỉ tiêu, tần số quan trắc mỏ đá Noong Ẳng 66

Bảng 3.11: Đánh giá phương án cải tạo, phục hồi môi trường của 2 mỏ đá 67

Bảng 3.12: Ý kiến của người dân về nguyên nhân gây ÔNMT 70

Bảng 3.13: Tổng hợp kết quả phỏng vấn công nhân về ảnh hưởng của hoạt động khai thác, chế biến đá vôi 71

Bảng 3.14: Tổng hợp tác động của hoạt động thác đá, chế biến đá vôi đến môi trường tại 2 mỏ 73

Trang 11

Hình 1.2: Bản đồ hành chính thành phố Sơn La 31

Hình 2.1: Vị trí lấy mẫu mỏ đá Noong Ẳng, bản Cọ, phường Chiềng An 42

Hình 2.2: Vị trí lấy mẫu mỏ Pom Ư Hừ, xã Chiềng Ngần và phường Chiềng Cơi 43

Hình 3.1: Vị trí tiếp giáp của mỏ đá Noong Ẳng và mỏ đá Pom Ư Hừ 44

Hình 3.2: Sơ đồ quy trình công nghệ chế biến đá vôi của 2 mỏ đá 49

Hình 3.3: Nồng độ bụi tại khu vực khai thác tại 2 mỏ đá 51

Hình 3.4: Độ ồn khu vực khai thác tại 2 mỏ đá 52

Hình 3.5: Độ ồn tại khu vực xung quanh 2 mỏ đá 54

Hình 3.6: Nồng độ bụi tổng TSP tại khu vực xung quanh 2 mỏ đá 55

Hình 3.7: Ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá vôi tới không khí tại 2 mỏ đá 69 Hình 3.8: Ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá vôi tới sức khoẻ dân cư 69

Hình 3.9: Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe của dân cư xung quanh mỏ 70

Hình 3.10: Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe của công nhần làm việc tại 2 mỏ 72

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong xu thế hội nhập và phát triển, các ngành công nghiệp nước ta được quan tâm, đầu tư và đẩy mạnh phát triển Trong số đó phải kể đến các hoạt động của ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản Khai thác và chế biến đá vôi

là một hoạt động đã được quan tâm đầu tư phát triển từ khá lâu

Sơn La được đánh giá là một tỉnh có tiềm năng và rất đa dạng các loại khoáng sản, đứng ở vị trí thứ 3 trong vùng Tây Bắc, chỉ sau Lào Cai và Yên Bái Ngoài nguồn than, trữ lượng quặng niken trên địa bàn toàn tỉnh Sơn La là lớn nhất, quặng đồng đứng thứ 3, và nguồn tài nguyên làm VLXD thông thường như đá vôi, cao lanh, đất sét trắng, đất sét chịu lửa rất phong phú

Thành phố Sơn La là trung tâm về chính trị kinh tế, văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng của tỉnh, có vị trí là trung tâm của vùng Tây Bắc Thành phố đã và đang được Trung ương, tỉnh Sơn La đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo các chương trình

dự án; đồng thời thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới và nhu cầu xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ sinh hoạt của các hộ gia đình nên nhu cầu sử dụng đá vôi làm VLXD ngày càng gia tăng Căn cứ vào định hướng, chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh, quy hoạch sản xuất VLXD trên địa bàn tỉnh ban hành theo Quyết định số 2230/QĐ-UBND ngày 20/09/2010 của UBND tỉnh Sơn La Theo đó giai đoạn 2010 – 2015: nhu cầu đá xây dựng khoảng 22,5 triệu m3; giai đoạn 2016-2020: nhu cầu đá xây dựng khoảng 45 triệu m3 Trên cơ sở nhu cầu sử dụng đá vôi ngày càng tăng trên thị trường, các hoạt động khai thác và chế biến đá vôi cũng liên tục gia tăng

Bên cạnh những lợi ích kinh tế mà ngành khai thác, chế biến đá vôi mang lại cho tỉnh Sơn La thì hoạt động này đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và ảnh hưởng đến sức khoẻ của dân cư quanh khu vực mỏ khai

thác Trước thực tế trên, tác giả đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện

trạng và đề xuất biện pháp quản lý môi trường tại các cơ sở khai thác, chế biến

đá vôi trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La” nhằm mục đích đánh giá hiện

Trang 13

trạng môi trường, dự báo các vấn đề môi trường phát sinh trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường cho các cơ sở khai thác, chế biến

đá vôi trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu, đánh giá tác động của hoạt động khai thác, chế biến đá vôi đến môi trường không khí tại các cơ sở trên địa bàn Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;

- Đề xuất giải pháp quản lý môi trường không khí phù hợp tại các cơ sở khai thác, chế biến đá vôi

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tình hình hoạt động của các cơ sở khai thác, chế biến đá vôi trên địa bàn thành phố Sơn La: quy mô, công suất, sản lượng, công nghệ khai thác và chế biến của cơ sở đang áp dụng;

- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường không khí và hiện trạng tuân thủ các quy định quản lý của Nhà nước về môi trường tại các cơ sở khai thác, chế biến

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình khai thác, chế biến đá vôi

1.1.1 Tình hình khai thác, chế biến đá vôi trên Thế giới

Đá vôi là khoáng vật trầm tích hóa học do các chất hòa tan trong nước lắng đọng xuống và gắn kết lại mà tạo thành Đá vôi được cấu tạo chủ yếu bởi các khoáng chất cacbonat, chủ yếu là Canxi cacbonat và Magie cacbonat Đá vôi là nguyên liệu chủ yếu được sử dụng để sản xuất ximăng phục vụ ngành xây dựng, đồng thời đá vôi cũng là một nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất bột nhẹ và nguyên liệu hóa chất, nông nghiệp, nhựa và giấy [41]

Trong hơn nửa thế kỷ qua nhu cầu về tài nguyên khoáng sản đá vôi trên thị trường thế giới tăng trưởng lớn dẫn đến hoạt động khai thác chế biến đá vôi phát triển mạnh và nhanh chóng đặc biệt là ở các quốc gia giàu tài nguyên ở Châu Á Thái Bình Dương, chủ yếu là do sự hiện diện của các nền kinh tế mới nổi trong khu vực như Trung Quốc, nơi có thị phần đá vôi lớn nhất trên toàn cầu [42] Một vài quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương đã chứng kiến sự đô thị hóa nhanh chóng trong vài năm qua, tạo điều kiện mở rộng thị trường đá vôi Châu Âu cũng thể hiện sự tăng trưởng đáng kể trong ngành khai thác chế biến đá vôi, với sự hiện diện mạnh mẽ ngành sản xuất thép toàn cầu đòi hỏi một lượng lớn đá vôi làm nguyên liệu thô Thị trường khai thác chế biến đá vôi ở Bắc Mỹ chủ yếu được thúc đẩy bởi sự cần thiết của nguồn nguyên liệu này trong nông nghiệp và xử lý nước Thị trường Mỹ Latinh được định hướng bởi nhu cầu về khoáng sản trong ngành nông nghiệp, trong khi đó VLXD là những ứng dụng chính của đá vôi ở Trung Đông và Châu Phi

Mặc dù công nghiệp khai khoáng là một ngành quan trọng đối với phát triển kinh tế của một quốc gia bởi ngành này cung cấp nguyên liệu cần thiết cho công cuộc công nghiệp hoá đất nước, tuy nhiên việc phát triển ngành này cũng mang lại nhiều tác động đến môi trường và xã hội nghiêm trọng [25],[35]

Tại các nước đang phát triển, các phương pháp khai thác mỏ đá vôi hầu hết đều rất thô sơ, đa số áp dụng hệ thống khai thác lộ thiên với công nghệ ôtô – máy

Trang 15

xúc Đây là loại hình công nghệ cổ điển, giá thành cao Các thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác và vận tải không đảm bảo [17] Phương pháp khai thác thủ công hầu như không có cơ sở khoa học về công nghệ và không hề có nỗ lực nào nhằm khôi phục lại những khu vực đã khai thác do chi phí khôi phục thường cao hơn nhiều so với giá trị mà việc khai thác đá mang lại Công nghệ chế biến sâu chưa được phát triến với thiết bị lạc hậu, năng suất và hệ số thu hồi thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao Phần lớn sản phẩm chỉ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ở mức trung bình [17] Chính điều này đã dẫn đến tác động xấu đến môi trường sinh thái và gây lãng phí tài nguyên

Trong khi các công ty hoạt động khoáng sản thường ít quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường trong khai thác mỏ, cùng với đó là Chính phủ của các quốc gia đang phát triển còn thiếu năng lực hành chính - kỹ thuật cũng như ý muốn chính trị

để quản lý và kiểm soát hiệu quả tài nguyên dẫn đến có nhiều nhiều thỏa thuận khai thác khoáng sản thiếu minh bạch giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước Ngoài những vấn đề trên, việc quản lý khai thác khoáng sản cũng như khai thác đá vôi nói riêng gặp không ít khó khăn do các quy định pháp luật không rõ ràng, năng lực quản lý yếu kém, hoặc do thiếu sự trao đổi và chính sách liên ngành [2],[3] Tại các nước công nghiệp phát triển, Chính phủ đã chú ý đến những vấn đề bảo vệ môi trường khoáng sản ngay từ cuối những năm 1950, nhưng lúc đó hệ thống pháp luật còn chưa đủ mạnh, các biện pháp thi hành còn nghèo nàn và hiệu quả thấp Phải đến năm 1991, tại Hội nghị bàn tròn với chủ đề “Môi trường và khai thác mỏ” do Vụ Hợp tác kỹ thuật vì sự phát triển của Liên hợp quốc trước đây (UN/DTCD) và Diễn đàn về chính sách phát triển của tổ chức phát triển quốc tế Đức (DSE) cùng đứng ra tổ chức, “Nguyên tắc chỉ đạo Berlin” mới được thiết lập dựa trên sự thỏa thuận của các đại diện tổ chức công nghiệp, Chính phủ và phi Chính phủ Nguyên tắc chỉ đạo này nêu lên sự cần thiết phải chuyển thuật ngữ phát triển bền vững thành tiêu chuẩn có thể áp dụng được để nhận biết những yêu cầu đối với Chính phủ, công ty khai thác mỏ và các ngành chế biến, sản xuất sản phẩm

từ khoáng sản Hội nghị Quốc tế về phát triển Môi trường và khai thác mỏ (6/1994)

Trang 16

diễn ra ở Washington đã nêu bật một số xu hướng gần đây về chính sách bảo vệ môi trường và ảnh hưởng xã hội có liên quan đến khai thác mỏ [12] Sau đó nhiều quốc gia đã có những điều chỉnh chính sách và hoạt động nhằm quản lý, khai thác sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản, tập trung chủ yếu vào phát triển các ngành chế biến sâu, sản xuất sử dụng công nghệ cao để sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn và siêu lợi nhuận Các nước này cũng đặc biệt chú ý đến vấn đề

dự trữ và sử dụng hiệu quả tiết kiệm nguyên vật liệu khoáng sản Nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, Australia, Anh… đã áp dụng phương thức tiên phong trong khai thác khoáng sản bền vững với việc tích hợp các khía cạnh môi trường, kinh tế và xã hội trong tất cả các giai đoạn của vòng đời khai thác khoáng sản và đã mang lại những lợi ích quan trọng [30]

Nhận xét: Trên thế giới xu thế phát triển của ngành công nghiệp khoáng sản

hiện nay là áp dụng công nghệ khai thác, chế biến hợp lý, sử dụng tổng hợp, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên khoáng sản; hình thành công nghệ ít và không phế thải nhằm bảo vệ tài nguyên, BVMT và bảo vệ con người

1.1.2 Tình hình khai thác, chế biến đá vôi ở Việt Nam

Tại nước ta, đá vôi được đánh giá là một trong 45 loại khoáng sản có trữ lượng lớn và phân bố rộng khắp cả nước tập trung hầu hết ở miền Bắc, có nơi chiếm tới 50% diện tích toàn tỉnh như Hoà Bình (53,4%), Cao Bằng (49,47%), Tuyên Quang (49,92%), Hà Giang (38,01%) Nhiều thị xã, thị trấn nằm trọn trên đá vôi như Mai Châu (Hoà Bình), Mộc Châu, Yên Châu (Sơn La), Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) [24] Kết quả điều tra và thăm dò khoáng sản đã tìm kiếm được 351 điểm mỏ đá vôi

xi măng trữ lượng ước đạt 44,7 tỷ tấn, trữ lượng đá làm VLXD thông thường khoảng 53,6 tỷ tấn tài nguyên dự báo khoảng 120 tỷ tấn [3],[4]

Đá vôi được khai thác phục vụ nhiều mục đích, trong đó quan trọng là đá vôi làm nguyên liệu sản xuất xi măng và đá vôi làm VLXD thông thường Nguồn nguyên liệu đá vôi để sản xuất xi măng của nước ta rất dồi dào, chất lượng khá tốt tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp xi măng phát triển Chính vì vậy, trong những năm gần đây với tốc độ phát triển không ngừng của ngành, nguồn

Trang 17

nguyên liệu chính phục vụ sản xuất xi măng khan hiếm, do vậy việc khai thác hợp

lí, hiệu quả nguồn đá vôi xi măng có ý nghĩa sống còn của ngành công nghiệp xi măng Mặt khác, sự phân bố các mỏ đá vôi không đều, chỉ tập trung ở một số khu vực chủ yếu Một số mỏ có chất lượng nguyên liệu biến động, điều kiện khai thác khó khăn, một số mỏ là các hang động Karst trở thành danh lam thắng cảnh nên không được phép khai thác [1]

Theo số liệu Báo cáo kết quả của dự án điều tra lập hệ thống dữ liệu tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng và các dự án quy hoạch VLXD trong cả nước của Viện VLXD - Bộ Xây dựng thì trong số 274 khoáng sản

đá vôi đã được khảo sát thì trữ lượng dự báo khoảng 44,7 tỷ tấn; trữ lượng đá vôi đã được thăm dò cấp A + B + C1+ C2 khoảng 12,557 tỷ tấn Trong đó có 28 khoáng sản đá vôi có quy mô lớn (trữ lượng trên 100 triệu tấn), 19 khoáng sản có quy mô vừa (trữ lượng khoảng 20 đến 100 triệu tấn) [15]

Bảng 1.1: Tổng hợp số mỏ và trữ lượng tài nguyên đá vôi trong cả nước [15]

khảo sát

Đã khảo sát

Tổng cộng A+B+C1

+C2

Tài nguyên cấp P TOÀN QUỐC 351 77 274 44738,532 12557,569 32180,96

(Nguồn: Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD

ở Việt Nam đến năm 2020)

Về tình hình khai thác đá vôi hiện nay ở nước ta, tổng hợp số liệu báo cáo của

Trang 18

quốc; từ kết quả công tác thanh tra chuyên đề năm 2015, tính đến hết năm 2015, cả nước có 151 Giấy phép khai thác đá vôi cấp trung ương cấp và 688 Giấy phép khai thác cấp địa phương còn hiệu lực Các tỉnh có số lượng giấy phép khá nhiều là Thanh Hóa, Hà Nam, Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Lạng Sơn, Quảng Bình, Cao Bằng, Quảng Ninh, Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ Sản lượng khai thác trung bình hàng năm tại các tỉnh nêu trên lên tới trên 20 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu sử dụng VLXD thông thường trên địa bàn, đóng góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế - xã

hội địa phương [16] Song tình hình khai thác tự phát và không đảm bảo các chỉ tiêu

kinh tế - kỹ thuật còn khá nhiều, điển hình là tình trạng các địa phương tự ý khai thác không theo quy hoạch làm phá vỡ quy hoặch hoặc sử dụng nguồn nguyên liệu

đá vôi không có hiệu quả gây lãng phí tài nguyên Đặc biệt và phổ biến là các mỏ có công suất vừa và nhỏ khai thác dựa theo lợi ích trước mắt, khai thác không theo quy hoạch, không đúng thiết kế, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, mất an toàn và tổn thất nguyên liệu lớn Hơn nữa công tác quản lý Nhà nước về nguồn tài nguyên tại địa phương chưa thực sự nghiêm túc, nhiều mỏ địa phương khai thác không có giấy phép, không có thiết kế [16]

Nhận xét: Với nguồn tài nguyên khoáng sản đá vôi đa dạng, phong phú nên

trong những năm qua ngành công nghiệp khai thác chế biến đá vôi ở nước ta đã đầu

tư, phát triển mạnh mẽ không những đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới Bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước, ngành khai thác đá vôi hiện đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập

về quy hoạnh, định hướng phát triển; phương pháp khai thác, chế biến sản phẩm; tiết kiệm tài nguyên Đặc biệt, hoạt động sản xuất còn có tác động tiêu cực tới môi trường không khí, nước, đất, cảnh quan, địa hình, hệ sinh thái khu vực và đặc biệt là tới sức khỏe con người Do vậy, việc khai thác hợp lý và BVMT, cảnh quan đá vôi phục vụ cho mục đích kinh tế là vấn đề cần quan tâm giải quyết của địa phương và Nhà nước hiện nay

Trang 19

1.1.3 Tình hình khai thác và chế biến đá vôi tại Thành phố Sơn La

Trên địa bàn tỉnh Sơn La đá vôi có trữ lượng lớn, chất lượng đảm bảo làm VLXD thông thường và sản xuất xi măng Đá vôi được phân bố chủ yếu ở các huyện Mai Sơn, Thuận Châu, Phú Yên, thành phố Sơn La Hoạt động khai thác và chế biến đá vôi tại Sơn La đã diễn ra liên tục từ nhiều năm nay với quy mô ngày càng lớn Tham gia vào hoạt động khai thác và chế biến đá trong khu vực có nhiều doanh nghiệp Nhà nước, tư nhân và bộ phận đáng kể nhân dân địa phương Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 19 giấy phép khai thác đá vôi do Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh cấp đang còn hoạt động [22],[23], cụ thể:

- Giấy phép do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp: 2 Giấy phép

- Giấy phép do UBND tỉnh cấp: 17 Giấy phép

Công tác thẩm định cấp phép hoạt động khoáng sản được thực hiện đảm bảo các quy định của pháp luật, các khu vực cấp phép đều nằm trong quy hoạch thăm

dò, khai thác khoáng sản; không thuộc khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản; thuộc khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản; các đơn vị hoạt động khoáng sản đảm bảo năng lực trong hoạt động khoáng sản; có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường theo quy định

Bảng 1.2: Các đơn vị đang khai thác đá vôi trên địa bàn tỉnh Sơn La [23]

STT Tên đơn vị Tên, vị trí khu vực

Công suất (m 3 /năm hoặc T/năm)

Diện tích (ha)

I Giấy phép khai thác do UBND tỉnh Sơn La cấp

15.000

m3/năm 1

Trang 20

STT Tên đơn vị Tên, vị trí khu vực

Công suất (m 3 /năm hoặc T/năm)

Diện tích (ha)

4 CTCP Vạn Lộc Mỏ đá bản Sen To, xã Tông

Cọ, huyện Thuận Châu

20.000

m3/năm 1

5

Chi nhánh CTCP

đầu tư và xây dựng

Tuấn Cường tại

thành phố Sơn La

Mỏ đá bản He, xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La

158.000

m3/năm 4.937

15 Doanh nghiệp tư

nhân Minh Tâm

20.000

m3/năm 1.5

Trang 21

STT Tên đơn vị Tên, vị trí khu vực

Công suất (m 3 /năm hoặc T/năm)

Diện tích (ha)

II Giấy phép khai thác do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp

2 CTCP xi măng Mai

Sơn Khu vực Nà Pát, xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 36.7 Trong giới hạn luận văn, tác giả sẽ tìm hiểu hoạt động khai thác và chế biến của 2 cơ sở điển hình tại thành phố Sơn La là: CTCP Đầu tư và Xây dựng Tuấn Cường với dự án khai thác và chế biến đá vôi làm VLXD thông thường tại mỏ đá Noong Ẳng, Doanh nghiệp tư nhân Nhất Trí Thành với dự án khai thác đá vôi làm VLXD thông thường tại khu vực Pom Ư Hừ, xã Chiềng Ngần và phường Chiềng

Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

1.2 Tổng quan phương pháp và công nghệ khai thác, chế biến đá vôi

1.2.1 Phương pháp và công nghệ khai thác, chế biến đá vôi ở Việt Nam

a Công nghệ khai thác

Ở Việt Nam, công nghệ khai thác đá vôi về cơ bản có thể chia thành các nhóm

phương pháp sau đây:

- Phương pháp khấu suốt (khấu tự do): Là công nghệ khai thác không tầng,

sử dụng công tác khoan nổ mìn để tách đá ra khỏi khối và đưa xuống chân tuyến được tiến hành trên một mặt dốc Đá nguyên khai tập trung tại chân tuyến và được xúc lên phương tiện vận tải và chở về trạm nghiền [3] Việc thực hiện khai thác khấu tự do, không quan tâm đến cắt tầng tuyến có nguy cơ gây sạt lở đất đá, đá treo

từ vách núi trượt lở xuống chân tầng, mất an toàn cho công nhân làm việc trực tiếp

ở gương khai thác Đồng thời, năng suất lao động thấp ở khâu khoan nổ mìn, độ dốc lớp khấu có xu hướng giảm trong quá trình khai thác, đá đọng lại trên sườn dốc và mặt tầng ngày càng tăng, không đáp ứng được công suất lớn, hiệu quả kinh tế trong sản xuất tại các mỏ này rất hạn chế Do đó, công nghệ này chủ yếu được áp dụng để

Trang 22

khai thác các mỏ đá dùng làm VLXD thông thường và sản xuất xi măng quy mô nhỏ

- Phương pháp cắt tầng nhỏ: chiều cao tầng thường từ 6- 10m, chiều rộng

mặt tầng 20- 25m Thiết bị khoan thường sử dụng loại có đường kính và năng suất lớn Theo phương pháp này nổ mìn bằng phương pháp nổ tập trung vi sai Bãi bốc xúc vận tải bố trí trên từng tầng khai thác đưa về trạm đập Phương pháp này có năng suất cao hơn, đảm bảo an toàn hơn, tuy nhiên chưa đủ điều kiện để cơ giới hóa khâu khoan nổ [19]

- Phương pháp khai thác lớp bằng, vận tải trực tiếp: là phương pháp tiên

tiến, khai thác theo hướng công nghiệp hiện đại, tiến hành mở vỉa bằng đường hào vận tải ôtô và đường hào di chuyển thiết bị [19] Với hình thức mở vỉa và áp dụng

hệ thống khai thác này thì công trình mỏ lần lượt phát triển từ trên xuống dưới, hết lớp này đến lớp khác, hết lớp ngoài đến lớp trong có ưu điểm là: Cơ động, linh hoạt, thích nghi với địa hình đồi núi; khả năng cơ giới hóa cao, đáp ứng được nhu cầu sản lượng lớn; điều kiện làm việc an toàn và thuận lợi; tổ chức vận tải và điều hành công tác trên mỏ đơn giản, tập trung; giảm thiểu tối đa việc mất an toàn lao động Nhưng nhược điểm là: khối lượng mở vỉa và chuẩn bị mặt tầng công tác đầu tiên lớn; thời gian xây dựng mỏ dài; đầu tư cơ bản lớn; chưa tạo ra sản phẩm ngay

- Hệ thống khai thác lớp xiên, xúc chuyển: Hệ thống khai thác này được áp

dụng khi điều kiện địa hình không cho phép đưa thiết bị vận tải lên núi hoặc khi cung độ vận tải lên núi quá lớn [3],[19] Khai thác theo lớp xiên xúc chuyển có thể

áp dụng để khai thác trên toàn bộ chiều cao của khoáng sản hoặc chỉ áp dụng cho từng phần của nó Thiết bị xúc chuyển trong phương pháp này có thể là máy xúc, máy ủi hoặc máy bốc

- Công nghệ khai thác hỗn hợp: Về cơ bản phương pháp này khai thác theo

lớp xiên, không thực hiện xúc bốc vận tải trên từng tầng mà xác định đai vận tải riêng giữa các đai vận tải là các tầng khoan - nổ, ngoài lượng đá do tác động của xung lượng nổ tầng xuống tầng vận tải có thể kết hợp sử dụng máy ủi hỗ trợ [19]

Có thể dùng 2 hoặc 3 đai vận tải tuỳ theo địa hình, địa chất mỏ Phương pháp này

Trang 23

thường thích hợp với mỏ có công suất trung bình hoặc các mỏ có chi phí để làm đường vận tải lên các tầng khai thác đầu tiên quá cao

Hiện nay, ở Việt nam có tới 351 mỏ đá vôi xi măng và nhiều điểm khai thác

đá vôi đang hoạt động với quy mô, công suất khai thác khác nhau Xét về góc độ công nghiệp và quy mô khai thác, có thể chia các mỏ khai thác đá vôi ở nước ta thành 3 nhóm chính [19]:

- Nhóm mỏ có quy mô nhỏ, công suất ≤ 100.000 m3/năm, mức độ cơ giới hoá và đồng bộ còn thấp do vốn đầu tư xây dựng cơ bản ban đầu thấp, khai thác theo phương pháp khấu theo lớp xiên, nên việc dọn tầng cho máy khoan làm việc thường là thủ công Mặt khác, do máy nghiền có năng suất thấp, miệng đập hàm thô nhỏ nên đá sau nổ mìn còn có tỷ lệ quá cỡ nhiều nên khâu khoan - nổ lần 2 lớn, nhiều mỏ công tác này chủ yếu dùng lao động thủ công, nguy cơ cao về mất an toàn lao động và ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái, cảnh quan khu vực

- Nhóm mỏ có quy mô vừa, công suất 100.000-200.000 m3/năm, việc dùng lao động thủ công giảm đi, nhưng vẫn còn tồn tại một số khâu lao động thủ công kết hợp như nêu ở trên

- Nhóm mỏ có quy mô lớn công suất > 200.000 m3/năm, áp dụng công nghệ khai thác cơ giới theo lớp bằng hoặc lớp xiên, vận tải trực tiếp hoặc xúc chuyển do vốn đầu tư lớn, xây dựng cơ bản ban đầu hoàn chỉnh, có khả năng đầu tư thiết bị nhiều hơn, nên mức độ cơ giới hoá và tính đồng bộ cao, không còn lao động thủ công trong dây chuyền trừ vệ sinh công nghiệp hay duy tu bảo dưỡng hệ thống đường vận tải

b Công nghệ chế biến đá

Thực trạng sử dụng công nghệ khai thác chế biến trong ngành khai khoáng đá vôi còn nhiều bất cập, hạn chế Nhiều loại công nghệ được đưa vào sử dụng còn lạc hậu, không phù hợp với loại khoáng sản khai thác, chưa quan tâm áp dụng công nghệ tiên tiến

Do công nghệ khai thác chế biến chưa được quan tâm đúng mức, phần lớn là những cơ sở khai thác chế biến quy mô nhỏ, khai thác và sản xuất manh mún nên

Trang 24

mức độ thu hồi thấp, không thu hồi được các khoáng sản đi kèm gây thất thoát tài nguyên lớn Một số điều tra nghiên cứu cho biết, tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác còn rất cao, đặc biệt là ở các mỏ hầm lò, các mỏ địa phương quản lý [17]

Do năng lực có hạn, khai thác phần lớn là thủ công, nên đa số các mỏ nhỏ hiện nay chỉ lấy được những phần giàu nhất, bỏ đi toàn bộ các quặng nghèo và khoáng sản đi cùng, dẫn đến không thể tận thu được Tổn thất trong chế biến khoáng sản cũng rất cao

Hình 1.1: Sơ đồ công nghệ chế biến đá vôi [12]

* Mô tả sơ đồ công nghệ

Sau khi nổ mìn, đá được máy gạt gạt từ mặt bằng trung gian xuống bãi xúc chân tuyến Tại chân tuyến, đá được xúc lên phương tiện vận tải đổ chở về bãi chế biến tại sân công nghiệp Đá nguyên liệu qua máy cấp liệu rung được đổ vào máy nghiền sơ cấp (nghiền thô) Sản phẩm sau khi được nghiền sơ cấp được đưa qua

Đá < 6 cm

Hệ thống sàng phân loại

Mỏ đá

Máy cấp liệu rung

Máy nghiền sơ cấp Nguyên liệu đá

Đá hộc cỡ lớn Máy nghiền

thứ cấp

Băng tải

Các loại đá thành phẩm

Trang 25

sàng để phân cấp Đá trên sàng được đưa quay lại nghiền sơ cấp để nghiền lại Sản phẩm dưới sàng được đưa vào máy nghiền thứ cấp (nghiền tinh) để nghiền ra các loại đá thành phẩm với kích thước khác nhau

Công nghệ nghiền sàng sản phẩm phù hợp phụ thuộc vào các yếu tố: Vốn đầu

tư, công suất và sản phẩm yêu cầu Ở Việt Nam hiện nay sử dụng chủ yếu công nghệ nghiền sàng 3 cấp hay 4 cấp với hệ thống máy nghiền vận hành theo nguyên lý nghiền đập văng, hệ thống sàng theo nguyên lý sàng rung Thiết bị nghiền thường

sử dụng là máy đập hàm trong nghiền sơ cấp (nghiền thô) và máy nghiền côn nhỏ trong công đoạn nghiền thứ cấp Với công nghệ nghiền sàng 4 cấp có thể dùng máy nghiền hàm trung hay máy nghiền côn trung [3] Người ta thường không sử dụng máy đập búa trong chế biến đá xây dựng vì máy đập búa thường làm sản phẩm vỡ vụn nhiều (tăng lượng đá mạt) và rạn nút ngay trong các viên đá sản phẩm làm giảm cường độ của sản phẩm

Hiện nay ở các cơ sở sản xuất đá vôi ở Việt Nam đang tồn tại các dây chuyền thiết bị sàng nghiền đá công suất từ 50.000-500.000 m3/năm (các cơ sở nhỏ lẻ có công suất dưới 50.000 m3/năm thường dùng các thiết bị sản xuất trong nước và của Trung Quốc) của một số nước như Nga (các hệ máy CM 739-740, CMD 186-187 công suất 50.000 m3/năm, PDSU 90, PDSU 200 công suất 50.000-200.000

m3/năm), Nhật Bản, Hàn Quốc (công suất 200.000 m3/năm, Phần Lan (thiết bị hãng Nordberg công suất 250.000-300.000m3/năm) Mỹ (thiết bị hãng Allis công suất 500.000 m3/năm), Anh (thiết bị hãng Parker công suất 500.000 m3/năm) [12]… ứng với mỗi quy mô sản xuất và công suất mỏ, mức độ cơ giới hoá cũng được nâng lên

Nhận xét: Các mỏ khai thác đá vôi hiện nay ở nước ta, đặc biệt là các mỏ khai

thác quy mô nhỏ, hầu hết đều sử dụng công nghệ khai thác chế biến lạc hậu, không đảm bảo an toàn, gây lãng phí tài nguyên, phá hoại và làm ÔNMT, hiệu quả kinh tế thấp, việc quản lý hoạt động khai thác mỏ còn nhiều bất cập, tồn tại

1.2.2 Một số công nghệ tiên tiến về khai thác, chế biến đá vôi trên thế giới

Về kỹ thuật khai thác, chế biến đá vôi, trên thế giới đã áp dụng các công nghệ tiến tiến từ nhiều thập kỷ và tương đối giống nhau Hiện nay, người ta đang áp dụng

Trang 26

2 phương pháp khai thác đá là phương pháp khai thác hầm lò và phương pháp khai thác lộ thiên

Phương pháp khai thác hầm lò có ưu điểm là bảo vệ được cảnh quan, môi trường, song nhược điểm là điều kiện khai thác khó khăn, năng suất và sản lượng thấp Phương pháp khai thác lộ thiên được sử dụng nhiều với những ưu điểm vượt trội, đó là có khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến với trình độ cơ giới hóa cao, nâng cao được năng suất và sản lượng khai thác, đảm bảo an toàn lao động Tuy nhiên, nó có nhược điểm là ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan và môi trường sinh thái Việc khai thác mỏ liên quan đến việc phá vỡ vật liệu tại chỗ và vận chuyển các vật liệu vỡ ra khỏi mỏ, đồng thời đảm bảo sức khoẻ, an toàn của người khai thác mỏ

và tính khả thi về mặt kinh tế của hoạt động Kể từ đầu những năm 1900, nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành tìm kiếm các công nghệ khai thác mới và sáng tạo có thể cải thiện sức khỏe, an toàn và năng suất Vào cuối thế kỷ 21, ngay cả khi ngành công nghiệp khai thác mỏ của Hoa Kỳ đã đạt được những thành tích ấn tượng trong sản xuất mỏ, năng suất và sức khoẻ, an toàn trong hoạt động khai thác nhưng ngành công nghiệp này vẫn cần các công nghệ khai thác hiệu quả hơn

Các hoạt động khai thác khoáng sản đã bị ảnh hưởng bởi nhiều vấn đề như sự bùng nổ khí, ngập nước, điều kiện tầng nguy hiểm, những đứt gãy địa chất và các vấn đề hoạt động nghiêm trọng, có thể dẫn đến thương tích cho nhân viên, cũng như gây tổn thất lớn về thiết bị và giảm sản lượng Những tiến bộ trong công nghệ khai thác mới có thể giúp dự đoán điều kiện địa chất trước khi khai thác mỏ (được định nghĩa ở đây là công nghệ nhìn trước) Ba lĩnh vực công nghệ chủ yếu liên quan đến các hệ thống có thể thẩm tra khối đá trước khi làm việc là: các hệ thống cảm biến,

xử lý dữ liệu và hiển thị hình ảnh dữ liệu [40] Với công nghệ nhìn trước, các tính năng và tai biến bất ngờ có thể được phát hiện, phòng tránh giúp đưa ra các biện pháp kỹ thuật bổ sung để ngăn ngừa thương tích và hư hỏng thiết bị Lợi ích kinh tế của việc dự đoán sự thu hẹp hoặc mở rộng các lớp bị khai thác hoặc các thay đổi khác về đặc điểm địa chất của mỏ cũng sẽ là đáng kể

Trang 27

Để đảm bảo sản lượng làm tơi đất đá, mức độ đập vỡ đất đá và hạ giá thành khâu làm tơi đất đá, các quốc gia tiên tiến trên trên thế giới như: Úc, Tây Ban Nha, Nga đã nghiên cứu và chế tạo các loại thuốc nổ có tốc độ nổ cao từ 5,3÷5,8 km/s như: thuốc nổ Powergel Pulsa - 3131, Powergel P2521, P2541 (Úc), GOMA (Tây Ban Nha), đặc biệt thuốc nổ UP1 (Nga) đã sử dụng bột than để thay thế một phần dầu diezel trong thuốc nổ, từ đó cho phép hạ giá thành thuốc nổ [6] Cùng với đó phương pháp nổ mìn vi sai phi điện đã được áp dụng trong khai thác đá vôi để sản xuất xi măng, đây là phương pháp nổ mìn tiên tiến, đáp ứng đầy đủ yêu cầu giảm thiểu chấn động, phục vụ sự phát triển bền vững của công nghiệp mỏ Với phương pháp nổ mìn vi sai phi điện sẽ tăng hiệu quả đập vỡ đá đồng đều hơn, giảm đá quá vụn và đá quá cỡ, giảm được chỉ tiêu thuốc nổ, mạng lưới lỗ khoan được mở rộng, giảm tác dụng chấn động, giảm đá văng và sóng đập không khí

Các tài liệu công bố ở nước ngoài cho thấy, việc mở vỉa các tầng công tác bằng hầm lò để vận chuyển bằng trọng lực hợp lý khi độ dốc của sườn núi lớn hơn

200 Dùng giếng để vận chuyển đá có thể áp dụng trên các mỏ lộ thiên sản lượng

4-5 triệu tấn/năm, còn sử dụng máng trượt đạt sản lượng thấp hơn Ngoài phương án

“Phễu - giếng đứng và vận chuyển bằng đường sắt cỡ hẹp theo lò bằng” được áp dụng trong giai đoạn đầu, ngày nay nhiều nước áp dụng công nghệ khai thác tương đối hiện đại khi kết hợp hình thức vận chuyển “Trọng lực - băng tải” kết hợp với máy đập bố trí ở phần dưới của giếng (các nước Anh, Úc, Nhật Bản, Thụy Sĩ…) Trên các mỏ khai thác theo công nghệ này thường áp dụng HTKT khấu theo lớp bằng vận chuyển trên tầng bằng ô tô hay máy chất tải, chiều cao tầng 15 m Đồng

bộ thiết bị sử dụng rất hiện đại: Máy khoan thủy lực có đường kính từ 80-203 mm, máy chất tải có dung tích gàu 5-20 m3, máy xúc TLGN có dung tích gàu 5-7,5 m3, phối hợp với ô tô tải trọng 40-80 tấn Sơ đồ công nghệ khai thác với việc chuyển tải

đá bằng máy ủi trên mặt ngang hay xiên cũng được áp dụng trên một số mỏ ở các nước Tây Ban Nha, Đức hay Angiêri [3]

Như vậy, nghiên cứu và phát triển khai thác chế biến mỏ không chỉ dẫn tới sự hình thành những công nghệ mới làm giảm chi phí sản xuất mà còn nâng cao chất

Trang 28

lượng các mặt hàng khoáng sản hiện có đồng thời giảm các tác động môi trường do hoạt động khai thác gây ra

1.3 Tác động của hoạt động khai thác, chế biến đá vôi tới môi trường tự nhiên

và kinh tế - xã hội

Khai thác và chế biến khoáng sản là một ngành công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản luôn là một trong những ngành công nghiệp gây nhiều tác động xấu nhất đến môi trường Tác động của khai thác khoáng sản đến môi trường rất đa dạng và phức tạp và tất cả các hợp phần của môi trường đều có thể chịu ảnh hưởng

1.3.1 Tác động tới môi trường không khí

Lượng khí thải trong không khí xảy ra trong từng giai đoạn của chu kỳ mỏ, đặc biệt trong các hoạt động thăm dò, xây dựng, khai thác và chế biến [33] Các nguồn gây ÔNMT khí bao gồm các hoạt động khai thác và sản xuất ở mỏ như khoan, nổ mìn, bốc xúc, từ các máy móc, thiết bị sử dụng nhiên liệu đốt dầu diesel

và từ hoạt động nghiền sàng, vận chuyển nguyên vật liệu Các hoạt động này chủ yếu phát thải bụi, khí độc (SO2, NO2, CO) kèm theo tiếng ồn vào môi trường

- Nguồn di động: Nguồn các chất ô nhiễm không khí di động bao gồm các xe hạng nặng sử dụng trong khai đào, xe chở nhân viên trong mỏ, xe tải chở nguyên liệu khai thác Mức độ phát thải ô nhiễm từ các nguồn này phụ thuộc vào nhiên liệu

và đặc điểm thiết bị Mặc dù khí thải của từng loại có thể tương đối nhỏ, nhưng tính tổng thể thì nguồn khí thải này đáng phải quan tâm Ngoài ra, các nguồn di động là nguồn chính của các hạt vật chất, carbon monoxide, và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi đóng góp đáng kể vào sự hình thành ôzôn mặt đất

- Nguồn phát thải tức thời: Nguồn phát thải này phổ biến gồm nơi lưu trữ và

xử lý nguyên vật liệu, chế biến quặng, bụi tức thời, nổ mìn, hoạt động xây dựng, đường vận chuyển, bãi đá thải Nguồn gốc và đặc điểm của bụi phát thải tức thời trong hoạt động khai thác đá thay đổi trong từng trường hợp Các tác động của chúng rất khó dự đoán và tính toán nhưng cần được xem xét vì chúng có thể là một nguồn đáng kể của chất gây ô nhiễm không khí nguy hiểm

Trang 29

Trong nghiên cứu đánh giá chất lượng không khí tại mỏ Ogun State, Nigeria, Babatunde Saheed Badavà cộng sự đã tiến hành lấy các mẫu không khí tại các khu vực hoạt động chính của mỏ như điểm khoan, nghiền, khu hành chính và khu dân

cư quanh mỏ [27] Kết quả nghiên cứu đã xác định được các chất ô nhiễm khác nhau như bụi TSP, PM2.5, PM10 và khí nhà kính như CO và CO2 Theo số liệu phân tích, mức độ CO2 trong khu khoan nổ và vùng dân cư xung quanh mỏ cao hơn đáng

kể (p <0,05) so với các địa điểm khác Mức trung bình của PM10 và PM2.5 ở cả khu vực khoan và nghiền sàng đã cao hơn mức cho phép là 50 μg/m3 với PM10 và 25 μg /m3 với PM2.5 (WHO, 2005) Giá trị trung bình của Bụi TSP ở tất cả các địa điểm lấy mẫu đã cao hơn mức cho phép là 230 μg/m3 (Ngân hàng thế giới, 1998) và TSP cao nhất được tạo ra ở phần nghiền

- Tiếng ồn và chấn động

Theo Viện Bảo vệ Sức khoẻ và An toàn Lao động Quốc gia (NIOSH), “Tiếp xúc với tiếng ồn là một nguy cơ ảnh hưởng sức khoẻ nghiêm trọng và phổ biến ở các ngành công nghiệp khai thác mỏ ở Mỹ” [31]

Tiếng ồn đã được coi là một vấn đề trong ngành khai thác mỏ trong nhiều năm, và sự tăng trưởng cơ giới hóa trong thế kỷ qua đã dẫn đến mức độ ồn tăng ở nhiều lĩnh vực [29] Theo ước tính hiện tại, 80% số thợ mỏ Hoa Kỳ làm việc trong môi trường có mức ồn trung bình theo trọng lượng lớn hơn 85 dB, và trong 25% trường hợp này, người lao động phải chịu mức ồn từ 90 dB trở lên [31]

Ô nhiễm tiếng ồn trong khai thác khoáng sản bao gồm tiếng ồn từ động cơ xe, bốc xúc đá, máng trượt, các động cơ, thiết bị nghiền sàng đá và các nguồn khác Tác động tích lũy của các hoạt động như xúc, khoan, nổ mìn, vận chuyển, nghiền, xay, chất vào kho có thể ảnh hưởng đáng kể tới sức khỏe người lao động và cư dân gần

đó [26]

Chấn động liên quan với nhiều loại thiết bị trong hoạt động khai thác, nhưng

nổ mìn được coi là nguồn chính Chấn động ảnh hưởng đến sự ổn định của cơ sở hạ tầng, các tòa nhà và nhà cửa của dân cư sống gần mỏ Theo một nghiên cứu của Liên minh châu Âu trong năm 2000 thì động đất và chấn động do nổ mìn trong khai

Trang 30

thác khoáng sản sẽ gây ra tiếng ồn, bụi và sập đổ các công trình của các khu dân cư xung quanh, các vật nuôi của cộng đồng cũng bị ảnh hưởng [37]

1.3.2 Tác động tới môi trường đất

Tác động của khai thác khoáng sản đến môi trường đất trước hết là việc chiếm dụng đất, nhiều khi với diện tích rất lớn để mở khai trường và đổ đất đá thải Đối với các công trường khai thác đá vôi hầu hết là hoạt động tại khu vực miền núi Hoạt động khai thác của mỏ đá sẽ chiếm dụng lâu dài diện tích núi đá cho việc xây dựng khu mỏ, bãi thải, Ngoài ra còn làm biến đổi địa hình tự nhiên tại khu vực do hàng năm di chuyển đi một lượng đất đá lớn ra khỏi khu vực

Khai thác đá không chỉ làm mất đi diện tích đất mà còn làm biến đổi chất lượng đất do khu vực mỏ có cấu tạo địa chất là đá vôi lộ thiên, tầng đất phong hóa mỏng, quá trình khai thác sẽ bóc tách lớp đất tầng phủ và thảm thực vật, từ đó làm tăng mức độ xói mòn, phong hóa Khi thải vào vùng đất lân cận các chất thải, nước thải chứa dầu mỡ sẽ làm thay đổi tính chất đất, làm mất dần độ phì nhiêu của đất khiến đất trở nên trơ và khó canh tác

Nghiên cứu phân tích đất của mỏ than Hingula opencast, Quận Angul, Orissa,

Ấn Độ [28] cho thấy có sự mất mát đáng kể các chất dinh dưỡng khác nhau như nitơ, photpho và kali từ đất mặt và đất có hàm lượng nitơ, photpho và kali thấp hơn rất nhiều so với giá trị bình thường trong đất phù sa

Tại Bang Goa (Ấn Độ), khối lượng đá phế thải thải ra, kể cả chất thải từ hoạt động chế biến khoáng sản đã để lại hậu quả ô nhiễm đất nghiêm trọng [38] Những

đá thải này chứa hàm lượng sulfua axit và nồng độ cao các kim loại nặng Tại đây, các cánh đồng nông nghiệp, sông suối có xu hướng lắng đọng trầm tích nặng kèm theo lượng mưa lớn, lớp phủ thực vật suy giảm dẫn đến quá trình xói mòn đất diễn

ra nhanh chóng

Trong khai thác khoáng sản, nhất là khai thác lộ thiên khi phải bóc đi một lớp đất đá đáng kể nên lượng đất đá thải thường rất lớn Các bãi đất đá thải này tiềm ẩn nhiều tai biến như sạt lở các bãi thải, lũ bùn đá liên quan với bãi thải Các tai biến kiểu này đã từng xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới có thể kể đến như thảm hoạ sạt lở

Trang 31

đất ở miền bắc Myanmar năm 2015 khiến ít nhất 113 người thiệt mạng khi một ngọn đồi lớn chất thải từ một mỏ đá sụp đổ vào những túp lều của người lao động [45] Riêng trong năm 2011, tại mỏ Mindanao ở Philippines đã xảy ra 4 vụ sạt lở làm hơn 30 người thiệt mạng [46] Mới đây nhất vụ sạt lở tại mỏ Amyntaion, Hy Lạp liên quan đến việc di chuyển khoảng 80 triệu m3 đất đã buộc 182 người phải di tản vĩnh viễn [47] Ở nước ta cũng đã từng xảy ra những vụ sạt lở bãi thải khai thác khoáng sản rất nghiêm trọng, điển hình là vụ sạt lở ở bãi Kép Ky, khu mỏ Tốc Tát (Cao Bằng) ngày 24/7/1992 làm chết 200 người Sự cố đập hồ chứa bùn thải của xí nghiệp khai thác quặng sắt Nà Lũng (thành phố Cao Bằng) đêm 5-11-2010 đã làm hàng ngàn mét khối bùn chảy xuống dòng suối dài hơn 5 km, làm thiệt hại nhà cửa, hoa màu, ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của nhiều hộ dân

1.3.3 Tác động tới môi trường nước

Ô nhiễm nguồn nước cũng là một tác động rõ ràng của khai thác mỏ Nguồn

và nguy cơ gây ÔNMT nước trong quá trình hoạt động của mỏ bao gồm nước mưa chảy tràn qua khu vực khai thác đá và nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân làm việc

- Tác động do nước thải sinh hoạt: đặc tính của nước thải sinh hoạt là chứa nhiều chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh, chất rắn lơ lửng Nguồn thải này nếu không được xử lý sẽ làm gia tăng mức độ ÔNMT nước, ảnh hưởng tới nguồn nước mặt trong khu vực

- Tác động do nước mưa chảy tràn: Lượng nước mưa chảy tràn ở giai đoạn hoạt động của mỏ đá có xu hướng lớn hơn so với lúc mỏ đá chưa đi vào hoạt động

vì quá trình khai thác sẽ bóc tách diện tích đất che phủ và lớp đất tơi xốp giúp giữ nước nên đất không còn khả năng giữ nước Nước mưa chảy tràn cuốn theo một lượng lớn đất đá, cát, lá cây, cành cây rụng, các chất hữu cơ rơi vãi gây nên sự ngập úng cục bộ tạo ra các ổ vi khuẩn có thể truyền nhiễm bệnh cho con người, làm tăng hàm lượng cặn và độ đục của nước, giảm lượng oxy hòa tan trong nước Các

Trang 32

ion kim loại trong đất đá như Ca2+, Mg2+ làm thay đổi thành phần hóa học và độ cứng của nước

Hoạt động khai thác khoáng sản có quy mô ở Tây Tạng đã gây ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt của khu vực Dựa trên số liệu thu thập được trong năm 2006,

2007, 2008 tại thung lũng Gyama, Tây Tạng, Xiang Huang và cộng sự đã xác định được một lượng lớn các kim loại nặng trong các trầm tích dòng chảy cũng như trong một số chất thải và vật liệu từ chế biến, trở thành mối đe dọa lớn cho người sử dụng nước hạ nguồn [44]

Một nghiên cứu giám sát dài hạn đã được tiến hành đối với các vùng nước mặt xung quanh mỏ Murgul (Đông Bắc Thổ Nhĩ Kỳ) để đánh giá mức độ suy giảm chất lượng nước [34] Các mẫu nước, trầm tích và mẫu thải đã được thu thập dọc theo hướng dòng chảy từ hệ thống thoát nước của mỏ cho thấy tác động của việc xả thải

từ mỏ lên suối Murgul là rất lớn, dòng nước bị ô nhiễm nặng (loại IV) theo các quy định về chất lượng nước nội địa Thổ Nhĩ Kỳ Sự gia tăng đáng kể các thành phần kim loại của các trầm tích dòng chảy từ hạ lưu của mỏ, đặc biệt đối với Cu, S, Zn,

As, Ba và Mo

Một nghiên cứu của Naicker (2003) cho thấy nước ngầm trong khu mỏ của Johannesburg (Nam Phi) bị ô nhiễm nặng nề trong bãi thải mỏ và có nồng độ cao các kim loại nặng [36] Nước ngầm bị ô nhiễm thải ra các dòng chảy trong khu vực làm tăng độ chua của dòng nước Nam Phi là quốc gia có lịch sử lâu dài về khai thác mỏ và có nguồn tài nguyên nước tự nhiên hạn chế Do đó ô nhiễm nước phát sinh từ hoạt động khai thác mỏ ở Nam Phi, đặt ra mối đe dọa nghiêm trọng về môi trường đặc biệt là sự khan hiếm tài nguyên nước

1.3.4 Tác động tới môi trường sinh thái – cảnh quan

Khai thác mỏ cũng đồng nghĩa với việc phải đánh đổi phá huỷ nhiều cảnh quan môi trường trên đất như thảm thực vật rừng gắn với phong cảnh thiên nhiên,

đa dạng sinh học; cảnh quan vùng ven biển… Thay đổi địa hình diễn ra nhiều nhất

ở các khu vực có khai thác lộ thiên Hoạt động khai thác mỏ phát sinh CTR và bụi, khí thải làm ảnh hưởng tới sự sống và phát triển bình thường của động thực vật làm

Trang 33

cho thực vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng do các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi

Trong quá trình khai thác hầu hết lớp phủ thực vật dần dần bị phá hủy và đồng thời với nó là một hệ sinh thái và cảnh quan mới được hình thành với sự chuyển đổi dần từ điều kiện núi cao sang điều kiện địa hình thấp, thung lũng, từ vùng có lớp phủ thực vật mỏng thành vùng đá lộ ra trên mặt đất Cảnh quan khu vực khai thác sẽ mất đi vẻ đẹp tự nhiên hoang dã ban đầu, không thể tái tạo được, khả năng hoàn phục lớp phủ thực vật cần phải có một thời gian dài

Kết quả nghiên cứu đánh giá khu vực khai thác đá vôi tại đồi Margalla, Islamabad, Pakistan [39] đã cho thấy hoạt động này đang làm suy giảm hệ sinh thái,

đa dạng sinh học, cảnh quan và thực vật Từ năm 1992-2009, diện tích khai thác đá vôi đã tăng từ 0,35% lên 5,79% , trong khi đó thảm thực vật giảm từ 23,46% xuống còn 12,12%

CTR không sử dụng được cho các mục đích khác đã tạo nên trên bề mặt đất địa hình mấp mô, xen kẽ giữa các hố sâu và các đống đất, đá như khai thác than ở Quảng Ninh phá huỷ nhiều ha rừng tự nhiên, rừng ngập mặn ven biển, ảnh hưởng đến vùng danh lam thắng cảnh, các bãi đổ thải đã tạo nên những khu đồi cao nhân tạo 200-300 m Khai thác sa khoáng titan ven biển miền Trung phá huỷ cảnh quan, rừng phòng hộ, đê cát tự nhiên ven biển, đặc biệt ở những khu vực khai thác vàng,

đá quý… tình hình còn diễn ra phức tạp và ảnh hưởng đến địa hình và cảnh quan rất nhiều [17]

1.3.5 Tác động tới kinh tế - xã hội

Tác động kinh tế - xã hội của các dự án khai thác khoáng sản luôn là vấn đề tranh cãi và phức tạp Về lý thuyết, dự án khai thác khoáng sản sẽ trực tiếp góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống người dân vùng mỏ thông qua tạo cơ hội việc làm với thu nhập cao hơn phần lớn các loại việc làm khác trong vùng Bên cạnh đó,

cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, liên lạc, điện, nước cũng có thể được đầu tư xây dựng nhằm phục vụ cho hoạt động khai thác Các hoạt động kinh tế khác như cung cấp dịch vụ, chế biến cũng có cơ hội phát triển, kéo theo sự phát triển chung

Trang 34

của vùng Như vậy nhìn chung, người dân địa phương có thể trực tiếp hoặc gián tiếp hưởng lợi từ hoạt động khai khoáng thông qua lao động việc làm, hệ thống cơ sở hạ tầng hoặc từ sự phát triển của các hoạt động kinh tế có liên quan Tuy nhiên thực tế cho thấy điều ngược lại: cuộc sống của người dân nơi có hoạt động khai thác mỏ thường khốn khó hơn so với các vùng khác [18] Nếu cộng đồng dân cư cảm thấy bị đối xử bất công hoặc bồi thường không thỏa đáng từ các dự án có thể dẫn đến căng thẳng xã hội và xung đột bạo lực

- Tác động đến di dời và tái định cư:

Theo Viện Môi trường và Phát triển Quốc tế “Một trong những tác động lớn nhất của hoạt động khai thác mỏ là sự di cư vào khu vực mỏ, đặc biệt là ở vùng xa xôi của các nước đang phát triển, nơi khai thác mỏ là hoạt động kinh tế quan trọng” [33] Ví dụ, tại mỏ Grasberg ở Indonesia, dân số địa phương tăng từ dưới 1000 người năm 1973 đến khoảng 110.000 người năm 1999 Tương tự, dân số khu định

cư xung quanh mỏ Porgera mở cửa vào năm 1990, đã tăng từ 4000 lên trên 18.000 người Việc đưa cán bộ, công nhân từ nơi khác đến khai thác mỏ có thể làm tăng dân số cơ học đột ngột tại địa phương dẫn đến áp lực về đất đai, nước, và các nguồn tài nguyên khác cũng như các vấn đề về vệ sinh và xử lý chất thải, phần nào có thể ảnh hưởng đến tập quán sinh hoạt ở nơi này nơi khác

Bên cạnh đó, việc gia tăng khai thác khoáng sản cả về số lượng doanh nghiệp

và quy mô khai thác tạo thêm áp lực lớn cho địa phương trong công tác quản lý và làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn, tệ nạn xã hội trong cộng đồng Khu vực khai khoáng, đặc biệt là khu vực khai thác trái phép là một trong những nơi trọng điểm

về tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút, mại dâm, lây nhiễm HIV

- Tác động đến lao động - việc làm

Công nghiệp khai khoáng được kỳ vọng sẽ tạo việc làm cho người dân địa phương góp phần xóa đói, giảm nghèo Tuy nhiên thực tế tại các điểm khảo sát cho thấy ngành công nghiệp này tạo việc làm với thu nhập thấp, không ổn định và vấn

đề an toàn của người lao động không được đảm bảo Tuy chưa có các thống kê cụ thể, tại hầu hết các mỏ, chỉ một số ít người dân trong vùng đáp ứng được các yêu

Trang 35

cầu về kỹ năng của doanh nghiệp khai thác Do đó, doanh nghiệp mỏ thường sử dụng lao động từ các vùng khác Số lao động địa phương làm việc cho các mỏ Tân Pheo (Hoà Bình), Lộc Phát (Lâm Đồng), Ea Sar (Đăk Lăk), Sơn Thủy (Phú Thọ) và Cốc Mỳ (Lào Cai) tại thời điểm khảo sát tương ứng là 4, 3, 50, 55 và 15 lao động Như vậy, tỷ lệ lao động ngành khai khoáng ở các xã trên tương ứng là 0,19%; 0,03%; 1,27%; 1,8% và 0,6% tính trên những người trong độ tuổi lao động [18] Tại thời điểm khảo sát, mặc dù có tới 69 doanh nghiệp tham gia khai thác mỏ tại các xã Châu Cường, Châu Hồng (Quỳ Hợp, Nghệ An), Châu Tiến, Châu Hạnh (Quỳ Châu, Nghệ An), nhưng số lao động địa phương được làm việc cho các mỏ chỉ chiếm từ tỷ

lệ 0, 5% đến 2,1% số người trong độ tuổi lao động của các xã [8]

Bên cạnh đó, hoạt động khai thác khoáng sản cũng làm ảnh hưởng đến sinh kế của người dân địa phương Đa số cộng đồng dân cư ở các vùng có mỏ khoáng sản đều sống dựa vào nguồn thu chính từ nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi; lâm nghiệp (trồng, bảo vệ rừng, lâm sản); nuôi trồng thủy sản Việc thu hồi đất cho hoạt động khoáng sản đồng nghĩa với mất đất sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân Ngoài ra, những tác động bất lợi từ hoạt động khai khoáng đến nguồn nước (ô nhiễm, suy giảm…), đất sản xuất (ô nhiễm, bị đất đá, bùn cát,… xâm lấn) có tác động không nhỏ đến năng suất cây trồng, vật nuôi Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005, công nghiệp khai thác khoáng sản của Việt Nam đã chiếm dụng 41 nghìn ha [18].Việc đền bù, bồi thường thiệt hại mới chỉ đáp ứng phần nào nhu cầu trước mắt mà chưa đảm bảo ổn định sinh kế lâu dài cho người dân

- Ảnh hưởng đến tài nguyên và ngành kinh tế khác:

Hoạt động khoáng sản đã gây ra tranh chấp tài nguyên (đất, rừng, nguồn nước…) và phải lựa chọn sự đánh đổi với phát triển các ngành kinh tế khác nhưnuôi trồng thủy sản; nông nghiệp; lâm nghiệp; du lịch; bảo tồn di tích văn hoá, lịch sử và cảnh quan môi trường… Hoạt động khai thác khoáng đã phá huỷ hàng nghìn ha rừng nhiệt đới có tính đa dạng sinh học cao; đất đai, thổ nhưỡng bị biến dạng… môi trường đất đai, nguồn nước ở vùng khai thác bị suy thoái, ô nhiễm nghiêm trọng

Trang 36

Nhiều vùng khoáng sản bị khai thác trái phép không được hoàn thổ đã gây hậu quả xấu đến môi trường nước, môi trường đất, gây ảnh hưởng đến việc canh tác nông nghiệp của nhân dân trong vùng, làm cho mùa màng bị giảm năng suất

1.3.6 Tác động tới sức khoẻ cộng đồng

ÔNMT là một trong các nguyên nhân gây ra bệnh tật, dịch bệnh không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân lao động mà còn ảnh hưởng đến người dân sinh sống xung quanh khu vực khai thác, chế biến đá vôi

Qua điều tra khảo sát tại mỏ đá vôi Núi Sếu, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình cho thấy, tất cả những công nhân trực tiếp sản xuất được hỏi đều đã từng hoặc đang

có cácbiểu hiện bệnh nghề nghiệp như đau mắt, viêm họng, đau tai [13] Quan sát trực tiếp tại hiện trường có thể thấy rằng, hầu hết công nhân trong khu mỏ đều không mang đủ trang thiết bị lao động cần thiết khi làm việc như mặt nạ, bông nút tai hay các thiết bị giảm âm khác…

Quá trình khoan, nổ mìn, và chế biến đá có thể đã phát sinh bụi và các chất độc hại khác nên có những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của dân cư sinh sống tại các vùng khai thác mỏ Kết quả điều tra cộng đồng dân cư khu quanh các khu vực mỏ ở Anh Sơn, Quỳ Châu và Quỳ Hợp cho thấy, tỷ lệ người mắc các bệnh như

Trang 37

viêm phế quản mãn tính chiếm 60%, các bệnh ngoài da chiếm 50%; các bệnh về mắt, khó thở chiếm tới 40% [8]

Trong quá trình phân tích dữ liệu về sức khoẻ dân cư và người lao động tại mỏ Ewekoro, Tây Nam Nigeria, những người được hỏi cho rằng phát thải bụi từ công trình khai thác mỏ có tác động bất lợi đến sức khoẻ của họ Các bệnh thường mắc phải bao gồm nhức đầu/sốt (28,9%), sốt rét (19,8%), vấn đề về dạ dày (14,0%), vấn

đề về mắt (16,5%), bệnh cảm lạnh /viêm gan (9,9%), da kích ứng (6.6%) và ho (4.1%) [25]

- Các bệnh gây ra do ồn, rung động

Các vấn đề về tiếng ồn ở các mỏ đã tồn tại từ lâu, sự tiếp xúc tiếng ồn do nghề nghiệp là một mối nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân mỏ cũng như các khu dân cư trong và xung quanh khu mỏ Tại Ấn Độ, các nghiên cứu giám sát y

tế do Viện Y học Khoáng sản Quốc gia (NIMH) thực hiện đã cho thấy nhiều công nhân hoạt động khai thác mỏ có thể bị mất thính giác Số người bị ảnh hưởng này được tìm thấy thay đổi từ 12,4% đến 25,7% ở các mỏ khác nhau [43]

Trong “Báo cáo thực trạng về quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng

sản tại Việt Nam” của Tổng cục Địa chất cho kết quả đo tiếng ồn ở một số mỏ lên

cao từ 97-106 dBA, vượt tiêu chuẩn cho phép nên đã làm nhiều công nhân mỏ bị bệnh điếc nghề nghiệp Tại khu vực chế biến đá (tổ hợp nghiền sàng liên hợp), mức

ồn thường xuyên khoảng 85-95 dBA trong 7 giờ làm việc trong ngày Nếu công nhân làm việc tại đây không đeo bịt tai chống ồn thì lâu ngày sẽ gây bệnh điếc nghề nghiệp [9],[17] Còn khi nổ mìn, dù tiếng nổ chỉ tức thời nhưng cường độ lại vượt quá 110 dBA sẽ gây choáng nhất thời cho công nhân trên bãi nổ Ngoài tác động trực tiếp tới cán bộ công nhân viên, tiếng ồn khi nổ mìn, khi vận hành máy móc còn

có tác động tới khu vực dân cư xung quanh

Ảnh hưởng của rung động trong quá trình làm việc là gây tổn thương các khớp xương, khớp cổ tay, khuỷu tay Đồng thời, người lao động làm việc lâu dài gây tổn thương xương, gai xương hay khuyết xương Ngoài ra rung động còn gây cho người

Trang 38

lao động tổn thương cơ, thần kinh, co thắt mạch ở các ngón tay do sử dụng các thiết

bị cầm tay

- Tai nạn lao động:

Các vùng khai thác khoáng sản cũng là nơi thường xảy ra nhiều tai nạn lao động và còn ở mức nghiêm trọng, đặc biệt là trong khai thác than và khai thác VLXD Liên tiếp trong các năm gần đây nhiều sự cố về tai nạn nghiêm trọng đã xảy

ra như khai thác đá ở huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn), sập mỏ đá ở Nghệ An, Hoà Bình, Lai Châu làm nhiều lao động bị thiệt mạng

Nhận xét: Các hoạt động khai thác, chế biến đá vôi tuy mang lại lợi ích kinh

tế cho doanh nghiệp, cho quốc gia nhưng đã phải đánh đổi với sự hủy hoại môi trường sinh thái, đánh đổi với tiềm năng của các nguồn tài nguyên khác như du lịch, nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông, lâm nghiệp và đối mặt với nhiều thách thức về kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng dân cư vùng khai khoáng Những ảnh hưởng cụ thể, mức độ ảnh hưởng của khai thác, chế biến đá vôi đến môi trường phụ thuộc vào phương thức, quy mô, công nghệ khai thác, chế biến và cuối cùng là công tác quản lý các hoạt động này [32]

1.4 Tổng quan quy định pháp luật về quản lý môi trường liên quan đến khai thác, chế biến đá vôi

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều văn bản pháp lý quốc tế về quản lý BVMT hoặc có liên quan đến môi trường được soạn thảo và ký kết, đặc biệt là trong bối cảnh các vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng thì số lượng các công ước, hiệp định đa phương về môi trường cũng gia tăng nhanh chóng

Những hiệp định đầu tiên chủ yếu tập trung vào bảo tồn và sử dụng một nguồn

tài nguyên cụ thể như: Công ước năm 1971 về các vùng đất ngập nước có tầm quan

trọng quốc tế, Công ước năm 1973 về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng, và Công ước quốc tế năm 1973 về phòng ngừa ô nhiễm từ tàu biển Những Hiệp định đa phương về môi trường mới đây nhất như

“Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu” năm 1994; “Nghị định

thư Cartagena” năm 2000, “Nghị định thư Nagoya” năm 2010, “Thỏa thuận

Trang 39

Paris” năm 2015 có cách tiếp cận toàn diện hơn, hướng tới phát triển bền vững và

sử dụng bền vững các nguồn lực tự nhiên

Qua nhiều năm, trên thế giới đã có khoảng 300 công ước quốc tế về lĩnh vực

tài nguyên môi trường, trong đó nước ta đã tham gia 20 công ước như “Công ước về

bảo vệ tầng ôzôn” năm 1985; “Tuyên bố Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển” năm 1992; “Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (UNFCCC)” năm 1992; “Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP)” năm 2001

Trong phạm vi quốc gia, vấn đề quản lý môi trường liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản được đề cập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật BVMT số 55/2014/QH13 được Quốc hội thông qua và ban hành ngày 23/06/2014 và Luật khoáng sản số 60/2010/QH12 được Quốc hội thông qua và ban hành ngày 17/11/2010 là hai văn bản quan trọng nhất Sau đó hàng loạt các nghị định, thông

tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiện luật BVMT và khai thác khoáng sản đã được ban hành kèm theo một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua Bên cạnh đó còn nhiều khía cạnh BVMT được đề cập trong các văn bản khác như: Luật đất đai, Luật tài nguyên nước, Luật phát triển và bảo vệ rừng…Ngoài ra các địa phương tùy thuộc vào tình hình cụ thể của địa phương mình cũng có rất nhiều văn bản quy định trong lĩnh vực môi trường và khai thác khoáng sản

Hệ thống pháp luật về tài nguyên khoáng sản đã xác lập các yêu cầu về BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản Bên cạnh những cơ chế quản lý nhằm đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nước đối với nguồn tài nguyên khoáng sản và giám sát đối với quá trình khai thác, chế biến khoáng sản, pháp luật về khoáng sản nói riêng

và pháp luật về môi trường nói chung đều có riêng những quy định về vấn đề BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản Các biện pháp BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản được quy định như sau:

- Quy định về ĐTM trong hoạt động khai thác khoáng sản:

Trang 40

Điều 18 Luật BVMT 2014 và Điều 12 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định chủ dự án khai thác khoáng sản phải có trách nhiệm lập hoặc thuê tổ chức có

đủ điều kiện lập báo cáo ĐTM Trong quá trình thực hiện ĐTM, chủ dự án phải tiến hành tham vấn UBND cấp xã nơi thực hiện dự án, các tổ chức và cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án; nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến khách quan, kiến nghị hợp lý của các đối tượng liên quan được tham vấn để hạn chế thấp nhất tác động bất lợi của dự án đến môi trường tự nhiên đa dạng sinh học và sức khỏe cộng đồng Chủ dự án phải trình thẩm định báo cáo ĐTM trước khi đề nghị cơ quan

có thẩm quyển cấp giấy phép khai thác khoáng sản Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM là căn cứ để cấp có thẩm quyến cấp giấy phép khai thác khoáng sản

- Quy định về sử dụng công nghệ phù hợp, thiết bị thân thiện với môi trường trong khai thác khoáng sản:

Theo Điều 30 Luật Khoáng sản 2010, tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu thân thiện với môi trường; thực hiện các giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và cải tạo, phục hồi môi trường Cũng theo Điều 38 Luật BVMT 2014, việc sử dụng máy móc, thiết bị

có tác động xấu đến môi trường, hóa chất độc hại trong thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải chịu sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước về BVMT

- Quy định về áp dụng các biện pháp BVMT khi tiến hành thăm dò, khai thác

và chế biến khoảng sản:

Theo Điều 38 Luật BVMT 2014, Tổ chức, cá nhân khi tiến hành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải có biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường và thực hiện các yêu cầu về bảo vệ, cải tạo và phục hồi môi trường như sau: thu gom và xử lý nước thải, CTR theo quy định của pháp luật; có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế việc phát tán bụi, khí thải độc hại và tác động xấu khác đến môi trường xung quanh; phải có kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản và tiến hành cải tạo, phục hồi môi

Ngày đăng: 20/06/2018, 15:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Đức Quý (2006), Phát triển công nghệ chế biến hợp lý và sử dụng tổng hợp tài nguyên khoáng sản Việt Nam, Hội Tuyển khoáng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghệ chế biến hợp lý và sử dụng tổng hợp tài nguyên khoáng sản Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Quý
Năm: 2006
13. Phạm Thị Việt Anh, Nguyễn Duy Khiêm (2016), Kiểm toán tác động môi trường tại mỏ đá vôi Núi Sếu, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, số 32 (1), tr. 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán tác động môi trường tại mỏ đá vôi Núi Sếu, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Phạm Thị Việt Anh, Nguyễn Duy Khiêm
Năm: 2016
18. Trần Thanh Thủy, Trịnh Lê Nguyên, và Nguyễn Việt Dũng (2012), Khoáng sản – Phát triển – Môi trường: Đối chiếu giữa lý thuyết và thực tiễn, Trung tâm Con người và Thiên nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoáng sản – Phát triển – Môi trường: Đối chiếu giữa lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Trần Thanh Thủy, Trịnh Lê Nguyên, và Nguyễn Việt Dũng
Năm: 2012
19. Trần Văn Huynh (2012), Tổng quan về tình hình khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái, giải pháp, Hội thảo Khai thác và chế biến khoáng sản làm Vật liệu xây dựng, Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về tình hình khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái, giải pháp
Tác giả: Trần Văn Huynh
Năm: 2012
24. Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản (2005), Phát triển Bền vững các Vùng Đá vôi ở Việt NamTài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Bền vững các Vùng Đá vôi ở Việt Nam
Tác giả: Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản
Năm: 2005
25. AA Adeogun (2015), Communities–company relation in limestone mining region of Southwest Nigeria: the ewekoro socio-economic view, International Journal of Development and Economic Sustainability, số 3(3), tr. 85-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Communities–company relation in limestone mining region of Southwest Nigeria: the ewekoro socio-economic view
Tác giả: AA Adeogun
Năm: 2015
26. AM Donoghue (2004), Occupational health hazards in mining: an overview, Occupational medicine, số 54(5), tr. 283-289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occupational health hazards in mining: an overview
Tác giả: AM Donoghue
Năm: 2004
27. Babatunde Saheed Bada và Oluwafunmilayo Abidemi Akande (2013), Air quality assessment in the vicinity of quarry site, Environment and Natural Resources Research, số 3(2), tr. 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Air quality assessment in the vicinity of quarry site
Tác giả: Babatunde Saheed Bada và Oluwafunmilayo Abidemi Akande
Năm: 2013
28. Bijay Kumar Swain, Shreerup GoswamI, và Madhumita Das (2011), Impact of mining on soil quality: a case study from Hingula opencast coal mine, Angul district, Orissa, Vistas in Geolo. Res, số 10, tr. 77-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of mining on soil quality: a case study from Hingula opencast coal mine, Angul district, Orissa
Tác giả: Bijay Kumar Swain, Shreerup GoswamI, và Madhumita Das
Năm: 2011
29. C Sensogut (2007), Occupational Noise in Mines and Its Control--A Case Study, Polish Journal of Environmental Studies, số 16(6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occupational Noise in Mines and Its Control--A Case Study
Tác giả: C Sensogut
Năm: 2007
30. D Laurence (2011), A Guide to Leading Practice Sustainable Development in Mining, Australian Government Department of Resources, Energy and Tourism Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Guide to Leading Practice Sustainable Development in Mining
Tác giả: D Laurence
Năm: 2011
31. David I McBride (2004), Noise-induced hearing loss and hearing conservation in mining, Occupational Medicine, số 54(5), tr. 290-296 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Noise-induced hearing loss and hearing conservation in mining
Tác giả: David I McBride
Năm: 2004
33. Environmental Law Alliance Worldwide (2010), Guidebook for evaluating mining project EIAs. Environmental Law Alliance Worldwide, Eugene, Oregon Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidebook for evaluating mining project EIAs
Tác giả: Environmental Law Alliance Worldwide
Năm: 2010
34. Irfan Yolcubal, Ayda Doğrul Demiray, Emin ầiftỗi, và Ercan Sanğu (2016), Environmental impact of mining activities on surface water and sediment qualities around Murgul copper mine, Northeastern Turkey, Environmental Earth Sciences, số 75(21), tr. 1415 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental impact of mining activities on surface water and sediment qualities around Murgul copper mine, Northeastern Turkey
Tác giả: Irfan Yolcubal, Ayda Doğrul Demiray, Emin ầiftỗi, và Ercan Sanğu
Năm: 2016
36. K Naicker, E Cukrowska, và TS McCarthy (2003), Acid mine drainage arising from gold mining activity in Johannesburg, South Africa and environs, Environmental pollution, số 122(1), tr. 29-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acid mine drainage arising from gold mining activity in Johannesburg, South Africa and environs
Tác giả: K Naicker, E Cukrowska, và TS McCarthy
Năm: 2003
37. Mineo Consortium (2000), Review of potential environmental and social impact of mining, MINEO Consortium, Impacts, part two Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of potential environmental and social impact of mining
Tác giả: Mineo Consortium
Năm: 2000
38. Mohan Yellishetty, Gavin M Mudd, và Richa Shukla (2013), Prediction of soil erosion from waste dumps of opencast mines and evaluation of their impacts on the environment, International Journal of Mining, Reclamation and Environment, số 27(2), tr. 88-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prediction of soil erosion from waste dumps of opencast mines and evaluation of their impacts on the environment
Tác giả: Mohan Yellishetty, Gavin M Mudd, và Richa Shukla
Năm: 2013
39. Muhammad Farooq Iqbal, Mobushir Riaz Khan, và Amir H Malik (2013), Land use change detection in the limestone exploitation area of Margalla Hills National Park (MHNP), Islamabad, Pakistan using geo-spatial techniques, Journal of Himal. Earth Sc, số 46, tr. 89-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land use change detection in the limestone exploitation area of Margalla Hills National Park (MHNP), Islamabad, Pakistan using geo-spatial techniques
Tác giả: Muhammad Farooq Iqbal, Mobushir Riaz Khan, và Amir H Malik
Năm: 2013
40. National Research Council (2002), Evolutionary and revolutionary technologies for mining, National Academies Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evolutionary and revolutionary technologies for mining
Tác giả: National Research Council
Năm: 2002
44. Xiang Huang, Mika Sillanpọọ, Egil T Gjessing, Sirpa Perọniemi, và Rolf D Vogt (2010), Environmental impact of mining activities on the surface water quality in Tibet: Gyama valley, Science of the total environment, số 408(19), tr. 4177-4184Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental impact of mining activities on the surface water quality in Tibet: Gyama valley
Tác giả: Xiang Huang, Mika Sillanpọọ, Egil T Gjessing, Sirpa Perọniemi, và Rolf D Vogt
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w