Xem xét kết quả một cách tổng thể thì cho thấy bất đồng về tài chính là một trong những nhân tố gây nên sự mâu thuẫn nhiều nhất mặc dù các nghiên cứu trước đây vẫn cho rằng công việc nhà
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ HIẾU
GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN VỢ CHỒNG Ở DÂN TỘC
CƠ HO HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp xã Gia Hiệp, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng)
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ HIẾU
GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN VỢ CHỒNG Ở DÂN TỘC
CƠ HO HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp xã Gia Hiệp, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng)
Ngành: Xã hội học
Mã số: 8.31.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN ĐỨC CHIỆN
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu phân tích trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Luận văn đã thừa kế các kết quả nghiên cứu của một số nghiên cứu khác dưới hình thức trích dẫn Các nguồn trích dẫn đã được liệt kê trong mục tài liệu tham khảo của luận văn
Người thực hiện
Đào Thị Hiếu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Giải quyết mâu thuẫn vợ chồng ở dân tộc Cơ
Ho hiện nay” tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Đức Chiện, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi từ việc gợi mở ý tưởng về đề tài nghiên cứu cho đến những nhận xét và góp ý quý báu để giúp tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Đà Lạt, Ban Chủ nhiệm Khoa Công tác xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi để cho tôi tham gia khoá đào tạo cao học năm 2016 - 2018 tại Học viện Khoa học Xã hội
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo của Học viện Khoa học Xã hội đã trang bị cho tôi những kiến thức và bài học bổ ích trong quá trình tôi học tập
Tôi xin được cảm ơn các em sinh viên và đồng nghiệp tại Khoa Công tác xã hội, thư viện Trường Đại học Đà Lạt đã nhiệt tình đồng hành cùng tôi trong quá trình phỏng vấn các hộ gia đình tại địa bàn khảo sát, tìm kiếm tài liệu để tôi có được những
tư liệu phục vụ cho nghiên cứu Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ của UBND xã Gia Hiệp, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã nhiệt tình tiếp đón và cung cấp những thông tin hữu ích cho tôi hoàn thành nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình tôi học tập và làm luận văn
Hà Nội, ngày tháng 06 năm 2018
Người thực hiện
Đào Thị Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 24
1.1 Cơ sở lý luận 24
1.2 Địa bàn nghiên cứu và vài nét về gia đình người dân tộc Cơ Ho 31
1.3 Tiểu kết 35
Chương 2 HÌNH THỨC MÂU THUẪN VÀ CÁCH GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN VỢ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH DÂN TỘC CƠ HO 36
2.1 Giai đoạn và hình thức mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình dân tộc Cơ Ho 36
2.2 Cách thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình người dân tộc Cơ Ho 45
2.3 Tiểu kết 54
Chương 3 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CÁCH GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN VỢ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH DÂN TỘC CƠ HO 56
3.1 Nhóm yếu tố cá nhân 56
3.2 Nhóm yếu tố gia đình, dòng họ, cộng đồng (Luật tục) và tôn giáo 63
3.3 Nhóm yếu tố chính quyền (Tổ hòa giải) và luật pháp trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng của người dân tộc Cơ Ho hiện nay 69
3.4 Tiểu kết 75
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
STT Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Dân cư người dân tộc Cơ Ho ở xã Gia Hiệp 20
Bảng 1.2: Cơ cấu mẫu điều tra định lượng phân chia theo thôn và giới tính 20
Bảng 1.3: Các tiêu chí cụ thể của mẫu điều tra định lượng 21
Bảng 2.1: Mức độ xảy ra mâu thuẫn giữa vợ chồng 40
Bảng 2.2: Hình thức giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng 45
Bảng 2.3: Đánh giá vai trò của người tham gia vào giải quyết mâu thuẫn vợ chồng 52
Bảng 3.1: Mối quan hệ giữa nhóm tuổi và hình thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng 56
Bảng 3.2: Mối quan hệ giữa trình độ học vấn và hình thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng 57
Bảng 3.3: Mối quan hệ giữa mức sống hộ gia đình và hình thức giải quyết mâu thuẫn 58
Bảng 3.4: Mối quan hệ giữa mức sống hộ gia đình và cách giải quyết mâu thuẫn bằng lời nói 59
Bảng 3.5: Mối quan hệ giữa nghề nghiệp chính và hình thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng 61
Bảng 3.6: Kiểu loại gia đình và hình thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng 64
Bảng 3.7: Mối quan hệ giữa kiểu loại gia đình và cách giải quyết mâu thuẫn bằng hành động 65
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Vấn đề thường gây ra mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân 37 Biểu đồ 2.2: Hình thức biểu hiện của mâu thuẫn giữa vợ chồng 42 Biểu đồ 2.3: Hình thức biểu hiện mâu thuẫn giữa vợ chồng bằng lời nói 42 Biểu đồ 2.4: Hình thức biểu hiện mâu thuẫn giữa vợ chồng bằng hành động 43 Biểu đồ 2.5: Cách giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng thông qua hình thức
lời nói 46 Biểu đồ 2.6: Cách giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng thông qua hình thức 47 Biểu đồ 2.7: Những người tham gia giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng 48 Biểu đồ 2.8: Giải quyết mâu thuẫn vợ chồng bằng cách phân tích, khuyên
bảo 50 Biểu đồ 2.9: Giải quyết mâu thuẫn vợ chồng bằng cách chia sẻ, thông cảm 51 Biểu đồ 3.1: Luật tục về hôn nhân tác động đến cách giải quyết mâu thuẫn
vợ chồng 66
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, gia đình luôn giữ một vị trí rất quan trọng Nó không đơn giản
là nơi hội tụ các thành viên có quan hệ hôn nhân, cùng chung một dòng máu với nhau
mà là một môi trường xã hội hóa trẻ em, ổn định nhân cách của người lớn và tham gia vào hoạt động kinh tế để giúp xã hội phát triển Đối với người Việt Nam, gia đình mang trong đó cả một sự thiêng liêng Nhưng trong những năm gần đây, gia đình cũng đang có sự thay đổi cùng với sự biến đổi của kinh tế, xã hội Có thể nói, gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề của sự chuyển đổi xã hội trong giai đoạn hiện nay Khi sự tăng trưởng của kinh tế, xã hội không đi đôi với sự phát triển của văn hóa
xã hội thì sẽ dẫn tới sự khủng hoảng về các giá trị tinh thần, đạo đức của con người Mâu thuẫn giữa vợ chồng đã vượt ra khỏi phạm vi gia đình và có thể dẫn đến ly thân,
ly dị và tái hôn [28] Thực tế đã cho thấy mâu thuẫn vợ chồng dẫn đến ly hôn, bạo lực trong gia đình không ngừng tăng lên hàng năm Theo số liệu chính thức củaTòa án nhân dân tối cao đã thống kê cho thấy số vụ ly hôn vào năm 2010 ở nước ta là 88591
vụ Và theo số liệu từ Tổng cục Thống kê qua một số năm đã khẳng định năm 2016, cả nước có 24.308 vụ ly hôn, tăng xấp xỉ 25% so với năm 2013 Ở hai thành phố lớn của Việt Nam là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, số vụ ly hôn xét xử năm 2016 lần lượt chiếm 3,6% và 8,7% [14] Nguyên nhân của vấn đề đó là do nhiều vấn đề khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là do điều kiện kinh tế khó khăn [5] Thực tế không phải khi xảy ra mâu thuẫn là người ta sẽ lựa chọn phương án ly hôn hay bạo lực mà họ còn có nhiều cách thức giải quyết khác nhau Các nhà nghiên cứu cho rằng mâu thuẫn trong hôn nhân không có nghĩa là xấu Cách thức mà các cặp vợ chồng xử lý tác động tiêu cực trong mâu thuẫn sẽ quyết định sự thành công trong hôn nhân [36] Điều đó có nghĩa rằng, cách thức mà họ giải quyết mâu thuẫn trong hôn nhân có tác động đến đời sống của chính họ sau đó Cuộc hôn nhân đó sẽ được củng cố và xây dựng hay là bị phá hỏng Chính vì vậy, trong các mâu thuẫn giữa các vợ chồng thì điều quan trọng nhất là tìm ra cách thức để giải quyết vấn đề Bởi vì, mâu thuẫn chưa được giải quyết
có thể dẫn đến cảm giác oán giận và hơn nữa có thể là ảnh hưởng tới sức khỏe tinh thần của một trong hai người hay thậm chí là cả hai [36] Bên cạnh đó, nó còn ảnh hưởng tới những người xung quanh về sức khỏe thể chất, đời sống tinh thần và công
Trang 10việc v.v… Thực tế cho thấy mâu thuẫn vợ chồng, sự lựa chọn cách thức để giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng có sự khác nhau giữa các nhóm theo biến thể vùng, miền, dân tộc, tôn giáo, tuổi hay nhóm nghề nghiệp, v.v Trong bối cảnh quá trình CNH HĐH mâu thuẫn vợ chồng cũng đang có chiều hướng gia tăng ở các dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Nguyên Bên cạnh đó, thực tế chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu về việc giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng ở người dân tộc Cơ Ho dưới góc nhìn của xã hội học Quá trình giải quyết mâu thuẫn quan hệ vợ chồng của đồng bào dân tộc thiểu số cũng bị chi phối bởi nhiều yếu tố và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên
cứu tìm hiểu Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Giải quyết mâu thuẫn vợ chồng ở dân
tộc Cơ Ho hiện nay” để bước đầu tìm hiểu và làm rõloại hình mâu thuẫn và cách giải
quyết mâu thuẫnvợ chồng của người dân tộc Cơ Ho trong bối cảnh hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Qua việc tìm hiểu những nguồn tài liệu có sẵn về vấn đề nghiên cứu thì tác giả
đã tìm được 23 đề tài nghiên cứu, báo cáo khoa học về chủ đề nghiên cứu đã được đăng trên Tạp chí Xã hội học, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, Tạp chí Tâm lý học, và một số công trình, báo cáo kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiên, chỉ có 19 đề tài nghiên cứu, báo cáo khoa học liên quan chủ yếu đến chủ đề nghiên cứu Dựa vào những bài báo và báo cáo khoa học trên, tác giả đọc, tổng quan và tìm ra hướng đi cho đề tài nghiên cứu của mình
2.1 Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng
Trong đời sống hôn nhân thì có rất nhiều vấn đề đã tạo ra sự mâu thuẫn giữa vợ
chồng Một trong số những vấn đề đó là về mặt tài chính Bài viết “Financial
disagreements and marital conflict tactics” của Jeffrey Dew và John Dakin (2011) đã
nêu lên các loại bất đồng ý kiến khác nhau có liên quan đến sự mâu thuẫn giữa vợ chồng Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ Điều tra Quốc gia về gia đình và hộ gia đình (N
= 3,861 cặp vợ chồng) Xem xét kết quả một cách tổng thể thì cho thấy bất đồng về tài chính là một trong những nhân tố gây nên sự mâu thuẫn nhiều nhất mặc dù các nghiên cứu trước đây vẫn cho rằng công việc nhà cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc tạo thành mâu thuẫn giữa vợ chồng Cũng giống như công việc nhà, vấn đề tài chính gia đình có liên quan đến vấn đề giới tính và vai trò trong gia đình [29] Đây chính là hướng đi tiếp theo cho những công trình nghiên cứu kế tiếp nhằm tìm hiểu mối quan
hệ giữa vấn đề tài chính và mối quan hệ cá nhân
Trang 11Bên cạnh đó, trong bài viết “A financial issue, a relationship issue, or both?
Examining the predictors of marital financial conflict” của Jeffrey P Dew và Robert
Stewart (2012) đã nêu rõ sự tác động của tài chính đến mối quan hệ vợ chồng Nghiên cứu này sử dụng mẫu đại diện trên toàn quốc với 1500 cặp vợ chồng Kết quả nghiên cứu cho thấy áp lực về mặt kinh tế, vấn đề truyền thông và các vấn đề ẩn sâu bên trong quan hệ hôn nhân đều liên quan đến mâu thuẫn về tài chính Người chồng đã đóng góp vào kinh tế của gia đình chiếm trung bình 76% thu nhập Trong khi đó, nợ tiêu dùng sẽ làm giảm thu nhập của họ trong tương lai Từ đó, người chồng phải chịu trách nhiệm kiếm phần lớn thu nhập Vì thế họ đã cảm thấy rất bực bội Và chỉ khi các cặp vợ chồng có được sự thỏa đáng với nhau về mặt truyền thông, sự tôn trọng, cam kết, công bằng và có mức độ quyền lực kinh tế bình đẳng thì mức độ mâu thuẫn về tài chính thấp hơn [30] Như vậy, mâu thuẫn về mặt tài chính được xem như là trung tâm của các vấn đề mâu thuẫn giữa vợ chồng
Một trong những lý do khiến cho vợ chồng trong gia đình mâu thuẫn, đặc biệt gia đình ở nông thôn Việt Nam là sự khác nhau về quyền lực và sự tiếp cận các nguồn
lực Bài viết “Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn” của Phạm Thị Huệ
(2007) đã cho chúng ta thấy điều đó Nghiên cứu nhấn mạnh tới quan hệ quyền lực giữa vợ chồng ở gia đình nông thôn Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất, mua sắm đồ đắt
tiền, trong quan hệ gia đình, họ hàng và trong hoạt động xã hội
Xét về sự đóng góp kinh tế, người chồng là người quyết định chính cho dù đóng góp kinh tế ít hay nhiều Quyền quyết định của vợ trong sản xuất tỷ lệ thuận với sự đóng góp của họ trong sản xuất Về quyền quyết định của vợ, chồng trong mua sắm đồ đạc đắt tiền thì cả hai vợ chồng cùng quyết định Tuy nhiên, nếu đóng góp về kinh tế của người nào càng tăng thì quyền quyết định trong mua sắm đồ đạc đắt tiền càng cao
Trong quan hệ với gia đình và họ hàng, người vợ và chồng cùng nhau bàn bạc với nhau là chiếm tỉ lệ cao nhất Bên cạnh đó, nếu đóng góp của người vợ trong kinh tế càng nhiều thì quyền quyết định của họ càng tăng lên Xét về độ tuổi, nếu người chồng trẻ (dưới 30 tuổi) hoặc già (trên 60 tuổi) thì họ có quyền quyết định về sản xuất, mua sắm đồ đắt tiền nhiều hơn những nhóm tuổi khác, ngược lại thì tuổi người vợ càng cao thì quyền quyết định của họ ngày càng được cải thiện Trong quan hệ gia đình và họ hàng, quyền quyết định của cả hai vợ chồng cao nhất là ở nhóm tuổi trẻ (dưới 30 tuổi)
Trang 12Xét theo trình độ học vấn người chồng có học vấn càng thấp thì quyền quyết định của người chồng trong sản xuất, mua sắm đồ đạc đắt tiền, trong mối quan hệ với gia đình, họ hàng và trong hoạt động xã hội càng cao Và ngược lại, học vấn của người
vợ càng cao thì quyền quyết định càng cao hơn [10] Tác giả chưa chỉ ra được từ sự khác nhau về quyền lực giữa vợ và chồng trong việc đưa ra các quyết định thì họ có xảy ra sự mâu thuẫn hay không?
Việc xảy ra bạo lực, mâu thuẫn trong gia đình có mối liên quan với bất bình đẳng xã hội Vấn đề bình đẳng và bất bình đẳng trong gia đình đã trở thành một chủ đề
nghiên cứu thu hút đối với nhiều nhà nghiên cứu Bài viết “Quan niệm và thái độ của
vợ chồng trẻ về bình đẳng giới trong gia đình” của Trần Thị Anh Thư (2010) chủ yếu
sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với mục tiêu nhằm phân tích vấn đề liên quan đến nhận thức và thái độ của vợ chồng trẻ về bình đẳng giới trong gia đình Mẫu nghiên cứu được hình thành theo cách chọn mẫu chỉ tiêu với dung lượng mẫu là 24 trường hợp Nữ giới sau khi kết hôn đã tham gia nhiều vào hoạt động kinh tế Họ quan niệm phụ nữ cũng nên đóng góp kinh tế cho gia đình chứ không chỉ trông chờ vào đàn ông Đồng thời, họ cũng cho rằng nam giới phải là trụ cột chính về mặt kinh tế trong gia đình Cả nam giới và nữ giới đều nhận thức được trách nhiệm đối với gia đình
Nữ giới quan niệm nội trợ và chăm sóc gia đình chu đáo là phương cách tốt nhất để xây dựng, bảo vệ hạnh phúc gia đình và họ cũng muốn chồng chia sẻ công việc nội trợ, chăm sóc con cái Còn nam giới cho rằng nội trợ là công việc nhỏ nhặt và phù hợp với nữ giới Nhiều người chồng trẻ cho rằng nếu người vợ làm tốt công việc nội trợ thì sẽ làm cho gia đình hạnh phúc
Theo họ, bình đẳng giới là sự chia sẻ trách nhiệm chăm lo cho gia đình cả về vật chất lẫn tinh thần, vợ chồng tôn trọng lẫn nhau Các cặp vợ chồng trẻ cho rằng giữa bình đẳng giới và hạnh phúc gia đình có mối quan hệ mật thiết với nhau Và để giữ được hạnh phúc gia đình thì họ cho rằng cần phải chiều chuộng nhau, cố gắng kìm chế
“cái tôi” của mình mới giữ được hòa khí trong gia đình Và khi hai vợ chồng không thể hiện được trách nhiệm đó thì sẽ dẫn đến mâu thuẫn [24]
Tuy nhiên, trong đời sống vợ chồng hiện nay vẫn đang còn có sự bất bình đẳng
Bàn về vấn đề này, Vũ Thị Thanh (2009) đã có bài viết “Bất bình đẳng giới giữa vợ và
chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam hiện nay” Tác giả đã phân tích được sự bất
bình đẳng trong phân công lao động giữa vợ và chồng, nêu ra một số yếu tố ảnh hưởng
Trang 13tới bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng và sự quyết định trong gia đình Tỷ lệ người chồng tham gia vào công việc rửa chén, giặt giũ, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa không đáng kể Đối với cặp vợ chồng trẻ, tỷ lệ người vợ nắm giữ tiền chi tiêu và mua thức ăn cao hơn cặp vợ chồng cao tuổi Một số công việc như nấu ăn, dọn nhà và giặt giũ quần
áo thì tỷ lệ người chồng trẻ trong gia đình thường xuyên thực hiện nhiều hơn các cặp
vợ chồng cao tuổi Mặc dù, người chồng tham gia làm các công việc trong gia đình nhưng mức độ làm vẫn thấp hơn so với người vợ Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống riêng thì tỷ lệ họ cùng làm việc nấu ăn và dọn dẹp nhà cửa nhiều hơn so với khi kết hôn xong mà ở chung với bố mẹ Bên cạnh đó, con cái cũng tham gia nhiều vào công việc trong gia đình nên độ tuổi của con cái là một yếu tố rất quan trọng
Trong bốn loại hình công việc trong gia đình như công việc sản xuất, mua sắm
đồ đạc đắt tiền, quan hệ xã hội và quan hệ gia đình thì người vợ chỉ quyết định nhiều hơn so với người chồng ở công việc sản xuất Vì nam giới ở nông thôn hiện nay có xu hướng tìm các công việc ngoài nông nghiệp để cải thiện thu nhập gia đình Nếu gia đình có chồng làm nông nghiệp thì người đó sẽ tự quyết định Còn trong gia đình mà
cả hai người đều làm nông nghiệp thì người vợ sẽ quyết định nhiều hơn chồng Riêng gia đình mà làm nghề phi nông nghiệp thì người chồng sẽ quyết định nhiều hơn
Các dữ liệu định tính đã cho thấy sự ảnh hưởng sâu sắc của các định kiến giới truyền thống đến suy nghĩ và hành động trong quan hệ vợ chồng ở nông thôn Người chồng cho rằng mình chỉ nên làm công việc nặng nhọc, to lớn Còn người vợ thì nhận trách nhiệm về công việc nội trợ, chăm sóc con cái trong gia đình [21]
Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Dũng (2002) đã cho thấy nguyên nhân gây ra sự lục đục trong gia đình nghèo khó chủ yếu là do khó khăn về kinh tế, mâu thuẫn vì tài sản thừa kế do bố mẹ chia không đều hay do những lý do vụn vặt khác Sự xích mích trong gia đình khá giả thì thường đến từ phía người đàn ông Bởi vì, họ kiếm được thu nhập cao hơn và tham gia vào các hoạt động giải trí [3]
Các nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng không phải chỉ xuất phát từ những vấn đề liên quan đến chuyện cơm áo gạo tiền, dạy dỗ con cái… trong gia đình
mà nó còn xuất phát từ cách ứng xử của người vợ, người chồng đối với hàng xóm, bạn
bè Bàn về vấn đề này, Nguyễn Hồng Hà (2010) đã có một bài viết “Nguyên nhân
xung đột trong gia đình dưới góc độ cư xử với bạn bè, hàng xóm” Tác giả đã tập trung
Trang 14thông qua tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội để tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn trong gia đình của các cặp vợ chồng trẻ ở Hà Nội hiện nay Phạm vi khảo sát ở 2 phường là Tân Nghĩa (Cầu Giấy) và Cửa Đông (Hoàn Kiếm), năm 2009 Phương pháp thu thập thông tin là điều tra bằng bảng hỏi và PVS Tác giả
sử dụng phương pháp chọn mẫu theo cụm trên cơ sở có khung mẫu gồm 2 cụm phường Tân Nghĩa và phường Cửa Đông Sau khi lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản với kích thước mẫu là 300 thì tiếp tục sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng Kết quả nghiên cứu cho thấy không có tương quan chặt chẽ giữa chênh lệch tuổi của vợ chồng với nguyên nhân mâu thuẫn trong cách ứng xử bạn bè, hàng xóm Tỷ lệ mâu thuẫn nguyên nhân đó cao nhất ở các cặp vợ chồng có học vấn chênh lệch nhau và tìm hiểu trước hôn nhân ngắn Cặp vợ chồng làm nghề khác nhau thì sẽ hay mâu thuẫn với nhau Những người đồng ý với quan niệm về hạnh phúc gia đình là dựa trên các yếu tố mang tình yêu thương thì ít xảy ra mâu thuẫn hơn so với cặp vợ chồng ủng hộ quan niệm để có hạnh phúc gia đình thì phải có kinh tế ổn định Các cặp vợ chồng có thu nhập cao thì ít mâu thuẫn hơn so với cặp vợ chồng có thu nhập thấp Nếu trong gia đình, cả hai vợ chồng đều chia sẻ với nhau công việc nhà, biết chồng (vợ) của mình có bao nhiêu bạn bè, thường đi chơi với bạn bè của chồng (vợ) thì ít xảy ra mâu thuẫn hơn Trong gia đình mà cả hai vợ chồng đều đóng góp tài chính và người vợ là người quyết định mọi việc chi tiêu lớn trong gia đình thì thường xảy ra mâu thuẫn hơn gia đình mà cả hai người đều đóng góp, cùng nắm tài chính và quyết định chi tiêu lớn trong gia đình Những cặp vợ chồng ở riêng thì ít mâu thuẫn vì nguyên nhân này hơn
so với các cặp vợ chồng sống cùng cha mẹ
Hình thức biểu hiện mâu thuẫn là: tranh luận, chửi mắng, chiến tranh lạnh, đánh đập, bỏ nhà ra đi, dọa ly hôn… Trong đời sống vợ chồng để giảm được mâu thuẫn thì cần phải có sự tôn trọng lẫn nhau và còn phải tôn trọng bạn bè của nhau Bởi vì, kết quả nghiên cứu định tính đã cho thấy nhiều người có những hành vi cư xử không tốt đối với bạn bè của vợ/chồng nên giữa vợ và chồng sẽ xảy ra mâu thuẫn [5]
Như vậy, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng khá đa dạng Những nguyên nhân chính là liên quan đến vấn đề thu nhập, chi tiêu, công việc của vợ chồng, sự tham gia làm công việc nhà, quan niệm về đời sống vợ chồng, cách cư xử với bạn bè, hàng xóm… Quan hệ vợ chồng chủ yếu được thiết lập trên cơ sở tình cảm yêu thương Tuy nhiên, mâu thuẫn xảy ra giữa vợ chồng cũng khá dễ dàng
Trang 152.2 Biểu hiện mâu thuẫn và những ảnh hưởng của mâu thuẫn vợ chồng
Nghiên cứu về vấn đề mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu ở trong nước quan tâm từ khá lâu Một trong những hình thức để các cặp vợ chồng giải quyết mâu thuẫn của mình đó là họ lựa chọn việc chấm dứt cuộc hôn nhân, hay
còn gọi là “ly hôn” Tác giả Lê Phượng (1986) trong công trình “Tình hình ly hôn hiện
nay và nguyên nhân của nó” cho thấy nguyên nhân dẫn đến ly hôn là khá đa dạng
Tuy nhiên, theo tác giả thì nó được chia làm hai dạng là nguyên nhân gián tiếp và nguyên nhân trực tiếp
Khi nghiên cứu cần xem xét mối quan hệ qua lại giữa hai loại nguyên nhân, bởi
vì quá trình phát sinh mâu thuẫn không hẳn là bắt nguồn từ giai đoạn trước khi kết hôn hoặc sau khi kết hôn Ở loại nguyên nhân thứ nhất (phát sinh trước khi kết hôn) liên quan đến các vấn đề như tình yêu cảm tính; tình yêu thực dụng, vật chất; xu hướng tình dục hóa tình yêu; thời gian tìm hiểu ngắn Còn ở loại nguyên nhân thứ hai (phát sinh sau khi kết hôn) liên quan đến các vấn đề là quan niệm sai lầm về tình yêu và hôn nhân; thiếu bình đẳng giữa vợ và chồng; mâu thuẫn thế hệ dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng; ngoại tình và quan niệm quá dễ dãi về ly hôn Dù họ ly hôn dưới bất kỳ nguyên nhân nào cũng là sự tan vỡ của gia đình Đối với người vợ hoặc chồng sau khi ly hôn thường xuất hiện tâm trạng chán chường, cô đơn, trống trải Do đó, một số người có thể tìm tới cờ bạc, rượu chè và tệ nạn xã hội khác Bên cạnh đó, họ còn bị ảnh hưởng
về sức khỏe, năng suất lao động giảm… Con cái của người ly hôn thì bị thiếu thốn về tình cảm [19] Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra được sự can thiệp của cơ quan đoàn thể trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng như thế nào?
Trong từng giai đoạn, bối cảnh của đời sống xã hội thì sẽ có những nhân tố tác
động khác nhau đến vấn đề ly hôn Công trình “Ly hôn ở đồng bằng sông Hồng: quyết
định của cá nhân và tác động của các yếu tố truyền thống” (Nghiên cứu trường hợp
tại một xã thuộc tỉnh Hà Nam) của Trần Thị Minh Thi (năm 2011) đã cho thấy việc ly hôn tại Việt Nam không phải là một quá trình dễ dàng Mẫu nghiên cứu gồm 13 trường hợp ly hôn và một số cán bộ đoàn thể, cán bộ xã cũng được phỏng vấn nhằm tìm hiểu quy trình ly hôn của cá nhân, ảnh hưởng của ly hôn đến đời sống của cá nhân và con cái của họ, cũng như quan điểm của xã hội về ly hôn hiện nay Phương pháp nghiên cứu là phân tích tài liệu thứ cấp, nghiên cứu trường hợp Nguyên nhân chủ đạo của ly
Trang 16ngoại tình, mâu thuẫn và bạo lực gia đình, kinh tế khó khăn và không hợp nhau là nổi bật nhất dẫn đến ly hôn ở nông thôn Khi vợ/chồng nộp đơn ly hôn đến UBND xã, các
tổ chức xã hội và chính quyền địa phương sẽ tham gia công tác hòa giải Tôn chỉ của các tổ chức chính quyền đoàn thể bao giờ cũng khuyên vợ chồng cân nhắc việc rút đơn
ly hôn, đưa ra lời khuyên cho cả hai bên hòa giải để về chung sống lại với nhau, bất kể
lý do xin ly hôn là gì Tuy nhiên, lời khuyên thường thấy nhất là kêu gọi sự hy sinh và tha thứ từ phía người vợ cho những lỗi lầm của người chồng, vì hạnh phúc con cái Yếu tố truyền thống cũng tham gia vào ra quyết định ly hôn như việc sống chung, quan hệ mẹ chồng nàng dâu, ảnh hưởng của cha mẹ trong việc tìm hiểu và lựa chọn bạn đời Các yếu tố khá này đặc trưng cho khu vực nông thôn, nơi người phụ nữ còn chịu nhiều sức ép của các tập tục, lối sống truyền thống so với lối sống đô thị hiện đại Cần có nghiên cứu và phân tích sâu sắc, toàn diện hơn, dựa trên số liệu định lượng với mẫu nghiên cứu đủ lớn để có thể có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề này [23]
Đối với phụ nữ, họ ít bị áp lực về sự kỳ vọng phải kiếm thật nhiều tiền để lo lắng cho gia đình hơn so với đàn ông Chính vì vậy, vấn đề về kinh tế chưa phải là nguyên nhân chủ yếu làm cho phụ nữ quyết định chấm dứt cuộc kết hôn Trong công
trình “Nguyên nhân ly hôn của phụ nữ qua nghiên cứu hồ sơ tòa án nhân dân” của
Phan Thị Luyện (2016) cũng đã cho thấy được tình hình ly hôn ở Việt Nam nói riêng
và thế giới nói chung Tác giả đã tổng hợp số liệu của Tòa án nhân dân tối cao, Phòng
tư pháp và Tòa án nhân dân ở một quận nội thành của Hà Nội về tình hình ly hôn từ năm 2005 đến 2010 Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tình trạng ly hôn đã tăng lên theo từng năm Tỷ lệ phụ nữ đứng đơn ly hôn chiếm tỷ lệ cao nhất ở tất cả các năm trong tổng số đơn được thụ lý và giải quyết tại Tòa án nhân dân quận Bên cạnh đó, tác giả
đã chỉ ra được một số đặc điểm của người ly hôn như là tuổi của vợ/chồng; nghề nghiệp và thu nhập; số lần kết hôn và thời gian chung sống, thời gian ly thân trước khi
ly hôn của vợ chồng; số con, tuổi của con Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra được những yếu
tố tác động đến vấn đề ly hôn của phụ nữ như là do sự thay đổi vị thế, vai trò của người phụ nữ; do tác động của gia đình, dòng họ và dư luận xã hội đến vấn đề ly hôn
và vai trò của các cơ quan ban ngành liên quan Những lý do khiến cho người phụ nữ chấm dứt cuộc hôn nhân là: tính tình không hợp nhau, ngoại tình, ghen tuông, bạo lực gia đình, phạm tội và mắc các tệ nạn xã hội, nguyên nhân liên quan đến kinh tế, ốm đau/bệnh tật, Dữ liệu định lượng đã cho thấy nguyên nhân do vợ chồng tính tình
Trang 17không hợp nhau là nguyên nhân khiến phụ nữ ly hôn chiếm tỷ lệ cao nhất Đồng thời, tác giả đã phân tích dữ liệu định tính để làm rõ nguyên nhân khiến cho phụ nữ chấm dứt hôn nhân Và tác giả cũng đã vận dụng các lý thuyết chủ đạo để lý giải cho vấn đề
ly hôn (lý thuyết trao đổi và lý thuyết xung đột) [15] Tuy nhiên, trong đời sống thực tiễn, khi vợ chồng có mâu thuẫn với nhau thì không phải ai cũng sẽ lựa chọn biện pháp
ly hôn mà có thể sẽ giải quyết mâu thuẫn bằng hình thức khác
Bên cạnh đó, Vũ Tuấn Huy (2007) cũng đã đề cập đến vấn đề nhận thức về mâu
thuẫn của các cặp vợ chồng thông qua công trình “Thực trạng mâu thuẫn vợ chồng
trong gia đình ở nông thôn hiện nay và những nhân tố ảnh hưởng” (Qua nghiên cứu
trường hợp tại xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) Nhận thức của các cặp vợ chồng về mâu thuẫn đang còn rất nhiều hạn chế Họ ít thừa nhận sự tồn tại của mâu thuẫn và luôn xem đó là vấn đề tiêu cực Chính quan niệm đó đã làm ảnh hưởng đến những đánh giá của người trả lời về mức độ và tính chất của mâu thuẫn Thực tế, mâu thuẫn xảy ra khá phổ biến tại địa phương này, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế, phân công công việc và quan hệ ứng xử Còn các mâu thuẫn liên quan đến quan hệ tình dục và quyền ra quyết định ít xảy ra
Đa số các mâu thuẫn xảy ra trong các gia đình đều dễ giải quyết và ít nghiêm trọng Hình thức mâu thuẫn phổ biến là tranh luận to tiếng, mắng chửi và chiến tranh lạnh Còn hình thức đánh đập, dùng vũ lực hoặc cấm đoán làm một việc gì đó thì ít xảy
ra Hầu hết, các cặp vợ chồng lựa chọn cách thức giải quyết mâu thuẫn là trong phạm
vi nội bộ gia đình trước khi nhờ tới sự hỗ trợ từ cộng đồng Họ tự giải quyết với nhau bằng biện pháp tình cảm và lờ vấn đề mâu thuẫn đi Mâu thuẫn giữa vợ chồng có thể ít khi dẫn đến ly hôn nhưng lại ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý của con cái
Mặc dù đây là một bài viết có vẻ như đã đề cập khá đầy đủ bức tranh về thực trạng mâu thuẫn vợ chồng ở gia đình nông thôn nhưng các biện pháp giải quyết mâu thuẫn như là tình cảm hay là lờ đi chưa đủ sức hút để các cặp vợ chồng lựa chọn nó nhằm giải quyết mâu thuẫn [26] Có thể các cặp vợ chồng họ đã phải lựa chọn những biện pháp khác để giúp gắn kết mối quan hệ vợ chồng khi xảy ra mâu thuẫn
Trong các công trình nghiên cứu liên quan về mâu thuẫn, các tác giả không chỉ tập trung nêu ra vấn đề dẫn đến sự mâu thuẫn giữa vợ chồng mà còn mô tả cụ thể hơn
về thực trạng của vấn đề Trong bài viết “Một số kết quả bước đầu qua điều tra thăm
Trang 18(1998) đã chỉ ra được nhu cầu cơ bản của các cặp vợ chồng trong hôn nhân, tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời, quan niệm cá nhân về đời sống tình dục và giá trị chuẩn mực quan trọng nhất trong cuộc sống lứa đôi Bên cạnh đó, tác giả cũng đã tập trung tìm hiểu quan niệm của các cá nhân về vấn đề xung đột; nguyên nhân, mức độ, tần suất, hậu quả của xung đột; lần xảy ra xung đột lần đầu tiên; thời điểm xảy ra xung đột và cách thức xử lý xung đột
Nguyên nhân dẫn đến xung đột là do thiếu thông cảm, hiểu biết lẫn nhau; không đồng nhất quan điểm hay là thiếu thủy chung Vấn đề thường gây tranh cãi giữa vợ và chồng là do khác biệt về: quan điểm chính kiến, cách nuôi dạy con cái, cách ứng xử với họ hàng, bè bạn Thời điểm lần đầu tiên xung đột là vào khoảng thời gian từ 2 – 5 năm sau khi kết hôn
Trong đời sống vợ chồng, họ luôn muốn hướng tới các nhu cầu như: nhu cầu được kính trọng, bình đẳng, chân thực; nhu cầu về nghĩa vụ, trách nhiệm trong cuộc sống gia đình; nhu cầu có con và chăm sóc con cái Bài viết đã cho thấy các tiêu chuẩn của người nam giới cần có ở người vợ của mình là: có việc làm ổn định, chung thủy và yêu thương chồng con Còn đối với nữ giới thì cho rằng người chồng phải yêu thương
vợ con, chung thủy và có việc làm ổn định Về phẩm chất của người bạn đời thì có hai phẩm chất được đánh giá cao đó là “chung thủy” và “tình yêu và thái độ tôn trọng lẫn nhau” Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng là không nên ngoại tình vì sẽ gây ra tan cửa nát nhà [16] Về cơ bản, nghiên cứu này đã lột tả được vấn đề mâu thuẫn trong gia đình Nhưng tác giả đã chưa chỉ ra giữa các nhóm dân tộc thì có sự khác biệt nhau như thế nào Hay là sự chi phối của yếu tố văn hóa cộng đồng trong việc giải quyết mâu thuẫn
vợ chồng?
Mâu thuẫn vợ chồng nằm trong khuôn khổ phạm vi của gia đình và người ta thường cho đó là việc riêng tư ngay kể cả khi người phụ nữ cũng bị đánh đập Trịnh
Thái Quang (2008) đã có bài viết “Mâu thuẫn vợ chồng – Bạo lực đối với phụ nữ
trong gia đình nông thôn” (Nghiên cứu tại Tiền Giang) đăng trong cuốn “Gia đình
nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi” do Trịnh Duy Luân, Helle Rydstrom, Will Burghoorn (đồng chủ biên) đã cho thấy mối quan hệ giữa mâu thuẫn xảy ra giữa vợ chồng với tình trạng bạo lực đối với phụ nữ Nghiên cứu đã được tiến hành khảo sát trên 300 mẫu, trong đó có 226 trường hợp đã từng cãi nhau trong 12 tháng qua, với nhiều mức độ khác nhau Tác giả đã phân tích được mối quan hệ giữa các yếu tố cá
Trang 19nhân như tuổi, mức sống, học vấn, quy mô hộ gia đình và mâu thuẫn vợ chồng Đồng thời đã chỉ ra được những yếu tố tác động tới mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực xảy ra giữa vợ chồng Nghiên cứu đã cho thấy có khoảng 6% hộ gia đình đã từng xảy ra bạo lực, đó là những hộ gia đình trẻ, trình độ học vấn thấp (từ lớp 9 trở xuống), đặc biệt là
hộ có mức sống khá Mức độ xảy ra mâu thuẫn thường xuyên hơn là ở hộ gia đình học vấn thấp, hộ có 4 thành viên chung sống và kết hôn được vài năm Và nguyên nhân chính của mâu thuẫn gia đình, bạo lực đối với phụ nữ là do lạm dụng rượu Mâu thuẫn
và bạo lực trong gia đình là có quan hệ tương đối chặt chẽ Trong nghiên cứu này đã cho thấy trình độ học vấn, mức sống, quy mô gia đình và mô hình chung sống là có những mối quan hệ nhất định với thực trạng xảy ra mâu thuẫn và bạo lực [20] Tuy nhiên, tác giả chưa có đủ minh chứng để có thể kết luận xem yếu tố nào là tác động mạnh mẽ tới tình trạng mâu thuẫn và bạo lực xảy ra tại địa bàn nghiên cứu
Khi xảy ra mâu thuẫn giữa vợ chồng thì sẽ làm ảnh hưởng tới các thành viên khác trong gia đình Sự mâu thuẫn đó cũng sẽ làm ảnh hưởng tới chứng trầm cảm và lo
âu đối với con cái Trong công trình “Parental divorce, family conflict and adolescent
depression and anxiety” của Hildur Mist L Pálmarsdóttir (2015) đã chỉ ra điều đó
Đây là một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện bởi Icelandic Centre for Social
Research and Analysis at Reykjavik University in February, 2012 (Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích Xã hội Icelandic (ICSRA) tại Đại học Reykjavik) với trên 2215 học
sinh từ lớp 8 đến lớp 10 Kết quả nghiên cứu cho thấy cả việc cha mẹ ly hôn và mâu thuẫn gia đình sẽ gây nên sự căng thẳng trong đời sống của thanh thiếu niên Nghiên cứu này xem xét việc ly hôn của cha mẹ và mâu thuẫn gia đình có ảnh hưởng đến trầm cảm và sự lo âu của trẻ Tác giả cũng đã chỉ ra cho chúng ta thấy thông qua việc kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết thứ nhất là việc ly hôn của cha mẹ ảnh hưởng đến thanh thiếu niên là được chấp nhận Và điều này cũng có sự trùng khớp với kết quả của các nghiên cứu trước Giả thuyết thứ hai là việc ly hôn của cha mẹ ảnh hưởng đến sự lo lắng của thanh thiếu niên cũng được chấp nhận Giả thuyết thứ ba là việc ly hôn của cha mẹ đối với trầm cảm ở thanh thiếu niên là trung gian thông qua các mâu thuẫn trong gia đình đã không được chấp nhận Còn giả thuyết cuối cùng là những ảnh hưởng của việc ly hôn của cha mẹ đối với sự lo âu ở vị thành niên là trung gian thông qua mâu thuẫn trong gia đình lại được chấp nhận Các nghiên cứu trước đó
Trang 20nghiên cứu của Amato và Afifi (2006) cho thấy những đứa trẻ gặp các rắc rối trong mối quan hệ giữa cha mẹ của chúng, trước và sau khi ly hôn sẽ gặp phiền muộn [32]
Tóm lại, các biểu hiện của mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng khá đa dạng Trong
đó, tiêu biểu nhất là vấn đề ly hôn và đây không phải là vấn đề mới mẻ nhưng vẫn đón nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Tỷ lệ ly hôn đang ngày càng gia tăng theo hàng năm Đặc biệt, ở nông thôn thì tình trạng ly hôn và việc phụ nữ đứng đơn ngày càng cao hơn Thực tế, có rất nhiều yếu tố tác động đến ly hôn, trong đó có
cả những yếu tố truyền thống Bên cạnh biểu hiện mâu thuẫn bằng cách là ly hôn thì còn có những biểu hiện khác như là chiến tranh lạnh, mắng chửi, đánh đập, đe dọa,… Mâu thuẫn vợ chồng thì có liên quan đến bạo lực gia đình Và nó không chỉ có ảnh hưởng đến công việc, sức khỏe vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của con cái
2.3 Cách giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng và các yếu tố tác động
Các nhà nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả bức tranh về việc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn mà còn tìm hiểu về cách thức giải quyết vấn đề đó ra sao? Bùi Quang Dũng (2002) đã tiến hành một nghiên cứu định tính và cho thấy bức tranh về
nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ở từng nhóm Trong bài viết “Giải
quyết xích mích trong nhóm gia đình: phác thảo từ những kết quả nghiên cứu định tính” là sự tóm lược một phần của kết quả nghiên cứu về mâu thuẫn và giải quyết mâu
thuẫn ở Việt Nam Khảo sát thực địa của nghiên cứu này được tiến hành vào năm 2001 tại ba tỉnh là Sóc Trăng, Quảng Ngãi và Hải Dương Tác giả đã lựa chọn 96 trường hợp trong đó gồm 5 trường hợp thảo luận nhóm và 91 trường hợp PVS Các trường hợp được rút ra ngẫu nhiên từ danh sách hộ gia đình do cán bộ thôn/ấp cung cấp
Khi xảy ra xích mích, vợ chồng trẻ tự quyết là chủ yếu Nếu khi hai vợ chồng không giải quyết được sự mâu thuẫn đó thì sẽ phải tìm tới một người họ hàng để mà trao đổi Việc cùng nhau giải quyết sự xích mích trong gia đình chủ yếu chỉ tồn tại ở gia đình hạt nhân Còn ra ngoài khuôn khổ ấy thì vai trò của người phụ nữ đã khác hẳn Khi trong gia đình có xích mích thì sẽ “họp họ” để giải quyết (chỉ có anh em cùng cóvai vế trong họ họp với nhau và không có phụ nữ) Ở gia đình trung lưu, họ giải
quyết xích mích theo kiểu “đóng của bảo nhau” bởi vì muốn giữ sĩ diện Còn đối với
cặp vợ chồng nghèo thì thường làm cho xích mích trở nên to chuyện hơn Các đoàn thể quần chúng, tổ hòa giải của thôn/ấp có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết xích
Trang 21mích trong các gia đình [3] Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả vẫn chưa chỉ ra được cách giải quyết mâu thuẫn trong các hình thái gia đình khác nhau thì liệu khác nhau hay không?
Khi xảy ra mâu thuẫn trong gia đình thì các thành viên cần phải nhận thức được
và tìm cách giải quyết vấn đề Bởi vì, đôi khi những vấn đề đó lại làm ảnh hưởng tới
đời sống của mọi thế hệ trong gia đình Ở bài viết “Quan niệm nhận thức của các thế
hệ về mâu thuẫn trong gia đình và cách khắc phục” của Lê Thi (2009), bằng phương
pháp nghiên cứu định tính là PVS, điều tra bảng hỏi tại 4 địa điểm: xã Mễ Sở (Hưng Yên), xã Phú Minh (Hà Nội), thị trấn Văn Cương (Hưng Yên), phường Bùi Thị Xuân (Hà Nội) đã tập trung tìm hiểu các vấn đề như: hình thức biểu hiện của mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến các mâu thuẫn và giải pháp giải quyết mâu thuẫn trong gia đình
Hình thức biểu hiện phổ biến của mâu thuẫn là vợ hay chồng im lặng, giận dỗi, không nói chuyện với nhau Khi mâu thuẫn xảy ra thì chồng mắng chửivợ cao hơn việc vợ mắng chửi chồng và chủ yếu ở thế hệ trẻ và trung niên Điều này thể hiện vị thế và quyền lực áp đảo của nam giới trong gia đình Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn xuất phát chủ yếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, tiếp đó là nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân do con cái và các nguyên nhân khác chiếm tỉ lệ thấp Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra mâu thuẫn thường được giải quyết bằng hình thức do người chồng làm lành trước Phần lớn ý kiến cũng cho rằng vợ chồng cần phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhau thì mới giải quyết được mâu thuẫn thường ngày Qua nghiên cứu tác giả cũng nhấn mạnh: vợ chồng cần phải hợp tác với nhau về nhiều mặt, không chỉ trong làm ăn mà còn ở lối sống, sinh hoạt hàng ngày Sự hòa hợp giữa vợ chồng không đòi hỏi họ phải giống nhau về tính cách, sở thích nhưng phải biết nhường nhịn, nhân nhượng với nhau [22] Tuy nhiên, khi vợ chồng mâu thuẫn với nhau thì không phải chỉ biểu hiện bằng hình thức như im lặng hay giận hờn mà đôi khi còn xảy ra đánh đập Việc xảy ra mâu thuẫn được xem như là một điều không thể tránh khỏi trong đời sống hôn nhân Tuy nhiên, khi xảy ra mâu thuẫn thì các cặp vợ chồng cần phải có chiến lược để đối phó với nó cho phù hợp nhằm đem lại sự ổn định và bền vững cho
cuộc hôn nhân Trong nghiên cứu “Conflict resolution strategies among working
couples” của Sumalata T.Byadgi., Yadav.V.S (2013) cũng đã đề cập đến vấn đề này
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xác định các chiến lược giải quyết mâu thuẫn
Trang 22hôn nhân của mình Bên cạnh đó, nghiên cứu này đã chỉ ra mối quan hệ giữa các đặc điểm nhân khẩu học và các chiến lược giải quyết mâu thuẫn Dữ liệu thu thập từ 150 cặp vợ chồng và với cặp vợ chồng có vợ là giáo viên trong các trường công và tư thục với ít nhất là có 3 năm kinh nghiệm giảng dạy, thời gian kết hôn và có ít nhất một đứa trẻ Bộ công cụ sử dụng với 30 câu mô tả phương thức giải quyết mâu thuẫn, được chia thành 2 chiều là sự quyết đoán và hợp tác, chia thành 5 biện pháp được coi là chiến lược để quản lý mâu thuẫn
Ở biện pháp là sự cạnh tranh, cả vợ và chồng đều giống nhau trong việc thể hiện hành vi cạnh tranh Người chồng thường phản ứng với mâu thuẫn bằng cách tham gia thảo luận cởi mở và trực tiếp Đồng thời, họ thường tìm người khác giúp đỡ trong việc đưa ra các quyết định và quan tâm đến nhu cầu của hai bên trong tình huống mâu thuẫn Cả người chồng và người vợ đều tương đối giống nhau khi thông qua chiến lược thỏa hiệp về giải quyết mâu thuẫn Cũng có nhiều người chồng cho rằng họ lựa chọn biện pháp tránh xa khi xảy ra mâu thuẫn (so sánh với người vợ) Những người vợ
và chồng có trình độ học vấn cao thì ít nhất đã thông qua chiến lược cạnh tranh, tránh
xa và hầu hết đã thông qua chiến lược hợp tác, thỏa hiệp… để giải quyết mâu thuẫn Người vợ có thu nhập cao thì thích chiến lược tránh xa hơn người có thu nhập ít Người chồng đang làm việc trong khu vực tư nhân thì thích chiến lược hợp tác hơn so với người làm việc trong nhà nước Đồng thời, người chồng có số con ít thì thích chiến lược cạnh tranh, thỏa hiệp, và tránh xa hơn so với chiến lược hợp tác… Và người chồng sống trong gia đình nhỏ thường nghiêng về chiến lược thỏa hiệp Còn người sống trong gia đình lớn thường nghiêng về chiến lược tránh xa [36]
Tuy nhiên, các nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra các vấn đề gây nên mâu thuẫn hay là cách giải quyết mâu thuẫn trong hôn nhân mà cũng đã nêu lên sự tác động, hỗ trợ của các nhân tố trong việc giải quyết mâu thuẫn đó Điều này cũng được
thể hiện trong bài viết “How religiosity helps couples prevent, resolve, and overcome
marital conflict” của Nathaniel M Lambert và David C Dollahite (2006) Nghiên cứu
này đã thực hiện các phỏng vấn với 57 cặp vợ chồng cao tuổi và trung niên có tín ngưỡng Abraham như Kitô giáo, Do Thái, Hồi giáo, sống ở New England và Bắc California Trong nghiên cứu này đã sử dụng các phương pháp lý thuyết cơ bản để tạo
ra chủ đề và mô hình miêu tả cách thức tôn giáo ảnh hưởng đến mâu thuẫn trong hôn nhân Các cặp vợ chồng trong nghiên cứu này đã cho rằng tôn giáo đã ảnh hưởng đến
Trang 23mâu thuẫn trong hôn nhân trên ba giai đoạn của quá trình mâu thuẫn như: ngăn ngừa vấn đề, giải quyết mâu thuẫn và hài hòa quan hệ Các cặp vợ chồng nhận thấy đức tin tôn giáo và sự tham gia vào thực hành tôn giáo đã giúp họ trong ba giai đoạn mâu thuẫn đó Bởi vì, các cặp vợ chồng cùng thực hiện các hoạt động tôn giáo, sự ảnh hưởng đến mục đích chung, đức tính và luôn sẵn sàng tha thứ cho người khác Họ có thể đi nhà thờ và cầu nguyện Đức Chúa Trời để vượt qua mâu thuẫn trong hôn nhân Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng gặp phải hạn chế là chỉ mới tập trung ở nhóm thu nhập trung bình, học vấn cao và là người da trắng [33] Do đó, cần có những nghiên cứu khác để tìm hiểu sự ảnh hưởng của tôn giáo đến mâu thuẫn của các cặp vợ chồng
có thu nhập thấp hay các dân tộc khác
Để duy trì được sự hài hòa trong quan hệ vợ chồng cũng không phải là vấn đề
dễ dàng Nó cần có sự hợp tác của cả vợ và chồng, các thành viên khác trong gia đình Đối với người dân tộc Cơ Ho_nhóm người theo chế độ mẫu hệ thì vai trò của dòng họ cũng khá quan trọng trong việc giúp ổn định và hài hòa quan hệ vợ chồng Trong bài
biết “Vai trò dòng họ mẫu hệ trong cộng đồng người Cơ Ho và Chu Ru ở xã Ka Đơn,
huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng hiện nay” của Phan Thị Hồng (2013) đã phần nào
cho chúng ta sự hiểu biết sơ đẳng nhất về chế độ mẫu hệ và vai trò của nó trong cộng đồng Dòng họ của người dân tộc Cơ Ho và Chu Ru tính theo dòng họ của mẹ Những thành viên trong phạm vi 4 – 5 đời luôn cố kết lại với nhau, sống gần gũi bên nhau trong các bon, thôn Dòng họ này có vai trò to lớn trong việc chi phối nhiều phương diện cuộc sống của các cá nhân Người con trai sau khi lấy vợ thì phải rời khỏi nhà cha
mẹ đẻ và dòng họ của mình tới sống bên nhà vợ Đối với các cô gái, khi đã lập gia đình thì vẫn được ở lại cùng với cha mẹ đẻ Những vấn đề lớn của gia đình và dòng họ trước hết là thuộc về trách nhiệm của nữ giới và sau đó là sự hợp tác chặt chẽ của nam giới Người chồng sẽ là được họ cưới về Người con trai của dân tộc Cơ Ho và Chu Ru không có quyền cưới vợ về nhà (trừ trường hợp quá đặc biệt) Họ cũng không có quyền đòi phân chia tài sản ở gia đình gốc khi mà họ đi lấy vợ Đồng thời, họ có nghĩa
vụ là phải lao động để đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình bên vợ Từ xưa đến nay, ở hai dân tộc này vẫn chưa có người nam giới nào đòi cách tân truyền thống để chống lại vinh dự và trách nhiệm nặng nề đó
Hiện nay, nhiều gia đình có điều kiện kinh tế khá giả thì có của hồi môn cho
Trang 24và Chu Ru cũng sẽ trở thành ông cậu và có quyền tham gia bàn bạc quyết định khi xảy
ra sự kiện liên quan đến con người và tài sản của dòng họ
Nếu như người chồng chây lười, rượu chè bê tha, không có thái độ hợp tác, đồng thuận trong công việc làm ăn và sinh hoạt thì người vợ có thể họp gia đình để xin
ý kiến xử lý Trường hợp nặng hơn thì người vợ có thể thông báo với nhà chồng để cử nhóm đại diện đến để bàn bạc cách giải quyết Thông thường, gia đình và họ hàng đôi bên đều nỗ lực bảo ban, vun vén và giảng hòa Một số trường hợp họ còn tỏ ra ủng hộ
sự kiên quyết và nghiêm khắc của người vợ [9] Tuy nhiên, bài viết chưa đề cập đến việc khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng thì mức độ, biểu hiện của nó như thế nào? Bởi vì, tùy thuộc vào mức độ và biểu hiện của mẫu thuẫn thì sẽ có cách giải quyết khác nhau
Bàn về vấn đề hôn nhân của người dân tộc Cơ Ho ở Lâm Đồng, Trần Thị Hiền
đã có bài viết “Hôn nhân của người Lạch ở Lâm Đồng” (Nghiên cứu trường hợp thôn
Măng Line, phường 7, thành phố Đà Lạt) cũng đã đề cập đến việc giải quyết vấn đề ly hôn của người Lạch tại địa phương Đây bài viết được đăng trên Tạp chí Khoa học
Trường Đại học Đà Lạt, năm 2012 và đồng thời đã được đăng trong cuốn sách Tây
Nguyên dưới học nhìn Nhân học do Võ Tấn Tú chủ biên Người Lạch là một nhóm địa
phương của dân tộc Cơ Ho Từ xưa đến nay, việc ly hôn trong cộng đồng người Lạch hiếm khi xảy ra Nếu có thì là do xuất phát từ những nguyên nhân như: vợ/chồng có hành vi ngoại tình, lười biếng hoặc do người chồng rượu chè, vũ phu, xúc phạm chửi mắng cha mẹ và người trong dòng họ nhà vợ Khi muốn ly hôn, người chồng/vợ phải nhờ người trong họ hàng của mình, đặc biệt là ông cậu, người làm mai mối đến nói chuyện với cha mẹ (nếu cha mẹ còn sống) hoặc chị em gái của người kia (nếu cha mẹ
đã chết) về ý định của mình Nếu hai người đồng ý ly hôn thì sẽ trao cho nhau ly rượu
và bát gạo trước sự chứng kiến của già làng, người làm mai mối và họ hàng hai bên để chấm dứt quan hệ hôn nhân của mình Sau đó, hai bên sẽ tiến hành đền bù và bị phạt
do người vợ thì chị ta cũng phải làm tương tự như thế Sau khi ly hôn và trả hết các lễ
Trang 25vật bắt buộc thì người vợ/chồng chính thức cắt đứt mọi ràng buộc và được quyền tái hôn [6] Tuy nhiên, tác giả mới chỉ đề cập đến cách giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng trong trường hợp ly hôn Nhưng khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng thì ở người dân tộc Cơ Ho còn có thể giải quyết bằng những hình thức khác nữa
Về mặt phương pháp, trong các đề tài nghiên cứu cách giải quyết xung đột giữa
vợ chồng thì sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng (Cao Huyền Nga, Vũ Tuấn Huy…), kết hợp với phương pháp định tính như phương pháp PVS để thu thập các thông tin cụ thể hơn, đặc biệt là các thông tin tế nhị (Bùi Quang Dũng, Nguyễn Hồng
Hà, Trần Thị Minh Thi…)
Có thể nói cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn vợ chồng được giới nghiên cứu nước ngoài và trong nước thực hiện Các nghiên cứu nước ngoài đã quan tâm tìm hiểu và làm rõ nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, sự tác động của mâu thuẫn vợ chồng đến đời sống vợ chồng và các thành viên trong gia đình Đồng thời, các nhà nghiên cứu đã nêu lên cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng và vai trò của của các chủ thể trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng
Một số nhà nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề mâu thuẫn vợ chồng, các kết quả nghiên cứu đã làm rõ nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, các hình thức biểu hiện, mức độ biểu hiện của mâu thuẫn và hậu quả của
nó Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu là có liên quan đến vấn đề kinh
tế của gia đình, sự tham gia làm công việc nhà của người vợ và chồng, quan niệm về đời sống hôn nhân, cách cư xử với bạn bè, hàng xóm… Hình thức biểu hiện của mâu thuẫn vợ chồng thì chủ yếu là chiến tranh lạnh, mắng chửi, đánh đập, đe dọa,… Qua việc vợ chồng mâu thuẫn với nhau thì đã thể hiện vị thế và quyền lực áp đảo của nam giới ở trong gia đình Việc vợ chồng mâu thuẫn không chỉ có ảnh hưởng đến công việc, sức khỏe vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của con cái Và giữa mâu thuẫn vợ chồng với bạo lực gia đình thì có mối liên hệ mật thiết với nhau Về cách thức giải quyết mâu thuẫn là vợ chồng tự giải quyết hoặc là cùng với gia đình hai bên nội ngoại, dòng họ tham gia giải quyết Trong trường hợp họ không giải quyết được thì phải cần tới sự tham gia của Tổ hòa giải tại địa phương Tuy nhiên, tình trạng
ly hôn vẫn đang gia tăng hàng ngày kể cả ở khu vực nông thôn Khi nói đến cách thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng thì các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh đến việc vợ
Trang 26phúc Đồng thời, một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra các yếu tố cá nhân, yếu tố truyền thống, yếu tố tôn giáo,… có tác động đến việc vợ chồng mâu thuẫn và cách giải quyết mâu thuẫn của họ
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu luật tục, phong tục chi phối đến giải quyết mâu thuẫn vợ chồng Nghiên cứu về sự tác động, chi phối của phong tục, luật tục đến việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng vẫn chưa được nghiên
cứu từ cách tiếp cận xã hội học.Đề tài “Giải quyết mâu thuẫn vợ chồng ở dân tộc Cơ
Ho hiện nay” được thực hiện dựa trên sự kế thừa từ việc phân tích điểm mạnh và điểm
yếu của các nghiên cứu trước đó Việc phân tích những hạn chế của các nghiên cứu trước đó sẽ giúp tác giả tránh sai sót trong khi thực hiện nghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Đề tài nhận diện các hình thức mâu thuẫn, cách thức giải quyết mâu thuẫn và yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng ở dân tộc Cơ Ho hiện nay Trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm giảm thiểu mâu thuẫn vợ chồng, ổn định gia đình và phát triển bền vững gia đình ở cộng đồng dân tộc Cơ Ho tại Lâm Đồng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề giải quyết mâu thuẫn vợ chồng
- Mô tả thực trạng mâu thuẫn vợ chồng ở người dân tộc Cơ Ho: Các loại
hình/hình thức biểu hiện của mâu thuẫn; mức độ biểu hiện của mâu thuẫn; cách thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng
- Đề xuất một số khuyến nghị đối với các ban ngành liên quan và các cặp vợ
chồng dân tộc Cơ Ho tại địa bàn nghiên cứu nhằm giúp giảm thiểu mâu thuẫn, giải quyết tốt mâu thuẫn nảy sinh giữa vợ chồng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Giải quyết mâu thuẫn vợ chồng ở người dân tộc Cơ Ho Khách thể nghiên cứu: Các hộ gia đình người dân tộc Cơ Ho tại xã Gia Hiệp,
huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
Trang 274.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian, không gian nghiên cứu:
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu này mô tả các nguyên nhân, biểu hiện
của mâuthuẫn, cách thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng ở người dân tộc Cơ Ho trong thời điểm điều tra (từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2017)
Phạm vi không gian nghiên cứu: Xã Gia Hiệp có 11 thôn nhưng do điều kiện kinh
phí có hạn nên tác giả chọn 4/11 thôn để thực hiện nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Thực tế có rất nhiều yếu tố tác động đến việc giải quyết mâu thuẫn của các cặp
vợ chồng trong gia đình nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ nguyên nhân, biểu hiện mâu thuẫn vợ chồng và một số yếu tố cơ bản có tác động tới cách giải quyết mâu thuẫn như yếu tố văn hóa, cộng đồng, luật tục, tôn giáo; kiểu loại gia đình, điều kiện kinh tế gia đình; yếu tố cá nhân (giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp)
Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu trước đây có khá nhiều tác giả sử dụng khái niệm “xung đột” Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả luận văn chỉ sử dụng khái niệm “mâu thuẫn” để thao tác hóa và phân tích rõ vấn đề cần nghiên cứu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Trong nghiên cứu này, tác giả vận dụng một số lý thuyết xã hội học như lý thuyết xung đột, cách tiếp cận theo thuyết trao đổi xã hội và lựa chọn hợp lý, lý thuyết hiện đại hóa để giải thích nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, cách thức giải quyết mâu thuẫn và yếu tố tác động tới cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng Đề tài sẽ phân tích cụ thể và bổ sung thêm cơ sở lý luận về cách giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng (khái niệm) Đồng thời, nghiên cứu cũng sẽ cung cấp những minh chứng khoa học về cách giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng của người dân tộc Cơ Ho
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Nghiên cứu này đã sử dụng tư liệu từ các công trình nghiên cứu khác nhau Chủ yếu dựa trên các tài liệu liên quan đến vấn đề được đăng tải trên Tạp chí Xã hội học, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, Tạp chí Tâm lý học, báo cáo thống kê của
Trang 28địa phương, để làm rõ tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận, góp phần bổ sung luận điểm trong đề tài nghiên cứu
Ngoài ra, trong đề tài này, tác giả còn sử dụng kết hợp với những phương pháp khác như: so sánh, phân tích Những thông tin thu thập được từ quá trình tổng quan tài liệu sẽ giúp người nghiên cứu có cái nhìn tốt hơn về vấn đề nghiên cứu của mình
- Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Điều tra bảng hỏi: Đề tài sử dụng bảng hỏi là công cụ thu thập thông tin chủ yếu, dựa trên những khái niệm đã được thao tác hóa Đề tài đã tiến hành điều tra 200 gia đình tại địa bàn khảo sát, lựa chọn mẫu theo cách chọn mẫu thuận tiện Đây là một chiến lược thường được sử dụng khá phổ biến trong các công trình nghiên cứu định lượng có hạn chế nguồn lực kinh phí và thời gian Tại xã Gia Hiệp có 05 thôn đang có người dân tộc Cơ Ho sinh sống, cụ thể là:
Bảng 1.1: Dân cư người dân tộc Cơ Ho ở xã Gia Hiệp STT Tên thôn Số lượng hộ Số lượng nhân khẩu
Nguồn: UBND xã Gia Hiệp năm 2017
Do đó, tác giả luận văn chọn mẫu nghiên cứu thuận tiện ở 4 thôn Trong mỗi hộ gia đình sẽ chọn đại diện hộ gia đình (người vợ hoặc người chồng) làm đơn vị thu thập thông tin
Bảng 1.2: Cơ cấu mẫu điều tra định lượng phân chia theo thôn và giới tính
STT Tên thôn Số lượng hộ Nam Nữ
Trang 29Bảng 1.3: Các tiêu chí cụ thể của mẫu điều tra định lượng
Tiêu chí Cụ thể Tần suất
(Người)
Tỷ lệ (%) Giới tính
Lao động phi nông nghiệp 10 5,0
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài năm 2017
Do mẫu nghiên cứu không có sự đa dạng về học vấn và nghề nghiệp chính Vì thế, chúng tôi đã gom các biến này như sau:
- Biến học vấn gồm: Mù chữ, tiểu học, THCS, THPT, trung cấp, cao đẳng, đại
học, sau đại học; quá trình xử lý đã gộp thành 4 nhóm (mù chữ, tiểu học, THCS, THPT trở lên)
Trang 30- Biến nghề nghiệp chính gồm: lao động nông nghiệp, kinh doanh/buôn bán,
công nhân viên chức nhà nước, công nhân, khác; quá trình xử lý đã gộp thành 2 nhóm (lao động nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp)
Xử lý số liệu định lượng: Đề tài sử dụng phần mềm SPSS 20.0 và Excel để xử
lý và thống kê thông tin định lượng đã thu thập được
- Phương pháp nghiên cứu định tính:
Phương pháp PVS: Tiến hành PVS đối với các đối tượng: cán bộ văn hóa xã,
cán bộ phụ nữ xã, trưởng thôn (Tổ trưởng Tổ hòa giải), cán bộ phụ nữ thôn, đại diện
của các cặp vợ chồng nhằm tìm hiểu sâu về “Giải quyết mâu thuẫn vợ chồng ở dân
tộc Cơ Ho hiện nay” Sử dụng các thiết bị máy ghi âm kỹ thuật số, sổ tốc ký để ghi
chép lại các thông tin PVS Thông tin PVS nhằm để bổ sung và lý giải cụ thể những số
liệu từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi thu thập Qua đó, chúng ta thấy được cụ thể sự tác động của các yếu tố tới cách giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng ở người
dân tộc Cơ Ho
Cơ cấu mẫu PVS dành cho cán bộ: Dựa vào tiêu chí giới tính và vị trí nghề nghiệp tác giả đề tài chọn: Đối với cán bộ xã gồm có: 01 nam, 01 nữ Đối với cán bộ thôn gồm có: 01 nam, 01 nữ Cơ cấu mẫu PVS dành cho người dân: Dựa vào tiêu chí giới tính tác giả đề tài chọn: 03 nam và 03 nữ
Xử lý số liệu định tính: các thông tin PVS được tác giả nghe, đọc lại và lựa chọn
các đoạn thông tin phỏng vấn có giá trị phù hợp để trích dẫn trong luận văn thông qua quá trình điều tra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Trong nghiên cứu này, tác giả vận dụng lý thuyết xung đột để giải thích tình trạng vợ chồng người dân tộc Cơ Ho cũng không tránh khỏi việc xảy ra mâu thuẫn với nhau Các giá trị, chuẩn mực văn hóa của cộng đồng có tác động đến việc giải quyết
mâu thuẫn vợ chồng Hai yếu tố tình yêu và tình dục cũng được người vợ, người chồng
lựa chọn để điều khiển đối phương Cách tiếp cận theo thuyết trao đổi và lựa chọn hợp
lý cũng được vận dụng vào lý giải việc vợ chồng lựa chọn cách thức giải quyết mâu thuẫn Bên cạnh đó, thuyết hiện đại hóa thì được vận dụng nhằm làm rõ sự tác động của yếu tố hiện đại hóa đến quan hệ vợ chồng Thuyết này đã nhấn mạnh các yếu tố như sự nâng cao học vấn, cơ hội về nghề nghiệp, thu nhập, sự mở rộng quan hệ xã hội
Trang 31của vợ chồng đã tác động đến mối quan hệ truyền thống; vai trò và quyền lực của họ trong gia đình
Đề tài sẽ phân tích cụ thể và bổ sung thêm cơ sở lý luận về các yếu tố điều kiện kinh tế hộ gia đình, phong tục tập quán, độ tuổi, trình độ học vấn, tôn giáo, kiểu loại gia đình… tác động đến cách giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng Đồng thời,
đề tài cũng sẽ cung cấp những minh chứng khoa học về cách giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng của người dân tộc Cơ Ho Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu này sẽ là một dữ liệu tham chiếu cho khảo sát khác có nội dung tương tự trong bối
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài nghiên cứu được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Hình thức mâu thuẫn và cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình dân tộc Cơ Ho
Chương 3: Yếu tố ảnh hưởng cách giải quyếtmâu thuẫn vợ chồng trong gia đình dân tộc Cơ Ho
Trang 32Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Hệ thống khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
- Khái niệm gia đình
Cho đến hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất do có sự khác biệt về không gian
và thời gian
Gia đình: là một nhóm thân thuộc hợp thành từ những người có liên hệ với
nhau bằng những ràng buộc dòng máu, bạn tình hay những ràng buộc pháp luật Nó là một đơn vị xã hội rất dẻo dai đã tồn tại và thích nghi theo thời gian [2, tr.182]
Gia đình: Gia đình là cấu trúc xã hội dựa trên quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết
thống, quan hệ nuôi dưỡng, hoặc những quan hệ thân thiết khác giữa các cá nhân để cùng chung sống [12, tr.273]
Phân loại gia đình:
Căn cứ vào kiểu cấu trúc gia đình, có thể phân biệt các loại gia đình như sau:
Gia đình hạt nhân: Gia đình hạt nhân được cấu trúc bởi hai thế hệ cùng chung
sống với nhau: một thế hệ gồm vợ chồng với quan hệ hôn nhân được thừa nhận và một thế hệ con do bố mẹ sinh ra
Gia đình mở rộng: Gia đình mở rộng được cấu trúc bởi ba hay nhiều hơn ba thế hệ
cùng chung sống và quan hệ với nhau trên cơ sở hôn nhân, huyết thống và dòng họ [12, tr.274 – 275]
- Khái niệm Luật tục
Luật tục của các cộng đồng dân tộc thiểu số như là một loại luật nằm bên dưới cấp quốc gia Đó là những chuẩn mực xã hội của cộng đồng (hệ thống các quy định về những điều bắt buộc được làm hay không được làm), được cụ thể hóa từ hệ thống giá trị xã hội của chính cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận và có hiệu lực trong việc điều tiết xã hội tại cộng đồng
Vì luật tục của các cộng đồng dân tộc thiểu số được tiếp cận như một loại luật nên một trong các thuộc tính của luật tục là có thể thay đổi… Luật tục luôn vận động và biến đổi tương tự như sự thích ứng của cộng đồng trước những thay đổi của bối cảnh kinh tế,
xã hội và văn hóa [7, tr.39 - 40]
Trang 33- Khái niệm quan hệ vợ chồng
Quan hệ vợ chồng được tạo lập bởi hai cá nhân khác giới, hai chủ thể riêng biệt với những vai trò và trách nhiệm riêng của từng cá nhân Quan hệ vợ chồng được thể hiện bằng sự tác động qua lại giữa hai thành viên và sẽ tan vỡ khi nào sự tác động qua lại đó chấm dứt
Việc xem xét mối quan hệ giữa vợ và chồng sẽ làm sáng tỏ được những nguyên nhân mâu thuẫn nội tại trong gia đình
- Khái niệm mâu thuẫn
Ở một số nghiên cứu trước là sử dụng từ xung đột để chỉ những xích mích xảy
ra giữa vợ chồng Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng từ mâu thuẫn nhằm bao hàm cả những sự bất đồng, xích mích từ nhỏ đến lớn xảy ra giữa các cặp vợ chồng
Mâu thuẫn và sự căng thẳng trong quan hệ vợ và chồng trong đời sống hôn nhân và gia đình xảy ra do sự không phù hợp giữa kỳ vọng và sự thực hiện các vai trò [13, tr.23] Tuy nhiên, mức độ mâu thuẫn trong hôn nhân phụ thuộc vào nhận thức của
vợ chồng về những vấn đề đặt ra trong đời sống hôn nhân và gia đình, đặc điểm cấu trúc và chu kỳ sống của gia đình cũng như sự điều chỉnh và các yếu tố liên quan đến
sự điều chỉnh hôn nhân [13, tr.36]
- Khái niệm mâu thuẫn vợ chồng
Mâu thuẫn vợ chồng trong nghiên cứu này được hiểu là bao gồm những hành vi bạo lực cũng như là các hành vi cãi nhau, tranh luận xảy ra giữa người vợ và người chồng trong gia đình
Theo tác giả Vũ Tuấn Huy, tính phổ biến của mâu thuẫn vợ chồng không chỉ xảy ra ở mọi gia đình, mà còn ở mọi vấn đề trong đời sống của một gia đình Trong việc thực hiện chức năng kinh tế, quản lý chi tiêu, từ việc nuôi dạy con cái đến sự giao tiếp giữa vợ và chồng, những quan hệ bên ngoài gia đình đều có thể dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn [13, tr.53]
Các vấn đề mâu thuẫn xảy ra giữa vợ chồng như là:
+ Mâu thuẫn về kinh tế: Những yếu tố kinh tế có xu hướng liên quan đến mọi khía cạnh của cuộc sống vợ chồng Thực hiện chức năng kinh tế của gia đình như là liên quan đến thu nhập, quản lý chi tiêu là những vấn đề nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhất của các thành viên trong gia đình [13, tr.53]
Trang 34+ Mẫu thuẫn trong việc nuôi dạy con cái là liên quan đến vấn đề con cái khi có
sự khác nhau giữa người chồng và người vợ trong quan niệm, kỳ vọng và hành vi Từ vấn đề mong muốn về số con, giới tính của con, khi nào sinh con đến những vấn đề như nuôi dạy thế nào đều là những vấn đề có thể dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ bà chồng [13, tr.78]
+ Mâu thuẫn về vấn đề tình dục là sự khác nhau về quan niệm và hành vi giữa
vợ và chồng liên quan đến vấn đề tình dục [13, tr.109-110]
+Mâu thuẫn về quan hệ gia đình hai bên vợ chồng xảy ra khi những trách nhiệm và bổn phận, do những điều kiện nào đó, không được thực hiện phù hợp với kỳ vọng về vai trò đối với họ hàng hai bên trong con mắt của người vợ hoặc người chồng [13, tr.125]
+ Mâu thuẫn về ứng xử giữa vợ chồng là sự khác biệt về kỳ vọng và hành vi về các yếu tố khác nhau trong giao tiếp [13, tr.93]
- Khái niệm cách thức giải quyết mâu thuẫn
Cách giải quyết mâu thuẫn là cách thức người vợ và người chồng sử dụng để giải quyết mâu thuẫn là: tự hai người giải quyết, hoặc có sự tham gia của người thân trong gia đình, dòng họ, bạn bè, hàng xóm hay sự can thiệp của luật pháp, luật tục, quy ước, hương ước của thôn/buôn…
- Cách thức giải quyêt mâu thuẫn vợ chồng dân tộc Cơ Ho
Cách thức người vợ và người chồng sử dụng để giải quyết mâu thuẫn là: vợ chồng tự giải quyết hoặc là có sự tham gia của người thân trong gia đình, dòng họ, bạn
bè, hàng xóm hay là sự can thiệp của pháp luật, luật tục, quy ước, hương ước của thôn/buôn…
1.1.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng các loại hình mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Cơ Ho đang diễn
ra như thế nào?
- Khi mâu thuân vợ chồng xảy ra thì cách giải quyết mâu thuẫn của các cặp vợ
chồng dân tộc Cơ Ho hiện nay như thế nào?
- Những yếu tố như trình độ học vấn, mức sống, kiểu loại gia đình, luật tục, tôn
giáo, luật pháp… có tác động như thế nào đến cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng ở dân tộc Cơ Ho hiện nay?
Trang 351.1.3 Giả thuyết nghiên cứu
- Trong bối cảnh kinh tế, xã hội ở địa phương thay đổi đã tác động đến đời sống
gia đình và nảy sinh nhiều loại hình mâu thuẫn vợ chồng ở dân tộc Cơ Ho Trong đó, mâu thuẫn do kinh tế, thói xấu của vợ/chồng… là xu hướng chính so
với các mâu thuẫn do khác biệt về lối sống, ngoại tình…
- Hiện nay, khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra thì các cặp vợ chồng người dân tộc
Cơ Ho thường tự giải quyết, hoặc nhờ bố mẹ, ông bà, họ hàng nội ngoại hai bên hòa giải theo luật tục, hoặc là nhờ Cha xứ giải quyết…, hơn là nhờ can thiệp
của bạn bè và chính quyền hòa giải, luật pháp giải quyết
- Nhóm yếu tố cá nhân và văn hóa (luật tục) có tham gia chi phối cách thức giải
quyết mâu thuẫn vợ chồng Trong đó, những người có học vấn thấp, nghề nông lâm, mức sống nghèo có xu hướng nhờ đến bố mẹ, gia đình hai bên can thiệp hay giải quyết theo luật tục, trong khi nhóm có học vấn cao, nghề nghiệp thoát
ly, mức sống khá giả có xu hướng tự giải quyết hay chọn cách giải quyết mâu
thuẫn vợ chồng theo luật pháp
Giải quyết mâu thuẫn
- Luật tục của dân tộc Cơ Ho
- Quy ước, hương ước thôn/buôn, dòng họ
- Tự vợ chồng hai bên hòa giải
Bối cảnh kinh tế, xã hội, luật pháp (Luật bình đẳng giới, luật hôn nhân
và gia đình)
Trang 36tự, cân bằng thì thuyết mâu thuẫn lại nhấn mạnh sự mâu thuẫn, xung đột Những luận điểm gốc của thuyết mâu thuẫn cho là do có sự khan hiếm các nguồn lực, phân công lao động và sự bất bình đẳng trong phân bổ nguồn lực, quyền lực nên quan hệ giữa các
cá nhân, các nhóm xã hội luôn nằm trong tình trạng mâu thuẫn, cạnh tranh với nhau vì nguồn lực và lợi ích
Vậy, để giải quyết mâu thuẫn xã hội, nhiều tác giả thuyết mâu thuẫn chủ trương phê phán và đấu tranh chứ không phải là thỏa hiệp Trong quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội, hệ các giá trị và các chuẩn mực văn hóa được coi là vũ khí, phương tiện đấu tranh vô cùng lợi hại [11, tr.267]
Mâu thuẫn không phải là một điều gì đó tồi tệ hay tiêu cực Nó luôn tồn tại trong các mối quan hệ như là một sự hiển nhiên, sự tất yếu, kể cả trong quan hệ hôn nhân và gia đình Bởi vì, gia đình bao gồm những cá nhân có nhân cách, lý tưởng, giá trị, sở thích và mục đích khác nhau Mỗi người không phải bao giờ cũng hài hòa với mọi người khác trong gia đình Các gia đình thường có sự bất đồng từ nhỏ đến lớn Họ chỉ khác nhau về tần suất và mức độ, tính chất, biểu hiện và cách thức giải quyết xung đột [1, tr.138-139] Khi vấn đề mâu thuẫn được giải quyết tốt thì mối quan hệ sẽ được củng cố, gắn kết tốt hơn
Theo B Strong, quyền lực bắt nguồn từ bốn nguồn gốc sau:
1 Tính hợp danh, chính danh Khi một gia đình cãi nhau, người chồng muốn áp đặt ý mình mình, “vì tôi là chủ nhà”, hay bố (mẹ) thắng vì “tao là bố (mẹ) mày” Những lập luận như vậy dựa trên tính hợp pháp, chính danh, tức là niềm tin rằng những người đó có quyền ra tiếng nói quyết định
2 Tiền bạc là nguồn quyền lực mạnh mẽ, và là cơ sở kinh tế cho quyền lực;
3 Cưỡng bức về thể xác cũng là nguồn gốc quan trọng của quyền lực Việc đánh đập để bắt các thành viên trong gia đình phục tùng là biểu hiện quyền lực của người có sức mạnh hơn về thể chất và được dư luận xã hội chấp nhận quyền sử dụng nó (cụ thể là nam giới và sự phổ biến của việc chồng đánh vợ)
4 Quyền lực của tình yêu và tình dục Tình yêu và tình dục có thể được sử dụng
để cưỡng ép ai đó về tình cảm, hoặc tình yêu có thể là một món quà [1,tr.139] Trong đời sống của các cặp vợ chồng người dân tộc Cơ Ho cũng không tránh được tình trạng xảy ra mâu thuẫn với nhau Họ luôn cố gắng để giải quyết vấn đề gây nên sự xích mích đó Hệ các giá trị và chuẩn mực văn hóa của cộng động nơi đây có
Trang 37tác động đến việc giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng của người dân tộc Cơ Ho Khi giải quyết mâu thuẫn, những người có quyền lực, uy tín trong cộng đồng sẽ tham gia cùng giải quyết với các cặp vợ chồng Người ông (bà), bố mẹ, người ông cậu, người già làng,… có quyền tham gia và đưa ra các ý kiến buộc các các cặp vợ chồng đang có mâu thuẫn phải tuân theo Bởi vì, quyền lực của những người đó được hợp danh, chính danh rồi nên tiếng nói có tính chất quyết định
Hay, khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn với nhau thì một trong hai người sẽ lựa chọn yếu tố “tình yêu” hoặc “tính dục” để điều khiển đối phương Một số người vợ thậm chí từ chối cho chồng quan hệ tình dục để điều khiển anh ta, muốn anh ta xin xỏ nhiều lần và hứa làm những việc khác cho mình trước khi cho anh ta làm tình [1] Từ
đó, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã được giải quyết và cải thiện quan hệ giữa vợ chồng
- Cách tiếp cận theo thuyết trao đổi xã hội và lựa chọn hợp lý
Thuyết trao đổi xã hội và lựa chọn hợp lý (thuyết lựa chọn duy lý) bắt nguồn từ
tư duy kinh tế học Trong đó, các nguồn lực và quyền lực đóng vai trò then chốt là cơ
sở cho sự trao đổi Đại diện tiêu biểu cho trường phái này là G Homans, theo ông cá nhân hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi các giá trị vật chất và tinh thần như sự ủng hộ, tán thưởng hay danh dự [18] Thuyết này dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu [11, tr.354]
Vận dụng thuyết này vào để giải thích việc các cặp vợ chồng lựa chọn cách thức để giải quyết vấn đề mâu thuẫn của bản thân mình Khi thực hiện các hành động như lựa chọn việc tự giải quyết mâu thuẫn hay cùng những người sẽ tham gia giải quyết mâu thuẫn thì các cặp vợ chồng luôn có sự cân nhắc Họ đã lựa chọn sẽ cùng với những người trong gia đình, họ hàng để giải quyết mâu thuẫn là chủ yếu chứ không phải là hàng xóm, bạn bè hay là đồng nghiệp Bởi vì nếu họ chia sẻ với hàng xóm, bạn
bè hoặc đồng nghiệp thì sợ những người đó sẽ gây bất lợi cho họ hơn sau khi mà biết việc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn Khi bố mẹ, anh chị em trong gia đình mà tham gia vào giải quyết mâu thuẫn cùng với các cặp vợ chồng thì sẽ đưa ra cho họ những lời khuyên, những cách ứng xử phù hợp để giúp các cặp vợ chồng có cuộc sống hạnh phúc Đồng thời, các cặp vợ chồng toan tính việc chấp nhận cùng người khác giải quyết mâu thuẫn chứ không phải là sự tan rã của cuộc hôn nhân
Trang 38Đối với dân tộc Cơ Ho, khi xảy ra mâu thuẫn lớn xảy ra giữa vợ chồng, người chồng bị người vợ ăn hiếp thì sẽ bỏ về nhà mẹ đẻ Nếu người vợ muốn người chồng quay trở về và chung sống với mình thì sẽ phải mất đi một số tiền hay hiện vật mang qua xin lỗi Sở dĩ họ phải thực hiện những điều như vậy là do Luật tục của cộng đồng người dân tộc Cơ Ho quy định như thế Vì vậy, họ luôn cố gắng hạn chế xảy ra tình trạng đó
- Lý thuyết hiện đại hóa
Quá trình CNH cũng góp phần thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ đối với xã hội, không chỉ bó hẹp phụ nữ trong phạm vi gia đình [34] HĐH như là sự giải thoát con người khỏi cộng đồng xã hội gắn bó với nhau mật thiết, ít có sự tự do cá nhân Trong
xã hội hiện đại, con người có tính chủ động cao hơn, các mối quan hệ cũng trở nên cởi
mở hơn, theo đó, chỉ số phát triển kinh tế có mối liên hệ mật thiết với các giá trị cá nhân [35] Sự phát triển kinh tế sẽ làm thay đổi các giá trị xã hội và ở một trình độ
phát triển cao hơn, sẽ làm xuất hiện và duy trì sự phát triển của thể chế dân chủ
HĐH có tác động và có những hệ quả nhất định đối với sự phát triển của phụ
nữ Các nhà nghiên cứu thường lập luận rằng HĐH sẽ làm tăng vị trí xã hội của người phụ nữ, nhất là phụ nữ ở các xã hội truyền thống bởi vì sự phát triển của HĐH làm giảm các giá trị của chế độ gia trưởng Trong xã hội HĐH, phụ nữ có cơ hội giành được một số quyền lợi và sự tự do hơn trong xã hội truyền thống, phụ nữ sẽ có nhiều
cơ hội hơn trong học hành và việc làm Mặc dù không thể mô tả đơn thuần HĐH là sự gia tăng vị trí của phụ nữ trong xã hội [31] nhưng nhìn chung, HĐH sẽ mang lại sự
thay đổi xã hội theo chiều hướng tích cực cho phụ nữ ở một số phương diện Thứ nhất,
HĐH tạo cơ hội nghề nghiệp ở khu vực thành phố nhiều hơn, tạo nên làn sóng di cư ra thành phố làm việc của cả nam giới và phụ nữ, phụ nữ có khả năng thử sức ở các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị chứ không chỉ gói hẹp trong các hoạt động gia
đình; thứ hai, giá trị văn hóa hiện đại làm lu mờ các giá trị truyền thống của gia đình,
người phụ nữ có thể phải tự bươn chải để vượt qua những biến cố, những khó khăn trong cuộc sống Bên cạnh đó, HĐH cũng tạo ra những vấn đề xã hội mới mà người phụ nữ chưa từng phải đương đầu trong xã hội truyền thống
Lý thuyết hiện đại hóa áp dụng trong việc giải thích các yếu tố của HĐH tác động đến quan hệ vợ chồng trong gia đình dân tộc Cơ Ho Thuyết này nhấn mạnh các yếu tố như sự nâng cao trình độ học vấn, cơ hội về nghề nghiệp, thu nhập cũng như
Trang 39mở rộng các quan hệ xã hội của vợ và chồng đã tác động đến mối quan hệ truyền thống, vai trò và quyền lực của vợ và chồng trong gia đình dân tộc Cơ Ho hiện nay
1.2 Địa bàn nghiên cứu và vài nét về gia đình người dân tộc Cơ Ho
1.2.1 Địa bàn nghiên cứu
Đặc điểm tự nhiên và dân cư:
Di Linh là một huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Di Linh, ở độ cao 1000m so với mặt nước biển Diện tích 1614.63 km2 Phía Đông giáp với huyện Đức Trọng Phía Tây giáp huyện Bảo Lâm Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận Phía Bắc giáp huyện Lâm Hà Huyện Di Linh bao gồm thị trấn Di Linh và 18 xã: Bảo Thuận, Đinh Lạc,Đinh Trang Hoà, Đinh Trang Thượng, Gia Bắc, Gia Hiệp, Gung Ré, Hoà Bắc, Hoà Nam, Hoà Ninh, Hoà Trung, Liên Đầm, Sơn Điền, Tam Bố, Tân Châu, Tân Nghĩa, Tân Lâm, Tân Thượng [27]
Xã Gia Hiệp nằm về phía Đông – Đông Bắc huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, trên trục lộ 20, phía Bắc giáp huyện Lâm Hà, phía Nam giáp xã Bảo Thuận, phía Đông giáp xã Tam Bố và phía Tây giáp xã Đinh Lạc
Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là:4.777,82 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp: 2698,8 ha, đất lâm nghiệp có rừng trên 1184,96 ha, đất phi nông nghiệp: 235,71ha, đất chưa sử dụng: 642,88 ha, đất hồ nước: 15,47 ha Toàn xã có 11 thôn, trong đó có 05 thôn đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên, dân số toàn xã có 2.613 hộ, với 10.936 khẩu Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 26,29% dân số
Về tôn giáo gồm 4 tôn giáo là: Thiên chúa giáo, Phật giáo, Tin Lành, Cao Đài, trong đó Thiên chúa giáo, Phật giáo chiếm đa số gần 70% dân số Đối với dân tộc Cơ
Ho thì có tới hơn 90% dân số theo Thiên chúa giáo và còn lại là theo đạo Tin Lành
Xã Gia Hiệp nằm trên trục quốc lộ 20 từ thành phố Hồ Chí Minh - Đà Lạt, vị trí
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của huyện
Di Linh Hiện nay, xã Gia Hiệp là một trong 9 xã đạt chuẩn “Xã văn hóa nông thôn mới”
Đặc điểm về kinh tế:
Về trồng trọt:
Diện tích trồng cây cà phê là 1687 ha cho thu hoạch 1543 ha, năng suất ước đạt 2,7 tấn/ha (đạt khoảng 4.166 tấn) Cây lúa nước vẫn tiếp tục giữ vững diện tích là 220
Trang 40lai cũng được trồng khá nhiều với diện tích là 700 ha, năng suất bình quân đạt 5,5 tấn/ha/vụ, sản lượng ước đạt 3850 tấn/năm
Ngoài ra, những loại cây trồng như cây dâu tằm, cây tiêu, cây ăn quả,… cũng được trồng luân canh nhằm nâng cao giá trị đất và tăng thu nhập cho kinh tế gia đình
1000 con; đàn heo 25.000 con và gia cầm các loại là 82.000 con
Ở lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ cũng được địa phương chú trọng phát triển Hiện nay, trên địa bàn toàn xã có 420 hộ kinh doanh các mặt hàng khác nhau Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của xã có 16 doanh nghiệp đang hoạt động, đã giải quyết được việc làm cho lao động tại địa phương Các mặt hàng kinh doanh đã đáp ứng được nhu cầu trao đổi, mua bán trong nhân dân, đồng thời tăng thu nhập, giải quyết việc làm và góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phương
Văn hóa – xã hội:
Hiện nay, xã có 2 trường mầm non đã được công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1, 2 trường tiểu học (một trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 và một trường là tập thể lao động tiên tiến và đang phấn để đạt chuẩn) và 1 trường trung học
cơ sở cũng được đánh giá là tập thể lao động tiên tiến, cơ quan văn hóa Tại xã cũng tổ chức rà soát số lượng người mù chữ và đã mở được 2 lớp với 44 học viên nhằm thực hiện tốt hoạt động phổ cập giáo dục Người dân tộc Cơ Ho tại địa phương thường xuyên đi đến và tham gia các hoạt động sinh hoạt trong nhà thờ Tại đây, người dân cũng sẽ được Cha xứ giảng dạy cho kiến thức đời sống hôn nhân Khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì Cha xứ cũng có tham gia hòa giải Cha xứ luôn khuyên bảo vợ chồng phải nhường nhịn lẫn nhau, không nên ly hôn, ngoại tình hay lấy người chồng, người
vợ khác (trừ trường hợp chồng/vợ qua đời)
Công tác y tế đã có nhiều chuyển biến tích cực, cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư, đội ngũ y, bác sỹ được đào tạo cơ bản đảm bảo cho việc khám và điều trị