MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, tình hình tai nạn giao thông đường bộ diễn biến phức tạp theo chiều hướng gia tăng, trong đó có nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng Luật giao thông đường bộ gây hậu quả chết nhiều người, thiệt hại đến sức khoẻ, tài sản của công dân, của các cơ quan tổ chức... dẫn đến phải khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ tai nạn giao thông có được nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật phụ thuộc rất quan trọng đến công tác khám nghiện hiện trường, đây là yếu tố quyết định vì nó xác định người tham gia giao thông có lỗi hay không có lỗi, để quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự hay không và áp dụng mức hình phạt. Trong việc khám nghiệm hiện trường trách nhiệm chủ yếu thuộc về Cơ quan điều tra để phát hiện, thu thập dấu vết các phương tiện giao thông, dấu vết con người, để lại nơi gây tai nạn nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ tai nạn giao thông một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ. Trong quá trình khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông, Viện kiểm sát có vai trò quan trọng. Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ: “Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát khám nghiệm hiện trường....[12]”. Thông qua hoạt động này, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm cho việc khám nghiệm hiện trường của Cơ quan điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật, phản ánh đúng thực tế các tình tiết của vụ tai nạn xảy ra. Là cơ sở quan trọng để Cơ quan điều tra ra các quyết định tiếp theo phù hợp với diễn biến tính chất, mức độ của vụ việc hình sự và là căn cứ vững chắc để Viện kiểm sát phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra. Thực tế ở thành phố Hà Nội cho thấy: Có rất nhiều vụ án công tác khám nghiệm hiện trường do không làm tốt việc thu thập dấu vết, vật chứng chưa đầy đủ dẫn đến quá trình giải quyết vụ án kéo dài, có những vụ việc mà điều tra lại cũng không thể khắc phục được, thực tế nhiều vụ án phải sửa, huỷ không xử lý được. Trong điều kiện cải cách tư pháp hiện nay, các Nghị quyết của Đảng nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra trong đó có hoạt động khám nghiệm hiện trường. Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về: “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã chỉ rõ: Viện kiểm sát phải thực hành quyền công tố ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình điều tra nhằm không bỏ lọt người, lọt tội phạm, không làm oan người vô tội [5];Nghị quyết số 49 ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về: “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã nêu: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra [3]; Văn kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định: Phải xây dựng cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. Hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường nói chung và kiểm sát khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông đường bộ nói riêng là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát. Do vậy, cần nghiên cứu, đổi mới nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác này. Để làm tốt công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường nói chung và kiểm sát khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông nói riêng, Kiểm sát viên phải nhận thức đúng vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường cũng như nắm vững các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, quy trình khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, có những hiểu biết cơ bản, nâng cao về các biện pháp nghiệp vụ sẽ được sử dụng trong quá trình khám nghiệm đáp ứng các yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động khám nghiệm hiện trường. 2
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ NHÂM
KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG VỤ ÁN VỀ
VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN NGỌC HƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG 8
1.1 Lý luận chung về công tác khám nghiệm hiện trường 8 1.2 Lý luận chung về công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường 19
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG VỤ ÁN VỀ VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32
2.1 Đặc điểm giao thông đường bộ và tình hình tội phạm vi phạm quy định tham gia giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội 32 2.2.Tổ chức bộ máy hai cấp của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội 35
2.3 Thực trạng công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường(khám nghiệm tử thi,
khám phương tiện) vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
trên thành phố Hà Nội trong thời gian qua 36 2.4 Công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội với các cơ quan liên quan trong công tác giải quyết việc khám nghiệm hiện trường vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 38 2.5 Đánh giá công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường vụ án (khám nghiệm
tử thi, khám phương tiện) về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội 40
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG VỤ ÁN VỀ VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HÀ NỘI 50
3.1 Các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát khám nghiệm hiện trường vụ án
về vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố hà nội thời gian tới 50 3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án hình sự nói chung, các vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nói riêng 61
KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT : Cơ quan điều tra
ĐTV : Điều tra viên
KSĐT : Kiểm sát điều tra
THQCT : Thực hành quyền công tố
VAHS : Vụ án hình sự
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình tai nạn giao thông đường bộ diễn biến phức tạp theo chiều hướng gia tăng, trong đó có nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng Luật giao thông đường bộ gây hậu quả chết nhiều người, thiệt hại đến sức khoẻ, tài sản của công dân, của các cơ quan tổ chức dẫn đến phải khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
Việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ tai nạn giao thông có được nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật phụ thuộc rất quan trọng đến công tác khám nghiện hiện trường, đây là yếu tố quyết định vì nó xác định người tham gia giao thông có lỗi hay không có lỗi, để quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự hay không và áp dụng mức hình phạt
Trong việc khám nghiệm hiện trường trách nhiệm chủ yếu thuộc về Cơ quan điều tra để phát hiện, thu thập dấu vết các phương tiện giao thông, dấu vết con người, để lại nơi gây tai nạn nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ tai nạn giao thông một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ
Trong quá trình khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông, Viện kiểm sát có vai trò quan trọng Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 đã quy định rõ: “Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát khám nghiệm hiện trường [12]” Thông qua hoạt động này, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm cho việc khám nghiệm hiện trường của Cơ quan điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật, phản ánh đúng thực tế các tình tiết của vụ tai nạn xảy ra Là cơ sở quan trọng để Cơ quan điều tra ra các quyết định tiếp theo phù hợp với diễn biến tính chất, mức độ của vụ việc hình sự và là căn cứ vững chắc để Viện kiểm sát phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra
Trang 5Thực tế ở thành phố Hà Nội cho thấy: Có rất nhiều vụ án công tác khám nghiệm hiện trường do không làm tốt việc thu thập dấu vết, vật chứng chưa đầy đủ dẫn đến quá trình giải quyết vụ án kéo dài, có những vụ việc mà điều tra lại cũng không thể khắc phục được, thực tế nhiều vụ án phải sửa, huỷ không xử lý được
Trong điều kiện cải cách tư pháp hiện nay, các Nghị quyết của Đảng nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra trong đó có hoạt động khám nghiệm hiện trường Nghị quyết số 08 ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị về: “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới” đã chỉ rõ: Viện kiểm sát phải thực hành quyền công
tố ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình điều tra nhằm không bỏ lọt người, lọt tội phạm, không làm oan người vô tội [5];Nghị quyết số 49 ngày
02/06/2005 của Bộ chính trị về: “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”
đã nêu: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra [3]; Văn kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định: Phải xây dựng cơ chế công tố gắn
với hoạt động điều tra Hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường nói
chung và kiểm sát khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông đường
bộ nói riêng là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát Do vậy, cần nghiên cứu, đổi mới nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác này
Để làm tốt công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường nói chung và kiểm sát khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông nói riêng, Kiểm sát viên phải nhận thức đúng vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường cũng như nắm vững các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, quy trình khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, có những hiểu biết cơ bản, nâng cao về các biện pháp nghiệp vụ sẽ được sử dụng trong quá trình khám nghiệm đáp ứng các yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động khám nghiệm hiện trường
Trang 6Vì các lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Kiểm sát khám nghiệm hiện
trường vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ của mình nhằm làm rõ hơn về
lý luận cũng như thực tiễn đối với công tác này là yêu cầu cấp thiết, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài này hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu sau:
- Bùi Quang Anh: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân
dân, năm 2007 [1]
- Hoàng Đình Ban “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý tai nạn giao thông đường bộ của Công an thành phố Hà Nội”[4]
- Đoàn Phúc Thịnh “Hoạt động phòng ngừa, điều tra tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của Quân đội nhân dân, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả”[14]
- Lê Hải Âu: “Tổ chức hoạt động khám nghiệm hiện trường có người
chết chưa rõ nguyên nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn
thạc sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, năm 2003 [2]
- Nguyễn Đức Niên: “Tổ chức khám nghiệm hiện trường có người chết
trên địa bàn tỉnh Hà Giang của Cảnh sát điều tra và một số giải pháp nâng cao hiệu quả”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, năm 2004 [10]
- Nguyễn Vĩnh Hà: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khám
nghiệm hiện trường các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Phú Yên”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện cảnh sát nhân
dân, năm 2005 [6]
Trang 7- Ngô Xuân Khang, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: “Kiểm sát
điều tra tại hiện trường trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sĩ luật
học, Học viện Khoa học xã hội, năm2013 [7]
- Vũ Văn Kiền “Tổ chức hoạt động điều tra các vụ án vi phạm quy
định về an toàn giao thông vận tải đường bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng” [9]
- Phạm Xuân Khoa “Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm
tử thi trong giải quyết các vụ án xâm phạm trật tự xã hội”, Luận văn thạc sĩ
luật học, Học viện Khoa học xã hội Việt nam, năm 2014 [8]
-Hồ Văn Lai “Điều tra, khám phá các vụ vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ” [18].
-Trần Văn Sơn “Phòng ngừa và điều tra tội phạm vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên tuyến quốc lộ 1A của Cảnh sát nhân dân công an tỉnh Hà Tĩnh” [19]
-Cục cảnh sát đường bộ, đường sắt…chuyên đề: “Tai nạn giao thông,
nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” [20]
Đề tài cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, trên địa bàn thành phố Hà Nội trong tình hình hiện nay” Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, năm 2014 [15]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên ở các mức độ khác nhau
đã đề cập đến đề tài này Tuy nhiên, mới chỉ đề cập đến những vấn đề chung nhất, phân tích, tìm hiểu các quy định của pháp luật hoặc nghiên cứu dưới dạng đơn lẻ, giới hạn trong từng loại án giết người, giao thông ở một số địa bàn khác…đến nay chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu một cách có
hệ thống công tác“Kiểm sát khám nghiệm hiện trường vụ án về vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội”
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu một cách có hệ thống những quy định của pháp luật về công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ án về vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ án về vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.2.Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác khám nghiệm hiện trường và công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ án về vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Đánh giá đúng thực trạng của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường từ đó chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế, tồn tại, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại để đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ án về vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ án về vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 94.2 Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ án về vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội Với thời điểm 05 năm (từ 2013 đến 2017)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, của ngành Kiểm sát nhân dân về công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: các phương pháp phân tích, hệ thống, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, thống
kê, đối chiếu, chứng minh, khảo sát thực tiễn, diễn giải, quy nạp, trao đổi chuyên gia…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ở một mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ yêu cầu nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong giải quyết các vụ án về vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ nói chung trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêngcho đội ngũ Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp khi được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án về
vi phạm các quy định tham gia giao thông đường bộ trong giai đoạn hiện nay
và sắp tới Bên cạnh đó, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên đề về công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường tại Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và tại Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minhcũng như các khóa tập huấn chuyên sâu của ngành Kiểm sát nhân dân
Trang 10Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể được sử dụng để xây dựng các kỹ năng nghề nghiệp, các thao tác nghiệp vụ để phục vụ công tác thực tiễn tại các Viện kiểm sát nhân dân
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1 Lý luận chung về công tác khám nghiệm hiện trường và công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Chương 2 Thực trạng công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Chương 3.Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 11Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG
VÀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG
1.1 Lý luận chung về công tác khám nghiệm hiện trường
1.1.1 Khái niệm hiện trường, khái niệm khám nghiệm hiện trường
và phân loại hiện trường
1.1.1.1 Khái niệm hiện trường, khái niệm khám nghiệm hiện trường
Hiện nay khái niệm hiện trường được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và quan điểm khác nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, năm 2001: “Hiện trường
là nơi xảy ra sự việc”[17] Khái niệm này đã chỉ rõ được không gian của hiện
trường mà việc định vị được hiện trường có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức khám nghiệm hiện trường để thu thập dấu vết hình sự Tuy nhiên, phạm
vi của khái niệm này quá rộng và không chỉ rõ được tính chất của sự việc xảy
ra đó là sự việc gì Nội dung của khái niệm đã chỉ ra bản chất của hiện trường:
Hiện trường phải là “nơi”, tức là phải có sự tồn tại của một địa điểm nhất định trong không gian Sự việc xảy ra phải được tồn tại ở một địa điểm nào đó trong không gian và phải có một thời gian nhất định cho sự việc xảy ra.Bởi lẽ, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan không thể vận động, tồn tại ngoài không gian và thời gian
Phải có sự việc xảy ra.Trong khái niệm này sự việc xảy ra có thể là sự việc mang tính bất kỳ.Từ khái niệm này có thể khẳng định rằng mỗi sự việc, hiện tượng trong hiện thực khách quan thì đều có hiện trường Vì vậy, trong thực tiễn cuộc sống thuật ngữ này được sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực Khái niệm này chưa chỉ rõ được tính chất của sự việc, hiện tượng xảy ra nên nó mang tính khái quát cao và chưa làm rõ được bản chất của hiện trường trong khoa học hình sự
Trang 12Khái niệm hiện trường trong từ điển nghiệp vụ phổ thông Công an nhân dân: “Hiện trường là nơi xảy ra sự việc (án, tai nạn…) nơi còn để lại dấu vết, vật chứng…có liên quan trực tiếp tới tội phạm, mà cơ quan công an cần kịp thời đến tận nơi xem xét, thu lượm dấu vết để nghiên cứu”; Sách chuyên khảo Bảo vệ và khám nghiệm hiện trường cho rằng hiện trường là: “nơi xảy ra, nơi phát hiện một hành vi vi phạm pháp luật”
Dưới góc độ của Luật Tố tụng hình sự quy định tại Điều 201BLTTHS
quy định: “Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát
hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu,
đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án” [11]
Với quy định trên có thể hiểu hiện trường là nơi xảy ra hành vi tội phạm hoặc là nơi phát hiện tội phạm Khái niệm này chỉ ra rằng: Hiện trường
là “nơi” tức là phải có một địa điểm nhất định trong một không gian và thời gian nhất định Tại “nơi” đó có chứa đựng các dấu vết, vật chứng của tội phạm hoặc liên quan đến tội phạm Khái niệm này đã rơi vào nhận định chủ quan rằng: vụ việc xảy ra ở hiện trường phải là tội phạm, tức là phải thỏa mãn các quy định về tội phạm của Bộ luật Hình sự.Trong thực tiễn, nhiều vụ việc xảy ra Điều tra viên chưa có đủ thông tin ban đầu để xác định được tính chất, mức độ của vụ việc nên chưa thể khẳng định được đâu là hiện trường xảy ra tội phạm hoặc đó có phải là nơi phát hiện ra tội phạm hay không.Việc xác định vụ việc xảy ra có phải là tội phạm hay không chủ yếu dựa vào kết quả của quá trình khám nghiệm hiện trường Ví dụ: Tại một hiện trường có tử thi phải trải qua công tác khám nghiệm hiện trường mới xác định được nguyên nhân ban đầu về cái chết và chỉ khi xác định được nguyên nhân của cái chết là
do hành vi giết người gây nên thì mới có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự
Khái niệm hiệm trường trong Khoa học hình sự có nội dung rộng hơn
trong BLTTHS, cụ thể là: “Hiện trường là nơi xảy ra, nơi phát hiện sự việc
Trang 13mang tính hình sự”[12] Khái niệm này mang tính khái quát cao và đảm bảo
tính khách quan Trước hết, phải xác định hiện trường là “nơi” xảy ra, “nơi” phát hiện sự việc mang tính chất hình sự tức là nó phải gắn với một địa điểm với một khoảng không gian nhất định Với quan điểm này, khái niệm hiện trường vừa mang tính khái quát của hiện trường nói chung là “nơi xảy ra sự việc”, vừa thể hiện được đặc điểm đặc trưng riêng của hiện trường trong khoa học điều tra hình sự là “sự việc mang tính hình sự” Khái niệm này cũng khắc phục được hạn chế của khái niệm hiện trường được nêu trong Bộ luật Tố tụng hình sự
Nếu đứng trên góc độ triết học để nghiên cứu, xem xét về bản chất của khái niệm hiện trường, thì tự trong bản thân của khái niệm hiện trường, nó đã chỉ ra hình thức tồn tại khách quan của hiện trường với tư cách là một địa điểm “nơi”, và cũng chính điều đó nó đã thể hiện được tính tất nhiên của hiện trường Nói cách khác: bất kỳ một sự việc mang tính hình sự nào xảy ra cũng đều phải có hiện trường và đã là hiện trường thì không thể tồn tại, vận động ngoài không gian và thời gian
Dù nghiên cứu khái niệm hiện trường ở góc độ nào đi nữa thì về bản chất hay hình thức cũng kế thừa quan điểm về hiện trường phổ thông nói chung với những thuộc tính cơ bản sau:
Một là, Hiện trường là “nơi” Có thể hiểu là một địa điểm nhất định
trong không gian và có khoảng thời gian cho sự việc xảy ra
Hai là, phải có sự việc xảy ra Sự việc này có thể là sự việc mang tính
bất kỳ như sự việc hiện tượng liên quan đến lĩnh vực lao động, sản xuất, kinh doanh, hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình…
Từ những thuộc tính cơ bản của hiện trường có thể chỉ ra thuộc tính của khái niệm hiện trường trong khoa học hình sự như sau:
Trang 14Thứ nhất, hiện trường là “nơi” Tức là phải gắn với một địa điểm đã
được xác định cụ thể trong không gian và có khoảng thời gian nhất định để sự việc xảy ra
Thứ hai, tại “nơi” đó xảy ra sự việc mang tính hình sự Thuộc tính thứ
hai này đã phân biệt được rõ tính chất của hiện trường trong khoa học hình sự
so với khái niệm hiện trường phổ thông
Với những phân tích trên có thể định nghĩa hiện trường trong khoa học
hình sự như sau: “Hiện trường là nơi xảy ra, nơi phát hiện sự việc mang tính
hình sự”
Theo tác giả để làm rõ được khái niệm khám nghiệm hiện trường một cách chính xác, khoa học thì khái niệm hiện trường trong khoa học hình sự
cần phải được nêu cụ thể hơn: Hiện trường là nơi xảy ra sự việc mang tính
hình sự cần được quan tâm để phục vụ cho công việc điều tra làm rõ quá trình diễn biến và nguyên nhân của sự việc đó
Công tác khám nghiệm hiện trường được hiểu là việc Cơ quan điều tra
tổ chức, lực lượng phương tiện tiếp cận hiện trường, tiến hành hoạt động khám nghiệm theo trình tự thủ tục đã quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự
Vậy có thể nêu khái niệm khám nghiệm hiện trường như sau: Khám
nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra được tiến hành tại hiện trường nhằm phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, nghiên cứu, đánh giá dấu vết, vật chứng và những tin tức, tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường của các vụ phạm tội hoặc vụ việc có tính hình sự đã xảy ra phục vụ cho điều tra, xử lý tội phạm
1.1.1.2 Phân loại hiện trường
Trong qua trình điều tra một vụ án hình sự, việc phân loại hiện trường
có ý nghĩa quan trọng giúp hoạt động điều tra tại hiện trường được tiến hành
Trang 15một cách nhanh chóng và chính xác Có thể phân loại hiện trường dựa vào những căn cứ sau đây:
- Căn cứ vào nội dung, tính chất vụ việc mang tính hình sự có thể phân thành những loại hiện trường sau:
+ Hiện trường có người chết;
+ Hiện trường trộm cắp tài sản;
+ Hiện trường cháy nổ;
+ Hiện trường cướp tài sản;
+ Hiện trường sự cố kỹ thuật;
+ Hiện trường hiếp dâm;
+ Hiện trường tai nạn (giao thông, lao động…)…
Phân loại hiện trường theo cách này giúp CQĐT xác định được nơi và loại dấu vết tồn tại trên hiện trường cũng như xác định được những loại dấu vết nào cần được phát hiện và thu luợm, đồng thời giúp cho công việc thống
kê tội phạm được nhanh chóng Dấu vết bao giờ cũng được hình thành theo quy luật nhất định phù hợp với tính chất của sự việc xảy ra, chẳng hạn khi CQĐT xác định hiện trường một vụ án mạng mà nạn nhân bị tử vong do bị trúng đạn thì dấu vết cần phải tìm kiếm là vỏ đạn rơi lại tại hiện trường hay hiện trường của các vụ trộm thường có các dấu vết vân tay, dấu giày dép, các dấu vết của dụng cụ phá cửa Đây sẽ là những định hướng cho các cán bộ điều tra trong quá trình khám nghiệm hiện trường
- Căn cứ tình trạng hiện trường có thể phân hiện trường thành các loại: + Hiện trường còn nguyên vẹn: Là hiện trường từ khi xảy ra đến khi tiến hành khám nghiệm không bị thay đổi, mất mát, xáo trộn (hiểu theo nghĩa tương đối), do đó chưa ảnh hưởng tới dấu vết về độ chính xác và đầy đủ
Trang 16+ Hiện trường xáo trộn: Là hiện trường đã bị thay đổi, biến đổi, mất mát so với thời điểm xảy ra sự việc phạm tội Ví dụ: Hiện trường tai nạn giao thông, trộm cắp tài sản…
+ Hiện trường giả tạo: Là hiện trường đã bị thay đổi, nguy tạo nhằm mục đích đánh lạc hướng điều tra của cơ quan chức năng
- Căn cứ vào diễn biến của sự việc xảy ra: Một hiện trường có thể được tập trung ở một địa điểm, nhưng cũng có thể có nhiều địa điểm khác nhau, đó chính là những bộ phận của hiện trường Số lượng những bộ phận của hiện trường nhiều hay ít phần lớn phụ thuộc vào diễn biến hành vi của kẻ phạm tội,
do đó được chia thành: nơi chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội, nơi thực hiện hành vi phạm tội, nơi che giấu hành vi phạm tội
- Căn cứ vào không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ việc hình sự có thể phân hiện trường thành các loại:
+ Hiện trường trong nhà: Là hiện trường được che chắn hay bao bọc xung quanh bởi các loại vải, phông bạt, mái che, tường nhà… (có mái che chắn bên trên hay được bao bọc xung quanh mà không kể đến chất liệu của mái che là tường vôi, vải dù hay mái rạ…)
+ Hiện trường ngoài trời: Là hiện trường không được che chắn, bảo vệ bởi bất cứ loại mái che nào
+ Hiện trường vừa kết hợp trong nhà và ngoài trời;
+ Hiện trường trên cạn;
+ Hiện trường dưới nước;
+ Hiện trường trên các phương tiện giao thông…
Các vụ việc hình sự thường xảy ra hết sức phong phú, đa dạng nên việc phân loại hiện trường chỉ mang tính tương đối.Việc phân loại hiện trường có
ý nghĩa trong việc chủ động lực lượng, phương tiện bảo vệ và khám nghiệm.Đồng thời, giúp cho quá trình khám nghiệm hiện trường được nhanh chóng, chính xác, kịp thời và cũng là cơ sở để các cơ quan nghiên cứu tiến
Trang 17hành thống kê hình sự tìm ra quy luật vận động của các loại vụ việc hình sự trong các thời gian khác nhau
1.1.2 Cơ sở pháp lý và nhiệm vụ của công tác khám nghiệm hiện trường
1.1.2.1.Cơ sở pháp lý của công tác khám nhiệm hiện trường
Công tác khám nghiệm hiện trường được hiểu là việc cơ quan điều tra
tổ chức, lực lượng phương tiện tiếp cận hiện trường, tiến hành hoạt động khám nghiệm theo trình tự thủ tục đã quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự
Để công tác khám nghiệm hiện trường đạt kết quả, đáp ứng yêu cầu hoạt động điều tra và yêu cầu pháp lý, công tác khám nghiệm hiện trường phải dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định Cơ sở pháp lý của công tác khám nghiệm hiện trường là các điều khoản được quy định trong BLTTHS; Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự; Chỉ thị số 02/CT-BCA ngày 6/2/2001 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc tăng cường công tác khám nghiệm hiện trường Quyết định số 57/QĐ-BCA ngày 6/2/2001 của Bộ trưởng Bộ Công an kèm theo Quy chế phân công trách nhiệm giữa các lực lượng Công an nhân dân trong công tác khám nghiệm hiện trường Ngoài những quy định chung, khi khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông đường bộ còn phải căn cứ vào Quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ - ban hành kèm theo Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA (C11) ngày 05/01/2007 Từ những cơ
sở pháp lý nêu trên có thể khái quát những quy định về công tác khám nghiệm hiện trường như sau:
Các cơ quan được giao nhiệm vụ khám nghiệm hiện trường bao gồm:
Cơ quan điều tra của An ninh nhân dân, Cơ quan điều tra của Cảnh sát nhân dân, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như: Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Bộ đội biên phòng, các cơ quan khác thuộc lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được quy định trong Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự được
Trang 18phép tiến hành khám nghiệm hiện trường theo sự phân cấp về thụ lý các loại
án hình sự
Người tiến hành khám nghiệm hiện trường: Theo quy định tại khoản 1 Điều 201 BLTTHS Theo quan điểm của tác giả, quy định như vậy là chưa đầy đủ, chưa phù hợp với nội dung của Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự Bởi
lẽ, Điều 164 BLTTHS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra Như vậy, Điều 201 BLTTHS chưa quy định về thẩm quyền khám nghiệm hiện trường cho một số chủ thể khác không phải là Điều tra viên Địa điểm khám nghiệm hiện trường là nơi xảy ra, nơi phát hiện vụ việc có tính hình sự
Về thời điểm khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi
tố vụ án hình sự và trong mọi trường hợp Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết để cử Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
1.1.2.2.Nhiệm vụ của công tác khám nghiệm hiện trường
Công tác khám nghiệm hiện trường đặt ra những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Một là, ghi nhận vị trí, trạng thái và quang cảnh của hiện trường bằng
cách: mô tả hiện trường vào trong biên bản khám nghiệm hiện trường, vẽ các loại sơ đồ hiện trường, chụp ảnh hiện trường
Hai là, điều tra thu thập, phân tích các thông tin có liên quan đến hiện
trường có giá trị giúp cho việc đánh giá hiện trường và đề ra chiến thuật điều tra
Ba là, sử dụng các phương pháp, phương tiện kỹ thuật hình sự để phát
hiện và thu lượm, bảo quản các dấu vết, vật chứng có tại hiện trường
Bốn là, nghiên cứu, đánh giá toàn bộ các vật chứng, dấu vết thu lượm
được để đề ra phương hướng điều tra tiếp theo
Năm là, lập và hoàn chỉnh hồ sơ khám nghiệm hiện trường
Trang 19Sáu là, phát hiện những sơ hở, thiếu sót, từ đó nghiên cứu, phát hiện
những phương thức thủ đoạn gây án mới của bọn tội phạm, đề xuất các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn một cách tích cực và đấu tranh có hiệu quả với tội phạm
1.1.3 Phương pháp khám nghiệm hiện trường
Trong quá trình khám nghiệm hiện trường, việc sử dụng hợp lý các phương pháp khám nghiệm hiện trường có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho việc phát hiện thu thập dấu vết, vật chứng được nhanh chóng, chính xác
và triệt để hơn Không những thế việc lựa chọn phương pháp khám nghiệm hiện trường một cách hợp lý giúp cho việc tổ chức lực lượng và áp dụng trình
tự thực hiện các công việc khám nghiệm được khoa học hơn, triệt để hơn
Chính vì vậy khi tiến hành khám nghiệm hiện trường cần phải nắm được các đặc điểm của từng hiện trường cụ thể, loại hiện trường cần khám nghiệm, mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ của quá trình khám nghiệm, lực lượng và phương tiện để lựa chọn phương pháp khám nghiệm phù hợp Quá trình khám nghiệm hiện trường thường được tiến hành theo các phương pháp phổ biến sau đây:
1.1.3.1 Phương pháp khám nghiệm hiện trường theo khu vực (Phương pháp chia ô)
Phương pháp này được tiến hành bằng cách chia hiện trường ra thành nhiều khu vực, nhiều ô khác nhau và khám nghiệm từng khu vực, từng ô đó Có thể tiến hành khám nghiệm lần lượt từng khu vực một hoặc tiến hành đồng loạt cùng lúc nhiều khu vực tùy vào điều kiện lực lượng tham gia khám nghiệm
Phương pháp này có thể áp dụng trong trường hợp: Hiện trường các vụ việc xảy ra tương đối rộng và phức tạp đòi hỏi phải có sự phân chia thành từng khu vực do điều kiện địa hình của hiện trường như: tường, hàng rào, lối đi… hoặc nhà được phân chia thành các phòng khác nhau
Trang 20Hạn chế của phương pháp khám nghiệm hiện trường này là quá trình khám nghiệm từng khu vực độc lập, riêng rẽ với nhau Nếu quá trình khám nghiệm không đảm bảo thống nhất, việc nghiên cứu, đánh giá hiện trường không được đặt trong mối quan hệ tổng thể thì công tác khám nghiệm hiện trường sẽ gặp phải khó khăn và cho kết quả thiếu chính xác Để khắc phục hạn chế này, quá trình khám nghiệm phải được tổ chức thống nhất và kết quả khám nghiệm hiện trường phải được nghiên cứu, đánh giá trong mối quan hệ chặt chẽ tổng thể toàn bộ hiện trường
1.1.3.2 Phương pháp khám nghiệm hiện trường dựa vào phương thức gây án
Đây còn gọi là phương pháp khám nghiệm hiện trường lần theo dấu vết Phương pháp này được tiến hành theo trình tự từ điểm bắt đầu và điểm tiếp theo Điểm bắt đầu thường là đường vào, vị trí thủ phạm bắt đầu đột nhập vào hiện trường với những dấu vết đã quan sát thấy rõ Điểm khám nghiệm tiếp theo là hướng hoạt động của thủ phạm tại hiện trường với những dấu vết, vật chứng theo nhận định có khả năng tồn tại
Phương pháp này được sử dụng khi đã phân tích được tình trạng thực tại của hiện trường, thực trạng của những biến đổi vật chất do thủ phạm gây
ra còn tồn tạitrên hiện trường và những thông tin thu lượm được.Qua những tin tức, tài liệu đã thu nhận được tại hiện trường để nhận định về:
+ Đường vào, đường ra của thủ phạm;
+ Quá trình diễn biến thực hiện hành vi của thủ phạm tại hiện trường qua sự tiếp xúc của thủ phạm với môi trường vật chất xung quanh;
+ Những thay đổi về sự sắp xếp các đồ vật
Trên thực tế việc khám nghiệm hiện trường theo phương pháp này thường được áp dụng đối với hiện trường trộm cắp tài sản, cháy, có tử thi…Ưu điểm của phương pháp khám nghiệm hiện trường này là sử dụng hợp
lý lực lượng, phương pháp và phương tiện khám nghiệm; giúp cho quá trình
Trang 21phát hiện và thu thập dấu vết, vật chứng được dễ dàng nhất là các dấu vết ẩn, dấu vết nhỏ và xác định giá trị của những dấu vết, vật chứng đã thu thập được Tuy nhiên, phương pháp khám nghiệm này cũng có hạn chế là quá trình khám nghiệm thiếu tỉ mỉ, dễ bỏ sót dấu vết, vật chứng ở những khu vực khác được nhận định không phải là nơi tội phạm thực hiện hành vi phạm tội
1.1.3.3 Phương pháp khám nghiệm hiện trường theo hình xoáy ốc
Đây là phương pháp được tiến hành khám nghiệm từ ngoài vào trung tâm hoặc từ trung tâm ra ngoài theo hình xoáy ốc, có thể tiến hành theo chiều kim đồng hồ hoặc chiều ngược lại Phương pháp này thường được sử dụng để khám nghiệm những hiện trường rộng ở ngoài trời và những hiện trường đã xác định được vùng trung tâm.Ví dụ: Đối với hiện trường tai nạn giao thông bao giờ cũng tiến hành khám nghiệm dấu vết bắt đầu từ tử thi sau đó đến các nơi khác
Ưu điểm của phương pháp này là toàn bộ hiện trường được khám nghiệm có hệ thống, có thể phát hiện được hầu hết các dấu vết, vật chứng ở hiện trường
1.1.3.4 Phương pháp khám nghiệm hiện trường theo đường thẳng song song
Phương pháp này còn được gọi là phương pháp khám nghiệm cuốn chiếu, khám nghiệm theo hình bừa ruộng, phương pháp khám nghiệm hình răng lược Phương pháp này được thực hiện theo một trình tự lần lượt từ đầu đến cuối hiện trường theo một trình tự thống nhất Trên tực tế thường áp dụng phương pháp này để khám nghiệm hiện trường có chiều ngang không rộng, có thể bố trí được các cán bộ khám nghiệm dàn hết mặt bằng từ đầu này đến đầu kia của hiện trường
Phương pháp này có ưu điểm là toàn bộ diện tích của hiện trường được khám nghiệm có hệ thống, tỷ mỉ, có thể tiến hành từ ngoài vào trong hoặc từ trong ra ngoài tùy thuộc vào từng loại hiện trường cụ thể trong từng tình huống cụ thể Hạn chế của phương pháp này cũng như các phương pháp khám
Trang 22nghiệm hiện trường theo hình xoáy ốc, khám nghiệm theo khu vực là phải sử dụng nhiều lực lượng và phương tiện
Các phương pháp khám nghiệm hiện trường trên đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định; trong quá trình khám nghiệm hiện trường cần phải quan sát đánh giá hiện trường một cách toàn diện để lựa chọn phương pháp khám nghiệm phù hợp Có thể kết hợp nhiều phương pháp khám nghiệm hiện trường phù hợp với điều kiện cụ thể của từng hiện trường để đạt kết quả tốt nhất
1.2 Lý luận chung về công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
1.2.1 Khái niệm, cơ sở pháp lý của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
* Khái niệm
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là khâu quan trọng mà Viện kiểm sát phải thường xuyên tiến hành trong công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nhằm đảm bảo việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra, thành viên Hội đồng khám nghiệm và các thành phần khác tham gia khám nghiệm
Khám nghiệm tử thi nhằm thu thập các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án phục vụ cho công tác điều tra Từ nhận thức trên về công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi có thể nêu khái niệm kiểm sát khám nghiệm hiện trường như sau:
Kiểm sát khám nghiệm hiện trường là hoạt động của Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Điều tra viên, các thành viên Hội đồng khám nghiệm và những người có liên quan theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc khám nghiệm hiện trường được thực hiện đúng quy định của pháp luật, bảo đảm phát hiện, ghi nhận, thu thập, bảo quản đầy đủ các dấu vết, vật chứng
có trên hiện trường phục vụ cho công tác điều tra, nghiên cứu, xác định có hay
Trang 23không có hành vi phạm tội xảy ra, ai là người thực hiện hành vi đó
* Cơ sở pháp lý
Theo quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014; Điều 166 BLTTHS năm 2015 thì Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát các hoạt động điều tra của CQĐT Theo quy định tại Điều 201 và Điều 202 BLTTHS thì trong mọi trường hợp việc khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết, Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm
Theo quy định tại Quy chế THQCT và KSĐT, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường đối với tất cả các vụ việc mà Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm Đối với những vụ án gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, những vụ án giết người không quả tang hoặc những vụ án phức tạp thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng trực tiếp hoặc cùng Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
1.2.2 Đối tượng, phạm vi của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
* Đối tượng của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Đối tượng của kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là việc tuân theo pháp luật của các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm và những người có liên quan đến việc khám nghiệm hiện trường bao gồm: Hoạt động khám nghiệm của Điều tra viên, giám định viên, kỹ thuật viên và những người có liên quan đến việc khám nghiệm hiện trường như người làm chứng, người chứng kiến, người bị hại, bị can, lực lượng bảo vệ hiện trường, lực lượng sơ vấn về các thông tin liên quan đến hiện trường
* Phạm vi của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Phạm vi kiểm sát khám nghiệm hiện trường bắt đầu từ khi nhận được tin báo về vụ việc xảy ra cần khám nghiệm đến khi kết thúc việc khám nghiệm,
Trang 24hoàn thiện các công việc về khám nghiệm hiện trường thông qua và ký biên bản khám nghiệm của những người tiến hành và tham gia khám nghiệm
1.2.3 Yêu cầu và ý nghĩa của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
1.2.3.1 Yêu cầu của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường nhằm bảo đảm các yêu cầu sau: Việc khám nghiệm hiện trường của Hội đồng khám nghiệm phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong suốt quá trình khám nghiệm như thành phần Hội đồng khám nghiệm, trình tự khám nghiệm, các biện pháp phát hiện, ghi nhận, thu thập, bảo quản dấu vết, vật chứng để lại trên hiện trường Việc khám nghiệm hiện trường được tiến hành nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời Bởi vì, hiện trường vụ việc là nơi để lại nhiều dấu vết, vật chứng, thông tin liên quan đến tội phạm có giá trị chứng minh cao; việc khám nghiệm hiện trường phải được tiến hành một cách đầy đủ, chính xác, khách quan và toàn diện Khi phát hiện, ghi nhận, thu thập dấu vết, vật chứng trên hiện trường phải tiến hành đo đạc, mô tả chính xác, phản ánh đúng vị trí của dấu vết, vật chứng trong sơ đồ hiện trường, bản ảnh, biên bản khám nghiệm; việc khám nghiệm hiện trường phải theo một trình tự pháp luật đã quy định
1.2.3.2 Ý nghĩa của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là để thu giữ đầy đủ những dấu vết, vật chứng, những thông tin có được từ hiện trường; xác định nội dung, tính chất của vụ việc xảy ra, phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm, thời gian xảy ra, số lượng người thực hiện tội phạm, nguyên nhân, điều kiện phạm tội ; giúp Kiểm sát viên nắm được diễn biến, tính chất của vụ việc; xác định có hay không có hành vi phạm tội xảy ra, ai là người thực hiện tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan, sai, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; kết quả của hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là căn cứ để Kiểm sát viên báo cáo đề xuất với lãnh đạo
Trang 25Viện xem xét phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra
1.2.4 Các hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường chủ yếu được thể hiện qua các hoạt động của Kiểm sát viên tại hiện trường, các hoạt động đó bao gồm: Hoạt động của Kiểm sát viên trước khi kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường; Hoạt động của Kiểm sát viên khi đến hiện trường, trước khi Hội đồng tiến hành khám nghiệm; Hoạt động của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường; Hoạt động của Kiểm sát viên sau khi kết thúc kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường Việc phân hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường ra thành nhiều giai đoạn như vậy nhằm mục đích đề ra yêu cầu cụ thể cho từng giai đoạn mà Kiểm sát viên phải đảm bảo thực hiện để hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường đạt hiệu quả Nội dung của các hoạt động đó được thể như sau:
1.2.4.1 Hoạt động của Kiểm sát viên trước khi kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Trước khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sat viên phải chủ động nắm tình hình, yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp những thông tin ban đầu về vụ việc đã xảy ra, để chủ động tham gia ý kiến vào việc khám nghiệm (khoản 2 Điều 17 Quy chế THQCT và KSĐT)
Để bảo đảm cho công tác khám nghiệm và kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường có hiệu quả, Kiểm sát viên được phân công cần tiến hành các công việc sau đây:
- Đối với các tin báo về vụ việc xảy ra có tính chất khẩn cấp do các cơ quan, cá nhân thông báo đến VKSND và yêu cầu đặt ra là phải tiến hành khám nghiệm hiện trường thì Kiểm sát viên tiếp nhận phải tiến hành sơ vấn
để nắm một số thông tin ban đầu phục vụ cho công tác kiểm sát khám nghiệm Kiểm sát viên phải tiến hành đánh giá tính chất của vụ việc đã xảy ra
và kịp thời báo cáo với lãnh đạo Viện để phân công Kiểm sát viên trực tiếp
Trang 26khám nghiệm hiện trường và báo cáo với Viện kiểm sát cấp trên nếu xét thấy cần thiết Viện kiểm sát phải thông báo cho CQĐT cấp huyện để cử lực lượng đến ngay hiện trường làm công tác bảo vệ hiện trường, duy trì trật tự trị an nơi xảy ra vụ việc và giải quyết các vấn đề cấp bách khác Lãnh đạo Viện trực tiếp hoặc cử Kiểm sát viên cùng Điều tra viên xuống hiện trường để tiến hành khám nghiệm đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền
- Đối với những vụ án rất nghiệm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, chết người chưa rõ nguyên nhân hoặc những vụ án có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc những vụ án phức tạp, được dư luận quan tâm, mặc dù trách nhiệm khám nghiệm hiện trường thuộc CQĐT cấp tỉnh và kiểm sát khám nghiệm hiện trường thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát cấp tỉnh nhưng Viện trưởng, Phó Viện trưởng cấp huyện trực tiếp hoặc cử Kiểm sát viên đến hiện trường ngay sau khi tiếp nhận tin báo về sự việc đã xảy ra, đồng thời báo ngay cho Viện kiểm sát cấp tỉnh để thông báo cho CQĐT chuẩn bị các thủ tục tố tụng
và công cụ, phương tiện phục vụ cho việc khám nghiệm và kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
- Đối với các tin báo về vụ, việc xảy ra cần khám nghiệm hiện trường
do CQĐT tiếp nhận và thông báo đến VKS thì Kiểm sát viên trực tiếp tiếp nhận yêu cầu CQĐT thông báo sơ bộ ban đầu về sự việc và kế hoạch khám nghiệm, sau đó kịp thời báo với lãnh đạo Viện để phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường phải kịp thời phối hợp với CQĐT xác định thành phần tham gia khám nghiệm, người chủ trì khám nghiệm, công cụ, phương tiện phục vụ cho công tác khám nghiệm Chuẩn bị các phương tiện, dụng cụ kỹ thuật cần thiết như: Máy ảnh, máy ghi âm, máy ghi hình, sổ tay, giấy bút… để trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể chụp ảnh, vẽ
sơ đồ, mô tả hiện trường, xem xét tại chỗ dấu vết, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, lấy lời khai và ghi âm lời khai của người làm chứng, người bị
Trang 27hại,… Những tài liệu này được lưu trong hồ sơ kiểm sát
1.2.4.2 Hoạt động của Kiểm sát viên khi đến hiện trường, trước khi Hội đồng tiến hành khám nghiệm
Khi Hội đồng khám nghiệm đến hiện trường, trước khi khám nghiệm Kiểm sát viên phải tiến hành các hoạt động sau đây:
- Kiểm sát thành phần tham gia khám nghiệm hiện trường theo qui định tại các Điều 201, Điều 202 BLTTHS Thành phần tham gia khám nghiệm hiện trường phụ thuộc vào từng loại hiện trường cụ thể, tính chất của vụ việc xảy ra Thông thường, thành phần Hội đồng khám nghiệm hiện trường gồm có: Điều tra viên được giao nhiệm vụ chủ trì khám nghiệm; Điều tra viên tiến hành khám nghiệm hiện trường; lấy dấu vết, thu thập vật chứng; các cán bộ
kỹ thuật hình sự (chụp ảnh hiện trường; vẽ sơ đồ hiện trường; lập biên bản khám nghiệm hiện trường ); Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường theo quy định của pháp luật; người chứng kiến (cần chú ý lựa chọn, để tránh trường hợp họ là người đã thực hiện hành vi phạm tội để giữ bí mật kết quả khám nghiệm hiện trường); các chuyên gia thuộc lĩnh vực liên quan đến hiện trường Đối với hiện trường có tử thi thì bắt buộc phải trưng cầu Bác sỹ pháp y khi giám định tử thi
- Kiểm tra tư cách pháp lý của các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm và những người tham gia, đảm bảo theo đúng quy định tại các Điều 201, Điều 202 BLTTHS Việc kiểm sát thành phần tham gia khám nghiệm và tư cách pháp lý của họ nhằm đảm bảo giá trị pháp lý của kết quả khám nghiệm hiện trường Nếu việc khám nghiệm không đúng thẩm quyền hoặc thiếu thành phần
sẽ gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án
- Kiểm sát công tác bảo vệ hiện trường: Kiểm sát viên sau khi quan sát
sơ bộ hiện trường cần nhận định phạm vi hiện trường mà lực lượng bảo vệ đã xác định và đang tiến hành tổ chức việc bảo vệ hiện trường có đúng với phạm
vi hiện trường cần khám nghiệm hay không? Có cần thu hẹp hoặc mở rộng
Trang 28hay không? Việc sử dụng các biện pháp để bảo vệ dấu vết, vật chứng đã đáp ứng yêu cầu hay chưa?
Khi đến hiện trường và trước khi tiến hành khám nghiệm Kiểm sát viên cần có sự trao đổi thống nhất với Điều tra viên, lực lượng bảo vệ hiện trường, lực lượng sơ vấn những người biết sự việc xảy ra và chính quyền địa phương
để nắm các thông tin ban đầu liên quan đến hiện trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám nghiệm
Trong trường hợp cần thiết Kiểm sát viên có thể yêu cầu Điều tra viên
áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế sự thay đổi của dấu vết, vật chứng trên hiện trường; yêu cầu lực lượng bảo vệ hiện trường không đi lại trên hiện trường; không để người không có trách nhiệm ra vào hiện trường; không được lấy đi hoặc bỏ vào bất kì vật gì ở hiện trường; không được tiết lộ tin tức, tài liệu về hiện trường, đồng thời nhanh chóng xác định các nhân chứng của vụ việc và yêu cầu Điều tra viên khẩn trương lấy lời khai của họ, đồng thời chú ý các nguồn hơi để có thể sử dụng chó nghiệp vụ (nếu có)
- Yêu cầu Điều tra viên chủ trì khám nghiệm kiểm tra các phương tiện, dụng cụ, thiết bị kỹ thuật phục vụ cho hoạt động khám nghiệm hiện trường đã đầy đủ hay chưa? Các phương tiện này khi được sử dụng để khám nghiệm còn có hiệu quả hay không, như: Các loại bột để lấy dấu vết vân tay, bột thạch cao để thu thập dấu vết chân, các chất liệu để thu thập dấu vết cạy phá, các công cụ, phương tiện khác
- Kiểm tra xem xét, nghiên cứu sơ bộ các tin tức, tài liệu thu được từ hiện trường, sơ bộ nắm diễn biến sự việc xảy ra từ đó làm cơ sở, căn cứ cho việc nhận định, đánh giá về hiện trường Kiểm sát viên cần phối hợp với Điều tra viên để làm rõ những vấn đề sau:
+ Ai là người đầu tiên phát hiện hiện trường, phát hiện trong điều kiện, hoàn cảnh nào, quan hệ của người phát hiện với hiện trường?
+ Đối với những vụ việc ngay từ đầu đã xác định được đối tượng hoặc
Trang 29nạn nhân thì sơ vấn ngay để nắm được diễn biến sự việc xảy ra
+ Cần xác minh ban đầu về nhân thân nạn nhân, mối quan hệ với những người khác, hoàn cảnh kinh tế, xã hội của nạn nhân; thời gian rời khỏi gia đình, cơ quan, đơn vị, đồ đạc mang theo
+ Đối với các vụ tai nạn giao thông cần xác định không gian, thời gian xảy ra tai nạn, chiều hướng tham gia giao thông, điểm va chạm của các phương tiện tham gia giao thông, đặc điểm về thời tiết, khí hậu
Việc nắm các thông tin ban đầu có liên quan đến hiện trường sẽ giúp cho Kiểm sát viên xác định được nội dung, tính chất, diễn biến của vụ việc, xác định phạm vi, phương pháp khám nghiệm hiện trường, đồng thời làm cơ
sở để Kiểm sát viên đề ra yêu cầu đối với Điều tra viên, giám định viên khi tiến hành khám nghiệm hiện trường
Căn cứ vào địa hình thực tế của hiện trường, tính chất của vụ việc mà Kiểm sát viên cần chủ động trao đổi, thống nhất với Điều tra viên về kế hoạch, phương pháp khám nghiệm
1.2.4.3 Hoạt động của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Để bảo đảm cho việc khám nghiệm hiện trường có kết quả, Kiểm sát viên
có thể yêu cầu Điều tra viên phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên, từng lực lượng tham gia khám nghiệm hiện trường; yêu cầu Điều tra viên tiến hành theo đúng quy trình khám nghiệm (khám nghiệm sơ bộ, khám nghiệm chi tiết và hoạt động sau khi kết thúc việc khám nghiệm tại hiện trường)
- Kiểm sát viên phải chú trọng kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tác nghiệp của Điều tra viên, giám định viên, kỹ thuật viên, kịp thời phát hiện những sai sót để yêu cầu khắc phục Đồng thời kiểm sát chặt chẽ việc phát hiện, mô tả, thu giữ dấu vết, vật chứng; đảm bảo phát hiện, thu giữ đầy đủ, khách quan các dấu vết, vật chứng tại hiện trường như: Dấu vết máu, lông, tóc, sợi và các dấu vết, vật chứng khác Những đồ vật, tài liệu, dấu vết cần
Trang 30phải giám định phải được niêm phong, bảo quản cẩn thận và tuân thủ các qui định của pháp luật
- Đối với hiện trường có tử thi, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc khám nghiệm tử thi, khi cần thiết có thể yêu cầu mổ tử thi để xem xét các dấu vết bên trong thân thể nhằm làm sáng tỏ các tình tiết liên quan đến cái chết của nạn nhân
- Trong quá trình kiểm sát khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả tỉ mỉ, chính xác vào biên bản khám nghiệm hiện trường, hoặc có thể yêu cầu thực nghiệm tại hiện trường, hoặc dựng lại hiện trường để xác định diễn biến sự việc xảy ra, hoạt động của người đã thực hiện hành vi phạm tội và trên cơ sở đó truy tìm dấu vết, vật chứng
Kiểm sát viên trực tiếp kiểm tra xem xét tại chỗ dấu vết, đồ vật, tài liệu
có liên quan đến vụ án để làm cơ sở, định hướng cho việc khám nghiệm tiếp theo có hiệu quả Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể chụp ảnh,
vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, lấy lời khai và ghi âm lời khai của người làm chứng, người bị hại và những người có liên quan khác Các tài liệu do Kiểm sát viên thu thập được phải đưa vào hồ sơ kiểm sát điều tra
Khi kiểm sát các hoạt động của Điều tra viên, bác sỹ pháp y tại hiện trường, Kiểm sát viên phải ghi chép tỉ mỉ tình hình, số liệu để đưa vào biên bản khám nghiệm hiện trường một cách chính xác Những đồ vật, tài liệu, dấu vết cần phải giám định phải được niêm phong, bảo quản cẩn thận, tránh bị mất mát, hư hỏng, đánh tráo
Kiểm sát viên phải bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong mọi hoạt động khám nghiệm như: Chụp ảnh hiện trường, vẽ sơ đồ hiện trường, đo đạc, thu thập, xem xét tại chỗ mọi dấu vết của tội phạm, đồ vật, tài liệu liên quan đến
vụ án Công việc này phải được mô tả đầy đủ vào biên bản khám nghiệm hiện trường Đối với hiện trường có người chết, Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều
Trang 31tra viên chụp ảnh tử thi theo các yêu cầu sau: Vị trí của tử thi nơi phát hiện; tư thế chết của tử thi; tình trạng hiện tại của tử thi; các dấu vết, các đặc điểm trên cơ thể tử thi; các đặc điểm về thể trạng người; các đặc điểm đồ vật liên quan đến tử thi Khi chụp ảnh tử thi cần phải chụp các kiểu ảnh sau: Ảnh xác định vị trí của tử thi; ảnh chụp riêng tử thi; ảnh chụp tình trạng quần áo của tử thi; ảnh chụp các dấu vết, thương tích của tử thi; ảnh để nhận dạng tử thi (nếu không rõ tung tích nạn nhân) Khi vẽ sơ đồ hiện trường cần đánh dấu bằng những kí hiệu theo qui định về việc vẽ sơ đồ hiện trường Đối với những vật chứng không thể hoặc không có điều kiện xem xét, đánh giá ngay tại hiện trường, Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên thu giữ, bảo quản nguyên vẹn trạng thái ban đầu, phải niêm phong và vận chuyển về nơi có điều kiện xem xét, phân tích hoặc trưng cầu giám định Trong quá trình khám nghiệm, khi thấy cần thiết, Kiểm sát viên phải kịp thời phối hợp với Điều tra viên xem xét, giải quyết những biện pháp khẩn cấp như: Bắt, khám xét, hoặc trong trường hợp thấy người làm chứng, người bị hại hoặc bị can có thể chết hoặc mất khả năng khai báo thì yêu cầu Điều tra viên lấy lời khai ngay và ghi âm lời khai của họ; thu giữ vật chứng… Nếu việc khám nghiệm hiện trường được tiến hành cùng với việc khám nghiệm tử thi thì Kiểm sát viên cần trao đổi với Điều tra viên về việc giao tử thi cho gia đình hoặc chính quyền địa phương mai táng hoặc hoả táng theo quy định của pháp luật và phù hợp với phong tục của địa phương, phong tục của tôn giáo hay dân tộc của người chết Toàn bộ hoạt động và kết quả khám nghiệm hiện trường phải được thể hiện đầy đủ, chính xác trong biên bản khám nghiệm hiện trường
- Kiểm sát việc lập biên bản khám nghiệm hiện trường: Biên bản khám nghiệm hiện trường phải lập tại chỗ và được thể hiện theo đúng quy định tại Điều 133và Điều 178 BLTTHS Kiểm sát viên phải kiểm tra, xem xét kỹ hình thức và nội dung của biên bản đã phản ánh đầy đủ, khách quan, toàn diện, đúng với thực tế hiện trường hay không? Có đúng thủ tục, thành phần khám
Trang 32nghiệm hay không? Nếu phát hiện biên bản ghi không đầy đủ, không chính xác thì Kiểm sát viên phải có ý kiến, yêu cầu bổ sung, khắc phục kịp thời
1.2.4.4 Hoạt động của Kiểm sát viên sau khi kết thúc kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Sau khi kết thúc kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, nếu vụ, việc xảy ra đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp gây ảnh hưởng, hoang mang lo sợ cho nhiều người thì Kiểm sát viên cần trao đổi với Điều tra viên chủ trì khám nghiệm, chính quyền địa phương huy động lực lượng và có các biện pháp bảo
vệ cần thiết để bảo đảm sự ổn định tình hình trật tự trị an ở địa phương Trước khi rời khỏi hiện trường, Kiểm sát viên cần xác định, kết quả khám nghiệm hiện trường đã đạt yêu cầu chưa? Có cần tiếp tục bảo vệ hiện trường để khám nghiệm lại hay không? Điều này có ý nghĩa hết sức cần thiết nhằm đảm bảo cho công tác khám nghiệm hiện trường có hiệu quả vì thực tế khi đã hủy bỏ công tác bảo vệ hiện trường thì trong trường hợp cần thiết nếu phải khám nghiệm lại hoặc khám nghiệm bổ sung sẽ gặp rất nhiều khó khăn, đôi khi không thể khắc phục được Kiểm sát viên phải kiểm tra lại các công cụ, phương tiện mang theo tránh bỏ quên, thất lạc
Theo quy định tại Quy chế THQCT và KSĐT thì sau khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải làm văn bản báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra về kết quả khám nghiệm hiện trường (báo cáo tiên tương) để có ý kiến chỉ đạo kịp thời Trên cơ sở kết quả khám nghiệm, Kiểm sát viên cần nghiên cứu, so sánh, phân tích các tài liệu, vật chứng thu thập được để đánh giá chính xác những vấn đề sau: Hiện trường
đó có phải là hiện trường vụ án hình sự hay không, là loại hiện trường nào?
Có đủ cơ sở để khởi tố vụ án hình sự chưa? Khởi tố về tội gì? Đã khởi tố bị can được chưa? Xác định đối tượng gây án, phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện gây án; có cần trưng cầu giám định không? Trưng cầu giám định
về vấn đề gì? Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên chủ động trao đổi với CQĐT xây
Trang 33dựng các giả thiết điều tra, phương hướng điều tra cụ thể tiếp theo cũng như xác định các biện pháp phòng ngừa tội phạm
Sau khi kết thúc việc khám nghiệm hiện trường, phát hiện thấy việc khám nghiệm hiện trường còn bỏ sót các dấu vết, vật chứng hoặc việc khám nghiệm chưa đầy đủ, Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo viện yêu cầu CQĐT khám nghiệm lại hoặc khám nghiệm bổ sung hiện trường Khi CQĐT tiến hành khám nghiệm lại hoặc khám nghiệm bổ sung hiện trường, Kiểm sát viên phải có mặt tại hiện trường để kiểm sát việc khám nghiệm bổ sung, khám nghiệm lại hiện trường và đặt ra những yêu cầu cụ thể cho Điều tra viên
Trên cơ sở kết quả khám nghiệm hiện trường, nếu xác định có dấu hiệu tội phạm mà CQĐT không ra quyết định khởi tố vụ án thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng ủy quyền ra văn bản yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật
Để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường có hiệu quả đòi hỏi Kiểm sát viên phải có kiến thức và kinh nghiệm nghiệp vụ về phương pháp, chiến thuật khám nghiệm hiện trường nói chung, đặc thù đối với mỗi loại hiện trường nói riêng Tuy vậy, thực tiễn cho thấy, Kiểm sát viên chủ yếu là kiểm sát thủ tục của việc khám nghiệm như thành phần Hội đồng khám nghiệm, người chứng kiến còn công tác kiểm sát các nội dung phát hiện, thu giữ dấu vết của tội phạm, lấy lời khai của người biết về sự việc vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều trường hợp Kiểm sát viên có mặt tại hiện trường chỉ là hình thức, như người chứng kiến việc khám nghiệm; có khi lại hăng hái quá nên đã làm thay công việc của cán bộ khám nghiệm như cầm thước đo hiện trường hay xông xáo đi lại, sờ mó, cầm nắm vào các đồ vật làm mất dấu vết của tội phạm; có trường hợp do ngại bẩn, ngại khó nên Kiểm sát viên ngồi cách xa hiện trường chờ khám nghiệm xong rồi ký vào biên bản khám nghiệm Những tồn tại thiếu sót trên trong kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường cần phải có những giải pháp khắc phục
Trang 34Kết luận chương 1
Trên đây là những nét khái quát nhất về công tác khám nghiệm hiện trường và công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường Về mặt lý luận, tác giả đã đi sâu phân tích, làm rõ khái niệm hiện trường; khái niệm khám nghiệm hiện trường; khái niệm kiểm sát khám nghiệm hiện trường; đã nêu rõ
cơ sở pháp lý của công tác khám nghiệm hiện trường; cơ sở pháp lý của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường và các hoạt động, kỹ năng thực hiện công tác này Đây là cơ sở cho việc nghiên cứu và trình bày nội dung những chương tiếp theo của luận văn
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG VỤ ÁN VỀ VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Đặc điểm giao thông đường bộ và tình hình tội phạm vi phạm quy định tham gia giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị, dân số đông, nhiều người từ các tỉnh khác về tìm cơ hội việc làm, có nhiều trường Đại học, Cao đẳng chuyên nghiệp, bệnh viện lớn và là đầu mối các trục giao thông đường sắt, đượng bộ, đường thủy, đường không Cơ sở hạ tầng trật hẹp chưa tương xứng với mật độ đông đúc của dân cư cũng như sự phát triển đô thị, dẫn tới thường xuyên ùn tắc giao thông, nhất là vào giờ cao điểm đi lại hoặc tan tầm; ý thức chấp hành luật giao thông của một bộ phận người dân chưa cao; sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện giao thông cá nhân, trong đó có nhiều phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật
Hà Nội có nhiều khu vực giáp danh với địa bàn tỉnh khác; thành phố Hà Nội có nhiều tuyến đường quan trọng, mật độ tham giao thông và mật độ dân
cư hai ven đường đông nên tình hình vi phạm luật giao thông và số vụ tai nạn giao thông đường bộ diễn biến phức tạp, không ngừng gia tăng về số vụ vi phạm, số người chết, bị thương và thiệt tài sản
Mặt khác, sự lấn chiếm hành lang an toàn giao thông, sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện giao thông cá nhân và ý thức của người tham gia giao thông còn kém chưa được cải thiện trong những năm gần đây Bên cạnh
đó, đường xá của chúng ta còn quá chật hẹp, vỉ hè lộn xộn, bị lấn chiếm làm nơi kinh doanh bán hàng, để xe ô tô dẫn tới tình trạng người tham gia giao thông bị khuất tầm nhìn, nhiều đoạn đường xuống cấp quá nhanh dẫn tới có nguy cơ tiềm ẩn tai nạn giao thông Nhiều khúc cua 90 độ trong khi đó có quá
Trang 36nhiều biển báo cấm và biển báo hiệu trên một đoạn đường Trong luật giao
thông đường bộ Điều 60 quy định: “Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô
tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự”[21] như vậy trên thực tế đa số các em học sinh
THPT của chúng ta vi phạm luật giao thông đường bộ, nhưng ít thấy lực lượng cảnh sát giao thông xử lý các đối tượng này
Vì vậy, đảm bảo trật tự an toàn giao thông tại thủ đô Hà Nội luôn là yêu cầu hết sức cấp thiết của Đảng, của các cấp, các ngành, của toàn bộ nhân dân đang sống và làm việc tại thủ đô Thế nhưng, trật tự an toàn giao thông đường
bộ tại thủ đô Hà Nội hiện nay đang gây nhiều lo lắng đối với nhân dân Tình trạng vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ ngày một tăng Tình trạng đua xe máy, đánh võng, phóng nhanh, vượt ẩu không tuân thủ quy
định trật tự giao thông tại thủ đô đang gây nên những nhức nhối cho xã hội
Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông đường bộ có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan
Nguyên nhân chủ quan chiếm hơn 80% số vụ tai nạn xảy ra
Ý thức tự giác chấp hành luật của các đối tượng tham gia giao thông còn thấp, tình trạng vi phạm các quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông gây tai nạn cũng phổ biến Công tác phát hiện, xử lý các hành vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực an toàn giao thông chưa thật sự kiên quyết và triệt để và nghiêm minh phần lớn do các cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức đây là lỗi
vô ý nên khi các bên gây tai nạn và bị hại có sự thỏa thuận, thương lượng về bồi thường thiệt hại, thường xử lý nhẹ như: Đình chỉ miễn trách nhiệm hình
sự đối với bị can gây tai nạn hoặc cho hưởng án treo Thực trạng trên cho thấy trong khi số lượng các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng vẫn có chiều hướng tăng, nhưng tỷ lệ các vụ tai nạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự lại có chiều hướng giảm
Trang 37Kết quả phân tích nguyên nhân chủ quan cho thấy: Do chạy quá tốc độ quy định chiếm 40,7%, tránh, vượt sai quy định chiếm 23,4%, người điều khiển phương tiện say rượu bia chiếm 6,4%, thiếu chú ý quan sát chiếm l8,9%
đi không đúng phần đường chiếm 4,72%, người đi bộ vi phạm chiếm 0,48%, thiết bị không đảm bảo an toàn chiếm 0,8 % và nguyên nhân khác 4,6%
Lỗi gây tai nạn cho thấy: Lỗi do người điều khiển xe ô tô gây ra chiếm
24,6%; lỗi do người điều khiển xe mô tô chiếm 69,7%, do các đối tượng khác chiếm 5,7% (theo Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 2013 đến năm 2017)
Nguyên nhân khách quan chiếm gần 20% số vụ xảy ra
Công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế Một số nội dung quản lý bị buông lỏng, nhất là giao thông ở các địa bàn nông thôn Hệ thống các văn bản pháp luật quản lý của Nhà nước vẫn còn nhiều nội dung chưa hợp lý, chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn, vì thế không được thực hiện nghiêm túc Việc phân công, phân cấp quản lý, quan hệ phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông cũng chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất, nhiều địa phương, cơ quan Nhà nước vẫn chỉ đặt lợi ích của ngành, của địa phương mình lên trên lợi ích chung Tình trạng các công trình giao thông xuống cấp, chất lượng không đảm bảo, việc tổ chức mạng giao thông còn chắp vá, tình trạng quá tải do quá nhiều phương tiện tham gia giao thông so với khả năng cho phép của hạ tầng giao thông đã và đang là nguyên nhân trực tiếp chi phối một cách mạnh mẽ đến tình hình gia tăng tai nạn giao thông ở nước ta, trên
địa bàn thành phố Hà Nội
Từ những đặc điểm của tình hình giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội và những nguyên nhân chính như đã nêu trên.Theo báo cáo tổng kết công tác kiểm sát hàng năm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, từ năm
2013 đến năm 2017, trên địa bàn thành phố Hà Nội đả đã xảy ra tổng số 5.656
Trang 38vụ tai nạn giao thông đường bộ, trong đó số người chết là 3.241 người; gây thiệt hại tài sản hàng trăm tỷ đồng Bình quân mỗi năm xảy ra trên 1.000 vụ
và số vụ năm sau cao hơn năm trước
Kết quả phân tích cho thấy địa bàn xảy ra tai nạn: Quốc lộ chiếm 45,6
% , Tỉnh lộ chiếm l7,l%, Nội thành, Nội thị chiếm 21,4%, Đường khác chiếm 15,9 % (theo báo cáo tổng kết công tác kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Hà Nội từ năm 2013 đến năm 2017)
2.2.Tổ chức bộ máy hai cấp của Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Hà Nội kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường vụ án về vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Toàn thành phố Hà Nội có 583 kiểm sát viên, lãnh đạo làm công tác khám nghiệm hiện trường, trong đó lãnh đạo phòng, Viện trưởng, phó Viện
trưởng là 93 người Trong số các cán bộ KSV nêu trên không chỉ làm công tác giải quyết án hình sự, (trong đó có công tác khám nghiệm hiện trường đối với
các vụ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ) ở VKS thành phố
chỉ có Phòng 1A nay là Phòng 2 với số lượng biên chế là 31 cán bộ tham gia giải quyết án hình về trật tự xã hội, trong đó có công tác khám nghiệm hiện trường đối với các vụ án vi phạm các quy định về giao thông đường bộ Ở VKS quận, huyện có nhiều bộ phận công tác như giải quyết án hình sự, giải quyết án dân sự, giải quyết khiếu nại, tố cáo v.v nên tình trạng thiếu cán bộ, KSV giải quyết án hình sự, trong đó có công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường đối với các vụ án vi phạm quy định về giao thông đường bộ ở một số VKS quận, huyện vẫn còn thiếu, cần được xem xét điều động bổ sung
Để quản lý được các tình hình các vụ tai nạn giao thông, Viện kiểm sát đã yêu cầu Phòng Cảnh sát giao thông và các Đội cảnh sát giao thông các quận, huyện báo cho Viện kiểm sát, Cơ quan cảnh sát điều tra các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra để Viện kiểm sát cùng Cơ quan cảnh sát điều tra và Cảnh sát giao thông tiến hành khám nghiệm hiện trường, tử thi, dấu vết va chạm trên các phương tiện, để trên cơ sở đó phân loại xử lý đối với từng vụ
Trang 39Lãnh đạo phòng, lãnh đạo Viện kiểm sát có sự chỉ đạo trực tiếp, hàng tháng có giao ban, nắm tình hình với các lực lương trực tiếp như: Phòng kỹ thuật hình sự, tổ chức giám định pháp y, phòng Cảnh sát giao thông đường bộ
để nắm bắt kịp thời và có biện pháp xử lý theo quy định tại Điều 145 bộ luật
tố tụng hình sự
Hàng tuần, Viện kiểm sát hai cấp cử cán bộ nắm tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn và phân loại từng vụ việc như: Tai nạn giao thông ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng và đưa vào sổ sách để theo dõi kết quả xử lý Đối với những vụ việc cơ quan Công an để kéo dài thời hạn giải quyết, Viện kiểm sát có yêu cầu giải quyết đúng thời hạn luật định
2.3 Thực trạng công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường(khám
nghiệm tử thi, khám phương tiện) vụ án về vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ trên thành phố Hà Nội trong thời gian qua
2.3.1 Thực trạng hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trong công tác điều tra, xử lý các vụ án về tai nạn giao thông thì hiện trường vụ án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nơi phản ánh khách quan nhất, trung thực nhất về diễn biến tai nạn giao thông thông qua dấu vết vật chất để lại trên hiện trường và phương tiện, chiều hướng chuyển động của người và phương tiện Do đặc thù của các vụ về tai nạn giao thông là hiện trường dễ bị xáo trộn trong quá trình di chuyển, cấp cứu nạn nhân cũng như do người và các phương tiện tham gia giao thông qua lại Do đó, việc khám nghiệm hiện trường kịp thời có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ và xác định lỗi trong các vụ án về tai nạn giao thông Để chủ động quản lý được tình hình tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra các cấp và các đội Cảnh sát giao thông quận, huyện trong việc quản lý tin báo về các vụ tai nạn giao thông, các vi phạm, tội phạm về trật tự an toàn giao thông xảy ra, thông
Trang 40báo số điện thoại của Viện kiểm sát nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng để quần chúng nhân dân kịp thời thông báo vi phạm, tội phạm nói chung và tai nạn giao thông xảy ra nói riêng cho cơ quan Viện kiểm sát, chủ động cùng Cơ quan điều tra; phòng, đội Cảnh sát giao thông giải quyết vụ việc đúng quy định của pháp luật
Viện kiểm sát nhân dân thành phố đã chỉ đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp quận, huyện trên địa bàn, các phòng nghiệp vụ thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị 06/CT ngày 06/03/2004 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về trực nghiệp vụ, lãnh đạo các đơn vị đã quán triệt, tổ chức phân công các đồng chí lãnh đạo và Kiểm sát viên trực nghiệp vụ sau giờ hành chính, kể cả các ngày nghỉ, ngày lễ, tết, đảm bảo 100% theo quy định để
nắm bắt và xử lý thông tin vi phạm pháp luật
2.3.2 Thực trạng hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm dấu vết phương tiện liên quan đến vụ án
về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Do nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi trong các vụ tai nạn giao thông là nhằm thu thập các dấu vết để lại trên hiện trường, trên phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn, xác định hướng điểm va chạm, tốc độ của các phương tiện, trên cơ sở
đó xác định lỗi của người điều khiển phương tiện và trách nhiệm hình sự của
họ, đồng thời quán triệt chức năng nhiệm vụcủa Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, đã được cụ thể hoá trong Quy chế kiểm sát điều tra, Quy chế về kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các quận, huyện đã quan tâm chỉ đạo hoạt động khám nghiệm hiện trường, tử thi, coi đây là hoạt động nghiệp vụ quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong hoạt động giải quyết