VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ THỊ HƯƠNG LAN CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TỪ THỰC TIỄN
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ HƯƠNG LAN
CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn “Các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Thái Bình” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, hoàn toàn do tôi thực
hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu được sử dụng trong luận văn đều được dẫn
từ nguồn có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của riêng tôi
Học viên
LÊ THỊ HƯƠNG LAN
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU,
Bảng 2.1 Mức độ tổng quan tình hình tội phạm và tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Thái Bình (giai đoạn 2013-2017) 50 Bảng 2.2 Bảng số liệu các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phân theo tội danh từ năm 2013 đến năm 2017 53 Bảng 2.3 Bảng tỷ lệ các tội trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt qua các năm (từ năm 2013 đến năm 2017) 54 Bảng 2.4 Số lượng các bị cáo bị áp dụng các tình tiết tăng nặng định khung các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Thái Bình56
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mối tương quan giữa trong việc giải quyết, xét xử các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt và các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt (giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017) 51 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ các bị cáo phạm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt so với tổng bị cáo (giai đoạn 2013 đến 2017) 52 Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ phần trăm các vụ án trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử (từ năm 2013 đến năm 2017)thể hiện qua biểu đồ sau: 55 Biểu đồ 2.4 Biểu đồ mối tương quan số bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 56 Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ các bị cáo Tòa án áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong 5 năm từ 2013 đến 2017 57
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 7
1.1 Khái niệm và cấu thành cơ bản của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 7 1.2 Khái niệm và các đặc điểm của các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 14 1.3 Phân loại các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 18
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH THÁI BÌNH 24
2.1 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 24 2.2 Thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tại tỉnh Thái Bình 49
Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG
ĐÚNG CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 62
3.1 Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 62 3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng, thống nhất các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 65
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có những bước phát triển mạnh
mẽ, kéo theo sự thay đổi về mọi mặt trong đời sống xã hội, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế, từ đó tạo ra vị thế ổn định và phát triển đi lên Nhu cầu càng lớn thì sự hấp dẫn của chủ thể đối với lợi ích càng lớn, do đó, động cơ tư tưởng thúc đẩy hành động của con người càng mạnh
mẽ Tất cả các lợi ích sẽ thúc đẩy và quyết định động cơ hành động của con người Bên cạnh những mặt tích cực, năng động do nền kinh tế thị trường mang lại thì mặt trái của cơ chế thị trường đã có những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội như: sự tha hoá trong lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội và đặc biệt là tội phạm có điều kiện phát sinh, tồn tại Trong đó, có các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt, đây là những tội xâm phạm sở hữu có diễn biến phức tạp, xảy ra thường xuyên và ngày càng gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Từ chủ thể thực hiện tội phạm đến các đối tượng bị xâm hại đều rất đa dạng, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị rất lớn, có những vụ lên đến hàng chục tỷ đồng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế
- xã hội, an ninh trật tự của đất nước Trong đó có tỉnh Thái Bình
Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc Đồng bằng sông Hồng, cách Thủ đô Hà nội 110 km, cách Hải Phòng 70 Km, trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Với dân số khoảng trên 1700 ngàn người, mật độ dân số 1.138 người/km² Chủ yếu người dân lao động bằng nghề gieo trồng lúa nước nên tỷ lệ thành phần dân số chênh lệch cao giữa nông thôn và thành thị cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại tỉnh Thái Bình tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu xảy ra khá phổ biến, diễn biến khá phức tạp, đã góp phần gây hậu quả to lớn cho xã hội Bên cạnh đó, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử những tội phạm này còn nhiều vướng mắc trong việc định tội danh, quyết định hình phạt và xác định tình tiết tăng nặng định khung trong vụ án nên hiệu quả áp dụng các quy định pháp
Trang 7luật trong xử lý tội phạm xâm phạm sở hữu chưa được đáp ứng theo yêu cầu thực tiễn
Trước tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt diễn biến ngày càng phức tạp, tác động tiêu cực trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cũng như trước sự đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, gây nhiều khó khăn đến công tác điều tra, truy tố, xét
xử Việc xác định và áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng định khung ngày càng khó khăn yêu cầu đòi hỏi trình độ nghiệp vụ và kiến thức pháp luật của Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử nhằm giải quyết các vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Tuy nhiên, với diễn biến phức tạp của loại tội phạm này, các cơ quan tiến hành tố tụng của tỉnh Thái Bình đã nỗ lực nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định như: chưa kịp thời, chưa toàn diện và từ đó mới chỉ đáp ứng phần nào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Việc nghiên cứu tình tiết tăng nặng định khung trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản dưới một góc nhìn thực tiễn tại địa phương không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng của công tác định tội danh và quyết định hình phạt, hiệu quả phòng chống tội phạm nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện chế định này trong Bộ luật hình sự Việt
Nam Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Thái Bình” để nghiên cứu làm luận văn Thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tình chất chiếm đoạt đã được đề cập trong một số công
trình khoa học nghiên cứu về luật hình sự như tài liệu “Lý luận chung về định tội danh” của GS.TS Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội xuất bản năm 2013; “Định tội danh, quyết định hình phạt” của TS Dương Tuyết Miên do Nhà xuất bản Lao động Hà Nội xuất bản năm 2007 Vấn đề
này còn được nghiên cứu trong các tập bình luận khoa học về luật hình sự như
Trang 8“Bình luận khoa học bộ luật hình sự, phần các tội xâm phạm sở hữu” của tác giả Đinh Văn Quế do Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2003; các công trình nghiên cứu như luận văn Thạc sĩ Luật học “Tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phạm Thị Kiều Hạnh năm 2017; luận văn Thạc
sĩ “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang” của tác giả Vũ Thị Hương Mai năm 2017; ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí của Toà án, Viện kiểm sát nghiên cứu các nội dung liên quan đến đề tài xâm phạm sở hữu trên các phương diện khác nhau về đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này … Qua nghiên cứu cho thấy, nhìn chung các tác giả đã đề cập khá sâu sắc và toàn diện về các dấu hiệu pháp lý của loại tội phạm này, phân biệt rõ các trường hợp phạm tội này với một số tội phạm khác Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về tình tiết tăng nặng định khung các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Thái Bình dưới góc độ pháp lý hình sự Nói một cách cụ thể hơn, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập vấn đề này Với cách tiếp cận riêng của mình, tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung lý luận của các tình tiết tăng nặng đinh khung các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt dựa trên những số liệu từ thực tiễn tỉnh Thái Bình trong 5 năm qua (từ năm 2013 đến năm 2017) Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện Bộ luật hình sự 2015 đồng thời đưa ra các biện pháp nâng cao nhận thức và hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích khái niệm, cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và khái niệm, phân loại các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam, nghiên cứu thực tiễn xét xử, định tội danh,
áp dụng pháp luật và thực tiễn quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình để đưa ra
Trang 9những đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đặt ra cho mình các nhiệm vụ sau đây:
Một là, nêu và phân tích rõ khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam; khái niệm phân loạt các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Hai là, trình bày những vấn đề lý luận về áp dụng các quy định đối với các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Thái Bình trong 05 năm từ năm 2013 đến năm 2017
Ba là, nêu và phân tích các yêu cầu đối với áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ đó đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về loại tội phạm này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn dựa trên các quan điểm khoa học
pháp lý hình sự, các quy định của pháp luật hình sự, thực tiễn định tội danh và thực tiễn QĐHP đối với các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Thái Bình để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung của luận văn
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các tình tiết tăng nặng
định khung các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự Về khía cạnh thực tiễn, áp dụng pháp luật bao hàm rất nhiều vấn đề, song trong khuôn khổ của luận văn Thạc
sĩ, tác giả chỉ tập trung phân tích thực tiễn hoạt động định tội danh cũng như quyết định hình phạt đối với loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian từ năm 2013-2017
Trang 105 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:
Đề tài của Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà nước và pháp luật, về tội phạm, hình phạt và về phòng ngừa tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự, cụ thể như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử và hệ thống, phương pháp phân tích và so sánh,… Tác giả đã sử dụng các phương pháp một cách linh hoạt, đan xen lẫn nhau để đạt được kết quả nghiên cứu cao nhất
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc với cái nhìn tổng quan nhất, đặt trong mối quan hệ biện chứng các vấn đề lý luận góp phần làm phong phú thêm lý luận nhận thức về các dấu hiệu pháp lý liên quan đến các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, làm tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài này được nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan, toàn diện qua thực tiễn hoạt động định tội danh và thực tiễn quyết định hình phạt của cơ quan tiến hành tố tụng đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Thái Bình Kết quả nghiên cứu là sự đánh giá về thực trạng các vấn đề tích cực cần phát huy và qua nghiên cứu phát hiện được những hạn chế, tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tố tụng, đảm bảo các nguyên tắc của Luật hình sự, mục đích của hình phạt, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Trang 117 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục bảng biểu, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thái Bình
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ
TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 1.1 Khái niệm và cấu thành cơ bản của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.1.1 Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Theo từ điển tiếng việt, chiếm đoạt được hiểu là “chiếm của người làm của mình bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế” [35,tr.151] Chiếm đoạt không chỉ là thuộc tính của hành vi phạm tội mà chúng còn biểu hiện là mục đích phạm tội Khái niệm chiếm đoạt trong dấu hiệu chiếm đoạt cần được
hiểu: “là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ sở hữu thành tài sản của mình Chúng được biểu hiện dưới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội” [31, tr.368] Tuy nhiên, trên thực tế có rất
nhiều trường hợp chủ tài sản không phải là người đang quản lý tài sản do đó theo tác giả khái niệm trên chưa phù hợp với tình hình thực tế và cần phải bao quát cả ở khía cạnh hành vi phạm tội và mục đích phạm tội Vì vậy, khái niệm
chiếm đoạt tài sản cần được bổ sung là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lý của người khác thành tài sản của mình và được biểu hiện dưới dạng hành vi và mục đích
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người
có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi, chiếm đoạt hoặc nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, do trong từng điều luật quy định chưa chặt chẽ nên bên cạnh việc thiếu thống nhất khi xác định dấu hiệu hành vi của từng tội, thực tiễn còn có những quan điểm khác nhau trong việc xác định dấu hiệu chiếm đoạt đối với các tội này Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu, tác giả phân tích làm rõ dấu hiệu chiếm
Trang 13đoạt trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và nêu lên những quan điểm nhận thức khác nhau trong thực tiễn áp dụng
Trong số 13 tội quy định tại chương XIV Bộ luật Hình sự 1999 (chương XVI Bộ luật hình sự 2015) thì có tới 8 tội có tính chất chiếm đoạt tài sản đó là các tội: tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Đặc điểm nổi bật của các tội xâm phạm sở hữu là có tính chất chiếm đoạt nhưng không phải tội phạm nào có tính chất chiếm đoạt đều là tội xâm phạm
sở hữu ngược lại tội xâm phạm sở hữu không nhất thiết có tính chất chiếm đoạt như các tội: tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước, tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt nên trong cấu thành tội phạm của
những tội này có dấu hiệu chiếm đoạt
Vì vậy, các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những hành
vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện,
có lỗi, nhằm chuyển dịch trái phép tài sản đang thuộc quyền sở hữu của người khác thành tài sản của mình
Hậu quả của các tội xâm phạm sở có tính chất chiếm đoạt là gây thiệt hại
về tài sản Có thể nói thiệt hại về tài sản là thước đo đánh giá tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Trong một số tội, giá trị tài sản bị thiệt hại còn là căn cứ để phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm như: Công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nếu chưa đến mức quy định của Bộ luật Hình sự thì chưa bị coi là tội phạm
Trang 14Ví dụ: Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị dưới 2 triệu đồng, nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng đã được xóa án tích thì chưa
bị coi là tội phạm
Tuy nhiên đối với một số tội phạm ngoài thiệt hại về tài sản, tội xâm phạm sở hữu còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến hoạt động của các cơ quan tổ chức
1.1.2 Cấu thành cơ bản của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
a Về chủ thể
Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là chủ thể thường Theo BLHS năm 1999, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm mà khung hình phạt cao nhất từ 7 năm tù trở xuống Khoản 2 Điều 12 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng” Khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự quy định: “Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm, chung thân hoặc tử hình” [8, tr.322] Về yếu tố chủ thể đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo BLHS năm 2015 có
sự thay đổi, theo đó đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nhiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại các Điều 168 (Cướp
Trang 15tài sản), Điều 169 (Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều 170 (Cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (Cướp giật tài sản); Điều 173 (Trộm cắp tài sản);
b Về khách thể
Theo khoa học luật hình sự, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Nghiên cứu quy định của Bộ luật hình sự đối với các tội từ Điều 133 đến Điều 140 và thực tiễn áp dụng, các tội từ Điều 133 đến Điều 136 Bộ luật hình sự có khách thể là quan hệ sở hữu và quyền nhân thân; Để xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội phải
có hành vi xâm hại quan hệ nhân thân Trong đó, quan hệ nhân thân rõ ràng quan trọng hơn quan hệ sở hữu nên các tội này có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội xem như tội phạm đã hoàn thành Như trình bày bên trên, người thực hiện hành vi vi phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đều có ý thức chiếm đoạt Xuất phát từ khách thể được bảo vệ mà hành vi khách quan của các tội này không có dấu hiệu chiếm đoạt cho nên dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua mục đích phạm tội Vì vậy, dấu hiệu mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này Đây là cơ sở phân biệt các tội này với các tội khác do Bộ luật hình sự quy định có hành vi khách quan tương tự như hành vi phạm tội của các tội này Đối với tội cướp giật tài sản, mặc dù khách thể mà tội này xâm phạm cũng là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân nhưng khác với các tội tại các Điều 133, 134, 135 Bộ luật Hình sự Hành vi khách quan do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội cướp giật tài sản xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu và qua việc xâm phạm quan hệ sở hữu mới xâm phạm đến quan hệ nhân thân nên dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua hành
vi chiếm đoạt Đối với các tội từ Điều 137 đến Điều 140 Bộ luật Hình sự có khách thể chỉ là quan hệ sở hữu Cũng như tên gọi của chương XIV khách thể
là các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, khách thể trực tiếp bị xâm hại là quan hệ sở hữu Người không phải chủ sở hữu tài sản có các quyền
Trang 16sử dụng, chiếm hữu tài sản, có nghĩa là người không phải chủ sở hữu tài sản cũng sẽ là người bị tội phạm tác động chứ không chỉ người chủ sở hữu tài sản mới là người bị tội phạm tác động Do đó người phạm tội chỉ cần có hành vi xâm phạm một trong các quyền này sẽ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo một trong những tội phạm quy định tại chương XIV Nhận thức đúng nội dung này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đó là có trường hợp người sở hữu tài sản bị chiếm đoạt không phải là người bị hại trong vụ án, và ngược lại có trường hợp người không phải là chủ sở hữu tài sản bị chiếm đoạt vẫn là người
bị hại trong vụ án để từ đó xác lập đúng quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự
Khách thể trực tiếp của một số tội phạm trong các tội phạm xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt còn là sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, nhân thân của người sở hữu, người quản lý, người chiếm hữu tài sản như trong các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản với tình tiết định khung tăng nặng khi tính mạng, sức khỏe của những người này
bị xâm hại
Trên thực tế xét xử ít gặp trường hợp Viện kiểm sát truy tố bị cáo về một tội chiếm đoạt với tình tiết tăng nặng định khung là gây thương tích hoặc dẫn đến chết người như Cướp tài sản theo điểm đ khoản 2, điểm đ khoản 3, điểm
đ khoản 4 Điều 133 Bộ luật hình sự mà thường gặp các trường hợp bị cáo bị truy tố và xét xử về hai tội Giết người “để thực hiện hoặc che dấu tội phạm khác” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 93 và tội Cướp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự nếu không có các tình tiết định khung tăng nặng khác Trong quá trình xét xử nhiều Thẩm phán còn mặc nhiên chấp nhận kết quả điều tra, truy tố để xét xử bị cáo về hai tội, một tội xâm phạm quyền sở hữu và một tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, mà thực
ra nếu làm kĩ, làm đúng có khi bị cáo chỉ phạm một tội xâm phạm quyền sở
Trang 17hữu với tình tiết tăng nặng định khung là gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người quản lý tài sản [8, tr.325]
Đối tượng tác động của tội phạm trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là tài sản Theo đó, theo Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 thì
“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” [17] Trong trường hợp chiếm đoạt tài sản là vật có thực gồm các động sản, tiền, vàng thì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã rõ nhưng trong trong trường hợp như sử dụng điện không qua công tơ, sử dụng điện thoại liên lạc trốn phí, chiếm đoạt đồ cổ trong các đền chùa, chiếm đoạt sừng tê giác, ngà voi, cây cảnh khi tính giá trị tài sản trong các trường hợp này cần phải căn cứ vào kết quả định giá của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự để định tội và định khung hình phạt cho phù hợp
Trường hợp tài sản trong công ty bị chiếm đoạt, trong đó có phần thuộc
sở hữu nhà nước để định tội và áp dụng tình tiết tăng nặng cho đúng, nếu phạm tội chiếm đoạt tài sản trong trường hợp này thì cần phải áp dụng thêm tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự là
“xâm phạm tài sản của Nhà nước” Theo luật Doanh nghiệp thì “Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ” Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và thực tiễn xét xử thì chỉ cần có tỷ lệ phần trăm tài sản của nhà nước trong đó, người phạm tội đã bị coi là có hành vi chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, không cần phải tỷ lệ trên 50% như quy định tại Luật doanh nghiệp
Tài sản bị chiếm đoạt là giấy tờ có giá thường là Trái phiếu chính phủ, trái phiếu Công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, các loại chứng khoán nhưng trên thực tế tại địa bàn tỉnh Thái Bình thường gặp các trường hợp can phạm chiếm đoạt Sổ tiết kiệm, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, Đăng ký xe ô tô, mô tô Theo các quy định trên, thì các loại giấy tờ này không phải là giấy tờ có giá Do đó những hành vi chiếm đoạt
Trang 18giấy tờ này không cấu thành tội phạm quy định trong chương các tội xâm phạm quyền sở hữu nếu không có các yếu tố khác để định tội Tuy nhiên nếu sau khi chiếm đoạt được giấy tờ này, người chiếm đoạt tiếp tục có hành vi sử dụng giấy tờ này bằng các thủ đoạn khác nhau để chiếm đoạt tài sản của người khác thì hành vi của họ vẫn cấu thành một trong các tội quy định tại chương này
Về quyền tài sản gồm có các quyền như quyền chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, quyền thừa kế, quyền tác giả, bản quyền, thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa không được coi là đối tượng tác động của tội phạm bởi đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu phải là những vật cụ thể Còn quyền tài sản với tư cách là một khái niệm pháp lý thì không thể trở thành đối tượng bị tác động bởi các hành vi khách quan của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Nếu có hành vi xâm phạm các quyền này thì sẽ giải quyết bởi những quy định pháp luật khác như tranh chấp về quyền tác giả, về bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, về nhãn hiệu hàng hóa hoặc nếu xử lý về hình sự thì với các tội danh khác chứ không phải các tội Xâm phạm quyền sở hữu có tính chất chiếm đoạt
c Về mặt khách quan của tội phạm
Những hành vi nguy hiểm của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đều được thực hiện bằng hành động, có thể sử dụng công cụ hoặc phương tiện khác nhau nhằm mục đích chiếm đoạt nhằm gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà ở đây là thiệt hại về tài sản của người khác
Trong các tội xâm phạm sở hữu có 3 tội có cấu thành cơ bản là cấu thành hình thức đó là tội Cướp tài sản, tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội Cưỡng đoạt tài sản [8, tr.330] Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm trong đó không có dấu hiệu mô tả hậu quả của hành vi phạm tội Các tội phạm được xây dựng Cấu thành tội phạm là cấu thành tội phạm hình thức là những tội phạm mà riêng dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện
Trang 19được đầy đủ tính chất nguy hiểm của tội phạm đó hoặc dấu hiệu nguy hiểm của tội phạm đó khó xác định [32, tr.57] Trên thực tế nhiều vụ án Cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, người phạm tội không chiếm đoạt được tài sản bởi những lý do khách quan khác nhau, từ đó
có những ý kiến cho rằng bị cáo phạm tội chưa đạt, có ý kiến cho rằng bị cáo phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn dẫn đến áp dụng pháp luật khác nhau, không nhất quán khi giải quyết từng vụ án cụ thể Còn lại 5 tội trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có cấu thành tội phạm vật chất, tức là cấu thành tội phạm trong đó có dấu hiệu mô tả hậu quả của hành vi phạm tội Những tội phạm được xây dựng có cấu thành tội phạm
là cấu thành tội phạm vật chất là những tội phạm mà riêng dấu hiệu hành vi chưa thể hiện được hoặc chưa thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm của tội phạm đó mà đòi hỏi phải có cả dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội
d Về mặt chủ quan của tội phạm
Các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Tức người phạm tội biết hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện
1.2 Khái niệm và các đặc điểm của các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.2.1 Khái niệm các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trong cùng một tội phạm có chia nhiều khung hình phạt khác nhau, sự khác nhau giữa các khung hình phạt là do mỗi khung có những yếu tố khác nhau chứng minh tính chất nghiêm trọng so với khung cơ bản; trong cùng một khung hình phạt có một khoảng giới hạn để quyết định hình phạt cụ thể trong khung đó Chính vì vậy, có thể thấy, nếu có thêm yếu tố đặc biệt làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm hoặc cần thiết phải áp dụng để tăng mức
độ giáo dục, cải tạo người phạm tội thì sẽ xảy ra một trong ba trường hợp:
Trang 20Hoặc là chuyển sang tội danh mới cùng loại có mức hình phạt nặng hơn, hoặc
là ở khung hình phạt nặng hơn so với khung cơ bản, hoặc là ở trong khung hình phạt đó nhưng mức hình phạt áp dụng sẽ nặng hơn mức trung bình của khung hình phạt Những tình tiết này bao gồm những tình tiết làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm hoặc tình tiết làm tăng mức độ cần thiết giáo dục, cải tạo người phạm tội Do đó, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự ở mức cao hơn Những tình tiết này được nhà làm luật nhận thức và quy định trong pháp luật hình sự nhằm đảm bảo tính công bằng, tính nghiêm minh của pháp luật Trách nhiệm hình sự, hình phạt chỉ đạt được mục đích trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội khi trách nhiệm hình sự, hình phạt được tuyên tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tình tiết được luật quy định với tính chất là yếu tố định khung hình phạt đối với một tội phạm tương ứng
cụ thể, có nghĩa tình tiết này làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và là căn cứ cho phép Tòa án tăng mức hình phạt đối với người phạm tội chuyển sang khung hình phạt khác nặng hơn, thì trong việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội, Tòa án nhất thiết không thể xem xét nó với tính chất là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung (quy định tại khoản
1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999)
Qua đó, tình tiết tăng nặng định khung là tình tiết làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm một cách đáng kể nhưng vẫn trong cùng một tội phạm Trách nhiệm hình sự đối với những trường hợp này cũng cao hơn thể hiện ở chế tài được quy định ở khung cao hơn đối với chế tài của khung hình phạt cơ bản
Thực hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, tránh quyết định hình phạt một cách tùy tiện, hình phạt được chia thành từng khung nhất định với độ biến thiên nhỏ hơn độ biến thiên của cả tội danh Khoảng cách giữa mức độ cao nhất và mức độ thấp nhất của hình phạt tội đó càng lớn thì các
Trang 21nhà làm luật càng chia ra thành nhiều khung hình phạt Tương ứng với đó, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào biểu hiện cho tính nguy hiểm xã hội lớn hơn, đáng kể hơn so với tình tiết khác thì tương ứng sẽ được sử dụng làm căn cứ xác định khung hình phạt cao hơn Trong pháp luật hình sự, có những tình tiết tăng nặng trách nhiệm định khung được sử dụng phổ biến ở nhiều nhóm tội, nhiều tội phạm khác nhau như: “phạm tội có tổ chức”, “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, “tái phạm nguy hiểm”, “phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”… Các tội xâm phạm sở hữu cũng sử dụng các tình tiết phổ biến này là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung như tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung phạm tội có tổ chức được sử dụng ở tội cướp tài sản (Điều 133), tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135), tội Cướp giật tài sản (Điều 136), tội trộm cắp tài sản (Điều 138), tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140); hay tình tiết “tái phạm nguy hiểm” được sử dụng ở tất cả các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt… Tuy nhiên, có những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung lại chỉ được áp dụng ở một nhóm tội do tính đặc thù của tình tiết này chỉ có thể xuất hiện ở nhóm tội đó như tình tiết “hành hung để tẩu thoát” ở tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137), tội trộm cắp tài sản (Điều 138); tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” chỉ xuất hiện ở hai tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140) trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.2.2 Các đặc điểm của các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Xuất phát từ khái niệm đã nêu trên và phân tích các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 có liên quan đến các tình tiết tăng nặng định khung đối với
Trang 22các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và thực tiễn áp dụng, tác giả
có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản:
- Tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nhất thiết phải được nhà làm luật ghi nhận chỉ trong pháp luật hình sự thực định (Bộ luật hình sự) mà ở đây là trong phần XIV Bộ luật hình
sự 1999, chứ không thể trong các văn bản pháp lý nào khác hoặc không thể do Tòa án tự xem xét để cân nhắc
- Tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt xuất hiện trong một vụ án cụ thể, đối với người phạm tội cụ thể và chỉ làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong vụ án đó theo hướng nghiêm khắc hơn và chỉ trong phạm vi một cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự, chứ không làm thay đổi tính chất của tội phạm ấy
- Trường hợp tình tiết tăng định khung được luật quy định với tính chất
là yếu tố định tội đối với một tội phạm tương ứng cụ thể, có nghĩa tình tiết này làm thay đổi tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì trong việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội, Tòa án nhất thiết không thể xem xét nó với tính chất là tình tiết tăng nặng chung được quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999
- Trường hợp tình tiết tăng nặng định khung là tình tiết được luật quy định với tính chất là yếu tố định khung hình phạt đối với một tội phạm tương ứng cụ thể, có nghĩa tình tiết này làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và là căn cứ cho phép Tòa án tăng mức hình phạt đối với người phạm tội chuyển sang khung hình phạt khác nặng hơn, thì trong việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội, Tòa án nhất thiết không thể xem xét
nó với tính chất là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung (quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999)
Trang 23Ví dụ: Các tình tiết tăng nặng định khung: “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, “tái phạm nguy hiểm” trong tội cướp tài sản (quy định tại các điểm
b, c khoản 2 Điều 133) hoặc “lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức” trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (quy định tại điểm d khoản 2 Điều 139)… Tương tự, khi quyết định hình phạt, Tòa án cũng không được xem xét các tình tiết này là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự chung quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 nữa
- Tình tiết tăng nặng định khung mang tính chất ổn định về số lượng và nội dung Mặc dù vậy, nếu trong thực tiễn đời sống xuất hiện những tình tiết làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm theo hướng nghiêm khắc hơn thì nó sẽ được nhà làm luật bổ sung cho phù hợp với tình hình kinh
tế, chính trị-xã hội và ngược lại loại bỏ khỏi Bộ luật hình sự những tình tiết nào mà việc áp dụng chúng không còn phù hợp với giai đoạn tương ứng đó
- Trong một số trường hợp khi áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, Tòa án “phải làm sáng tỏ ý thức chủ quan của người phạm tội để xét trường hợp này họ có phải thấy trước hoặc có thể thấy trước được tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay không, thì mới được áp dụng tình tiết tăng nặng đó đối với họ” [25, tr.13] Trường hợp có căn cứ chứng minh rằng họ không thấy được trước hoặc không thể thấy được trước thì dù tình tiết đó có xảy ra người phạm tội cũng không phải chịu trách nhiệm đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó
1.3 Phân loại các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.3.1 Phân loại theo cấu thành của tội phạm
1.3.1.1 Các tình tiết tăng nặng định khung theo mặt khách quan của tội phạm
Các tình tiết tăng nặng định khung theo mặt khách quan của tội phạm là những tình tiết thuộc về các dấu hiệu bên ngoài của tội phạm (mặt khách quan
Trang 24của tội phạm), mà trong vụ án nếu có các tình tiết này, thì hành vi nguy hiểm
cho xã hội trong mặt khách quan của tội phạm trở lên nguy hiểm hơn so với
các trường hợp thông thường khác mà không có những tình tiết này
Ví dụ: trong vụ án có tình tiết “phạm tội có tổ chức”; “phạm tội gây hậu
quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”, “hành hung
để tẩu thoát”…
1.3.1.2 Các tình tiết tăng nặng định khung theo chủ thể của tội phạm
Các tình tiết tăng nặng định khung theo chủ thể hay còn gọi là các tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội: là những tình tiết phản ánh những đặc điểm, đặc tính xã hội khác nhau của một con người cụ thể với tư cách là chủ thể của tội phạm mà những đặc điểm, đặc tính này có ảnh hưởng nhất định đến hành vi phạm tội và khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội Điều này hoàn toàn đúng với quan điểm của Mác trong tác phẩm “Luận cương về Phơ – bách” (1845), khi nói về bản chất của con người: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của
nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” Vì thế, những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng quan trọng đối với việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội Đối với các tình tiết tăng nặng định khung thuộc về nhân thân người phạm tội không những làm cho hành vi phạm tội cũng trở nên nguy hiểm hơn
mà cả nhân thân người phạm tội đó cũng nguy hiểm hơn so với các trường hợp thông thường khác mà không có những tình tiết này
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể được thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do pháp luật hình sự quy định Một số cấu thành tội phạm cụ thể quy định rõ về chủ thể của tội phạm ngoài hai điều kiện về tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự còn phải thoả mãn thêm các dấu hiệu như: có chức vụ, giới tính, nghề nghiệp, quan hệ gia đình Những chủ thể
Trang 25này gọi là chủ thể đặc biệt của tội phạm Dấu hiệu của chủ thể đặc biệt có thể quy định là dấu hiệu định tội, tình tiết tăng nặng định khung hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung
Nhân thân người phạm tội là một trong những căn cứ để xem xét khi quyết định hình phạt Một số đặc điểm nhân thân người phạm tội còn được xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chủ yếu là tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung và tăng nặng trách nhiệm hình sự chung Các tình tiết về nhân thân này ý nghĩa phản ánh mức độ gia tăng biện pháp cải tạo, giáo dục, cảm hóa người phạm tội, để có thể áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tội phạm mà họ thực hiện và đạt được các mục đích của hình phạt
Ví dụ: tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”; “lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để phạm tội”; “phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm”
1.3.1.3 Các tình tiết tăng nặng định khung theo mặt chủ quan của tội phạm
Các tình tiết tăng nặng định khung theo mặt chủ quan của tội phạm là những tình tiết phản ánh quá trình hoạt động, diễn biến tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội (mặt chủ quan của tội phạm), đồng thời làm cho hành vi phạm tội cũng trở lên nguy hiểm hơn so với các trường hợp thông thường khác mà không có những tình tiết này
Ví dụ: tình tiết “phạm tội vì động cơ đê hèn; “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng”, dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm
1.3.1.4 Các tình tiết tăng nặng định khung theo khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ nhưng bị hành vi phạm tội xâm hại Căn cứ khách thể của tội phạm có thể xác định được hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể tội phạm thực hiện và
là cơ sở chung nhất để xác định tính nguy hiểm của tội phạm đó Tuy nhiên, không thể chỉ căn cứ vào khách thể của tội phạm để xác định mức độ trách
Trang 26nhiệm hình sự cụ thể của người phạm tội Tất cả các cấu thành tội phạm đều
có dấu hiệu về khách thể của tội phạm
Các bộ phận cấu thành khách thể của tội phạm lại có ảnh hưởng đến mức
độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội khác nhau Đặc biệt, trong bộ phận của khách thể tội phạm, đối tượng tác động của tội phạm là một trong các căn cứ tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội Đó cũng có thể
là tình tiết tăng nặng định khung như tình tiết đối với trẻ em (người dưới 16 tuổi) là tình tiết tăng nặng định khung của tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản…
1.3.2 Phân loại theo mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự
Bên cạnh việc phân loại theo cấu thành tội phạm thì tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự còn được phân loại theo mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự thể hiện ở các khung hình phạt tăng nặng khoản 2, khoản
3, khoản 4 Sự phân loại tội phạm thành 4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trong cũng tương ứng với 4 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình
sự Theo đó khoản 2 tương ứng với tội phạm nghiêm trọng, khoản 3 tương ứng với tội phạm rất nghiêm trọng, khoản 4 tương ứng với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
1.3.2.1 Các tình tiết tăng nặng định khung theo khoản 2
Đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chất chiếm đoạt mà đối tượng chỉ là tài sản (từ Điều 137 đến 140) thì khung hình phạt tại khoản 2 sẽ
từ 2 năm đến 7 năm tù, thể hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng cho xã hội mà
ở đây là những hành vi nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù Trong trường hợp bên cạnh xâm phạm quyền sở hữu còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại thì khung hình phạt tại khoản 2 sẽ cao hơn so với các tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác
Trang 27Ví dụ: khung hình phạt tại khoản 2 Điều 133 là từ bảy năm đến mười lăm năm
1.3.2.2 Các tình tiết tăng nặng định khung theo khoản 3
Các tình tiết tăng nặng định khung tại khoản 3 đều được áp dụng đối với hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội Các tội Cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội Cưỡng đoạt tài sản, tội Cướp giật tài sản đều quy định các hành vi “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60 %”, “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”, “gây hậu quả nghiêm trọng” Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản thì khoản 3 chỉ có tình tiết “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”, gây hậu quả nghiêm trọng
1.3.2.3 Các tình tiết tăng nặng định khung theo khoản 4
Áp dụng các tình tiết tăng nặng định khung tại khoản 4 đều là các hành vi gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội được thể hiện qua hành vi gây thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ từ 61% trở lên hoặc làm chết người, hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
Kết luận chương 1
Việc nghiên cứu sâu và làm rõ các quy định chung của Bộ luật hình sự đối với các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản góp phần xác định những thiếu sót trong nhận thức và góp phần nâng cao kiến thức phục vụ cho công tác xét xử Tình tiết tăng nặng định khung là yếu tố, dấu hiệu mà nhà làm luật đã quy định, theo
đó khi trong vụ án hình sự, xuất hiện các yếu tố, dấu hiệu này sẽ làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nâng mức độ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thể hiện ở việc tội phạm bị xử lý theo tội danh nặng hơn so với tội danh cơ bản cùng loại hay khung hình phạt nặng hơn so với khung
Trang 28hình phạt cơ bản của cùng tội danh hoặc mức hình phạt cao hơn so với trường hợp không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong cùng khung hình phạt Hay có thể nói ngắn gọn là, tình tiết tăng nặng định khung là dấu hiệu, yếu tố làm cho trách nhiệm hình sự của người phạm tội tăng lên so với trường hợp thông thường ở trong cùng một loại tội
Trang 29Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
TỈNH THÁI BÌNH 2.1 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt được quy định tại các khoản 2, khoản 3, khoản 4 các điều luật tương ứng trong phần các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu Quy định của bộ luật hình sự 1999 quy định tương đối đầy đủ đáp ứng được yêu cầu giải quyết vụ án Tuy nhiên, Bộ luật hình sự còn một số tình tiết chưa quy định kịp thời mà được bổ sung tại Bộ luật hình sự 2015 Ở chương này giả phân tích những tình tiết tăng nặng định khung quy định tại Bộ luật hình sự
1999 để gắn với thực tiễn đã áp dụng; các quy định mới theo Bộ luật hình sự
2015 được phân tích sau
2.1.1 Phạm tội có tổ chức
Phạm tội có tổ chức là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của người tham gia, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu
Phạm tội có tổ chức được quy định tại hầu hết các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt trừ tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản Mức độ tăng nặng trạch nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vai trò của từng người tham gia vào tội phạm và quy mô của vụ án Người chủ mưu, người cầm đầu, người chỉ huy, chỉ huy việc thực hiện tội phạm (người tổ chức) có mức độ tăng nặng nhiều hơn người giúp sức trong vụ án phạm tội có tổ chức Vì vậy, khi quyết định hình phạt, khi đã xác định có người tổ chức thì mức hình phạt người tổ chức nhất thiết không thể thấp hơn người thực hành, người xúi giục
Trang 30hoặc người giúp sức nếu các tình tiết khác của vụ án như nhau Hiện nay có quan điểm cho rằng, áp dụng hình phạt đối với kẻ thực hành cao hơn người tổ chức vì cho rằng người tổ chức không trực tiếp tham gia tội phạm, là chưa thấy hết tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi do người tổ chức thực hiện Khi đã xác định vụ án được thực hiện có tổ chức thì tất cả những người trong vụ án đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội có tổ chức, tuy nhiên mức độ tăng nặng nhiều hay ít đối với từng người còn tùy thuộc vào vai trò của họ trong vụ án Xét từng tội danh cụ thể trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt:
a Phạm tội cướp tài sản có tổ chức (điểm a khoản 2 Điều 133)
Phạm tội cướp tài sản có tổ chức được hiểu là phạm tội cướp tài sản mà
có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người (đồng phạm) cùng thực hiện tội phạm này Có thể hiểu là trường hợp có nhiều người cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện việc cướp tài sản, dưới
sự điều chỉnh, thống nhất của người cầm đầu [12, tr.304]
Trong vụ án cướp tài sản có tổ chức, tùy thuộc vào quy mô và tính chất
mà có thể có những người giữ những vai trò khác nhau như: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức
Thực tiễn xét xử đã khẳng định, hành vi thái quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm và hậu quả do hành vi thái quá đó gây ra chỉ người thực hành phải chịu trách nhiệm hình sự còn những người đồng phạm khác không phải chịu về việc “thái quá” đó Như vậy khi nghiên cứu tình trạng loại trừ trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác đối với hành vi thái quá của người thực hành, chúng ta chỉ nghiên cứu nội dung thái quá của người thực hành đã gây ra, từ đó xác định trách nhiệm hình sự của người thực hành về hành vi thái quá đó mà loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác
Trang 31Thực tiễn xét xử cho thấy hành vi thái quá của người thực hành không chỉ đơn giản mà nó được thể hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau như: lúc đầu chỉ bàn cướp nhưng khi thực hiện lại giết người, lúc đầu chỉ bàn đánh cho một trận nhưng khi thực hiện lại lấy tài sản của người bị đánh Chính vì tội phạm xảy ra muôn hình muôn vẻ nên khoa học luật hình sự chia hành vi thái quá ra làm hai loại chính: thái quá về chất lượng của hành vi và thái quá về số lượng của hành vi
Trong vụ án khi đã xác định vụ án được thực hiện có tổ chức thì tất cả những người trong vụ án đều bị áp dụng tình tiết “phạm tội có tổ chức” Tuy nhiên trách nhiệm hình sự đối với từng người còn tùy thuộc vào vai trò của họ trong vụ án
Ví dụ: Tại bản án số 43/2016/HSST ngày 02/12/2016 của TAND tỉnh Thái Bình: H (cháu bà L) biết bà L sống độc thân, có tiền, có tài sản khoảng 16h ngày 7/12/2012 H gặp C và V đều là người cùng xã, có quan hệ bạn bè H
rủ C và V tối ngày 9/12/2012 cùng sang nhà bà L để trộm cắp tài sản và được
C và V đồng ý Khoảng 21h ngày 09/12/2012 C đi xe máy đến ngõ nhà V đứng đợi một lát thì H và V đến C để xe máy ở ngõ nhà V và cùng H, V đi bộ
về phía nhà bà Khi đến gần ngõ nhà H, H nói: “Hai chúng mày đi thẳng lối kia trèo tường vào anh đi ngõ nhà anh đề vào” C và V đi đến chỗ tường xây bao cổng nhà bà L thì C trèo tường vào trước còn V trèo tường vào sau Vào trong vườn, C và V ngồi chỗ gốc cây vải, H đi từ vườn nhà H vào nhà bà L và
có cầm cục gỗ ở vườn nhà H to bằng hồn gạch mang theo với mục đích kê cạy cửa H đi đến chỗ cửa chính ngồi xuống để cạy cửa lúc này C đi đến để cùng H mở cửa còn V đi ra chỗ vườn để cảnh giới đề phòng bị lộ H và C mở của làm chiếc móc cửa hình chữ S bằng sắt được cài bên trong rơi xuống nền nhà đá hoa phát ra tiếng kêu “keng” Nghe thấy tiếng động bà L hỏi “đứa nào đấy”, lúc này H và C mở cửa đi nhanh vào trong nhà còn V đi đến khép cửa tránh bị phát hiện Thấy bà L ngồi dậy hai chân đặt dưới nền nhà C lao đến
Trang 32đẩy bà L ngã ra giường đồng thời C dùng tay ôm giữ chân Bà L kêu lên:
“chúng mày giết tao à”, H lao lên giường quỳ đè trên người bà L và dùng cục
gỗ đánh vào đầu, mặt bà L V đứng ở cửa nghe thấy tiếng động ở trong nhà bà
L liền mở cửa đi vào và khép cửa lại để tránh bị phát hiện đồng thời V bật điện phòng khách sáng lên, ánh sáng hắt vào phòng ngủ, V nhìn thất H và C đang quỳ đè, ôm giữ khống chế đánh bà L C gọi “V ơi vào giữ chân, bà này khỏe lắm”, V không vào giữ, V thấy bà L giãy dụa nhưng không kêu, không thoát ra được, sau đó thấy bà L không giãy nữa C bỏ tay ra, H bỏ cục gỗ xuống giường, cả ba người đi lục tìm tài sản ở trong nhà Khi lấy được tài sản chúng đến khu vực bụi chuối phía sau công ty T để chia nhau
Vai trò trong vụ án: Ba bị cáo cùng tham gia lục tìm tài sản nhưng xét với hành vi giết người thì H giữ vai trò chính là người khởi xướng, người chủ mưu, người thực hành, C giữ vai trò thứ hai, V không trực tiếp tham gia giết
bà L nhưng giữ vai trò là người giúp sức
b Bắt cóc nhằm chiếm đoạt có tổ chức (điểm a khoản 2 Điều 134)
Trường hợp phạm tội này tương tự như trường hợp phạm tội cướp tài sản
có tổ chức được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 133 , các dấu hiệu về phạm tội có tổ chức được quy định tại điều 20 BLHS Tuy nhiên, đối với phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có tổ chức còn có những đặc điểm riêng sau: Người thực hành là người trực tiếp thực hiện hành vi bắt cóc người làm con tin; canh giữ con tin; dụ dỗ, khống chế, hăm dọa con tin, chuyển những tin tức cho cơ quan, tổ chức hoặc người thân của con tin; tiếp nhận tài sản hoặc tiền chuộc con tin [12, tr.341] Người thực hành trong vụ án bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cũng có thể có hành vi thái quá trong quá trình thực hiện tội phạm Tuy nhiên, nếu hành vi thái quá đó chỉ nhằm thực hiện việc bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà những người đồng phạm khác mong muốn thì hành vi thái quá của người thực hành là tất cả những đồng phạm khác phải chịu
Trang 33Ví dụ: T, K và H bàn bạc thống nhất bắt cóc cháu Q con anh Th nhằm buộc anh Th phải nộp cho chúng 100 triệu đồng thì chúng mới thả cháu Q Theo kế hoạch thì T có nhiệm vụ là giả vờ người nhà cháu Q đến đón cháu tại trường mầm non sau giờ học, K có nhiệm vụ dùng xe máy đến chở T và cháu
Q về nhà H Trên đường đưa cháu Q về nhà H, cháu Q thấy người lạ nên khóc
và không chịu để T và K chở đi, một số người thấy nghi bèn đến hỏi T và K cho rõ ngọn ngành Thấy nguy cơ bị lộ, K đã rút dao ra đâm bị thương anh X
và dọa mọi người, ai xông vào sẽ bị đâm chết, nên mọi người sợ hãi để T và
K bắt cháu Q đi Trong trường hợp này, hành vi đâm anh X của K nằm ngoài
dự kiến của T và H, nhưng lại cùng mục đích là bắt cóc cháu Q nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Th, cho nên T và H cùng phải chịu chung trách nhiệm hình sự về hành vi gây thương tích cho anh X của K [12, tr.342]
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Nói chung, phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có tổ chức, thì việc tổ chức tương đối chặt chẽ, có sự phân công vai trò của từng người đồng phạm, vạch kế hoạch, chuẩn bị phương tiện để việc bắt cóc người làm con tin dễ dàng Cùng với việc vạch kế hoạch bắt cóc, người tổ chức và những người đồng phạm khác còn vạch kế hoạch giam giữ, hăm dọa, khống chế con tin, chuẩn bị kế hoạch để chiếm đoạt tiền chuộc mà không bị phát hiện
Người xúi giục trong vụ án bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm Thực tiễn xét
xử cho thấy, người xúi giục trong vụ án bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thường là những người có mâu thuẫn với người thân của người bị bắt cóc, nhưng không có khả năng tổ chức viêc bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản nên xúi giục người khác thực hiện việc bắt cóc, đồng thời có một số hành vi giúp sức cho việc thực hiện tội phạm như: chỉ mặt, cung cấp quy luật đi về của người bị
Trang 34bắt cóc cho đồng bọn Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người xúi giục trong vụ án bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đồng thời là người tổ chức
Người giúp sức trong vụ án bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản như: gọi điện cho người thân của người bị bắt cóc, chuyển thư, nhắn tin cho người thân của người bị bắt cóc, nhận tiền hoặc tài sản của người thân của con tin chuyển giao cho đồng bọn
c Cưỡng đoạt tài sản có tổ chức (điểm a khoản 2 Điều 135)
Trường hợp phạm tội cưỡng đoạt tài sản có tổ chức có những đặc điểm sau: Người thực hành là người trực tiếp thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc trực tiếp dùng những thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản, chuyển lời đe dọa, thư từ hoặc những tài liệu có nội dung uy hiếp tinh thần đến chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm
về tài sản, tiếp nhận tài sản do chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản giao cho người phạm tội [12, tr.373]
Người tổ chức trong vụ án cưỡng đoạt tài sản cũng tương tự như người
tổ chức trong các vụ án khác, họ cũng là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc cưỡng đoạt tài sản Tuy nhiên, người tổ chức trong vụ án cưỡng đoạt tài sản chủ yếu là người vạch kế hoạch, chỉ huy việc thực hiện kế hoạch uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu hoặc người có trạch nhiệm về tài sản
Người xúi giục trong vụ án cưỡng đoạt tài sản là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm Thực tiễn xét xử cho thấy, người xúi giục trong vụ án cưỡng đoạt tài sản thường là những người có mâu thuẫn với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản, nhưng không
có khả năng tổ chức, thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực, cũng như không có khả năng tự mình thực hiện những thủ đoạn nhằm uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản, nên xúi giục người khác thực hiện việc cưỡng đoạt, đồng thời có một số hành vi giúp sức cho việc thực
Trang 35hiện tội phạm như chỉ mặt, chỉ nhà, cung cấp quy luật đi về của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản
Người giúp sức trong vụ án cưỡng đoạt tài sản là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản: như cho đồng bọn dùng điện thoại của mình để gọi điện thoại cho chủ
sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản, chuyển thư, tin nhắn cho chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản với nội dung lời đe dọa, nhận tiền, hoặc tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản chuyển giao cho đồng bọn [12, tr.376]
d Cướp giật tài sản có tổ chức (Điểm a khoản 2 Điều 136)
Cướp giật tài sản có tổ chức là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức Tuy nhiên không phải vụ cướp giật tài sản có tổ chức nào cũng có đủ những người giữ vai trò như trên mà tùy từng trường hợp cụ thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không có người giúp sức hoặc người xúi giục, nhưng nhất thiết phải có người tổ chức
và người thực hành thì mới là phạm tội có tổ chức
Người thực hành trong vụ cướp giật tài sản là người trực tiếp thực hiện hành vi giật tài sản từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Thực tiễn xét xử
có những trường hợp dễ nhầm lẫn giữa người giúp sức và người thực hành.[12, tr.399]
Ví dụ: A dùng xe máy để chở B để B giật tài sản của người bị hại, trong trường hợp này A không phải là người thực hành mà chỉ là người giúp sức
e Trộm cắp tài sản có tổ chức (điểm a khoản 2 Điều 138)
Người thực hành trong vụ án trộm cắp tài sản có tổ chức là người trực tiếp thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản từ chủ sở hữu hoặc người
Trang 36quản lý tài sản Các trường hợp đồng phạm khác trong tội Trộm cắp tài sản cũng tương tự như các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
f Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức (điểm a khoản 2 Điều 139)
Cũng tương tự như những trường hợp phạm tội có tổ chức khác, lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức Tuy nhiên, không phải vụ lừa đảo chiếm đoạt
có tổ chức nào cũng có đủ những người giữ vai trò như trên mà tùy từng trường hợp, có thể chỉ có người tổ chức, người thực hành mà không có người người giúp sức, người xúi giục, nhưng nhất định phải có người tổ chức và người thực hành thì mới là phạm tội có tổ chức Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức có đặc điểm như người thực hành trong vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người trực tiếp thực hiện thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản
từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản
g Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có tổ chức (điểm a khoản 2 Điều 140)
Phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt có tổ chức có đặc điểm riêng như người thực hành trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là người trực tiếp thực hiện hành vi, những thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản
2.1.2 Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Bộ luật hình sự coi trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và trong một số tội phạm quy định là tình tiết định khung hình phạt Việc nhà làm luật coi trường hợp phạm tội có tính chất chuyên ngiệp là tình tiết tăng nặng hoặc là tình tiết định khung hình phạt là một yêu cầu cần thiết do thực tiễn xét xử đặt ra
Khi áp dụng tình tiết này, cần lưu ý khái niệm chuyên nghiệp được hiểu
ở đây không đồng nghĩa với khái niệm nghề nghiệp của một người, vì không
Trang 37thể coi phạm tội là một nghề kiếm sống, có tính chất chuyên nghiệp của hành
vi phạm tội thể hiện ở chỗ tội phạm đó được lặp đi lặp lại nhiều lần mà người phạm tội coi việc phạm tội là phương tiện kiếm sống
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và phạm tội nhiều lần đều giống nhau ở điểm, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần (từ 2 lần trở lên), nhưng khác nhau là khi phạm tội nhiều lần, người phạm tội không lấy việc phạm tội không lấy việc phạm tội làm phương tiện kiếm sống và họ chỉ phạm một tội, nhưng tội phạm đó được thực hiện nhiều lần Còn phạm tội
có tính chất chuyên nghiệp, có phạm tội có thể chỉ phạm một tội, nhưng có thể phạm nhiều tội với nhiều lần khác nhau, nhưng lại lấy việc phạm tội là phương tiện kiếm sống thường xuyên
a Cướp tài sản có tính chất chuyên nghiệp (điểm b khoản 2 Điều 133)
Phạm tội cướp tài sản có tính chất chuyên nghiệp là người phạm tội lấy việc cướp tài sản là nguồn sống chính cho mình
Ví dụ: Hoàng Văn N là một kẻ sống lang thang không nghề nghiệp, thường tụ tập một số người cùng cảnh ngộ như mình chuyên trộm, cướp để sinh sống
Có quan điểm cho rằng, đối với trường hợp một người chỉ phạm một tội, nhưng được thực hiện nhiều lần trong một thời gian nhất định mà hành vi phạm tội đó được lặp đi lặp lại thì cũng phải coi là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, chứ không nhất thiết phải xác định người phạm tội phải lấy việc phạm tội làm phương tiện kiếm sống Quan điểm này không có cơ sở khoa học, và nếu cứ coi trường hợp phạm tội nhiều lần là có tính chất chuyên nghiệp thì không thể lý giải được sự khác nhau giữa phạm tội có tính chất chuyên nghiệp với phạm tội nhiều lần Tuy nhiên, phạm tội cướp tài sản có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp không chỉ phạm tội cướp tài sản nhiều lần mà người phạm tội còn phải lấy việc cướp tài sản là nguồn sống chính cho bản thân Do
Trang 38đó, sự khác nhau giữa tình tiết là yếu tố định khung với tình tiết tăng nặng về trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp chính là ở điểm này
b Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp (điểm b khoản 2 Điều 134)
Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp Cướp tài sản có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 133, tức là người phạm tội lấy việc bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là phương tiện sinh sống của mình Nói chung bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp thường được thực hiện có tổ chức Nếu người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp và có tổ chức thì người phạm tội phải bị truy cứu hình sự về cả hai tình tiết định khung hình phạt Tuy nhiên không phải trường hợp phạm tội có tổ chức nào, tất cả những người phạm tội đều bị coi là có tính chất chuyên nghiệp, mà có thể có người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, có người phạm tội lần đầu Vì vậy, khi xét hành vi phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hay không phải căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và hành vi cụ thể mà người phạm tội thực hiện
Vấn đề đặt ra là người phạm tội chỉ thực hiện tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản vài lần, thậm chí chỉ một lần, nhưng người phạm tội lấy việc phạm tội làm phương tiện kiếm sống, vậy có thể coi hành vi phạm tội của họ
có tính chất chuyên nghiệp không?
c Cưỡng đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp (điểm b khoản 2 Điều 135)
Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khác nhưng trường hợp cưỡng đoạt có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội chủ yếu lấy việc cưỡng đoạt tài sản là nguồn sống chính của bản thân và gia đình mình, nếu người phạm tội lấy việc phạm tội là nguồn sống chính nhưng mới phạm tội cưỡng đoạt tài sản một lần thì không thuộc trường hợp cưỡng đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 135, mà thuộc trường hợp phạm tội
Trang 39có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự
d Cướp giật tài sản có tính chất chuyên nghiệp (điểm b khoản 2 Điều 136)
Cướp giật tài sản có tính chất chuyên nghiệp là người phạm tội lấy việc cướp giật tài sản là phương tiện sinh sống chính của mình Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng, nhất thiết người thực hành phải thực hiện hành vi giật tài sản nhiều lần, nhưng không phải cứ thực hiện hành vi giật tài sản nhiều lần đều là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp mà phải xem xét việc thực hiện tội phạm của họ có thực sự là phương tiện kiếm sống hay không Nếu phạm tội nhiều lần mà họ không lấy việc phạm tội làm phương tiện kiếm sống thì không coi là có tính chất chuyên nghiệp mà chỉ là trường hợp phạm tội nhiều lần Nếu người phạm tội tuy có lấy việc phạm tội là phương tiện kiếm sống, nhưng chỉ cướp giật tài sản một lần còn những lần phạm tội khác không phải là cướp giật tài sản thì không được coi là cướp giật tài sản có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết định khung hình phạt mà chỉ là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 BLHS
e Trộm cắp tài sản có tính chất chuyên nghiệp (điểm b khoản 2 Điều 138)
Cũng tương tự như phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khác, trộm cắp tài sản có tính chất chuyên nghiệp là người phạm tội lấy việc trộm cắp tài sản là phương tiện sinh sống chính của mình Nhìn chung thực tiễn xét xử cho thấy trộm cắp tài sản có tính chất chuyên nghiệp thường được thực hiện có tổ chức
f Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp (điểm b khoản
2 Điều 139)
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp là việc người phạm tội lấy việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản là phương tiện sinh sống chính của mình
Trang 402.1.3 Tái phạm nguy hiểm
Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; hoặc tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý
Tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt đối với tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều giống nhau
và giống với tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự Chỉ cần xác định lần phạm tội cướp này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo đúng quy định về tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự là được,
mà không cần xác định lần phạm tội trước nay có phải là tội cướp tài sản hay không Đây là tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội mà không phụ thuộc vào hành vi của người phạm tội cụ thể của tội phạm này hay tội phạm khác
2.1.4 Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác
Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác là tình tiết tăng nặng định khung tại các tội cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Trong các vụ cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có trường hợp người phạm tội chỉ dùng vũ lực, đe dọa dung vũ lực ngay tức khắc hoặc
có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản mà không cần sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác đối với người bị hại Tuy nhiên, thực tế xét xử cho thấy có nhiều trường hợp người phạm tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản sử dụng vũ khí, sử dụng phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm đối với người bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản Việc người