MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Pháp luật hình sự với chế tài hình phạt nghiêm khắc là công cụ cơ bản, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, giáo dục ý thức chấp hành và tuân theo pháp luật cho các chủ thể trong xã hội. Cùng với sự phát triển của đất nước, sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ đã có sự tác động tích cực đến đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh. Những năm gần đây, đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị - xã hội được ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, hiệu lực quản lý Nhà nước được nâng lên. Điều này làm cho lòng tin trong nhân dân với Đảng, với Nhà nước ngày càng được nâng cao, nhân dân phấn khởi, đoàn kết xây dựng tỉnh ngày càng giàu đẹp, văn minh. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển luôn đi kèm, tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, trong đó, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện ngày càng có xu hướng gia tăng nhanh cả về số vụ lẫn tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội như tội phạm về ma túy, tội giết người, tội cố ý gây thương tích, tội cướp tài sản, tội hiếp dâm, tội chống người thi hành công vụ, tội gây rối trật tự công cộng... Năm 2013, Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã thụ lý giải quyết 44 vụ án hình sự với 64 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2014 thụ lý giải quyết 52 vụ án hình sự với 68 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2015 thụ lý giải quyết 16 vụ án hình sự với 19 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2016 đã thụ lý giải quyết 27 vụ án hình sự với 31 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2017 đã thụ lý giải quyết 24 vụ án hình sự với 31 bị cáo là người chưa thành niên. Chính sách hình sự của Nhà nước ta thể hiện rõ bản chất nhân đạo và dân chủ của nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trước ki Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời, Nhà nước sử dụng khái niệm người chưa thành niên phạm tội để chỉ những người dưới 18 tuổi phạm tội và quy định hình phạt áp dụng đối với chủ thể của tội phạm này. Bộ luật Hình sự năm 2015 là bước phát triển mới so với các quy định của pháp luật hình sự trước đây về quy định trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó cụ thể hóa các hình phạt và áp dụng triệt để nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự phù hợp với đặc thù của chủ thể phạm tội này. Đặc biệt, khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội (người phạm tội dưới 18 tuổi) là khái niệm mới, thay thế cho khái niệm người chưa thành niên phạm tội trước đây. Do đó, rất cần được nghiên cứu về khái niệm cũng như các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi. Về mặt thực tiễn, Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018, nhưng các quy định về cơ bản trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 nên rất cần đánh giá, tổng kết từ thực tiễn để có những giải pháp phù hợp góp phần áp dụng có hiệu quả các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Mặt khác, để nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cần phải tổng kết thực tiễn thi hành các quy định có liên quan để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra trên địa bàn tỉnh. Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về nội dung này. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ “Áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ” bảo đảm đầy đủ tính lý luận, khoa học và thực tiễn.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRỊNH TIẾN VIỆT
HÀ NỘI - 2018
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI 8
1.1 Khái quát về người phạm tội dưới 18 tuổi 8 1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung, mục đích và ý nghĩa áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi 15 1.3 Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trong
pháp luật hình sự một số nước trên thế giới 19
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI 27
2.1 Quy định pháp luật hình sự Việt Nam đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 27 2.2 Quy định pháp luật hình sự Việt Nam đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo Bộ luật Hình sự năm 2015 38
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM
ÁP DỤNG ĐÚNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 54
3.1 Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 54 3.2 Giải pháp đảm bảo nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với người
phạm tội dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 67
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật hình sự với chế tài hình phạt nghiêm khắc là công cụ cơ bản, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, giáo dục ý thức chấp hành và tuân theo pháp luật cho các chủ thể trong xã hội
Cùng với sự phát triển của đất nước, sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ đã có sự tác động tích cực đến đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Những năm gần đây, đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị - xã hội được ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, hiệu lực quản lý Nhà nước được nâng lên Điều này làm cho lòng tin trong nhân dân với Đảng, với Nhà nước ngày càng được nâng cao, nhân dân phấn khởi, đoàn kết xây dựng tỉnh ngày càng giàu đẹp, văn minh
Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển luôn đi kèm, tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, trong đó, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện ngày càng có xu hướng gia tăng nhanh cả về số vụ lẫn tính chất, mức độ nguy hiểm cho
xã hội như tội phạm về ma túy, tội giết người, tội cố ý gây thương tích, tội cướp tài sản, tội hiếp dâm, tội chống người thi hành công vụ, tội gây rối trật tự công cộng
Năm 2013, Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã thụ lý giải quyết
44 vụ án hình sự với 64 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2014 thụ lý giải quyết
52 vụ án hình sự với 68 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2015 thụ lý giải quyết
16 vụ án hình sự với 19 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2016 đã thụ lý giải quyết 27 vụ án hình sự với 31 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2017 đã thụ lý
giải quyết 24 vụ án hình sự với 31 bị cáo là người chưa thành niên
Chính sách hình sự của Nhà nước ta thể hiện rõ bản chất nhân đạo và dân chủ của nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trước ki Bộ luật Hình sự năm
2015 ra đời, Nhà nước sử dụng khái niệm người chưa thành niên phạm tội để chỉ những người dưới 18 tuổi phạm tội và quy định hình phạt áp dụng đối với chủ thể của tội phạm này Bộ luật Hình sự năm 2015 là bước phát triển mới so với các quy định của pháp luật hình sự trước đây về quy định trách nhiệm hình sự đối với người dưới
18 tuổi phạm tội, trong đó cụ thể hóa các hình phạt và áp dụng triệt để nguyên tắc
Trang 4nhân đạo của pháp luật hình sự phù hợp với đặc thù của chủ thể phạm tội này Đặc biệt, khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội (người phạm tội dưới 18 tuổi) là khái niệm mới, thay thế cho khái niệm người chưa thành niên phạm tội trước đây Do đó, rất cần được nghiên cứu về khái niệm cũng như các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
Về mặt thực tiễn, Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018, nhưng các quy định về cơ bản trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật Hình sự năm
1999 nên rất cần đánh giá, tổng kết từ thực tiễn để có những giải pháp phù hợp góp phần áp dụng có hiệu quả các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
Mặt khác, để nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cần phải tổng kết thực tiễn thi hành các quy định có liên quan để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra trên địa bàn tỉnh Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về nội dung này
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ “Áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ” bảo đảm đầy đủ tính lý luận, khoa học và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Người chưa thành niên, nay là người dưới 18 tuổi phạm tội là đối tượng nghiên cứu chính của nhiều công trình khoa học đã được thực hiện dưới các hình thức nghiên cứu khác nhau: sách chuyên khảo, giáo trình, bài viết trên tạp chí, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, công trình nghiên cứu khoa học cấp
bộ, cấp nhà nước…
Các công trình đã được nghiên cứu được thực hiện dưới các góc độ khác nhau, phạm vi nghiên cứu khác nhau (có thể là ở một địa phương, một vùng hoặc trong cả nước), có công trình của các nhà khoa học trong nước, có công trình lại
được tiến hành bởi các nhà khoa học nước ngoài như: A.I Đôn-gô-va, Những khía
cạnh tâm lý - xã hội về tình trạng phạm tội của người chưa thành niên, Nxb Sách
pháp lý, Matxcơva, 1981, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1987 (sách dịch); Võ Khánh Vinh
(1994), Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội; PGS.TS Trịnh Quốc Toản (chủ biên), Tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp, Nxb Công an
Trang 5nhân dân, Hà Nội, 2007; Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000 (GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ
biên); Đào Thị Nga, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội,
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997; Trần Văn Dũng,
Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003; Nguyễn Minh
Khuê, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Luận văn thạc
sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006; Trịnh Thị Yến, Quyết định
hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội, Luận văn thạc sĩ luật học,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; Đỗ Ngọc Thùy (2011), Hình phạt tù
đối với người chưa thành niên phạm tội – Lý luận và thực tiễn áp dụng, Luận văn
Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thu Huyền (2012), Hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
theo Luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật Đại học Quốc
gia Hà Nội…
Ngoài ra, còn có các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học luật uy tín
như: Lương Ngọc Trâm (2014), “Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về hình phạt
áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Tòa án nhân dân (19); TS
Trần Văn Dũng, Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm
tội, Tạp chí Luật học, số 5/2000; PGS TS Dương Tuyết Miên, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Luật học, số 4/2002; TS Trương
Minh Mạnh, Phân loại tội phạm với việc quy định trách nhiệm hình sự của người chưa
thành niên, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2002; PGS TS Trần Văn Luyện, Những điểm mới
về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 12/2000; ThS Đặng Thanh Sơn, Pháp luật Việt Nam về tư pháp người chưa
thành niên, Số chuyên đề của Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tháng 12/2008; ThS Đinh
Văn Quế, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 6/2007; ThS Đoàn Tấn Minh, Bàn về phạm vi sử dụng thuật ngữ
“người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9(5)/2008; ThS Trương Hồng Sơn, Một số quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vấn đề
quyền của người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí điện tử ngày 20/8/2009
(Http://hvcsnd.edu.vn/); TS Trịnh Tiến Việt, Những khía cạnh pháp lý hình sự về các
Trang 6hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 7, 8/2010…
Các công trình trên phần lớn đã xây dựng được nền tảng lý luận và pháp lý đối với trách nhiệm hình sự, quyết định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới
18 tuổi - người chưa thành niên phạm tội như khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên phạm tội; các quy định của pháp luật về người chưa thành niên phạm tội, một số vấn đề phát sinh trên thực tiễn về người chưa thành niên phạm tội cần phải hoàn thiện
về mặt pháp luật để điều chỉnh…
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên về cơ bản chưa nghiên cứu, cập nhật các quy định mới trong Bộ luật Hình sự năm 2015 về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi Hơn nữa, không có công trình nào nghiên cứu về thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ Vì vậy, công trình nghiên cứu “Áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ” của
luận văn này đảm bảo tính mới của luận văn thạc sĩ và không bị trùng với bất kỳ công trình nào đã nghiên cứu trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn “Áp dụng hình phạt đối với người phạm
tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ” nhằm
lãm sáng tỏ hơn về mặt lý luận về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, từ đó rút ra những kết quả đạt được và chỉ ra những hạn chế cần phải khắc phục về mặt pháp luật cũng như tổ chức thực hiện pháp luật Từ đó, để xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về áp dụng hình phạt đối với người
phạm tội dưới 18 tuổi để đạt kết quả cao
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ phân tích, làm rõ các khái niệm, đặc điểm của người phạm tội dưới 18 tuổi; khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự, hình phạt và
áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
Luận văn khái quát quá trình hoàn thiện pháp luật về áp dụng hình phạt đối
Trang 7với người phạm tội dưới 18 tuổi ở Việt Nam, tập trung làm rõ và đánh giá các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
Luận văn phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế , chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế trong áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Luận văn đề xuất những giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới
18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận về hình phạt áp dụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi và các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi Đồng thời, luận văn nghiên cứu tình hình áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trong những năm gần đây từ năm 2013 đến năm 2017 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ đối tượng nghiên cứu trên, luận văn có phạm vi nghiên cứu như sau: Nghiên cứu về một số vấn đề lý luận liên quan đến áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi (như: khái niệm và đặc điểm của người phạm tội dưới
18 tuổi; trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi; áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi; áp dụng hình phạt đối với người phạm tội chưa thành niên tại một số quốc gia trên thế giới)
Nghiên cứu, đánh giá về các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ và Bộ luật Hình sự năm 2015 về các quy định liên quan đến áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
Nghiên cứu, đánh giá về tình hình tội phạm và việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2013 đến năm
2017, chỉ ra những bất cập, hạn chế cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với nhóm chủ thể này
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện về mặt pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ
Trang 8chức thực hiện pháp luật liên quan đến áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hình phạt và cải tạo con người; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp luật nói chung, chính sách hình sự nói riêng, đặc biệt là các quan điểm, tư tưởng về cải tạo, giáo dục, phòng ngừa tội phạm đối với tội phạm dưới 18 tuổi, cũng như việc áp dụng hình phạt đối với chủ thể tội phạm này
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự như: phân tích, tổng hợp và thống kê, phương pháp so sánh… để nghiên cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu Cụ thể:
Chương 1 tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp
so sánh luật để làm rõ các vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
Chương 2 tác giả sử dụng phương pháp phân tích và phương pháp so sánh luật để làm rõ các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015 và các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, đánh giá những thành tựu, những hạn chế của các quy định
Chương 3 tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và phương pháp so sánh kết hợp với việc sử dụng hệ thống bảng thống kê, dẫn chứng
cụ thể để đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm làm rõ những thành tựu đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục Từ đó, đề xuất các giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới
18 tuổi của Bộ luật Hình sự năm 2015 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn sẽ góp phần làm rõ và hoàn thiện lý luận về áp dụng hình phạt đối
Trang 9với người phạm tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam Đây sẽ làm tài liệu tham khảo lý luận cần thiết cho các nhà khoa học nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến luận văn
Đồng thời, luận văn cũng sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật, để người có thẩm quyền áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên nghiên cứu để áp dụng trong thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo chủ thể tội phạm là người dưới 18 tuổi hiện nay trên địa bàn tỉnh nói riêng và trong cả nước nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
Chương 2: Áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn thi hành và các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN DỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI
1.1 Khái quát về người phạm tội dưới 18 tuổi
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của người phạm tội dưới 18 tuổi
Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, đặc biệt là về tâm - sinh lý, hạn chế trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống Ở lứa tuổi này, con người ta dễ bị kích động, lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm Tuy nhiên, hoạt động cảm hóa, giáo dục, cải tạo đối với họ lại mang lại hiệu quả cao
Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa các quy định của Bộ luật Hình sự năm
1999 về người phạm tội dưới 18 tuổi nhưng không sử dụng cụm từ “người chưa thành niên phạm tội” mà sử dụng cụm từ “người phạm tội dưới 18 tuổi” Việc quy định như vậy nhằm cụ thể hóa và thống nhất cách hiểu về độ tuỏi của người chưa thành niên phạm tội Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, các cụm từ
“người chưa thành niên”, “người chưa đủ 18 tuổi” được sử dụng với cùng một nội
hàm và ngữ nghĩa như “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”
(Khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015) , “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” (Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012)…
Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (Quy tắc Havana) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông
qua ngày 14/12/1990 ghi nhận cụ thể: “Người chưa thành niên là người dưới 18
tuổi Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên” [9, quy tắc 2.1 mục a]
Do cụm từ “người chưa thành niên phạm tội” được pháp luật hình sự sử dụng phổ biến trước đây nên đã có nhiều nhà khoa học định nghĩa người chưa thành niên
phạm tội như: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18
tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
Trang 11hội bị luật hình sự cấm” [4, trang 9]; “Người chưa thành niên phạm tội là người mà tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định
là tội phạm chưa đến tuổi trưởng thành nhưng có năng lực trách nhiệm hình sự và
đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định” [49, trang 14-15]; Người chưa thành niên phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Bộ luật Hình sự quy định là loại tội phạm mà người đó phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm phải”[49, trang 16]…
Người phạm tội dưới 18 tuổi là khái niệm được hợp thành từ hai khái niệm: Người phạm tội (hay tội phạm - thực hiện hành vi bị pháp luật hình sự quy định là tội phạm) và người dưới 18 tuổi
Về khái niệm tội phạm, hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về tội phạm
như: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình
sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” (Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015), “Tội phạm
là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt” [39, trang 50], “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong Luật hình sự và phải chịu hình phạt” [35, trang 64], “Tội phạm là hành
vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi” [10, trang 111]… Như vậy, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn những yêu cầu nhất định về
năng lực pháp luật hình sự mà không phải tất cả người nào thực hiện các hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm đều trở thành tội phạm Tức là, họ phải là người
có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Năng lực trách nhiệm hình sự thể hiện ở khả năng nhận thực và điều khiển hành vi của con người
Trang 12Khả năng nhận thức phụ thuộc vào độ tuổi và trạng thái thần kinh Khả năng điều khiển hành vi lại được quyết định bởi khả năng nhận thức cùng với sự tự do của ý chí và sự lành mạnh về thể chất Do đó, những người mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi sẽ không có năng lực trách nhiệm hình sự Và ngược lại, người
có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội sẽ là người có năng lực trách nhiệm hình sự Mặt khác, người có năng lực trách nhiệm hình sự cũng phải đạt đến độ tuổi nhất định Tuổi chịu trách nhiệm hình sự không thống nhất trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới, nó dao động từ
7 đến 17 tuổi như pháp luật Singapore, Ấn Độ, Kenya, Jamaica quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 7 tuổi; Scotland quy định là 8 tuổi; Hà Lan, Canada quy định
là 12 tuổi, Việt Nam quy định là đủ 14 tuổi trở lên
Về khái niệm, người chưa đủ 18 tuổi được xác định là những người mà tại thời điểm cần xác định tuổi của họ đến trước ngày sinh nhật lần thứ 18 của họ Điều
12 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:
a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);
b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều
173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);
Trang 13đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội
sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);
e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự)
Ở đây còn xuất hiện thêm khái niệm “người từ đủ 14 tuổi trở lên” Khái niệm này được hiểu là tại thời điểm cần xác định tuổi tính từ ngày sinh nhật lần thứ 14 của họ trở đi
Như vậy, có thể định nghĩa: Người phạm tội dưới 18 tuổi là người thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm khi họ từ đủ
14 tuổi (ngày sinh nhật lần thứ 14) trở lên đến dưới 18 tuổi (trước ngày sinh nhật lần thứ 18) và có năng lực trách nhiệm hình sự
Đặc điểm tâm, sinh lý là đặc thù của người phạm tội dưới 18 tuổi Họ là những người tuổi đời còn ít, chưa có nhiều kinh nghiệm sống, sự hiểu biết pháp luật
và các chuẩn mực xã hội còn hạn chế Ở lứa tuổi này đang có sự biến đổi mạnh mẽ
về tâm, sinh lý và là giai đoạn quan trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân cách
Về mặt sinh lý, sự phát triển mạnh mẽ của hệ tuần hoàn, đặc biệt là tim dẫn đến sự mất cân bằng trong hoạt động của hệ tim mạch Cơ thể người dưới 18 tuổi, đặc biệt là từ khi dậy thì, tuyết nội tiết hoạt động mạnh, tiết ra nhiều hooc môn tăng trưởng và hooc môn sinh dục Những thay đổi này gây ra sự mất cân bằng trong hoạt động của hệ thần kinh trung ương Điều này làm cho người dưới 18 tuổi có
Trang 14những cơ xúc động mạnh, những phản ứng nóng nảy vô cớ, mất kiểm soát và có những hành vi bất thường Do đó, họ dễ thực hiện các hành vi lệch chuẩn
Về mặt tâm lý, ở lứa tuổi này, con người ra thường có nhu cầu độc lập cao
Họ không muốn phụ thuộc vào người khác, quá tự tin vào khả năng của chính mình, muốn tự khẳng định mình Điều này thể hiện bằng các dạng hành vi ngang bướng,
cố chấp, bảo thủ, tự ái, phô trương, mạo hiểm, côn đồ Tuy nhiên, họ cũng có nhu cầu khám phá thế giới rất cao Đồng thời, khả năng nhận thức, nhất là nhận thức pháp luật và kinh nghiệm sống chưa nhiều, dẫn đến họ dễ bị kích động, lôi kéo vào việc khám phá những điều chưa lành mạnh, trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội
Như vậy, vể mặt sinh lý và về mặt tâm lý, người dưới 18 tuổi đều có nguy cơ phạm tội rất cao Tuy nhiên, đây là đặc tính tự nhiên của con người và điều này có thể hiểu được, cần sự đối xử nhân đạo đối với họ Chính vì vậy, không chỉ riêng Việt Nam mà pháp luật quốc tế, pháp luật hình sự các quốc gia khác cũng dành dự quan tâm, đối xử đặc biệt đối với họ để răn đe, giáo dục, cải tạo họ thành người có ích cho xã hội nếu lỡ gây ra lỗi lầm
1.1.2 Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
Về mặt khoa học, khái niệm trách nhiệm hình sự được định nghĩa theo nhiều
phương diện khác nhau như “trách nhiệm hình sự là “hậu quả pháp lý của việc
phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước” [41, trang 41]; “trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện”[24, trang 14]; “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định” [5, trang 609]
Mặc dù được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau như vậy, nhưng tựu trung lại, trách nhiệm hình sự có những đặc điểm sau:
Trang 15Thứ nhất, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm,
chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội xảy ra Người phạm tội thực hiện hành vi bất hợp pháp, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác; lợi ích của tập thể, lợi ích của nhà nước Chính vì vậy, họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý được pháp luật hình sự quy định - hậu quả xấu đối với bản thân họ (có thể là tước đoạt tự do, giới hạn sự tự do, mất đi lợi ích kinh tế… của họ) để thể hiện sự trừng trị nghiêm khắc của xã hội đối với hành vi đi ngược lại pháp luật, đạo đức, văn minh của họ, và cùng từ
đó giúp họ nhận ra lỗi lầm, cải tạo họ thành người có ích
Thứ hai, trách nhiệm hình sự luôn luôn được thực hiện trong phạm vi quan
hệ pháp luật hình sự giữa một bên là Nhà nước và một bên là người phạm tội Mối quan hệ pháp luật hình sự là mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội Khác với xã hội cổ xưa, xã hội có Nhà nước là xã hội văn minh Nếu như ở xã hội nguyên thủy, sự xâm hại quyền, lợi ích của nhau được đáp trả tương ứng và thường đó là mối quan hệ giữa nạn nhân với người gây hại Tuy nhiên, trong xã hội văn minh -
xã hội có Nhà nước, Nhà nước đại diện cho toàn xã hội sẽ lên án và áp đặt ý chí, trừng trị người phạm tội về những điều xấu mà họ gây ra cho xã hội, cho cá nhân, tổ chức khác một cách bất hợp pháp
Thứ ba, trách nhiệm hình sự được áp dụng theo trình tự đặc biệt bởi cơ quan
tư pháp hình sự có thẩm quyền Bản chất của trách nhiệm hình sự là sự trừng trị, hậu quả xấu mà người phạm tội phải gánh chịu khi họ thực hiện hành vi phạm tội
Vì vậy, cần phải có quy trình chặt chẽ để đảm bảo sự công bằng cho nạn nhân cũng như chính người vi phạm, đảm bảo các mục đích áp dụng trách nhiệm hình sự được thực hiện, đảm bảo tính nhân văn, nhân đạo cũng như tính văn minh… Trình tự này được Nhà nước quy định một cách chặt chẽ trong pháp luật tố tụng hình sự - các quy định về mặt hình thức nhằm thực hiện pháp luật hình sự
Thứ tư, trách nhiệm hình sự chỉ được thể hiện tại bản án của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật bằng việc kết tội và áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định
Thứ năm, đối với chủ thể của tội phạm là cá nhân, trách nhiệm hình sự áp
dụng đối với người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật hình sự
Trang 16quy định Trách nhiệm hình sự đối với cá nhân mang tính cá biệt đối với mỗi người
vi phạm, mặc dù nhiều người cùng thực hiện hành vi vi phạm giống nhau, có vai trò như nhau nhưng trách nhiệm hình sự đối với mỗi cá nhân thực hiện hành vi phạm tội là riêng biệt
Đây là trách nhiệm hình sự của mọi loại tội phạm Tuy nhiên, đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, như phân tích trên, họ có những điểm đặc biệt trong phát triển tâm sinh lý, thêm vào đó, trách nhiệm hình sự đối với họ chủ yếu mang tính cải tạo, giáo dục là chủ yếu, tính chất trừng trị chỉ là thứ yếu Do đó, trách nhiệm hình sự của người phạm tội dưới 18 tuổi có những nét đặc thù riêng, theo hướng có lợi hơn so với với người phạm tội từ đủ 18 tuổi trở lên (người phạm tội đã thành niên) như:
Về mức độ, trách nhiệm hình sự của người phạm tội dưới 18 tuổi có tính chất giảm nhẹ hơn so với người phạm tội đã thành niên
Về điều kiện áp dụng các chế định ở Phần chung của Bộ luật Hình sự như xóa án tích, giảm mức hình phạt… đối với người phạm tội phạm tội dưới 18 tuổi thấp hơn so với điều kiện áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội như án đã tuyên đối với người phạm tội dưới 16 tuổi không được tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm…
Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự, người phạm tội dưới 18 tuổi, đặc biệt
là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm nhất định như tội cướp tài sản, tội giết người…
Về hình phạt, người phạm tội dưới 18 tuổi chỉ phải chịu một số hình phạt mà
Bộ luật Hình sự quy định Đặc biệt, họ không phải chịu hai hình phạt nghiêm khắc nhất là tù chung thân và tử hình và họ không phải chịu hình phạt bổ sung Đối với cùng hình phạt, người phạm tội dưới 18 tuổi chịu hình phạt nhẹ hơn so với người phạm tội đã thành niên nếu họ có cùng điều kiện áp dụng và vị trí, vai trò trong thực hiện hành vi phạm tội
Về mặt hình thức, việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi được tiến hành theo thủ tục đặc biệt Không chỉ riêng pháp luật Việt Nam mà pháp luật các quốc gia khác trên thế giới đều có những quy định tố tụng
Trang 17riêng để áp dụng đối với đối tượng là người phạm tội dưới 18 tuổi được thể hiện ở các quy định về tiêu chuẩn của những người tham gia tố tụng; về điều kiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn; về việc tham gia bắt buộc của người bào chữa; về sự tham gia của gia đình, nhà trường trong quá trình tố tụng…
Như vậy, trách nhiệm hình sự của người phạm tội dưới 18 tuổi có những điểm đặc biệt và mang tính đặc thù xuất phát từ chính đặc điểm tâm sinh lý đặc biệt của người phạm tội dưới 18 tuổi
1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung, mục đích và ý nghĩa áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
Hình phạt là một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học luật hình sự Khái niệm hình phạt cũng được nhiều nhà khoa học định nghĩa khác nhau như:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong
Bộ luật Hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân" [15,
trang 29]; “hình phạt là biện pháp cưỡng chế của nhà nước do Toà án áp dụng đối với
người thực hiện tội phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm" [44, trang 23]; "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toà án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự" [2, trang 10]…
Dưới góc độ pháp luật thực định, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chỉ đến khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, Nhà nước mới quy định khái niệm hình
phạt tại Điều 26: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà
nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Toà án quyết định” Kế thừa quy định
này, tại Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định khái niệm hình phạt: Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong
Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương
Trang 18mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó
Như vậy, cho dù khái niệm hình phạt được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau như trên, nhưng về bản chất, cho dù là định nghĩa như thế nào thì hình phạt đều mang những đặc trưng sau:
Thứ nhất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước
Tính nghiêm khắc của hình phạt ở việc mặc dù Nhà nước đặt ra nhiều biện pháp cưỡng chế như xử phạt hành chính, buộc bồi thường thiệt hại về tài sản, xử lý kỷ luật… nhưng chỉ có hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, vì: hình phạt hạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do thân thể, lợi ích kinh tế, cá biệt hình phạt còn loại bỏ quyền được sống của người phạm tội…
Thứ hai, hình phạt chỉ được và phải được quy định trong Bộ luật Hình sự Chỉ
có Bộ luật Hình sự mới có thể xác định tội phạm và hình phạt dành cho mỗi tội phạm
cụ thể, không thể có văn bản nào khác được quy định điều này
Thứ ba, hình phạt được áp dụng theo bản án của Tòa án Mặc dù có hệ thống
cơ quan tư pháp và trình tự, thủ tục tư pháp áp dụng đối với chủ thể tội phạm nhưng Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền tuyên án - xác nhận tội danh cho người phạm tội đồng thời cũng là cơ quan duy nhất áp dụng hình phạt đối với chủ thể đó
Thứ tư, hình phạt được áp dụng đối với chủ thể của tội phạm Chỉ chủ thể
nào phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự mới phải chịu và bị áp dụng hình phạt được quy định tương ứng với tội danh đó
Thứ năm, hình phạt là công cụ để luật hình sự thực hiện nhiệm vụ của mình là
bảo vệ chế độ, bảo vệ trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong
xã hội; là công cụ hữu hiệu để đấu tranh phòng chống tội phạm
Hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi mang đầy đủ các đặc trưng trên của hình phạt Tuy nhiên, như trên đã phân tích, người chưa thành niên phạm tội là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý, chưa nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, người chưa thành niên dễ có nguy cơ thực hiện tội phạm nếu họ sống trong một môi trường xã hội không lành mạnh, tỷ lệ tội phạm cao Bên cạnh đó, người chưa thành
Trang 19niên cũng là người dễ uốn nắn, cải tạo, việc giáo dục, cải tạo người chưa thành niên thường dễ dàng hơn so với người đã thành niên, đạt hiệu quả của hình phạt cao hơn Trong pháp luật hình sự, người phạm tội dưới 18 tuổi là chủ thể đặc biệt và cũng là đối tượng bảo vệ của pháp luật hình sự Trách nhiệm hình sự, hình phạt áp dụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi chủ yếu mang tính chất giáo dục, cải tạo họ là chính, việc trừng trị đối tượng này cũng chỉ yếu hướng đến mục đích trên Do đó, người phạm tội dưới 18 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự ở mức nhẹ hơn so với người phạm tội thành niên Tức là, hình phạt áp dụng đối với họ sẽ ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt áp dụng đối với người đã thành niên trong cùng điều kiện và
họ cùng thực hiện hành vi có mức độ nguy hiểm ngang nhau Và chỉ một số hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, không áp dụng hình phạt bổ sung hay hình phạt tù chung thân, hình phạt tử hình đối với chủ thể tội phạm này
Như vậy, có thể khái quát, hình phạt áp dụng đối với người phạm tội dưới 18
tuổi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự, do Tòa án quyết định cụ thể áp dụng đối người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bị tuyên án được thể hiện bằng sự tước bỏ, hạn chế quyền, lợi ích của người đó nhằm giáo dục, cải tạo, trừng trị họ để họ trở thành thành người có ích cho
xã hội, góp phần bảo vệ chế độ, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội, của toàn xã hội và của Nhà nước
Do đó, có thể định nghĩa: Áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18
tuổi được hiểu là việc xác định hình phạt cụ thể được áp dụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi sau khi đã tuyên án đối với họ, bao gồm: loại hình phạt áp dụng, mức độ hình phạt áp dụng Như vậy, sau khi tuyên án đối với người phạm tội dưới
18 tuổi, Tòa án sẽ xác định cụ thể hình phạt được áp dụng đối với họ Tuyên án và
áp dụng hình phạt là quá trình liên tiếp nhau Tuyên án là điều kiện cần và áp dụng hình phạt là điều kiện đủ để xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nói chung và người phạm tội dưới 18 tuổi nói riêng Có thể có tuyên án nhưng không có áp dụng hình phạt khi Tòa án xác định người phạm tội thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự Nhưng về cơ bản và phổ biến vẫn là tuyên án và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội
Trang 20Hoạt động áp dụng hình phạt đối với người phạm tội có những đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, đây là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự do Tòa án
thực hiện Chỉ có Tòa án mới có chức năng áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Các cơ quan tư pháp khác hoặc chỉ có chức năng tham gia vào việc làm rõ tội phạm, đề xuất Tòa án xử lý đối với tội phạm đã xảy ra hoặc là tổ chức thực hiện bản
án của Tòa án, tức là tổ chức thi hành hình phạt đối với người phạm tội Việc áp dụng hình phạt của Tòa án ngoài việc tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định còn phải căn cứ vào tội danh cụ thể, hình phạt được quy định, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… do pháp luật hình sự quy định Đây là việc Tòa án hiện thực hóa hình phạt được quy định trong pháp luật hình sự đối với tội phạm cụ thể xảy ra trên thực tế
Thứ hai, áp dụng hình phạt là giai đoạn kế tiếp của tuyên án - xác định tội
danh của tội phạm đã xảy ra và không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự Nếu không xác định được tội danh thì có nghĩa người đó không phải là tội phạm, do đó, không phải chịu trách nhiệm hình sự, tức là không thể bị trừng trị bằng hình phạt Việc áp dụng hình phạt chỉ có thể được tiến hành sau khi xác định tội danh của tội phạm - việc phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm được pháp luật quy định và cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với chủ thể của tội phạm
đã thực hiện
Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi ngoài việc mang các đặc điểm chính trên còn có một số điểm đặc thù như:
Một là, người phạm tội dưới 18 tuổi, đặc biệt là người phạm tội từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh nhất định, do đó, hình phạt đối với họ cũng chỉ trong phạm vi và khi họ thực hiện các tội danh này
Hai là, người phạm tội dưới 18 tuổi chỉ phải chịu một số hình phạt nhất định mà
không phải tất cả các hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự như họ không phải chịu hình phạt tù chung thân, án tử hình; họ cũng không phải chịu hình phạt bổ sung Mặt khác, khi không cần thiết áp dụng hình phạt thì người phạm tội dưới 18 tuổi
Trang 21có thể được xem xét để chuyển sang áp dụng các biện pháp tư pháp khác dành riêng cho loại chủ thể tội phạm này như khiển trách, hòa giải tại cộng đồng…
Ba là, về mức hình phạt cụ thể, người phạm tội dưới 18 tuổi phải chịu mức
hình phạt nhẹ hơn người đã thanh niên nếu họ phạm tội trong cùng điều kiện
1.3 Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới
Người dưới 18 tuổi phạm tội là một thực tế mà đỏi hỏi pháp luật hình sự của các quốc gia trên thế giới đều phải điều chỉnh Mặc dù xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật quốc tế và quốc gia nhưng việc phạm tội của người dưới 18 tuổi không thể không bị truy cứu để đảm bảo an toàn xã hội, đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội Tuy nhiên, xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội - chính trị, truyền thống pháp luật và các yếu tố chi phối khác mà mỗi quốc gia có quan điểm riêng và quy định nó pháp luật trong pháp luật hình sự của mình để giải quyết vấn đề người phạm tội dưới 18 tuổi
Người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng, thực tế tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới Mỗi quốc gia đều giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội bằng những cách thức khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống pháp luật và quan điểm của nhà lập pháp
* Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trong pháp luật hình sự Liên bang Nga
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga được ban hành năm 1996 và được sửa đổi, bổ sung năm 2010 hiện đang có hiệu lực Trong Bộ luật này, người phạm tội dưới 18 tuổi được gọi là người chưa thành niên phạm tội như cách gọi trong Bộ luật Hình sự năm 1999 của Việt Nam Cũng giống như pháp luật hình sự Việt Nam, Bộ luật Hình
sự Liên bang Nga cũng ban hành một chế định (một chương riêng) quy định về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội tại Mục 5 Chương 14 [38, trang 126]
Điều 87 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định: “người chưa thành niên là người thực hiện tội phạm đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi” Với chủ thể tội phạm này, quan điểm của Nhà nước và pháp luật Liên bang Nga là nhằm mục đích giáo dục,
Trang 22phòng ngừa là chủ yếu Do đó, Điều 88 quy định: “Đối với người chưa thành niên
phạm tội có thể quyết định hình phạt hoặc áp dụng biện pháp giáo dục bắt buộc”
Người chưa thành niên phạm tội được áp dụng áp dụng biện pháp giáo dục khi: “Người
chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu xác định được rằng việc giáo dục cải tạo người chưa thành niên phạm tội có thể đạt được hiệu quả thông qua áp dụng các biện pháp giáo dục bắt buộc” (Điều 90)
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga ưu tiên áp dụng các quy định có lợi cho người chưa thành niên Việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp giáo dục bắt buộc được quy định tại Điều 90 và miễn chấp hành hình phạt được quy định tại Điều 92 với những điều kiện rõ ràng, có lợi và hướng đến người chưa thành niên nên quy định rất mở và tạo điều kiện để áp dụng một cách triệt để đối với các trường hợp người chưa thành niên phạm tội Ngoài ra, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga còn cho phép áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên, tức là áp dụng các biện pháp thay thế trong trường hợp không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội như: Cảnh cáo; giao cho cha mẹ hoặc người thay cha mẹ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền; buộc bồi thường thiệt hại gây ra; hạn chế sự nhàn rỗi và đặt ra những đòi hỏi riêng đối với cư xử người chưa thành niên được quy định tại các Điều 90, Điều 91
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định chỉ một số hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, gồm: phạt tiền; tước quyền làm công việc nhất định; lao động bắt buộc; lao động cải tạo; hạn chế tự do và tù có thời hạn, đồng thời quy định rõ điều kiện và thời hạn áp dụng đối với mỗi loại hình phạt này Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định không áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội Hình phạt tù giam được áp dụng đối với người chưa thành niên ở mức nhẹ hơn so với người trưởng thành và chỉ áp dụng đối với người từ 16 tuổi trở lên Mức phạt tù đối với người chưa thành niên bị kết án
là không quá 10 năm Điều 88 (trong khi đó thời hạn phạt tù đối người thành niên quy định tại Điều 57 là không quá 20 năm)
Chỉ khi thật cần thiết Bộ luật Hình sự Liên bang Nga mới cho phép áp dụng
Trang 23hình phạt tù đối với người phạm tội Và ngay cả khi còn có thể áp dụng án treo thì
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga vẫn cho phép áp dụng trong trường hợp tái
phạm:“Trong trường hợp phạm nhân là người chưa thành niên được hưởng án
treo, mà trong thời gian thử thách lại phạm một tội mới, nhưng không đặc biệt nghiêm trọng thì Tòa án sẽ căn cứ vào những tình tiết của vụ án và nhân thân người phạm tội có thể lặp lại quyết định về hình phạt án treo đối với người đó sau khi đã xác định thời hạn thử thách mới và buộc người này phải thực hiện những trách nhiệm đã được quy định đối với được hưởng án treo căn cứ vào khoản 5 Điều 73
Bộ luật này” [38, trang 130]
Việc quyết định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định rất chặt chẽ tại Điều 89 Theo đó, việc quyết định áp dụng hình phạt ngoài việc tuân thủ các căn cứ chung như: tính có lỗi của hành vi phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thì khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên, Tòa án
có thẩm quyền còn phải căn cứ vào các yếu tố:
Thứ nhất, tính đến hoàn cảnh sinh sống và giáo dục, mức độ phát triển tâm sinh lý, các đặc điểm khác về nhân thân khác và cả tầm ảnh hưởng của những người lớn tuổi hơn đối với người phạm tội chưa thành niên
Thứ hai, căn cứ độ tuổi chưa thành niên và xem đây như một tình tiết giảm nhẹ được cân nhắc cùng với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ hình phạt khác Tức
là, tuổi càng nhỏ thì việc giảm nhẹ càng phải được lưu ý và đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Các quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga (trừ biện pháp giáo dục hoặc chữa bệnh dành riêng cho người chưa thành niên) còn được phép áp dụng trong trường hợp đặc biệt đối với người tù 18 đến 20 tuổi sau khi Tòa án cân nhắc tính chất của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội (Điều 96) Quy định này giúp cho những người trẻ tuổi mắc sai lầm có thêm cơ hội hưởng khoan hồng của pháp luật để phấn đấu trở lại làm người có ích cho xã hội
Trang 24* Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Nhật Bản
Bộ luật Hình sự hiện hành của Nhật Bản được ban hành năm năm 1907, và được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, lần gần đây nhất là sửa đổi, bổ sung năm 2011
Theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này thì: “Hành vi của người dưới 14 tuổi
không bị xử phạt” Bộ luật Hình sự của Nhật Bản không phân biệt người phạm tội
chưa thành niên với người phạm tội đã thành niên (trưởng thành), do đó, không có chế định riêng quy định về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội
Do đó, về nguyên tắc, tất cả các hình phạt được quy định tại Điều 9 và chương II Bộ luật Hình sự Nhật Bản đều có thể được áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội, bao gồm các hình phạt: Tử hình; Tù có lao động bắt buộc; Tù không có
lao động bắt buộc; Phạt tiền; Phạt giam hình sự; Phạt tiền về tội hình sự nhỏ; Phạt giam vì không nộp đủ tiền phạt [50]
Nhật Bản có nền giáo dục tiên tiến và truyền thống xã hội kỷ luật cao, trong nhiều năm gần đây tỷ lệ sinh rất thấp, do đó, người chưa thành niên được xã hội đặc biệt quan tâm chăm sóc, giáo dục nên tình hình người chưa thành niên phạm tội không là đáng kể Nhật Bản cũng dành sự quan tâm, đối đãi đặc biệt đối với người chưa thành niên phạm tội Tuy không được quy định trong Bộ luật Hình sự nhưng
trong Luật người chưa thành niên quy định mang tính nguyên tắc là “không trừng
phạt những người chưa thành niên phạm tội mà giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến hành những biện pháp bảo vệ để thay đổi tính cách của người chưa thành niên phạm tội và tạo ra một môi trường giáo dục để điều chỉnh người chưa thành niên đã mắc phải sai lầm” [50] Theo đó, việc xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội phải
phải “chân tình, có lợi” cho người chưa thành niên và “cần có mọi cố gắng để bảo
vệ cho được những thuộc tính cao đẹp nhất của người chưa thành niên và làm cho người chưa thành niên có niềm tin” Do đó, trên thực tế, người chưa thành niên ở
Nhật Bản ít bị xét xử về hình sự và áp dụng hình phạt mà chủ yếu được xử lý bằng các biện pháp cải tạo phi hình sự Vì vậy, nghiên cứu Bộ luật hình sự Nhật Bản cho thấy không quy định riêng về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên,
Trang 25mà chỉ có nguyên tắc chung phục vụ cho thực tiễn khi xét xử phải theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt không quá nghiêm khắc mà thôi
* Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Vương quốc Thụy Điển
Pháp luật hình sự hiện hành của Vương quốc Thụy Điển là Bộ luật hình sự năm
1962 và được sửa đổi, bổ sung lần gần đây nhất năm 2009 Bộ luật Hình sự Vương quốc Thụy Điển thể hiện chính sách hình sự hết sức nhân đạo của Nhà nước Thụy Điển
và không quy định hình phạt tử hình, hình phạt cao nhất chỉ là tù chung thân
Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển quy định tuổi chịu trách nhiệm hình
sự là đủ 15 tuổi trở lên và người chưa thành niên theo pháp luật hình sự của Thụy điển là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 21 tuổi
Các hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội quy định trong Bộ luật Hình sự Vương quốc Thụy Điển bao gồm: phạt tiền, phạt tù có thời hạn, hình phạt
có điều kiện, buộc phải chịu thử thách và đưa vào cơ sở chăm sóc đặc biệt Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Bộ luật Hình sự
Vương quốc Thụy Điển quy định: Tòa án phải đặc biệt cân nhắc đến độ tuổi của
người đó, hình phạt áp dụng phải nhẹ hơn hình phạt quy định đối với tội phạm tương ứng do người đã thành niên thực hiện [37, trang 282] (Điều 3 Chương 1 và Điều 7 Chương 29)
Điều 7 chương 29 Bộ luật Hình sự Vương quốc Thụy Điển quy định: “Khi
quyết định hình phạt đối với người phạm tội dưới 21 tuổi, Tòa án cần đặc biệt cân nhắc đến độ tuổi của người đó nhưng hình phạt không được nhẹ hơn so với hình phạt đã quy định đối với tội đã thực hiện Hình phạt tù chung thân không áp dụng đối với người phạm tội dưới 21 tuổi”
Các hình phạt được phép áp dụng đối với người chưa thành niên được quy định trong Bộ luật hình sự bao gồm: phạt tiền, phạt tù có thời hạn, hình phạt có điều kiện, buộc phải chịu thử thách và đưa vào cơ sở chăm sóc đặc biệt Hình phạt tù chung thân - hình phạt nghiêm khắc nhất trong Bộ luật Hình sự Vương quốc Thụy Điển đối với người dưới 21 tuổi phạm tội
Theo quy định tại Điều 5 Chương 30: “Đối với người phạm tội dưới 18 tuổi,
Trang 26Tòa án chỉ có thể quyết định hình phạt tù trong trường hợp có lý do đặc biệt cho thấy phải áp dụng hình phạt đó”
Theo các quy định tại Điều là Chương 31 thì “đối với người chưa thành niên
phạm tội, trước hết, Tòa án cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chăm sóc người chưa thành niên Trong trường hợp người phạm tội từ đủ 18 tuổi nhưng chưa đủ 21 tuổi thì Tòa án chỉ có thể áp dụng hình phạt tù trong trường hợp nếu tính chất, mức
độ nguy hiểm của tội phạm hoặc vì các lý do đặc biệt khác mà phải áp dụng hình phạt đó”
* Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Vương quốc Anh
Tại Vương quốc Anh, trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên được chia làm 3 loại:
Trẻ em dưới 10 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về bất cứ tội phạm nào;
Trẻ em từ 10 đến 14 tuổi được coi là chưa có khả năng thực hiện một tội phạm cố ý nhưng điều này có thể bị bác bỏ nếu chứng minh được có “xu hướng độc
ác từ phía đứa trẻ”;
Trẻ em từ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm đầy đủ về mọi tội phạm nhưng cho đến 21 tuổi vẫn có thể được xét xử theo thủ tục riêng và được áp dụng hình phạt riêng [43, trang 121]
Như vậy, người chưa thành niên phạm tội ở Anh có độ tuổi từ đủ 10 tuổi đến
21 tuổi
Theo đó, hệ thống hình phạt được pháp luật hình sự Vương quốc Anh áp dụng với người chưa thành niên phạm tội từ 14 tuổi đến dưới 21 tuổi bao gồm: phạt tiền, các chế tài liên quan đến cộng đồng (gồm tha có thử thách, buộc làm một số dịch vụ công cộng, giám sát, quản chế, tham dự các trung tâm nhất định), các chế tài giam giữ
Tuy nhiên, theo pháp luật hình sự Vương quốc Anh, người chưa thành niên phạm tội không bị giam giữ tại nhà tù mà hình phạt này được thực hiện ở các Trại dành cho người chưa thành niên phạm tội hoặc ở những nơi đảm bảo an ninh (một dạng như
Trang 27trẻ ở nhà có khóa ngoài) Thời hạn giam giữ tùy thuộc vào tội phạm: đối với tội giết người và ngộ sát thì trẻ em từ 10 đến dưới 18 tuổi có thể bị giam giữ suốt đời; đối với tội phạm khác thì thời hạn thường từ 2 đến 3 năm và thi hành án theo chế độ nửa tự do
và có sự giám sát của cộng đồng
* Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)
Điều 17 Bộ luật Hình sự Trung Quốc quy định:“Người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, cố ý gây thương tích nặng, vô ý gây thương tích nặng hoặc gây chết người, hiếp dâm, cướp, buôn bán ma túy, đốt nhà, phá hoại, đầu độc Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
sẽ bị xử theo khung hình phạt nhẹ hơn hoặc được giảm nhẹ hình phạt”[12, trang 43] Như vậy, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Trung Quốc
giống với pháp luật hình sự Việt Nam Tuy nhiên, người dưới 18 tuổi phạm tội ở Trung Quốc chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự với một số loại tội phạm nhất định
Về việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi ở Trung Quốc được áp dụng theo khung hình phạt nhẹ hơn hoặc được giảm nhẹ hình phạt so với người đã thành niên phạm tội có cùng điều kiện Các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm: quản chế; phạt giam hình sự; phạt tù [11]
* Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Thái Lan
Bộ luật Hình sự Thái Lan có quy định tương đối khác biệt so với các quốc gia khác Theo Điều 72, 74 Bộ luật Hình sự Thái Lan thì một đứa trẻ chưa đến 7 tuổi cũng bị áp dụng hình phạt vì những tội đã được pháp luật quy định Trẻ em từ 7 tuổi đến 14 tuổi nếu phạm tội cũng bị xét xử và có thể chịu hình phạt tù nhưng Tòa
án sẽ quyết định biện pháp xử lý đặc biệt bằng cách đưa vào một trường cải tạo hoặc gửi trẻ em đó cho một người hay một cơ quan mà Tòa án thấy có khả năng thích hợp với việc cải tạo, giáo dục trẻ em đó Người chưa thành niên từ 14 tuổi đến
17 tuổi có thể bị phạt và được hưởng hình phạt đặc biệt Và đối với đối tượng này trước khi xét xử tuyên án, Tòa án bao giờ cũng xem xét kỹ hoàn cảnh, nhân thân và môi trường của người đó Quyết định hình phạt cuối cùng luôn đề cao tính chất
“nương nhẹ” đối với họ [11]
Qua nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và áp dụng hình phạt của nước ngoài
Trang 28đối với người chưa thành niên phạm tội đã cho thấy chúng ta học hỏi, rút ra được rất nhiều kinh nghiệm, cách làm hay của các nước tiên tiến khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, mục đích chính là giáo dục, dăn đe và tạo điều kiện để người chưa thành niên phạm tội có thể sửa chữa lỗi lầm, tái hòa nhập cộng đồng mà không có sự phân biệt, kỳ thị nào với người phạm tội Ví dụ như: Áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cho họ đi lao động công ích hay quyền của Tòa án trong việc lựa chọn loại và mức hình phạt nhẹ hơn để áp dụng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Người phạm tội dưới 18 tuổi là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm khi họ từ đủ 14 tuổi (ngày sinh nhật lần thứ 14) trở lên đến dưới 18 tuổi (trước ngày sinh nhật lần thứ 18) và có năng lực trách nhiệm hình sự
Đặc điểm tâm, sinh lý là đặc thù của người phạm tội dưới 18 tuổi Họ là những người tuổi đời còn ít, chưa có nhiều kinh nghiệm sống, sự hiểu biết pháp luật
và các chuẩn mực xã hội còn hạn chế Ở lứa tuổi này đang có sự biến đổi mạnh mẽ
về tâm, sinh lý và là giai đoạn quan trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân cách
Hình phạt áp dụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự, do Tòa
án quyết định cụ thể áp dụng đối người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bị tuyên án được thể hiện bằng sự tước bỏ, hạn chế quyền, lợi ích của người đó nhằm giáo dục, cải tạo, trừng trị họ để họ trở thành thành người có ích cho xã hội, góp phần bảo vệ chế độ, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội, của toàn xã hội và của Nhà nước
Áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi được hiểu là việc xác định hình phạt cụ thể được áp dụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi sau khi đã tuyên án đối với họ, bao gồm: loại hình phạt áp dụng, mức độ hình phạt áp dụng…
Trang 29CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGƯỜI
PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI 2.1 Quy định pháp luật hình sự Việt Nam đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015
2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã đánh dấu trang sử mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam Đối với lĩnh vực pháp luật và tư pháp, sự ra đời của Nhà nước mới, đặc biệt là ban hành Hiến pháp năm 1946 là một bước tiến dài mang tính đột phá
Cùng với việc ban hành pháp luật nói chung, trong giai đoạn này, Nhà nước
ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự như: Sắc lệnh số 27 – SL ngày 28/2/1946 quy định việc trừng trị những hành vi bắt cóc, tống tiền và ám sát; Sắc lệnh số 223 – SL ngày 17/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ; Sắc lệnh số 61 – SL ngày 05/7/1947 cấm xuất cảng tư bản; Pháp lệnh ngày 30/7/1967 về trừng trị các tội phản cách mạng, Pháp lệnh ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, Pháp lệnh ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân và Pháp lệnh ngày 06/9/1972 quy định về việc bảo vệ rừng; Sắc lệnh số 47– SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch nước cho phép áp dụng một số quy định của pháp luật hình sự phong kiến như một số điều luật của Bộ luật Hình sự Bắc Kỳ, Bộ luật Hình sự Trung Kỳ và Bộ luật Hình sự
Nam Kỳ; Chỉ thị số 772 - TATC ngày 10/7/1959 của Tòa án nhân dân Tối cao về
đình chỉ áp dụng pháp luật của đế quốc và phong kiến…
Về vấn đề người phạm tội dưới 18 tuổi, trong giai đoạn này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 217-TTg ngày 18/12/1967 về việc tổ chức lại
các trường giáo dục thiếu niên hư, trong đó quy định: “Nói chung, đối với trẻ hư
dưới 14 tuổi thì không đưa ra Tòa án xét xử…”
Trong hướng dẫn số 329-HS2 ngày 11/2/1967, Tòa án nhân dân tối cao đã đề
ra yêu cầu áp dụng biện pháp tư pháp thay thế hình phạt nhằm mục đích giáo dục
người chưa thành niên phạm tội: “Riêng đối với các can phạm còn ít tuổi (phạm tội
Trang 30hiếp dâm), cần phân biệt đối với những can phạm trong lứa tuổi, từ khoảng 14 đến
16, chủ yếu nên dùng những biện pháp giáo dục như: giao cho cha, anh, chú, bác bảo lĩnh và giáo dục; giữ trong các trại giáo dưỡng vị thành niên; chỉ trong một số
ít trường hợp có tình tiết thực sự nghiêm trọng mới cần xét xử” [33, trang 18]
Trong trường hợp thật cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên, văn bản này cũng đã hướng dẫn việc xác định hình phạt và mức hình phạt:
“Khi xét xử cần chiếu cố thích đáng đến trình độ hiểu biết pháp luật non kém và khả
năng dễ tiếp thu cải tạo giáo dục của họ, đến việc họ chưa nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểm của hành vi của mình mà xử nhẹ hơn các can phạm đã lớn tuổi chỉ vào khoảng 1/2 mức án đối với can phạm lớn tuổi” [33, trang 19] Như
vậy, việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, ngoài việc dựa trên các căn cứ chung để quyết định hình phạt đối với tội phạm, Tòa án còn cần xem xét đến 03 yếu tố thuộc về nhân thân người phạm tội là: trình độ hiểu biết pháp luật; khả năng giáo dục, cải tạo; mức độ nhận thức hành vi Trên cơ sở các yếu tố này, Tòa án sẽ cân nhắc áp dụng hình phạt và mức hình phạt nhẹ hơn luật định cho người chưa thành niên phạm tội và theo nguyên tắc là bằng khoảng một nửa so với người thành niên phạm tội tương tự
Tiếp đến, trong báo cáo Tổng kết công tác 4 năm (1965 - 1968), Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục hướng dẫn đường lối xét xử đối với người chưa thành niên phạm
tội: “Về nguyên tắc, từ đủ 14 tuổi tròn trở lên coi là có trách nhiệm về mặt hình sự
Nói chung đối với lứa tuổi từ 14 đến 16 thì chỉ bị truy tố, xét xử trong những trường hợp phạm các tội nghiêm trọng như giết người, cướp của, hiếp dâm riêng về hiếp dâm nói chung vẫn chủ yếu là giáo dục và cũng chỉ nên truy tố, xét xử trong trường hợp nghiêm trọng Đối với lứa tuổi từ 16 đến 18 tuổi, nếu hành vi phạm pháp có tính chất tương đối nghiêm trọng, nói chung cần xét xử, nhưng so với người lớn cần
xử nhẹ hơn”[33, trang 14] Mặt khác, văn bản này cũng yêu cầu Tòa án các cấp khi
tiến hành xét xử đối với các vụ án do người chưa thành niên gây ra, cần xem xét ưu
tiên áp dụng các biện pháp tư pháp thay cho hình phạt tù: “Đối với các em từ 14 đến
16 tuổi phạm tội trộm cắp nhiều lần, thì phải kiên trì giáo dục, cải tạo, đề nghị đưa vào trường phổ thông công nông nghiệp hoặc trong trường hợp bị truy cứu trách nhiệm
Trang 31hình sự thì chỉ nên tuyên xử giao cho gia đình bảo lĩnh giáo dục (nếu có điều kiện) hoặc chỉ nên áp dụng biện pháp án treo Xử phạt tù giam, nhất là những án phạt tù ngắn hạn hoàn toàn không thích hợp với lứa tuổi đó và cũng không đạt được một tác dụng thiết thực nào”[33 trang 16]
Đặc biệt, đường lối xét xử và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên được quy định rõ trong Chỉ thị số 46-TH ngày 14/01/1969 của Tòa án nhân dân tối cao về việc tăng cường và phát huy hơn nữa tác dụng của Tòa án trong công tác bảo vệ trật tự, trị an, bảo vệ tài sản của nhà nước và quản lý thị trường ở thành phố
Hà Nội Theo đó: “Nói chung, đối với trẻ em hư dưới 14 tuổi thì không đưa ra Tòa
án xét xử; từ 14 tuổi đến 18 tuổi, nếu trường hợp phạm pháp cần thiết phải đưa xét
xử thì châm trước đến tuổi còn non trẻ của chúng; riêng đối với loại từ 14 đến 16 tuổi, chỉ nên xét xử trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng”
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, các hình phạt cụ thể đối với người chưa thành niên là những hình phạt nào vẫn chưa được cụ thể hóa Đặc biệt, đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như tội phạm giết người do người chưa thành niên gây ra có áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình hay không vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể Phải đến năm 1970, khi Tòa án nhân dân tối cao ban hành Bản tổng kết số 452-HS2 ngày 10/8/1970 về thực tiễn xét xử loại tội giết người, hình
phạt tử hình mới được loại trừ đối với người chưa thành niên: “Vì tội giết người là
một tội hết sức nguy hiểm mà lứa tuổi từ 14 tuổi tròn trở lên đã có thể nhận thức được ít nhiều tính chất, cho nên, nói chung, cần truy tố xử các trường hợp giết người mà can phạm có từ 14 tuổi tròn trở lên Tuy nhiên, vì nhận thức của các can phạm còn non nớt, cho nên cần xét xử nhẹ hơn so với người đã lớn Mức hình phạt đối với can phạm này nói chung chỉ nên từ khoảng 15 năm tù trở xuống Đối với các can phạm đã có từ 16 tuổi tròn trở lên cho đến dưới 18 tuổi một ít cũng có thể
xử nhẹ một phần so với can phạm đã lớn và đối với tất cả các loại can phạm này, nói chung, không nên áp dụng hình phạt tử hình”[33, trang 19] Bên cạnh đó, nó
còn phân hóa đối tượng người chưa thành niên phạm tội để có chính sách xử lý phù hợp Theo đó, khi quyết định hình phạt đối với người tròn 14 tuổi trở lên nhưng chưa tròn 16 tuổi phạm tội giết người thì tối đa chỉ phạt 15 năm tù Đối với người
Trang 32phạm tội tròn 16 tuổi đến chưa tròn 18 tuổi thì việc quyết định hình phạt không có
giới hạn chính xác mà tùy vào sự cân nhắc của Tòa án nhưng phải “xử nhẹ một phần
so với can phạm đã lớn”
Đến năm 1976, để phù hợp với tình hình mới của đất nước và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sau khi đất nước thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao đã
ban hành Công văn số 37-NCLP ngày 16/01/1976, trong đó quy định rõ: “Đối với
những trường hợp người chưa thành niên từ 13 tuổi đến 14 tuổi có những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến tính mệnh, sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến tài sản có tính chất hủy hoại thì cá biệt có thể xử phạt về hình sự nếu người đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự Đối với người chưa thành niên phạm tội thuộc lứa tuổi 14 và 15, chỉ xử phạt
về hình sự trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng…”[34, trang 43] Và từ
văn bản này trở đi, Nhà nước thống nhất sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” thay thế cho các thuật ngữ “can phạm ít tuổi”, “trẻ em phạm tội”, “người phạm tội chưa trưởng thành”…
Tóm lại, trong giai đoạn này, việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội có những đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, cân nhắc việc không xử lý về hình sự hoặc ưu tiên áp dụng biện
pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội;
Thứ hai, trường hợp thật cần thiết mới áp dụng hình phạt đối với người chưa
thành niên phạm tội và phải chú trọng hiệu quả giáo dục, cải tạo đối với họ;
Thứ ba, mức hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải
được giảm nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội tương tự và phải được phân hóa theo độ tuổi theo nguyên tắc tuổi càng nhỏ thì mức độ giảm nhẹ càng lớn
Thứ tư, hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải thể
hiện được sự nghiêm khắc và khoan hồng của Nhà nước, tuyệt đối không được áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999
Bộ luật Hình sự năm 1985 là văn bản pháp lý quan trọng của pháp luật hình
sự Việt Nam, đánh dấu sự pháp điển hóa đầu tiên pháp luật hình sự Việt Nam Bộ
Trang 33luật này đã dành một chế định quy định về trách nhiệm hình sự của người chưa
thành niên phạm tội với tên gọi: “Những quy định đối với người chưa thành niên
phạm tội” (Chương VII)
Bộ luật Hình sự năm 1985 lại không có định nghĩa pháp lý về người chưa thành niên phạm tội Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 57 và Điều 65 có thể thấy, trong
Bộ luật này, người chưa thành niên là người từ 14 tuổi trở lên đến chưa đủ 18 tuổi Như vậy, người phạm tội dưới 18 tuổi là người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985
Theo đó, trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên được quy định cụ thể tại Điều 58 như sau:
“1 Người từ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải trách nhiệm hình
a Về căn cứ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo quy định tại Điều 57: “Người chưa thành niên phạm tội phải chịu trách
nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này” Do
đó, khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án căn cứ trước tiên vào các quy định tại chương VII, nếu không được quy định tại chương này sẽ áp dụng các quy định khác trong Bộ luật để giải quyết các vấn đề liên quan đến áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo đó, việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trước tiên vẫn phải căn cứ vào nguyên tắc áp dụng hình phạt của Bộ luật Tại Điều
37 quy định nguyên tắc chung quyết định và áp dụng hình phạt đối với người phạm
tội là: “Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào các quy định của Bộ luật này,
cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người
Trang 34phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự”
Bên cạnh đó, việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc cơ bản về xử lý những hành vi phạm tội của người chưa thành niên được quy định tại Điều 59 Theo đó, khi quyết định và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội còn phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu
nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Việc áp dụng hình phạt đối với người người chưa thành niên phạm tội phải căn cứ và trên cơ sở làm rõ khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm
Thứ hai, chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong
những trường hợp cần thiết, căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm
Thứ ba, không áp dụng hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình đối với
người chưa thành niên phạm tội Khi phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên Không xử phạt tiền và không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội
Thứ tư, không áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự, tăng nặng định khung đối với án đã tuyên đối với người phạm tội dưới 16 tuổi khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
b Về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo quy định tại khoản 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1985 thì hình phạt
áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội gồm: Cảnh cáo, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn
Chương VII không có quy định riêng liên quan đến hình phạt cảnh cáo về hình phạt của Bộ luật hình sự Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ngoài các
quy định chung áp dụng cho hình phạt này, Điều 63 quy định: “Khi áp dụng hình
phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội thì không khấu
Trang 35trừ thu nhập của người đó”
Về hình phạt tù có thời hạn, ngoài các điều luật quy định mức hình phạt cao nhất của hành vi phạm tội là hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình thì việc xác định mức hình phạt căn cứ vào quy điều luật đó và các quy định của pháp luật có liên quan khi áp dụng hình phạt Riêng đối với các điều luật quy định mức hình phạt cao nhất của hành vi phạm tội là hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình thì mức giới hạn được khống chế tại Điều 64 như sau:
“1 Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội là hai mươi năm tù và đối với người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa
đủ 16 tuổi khi phạm tội là mười lăm năm tù
2 Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là hai mươi năm tù thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là không quá mười hai năm tù”
Như vậy, có thể thấy, đối với các điều luật quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì có sự phân hóa khi áp dụng hình phạt đối với 2 loại người chưa thành niên phạm tội Theo đó, người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ bị áp dụng hình phạt nặng hơn so với người chưa thành niên phạm tội chưa
đủ 16 tuổi Tuy nhiên, đáng tiếc là Bộ luật Hình sự năm 1985 lại không có quy định
về việc phân hóa áp dụng hình phạt như thế này đối với các điều luật quy định hình phạt cao nhất là hai mươi năm tù mà người chưa thành niên phạm phải
c Về tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội
Trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm trước khi đủ 18 tuổi, có tội phạm sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng được thực hiện theo quy định tại Điều 65 như sau:
“1 Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung không được vượt mức hình phạt cao nhất quy định ở Điều 64
2 Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội”
Tuy nhiên, Bộ luật này lại không quy định về trường hợp người chưa thành
Trang 36niên phạm nhiều tội nhưng các tội đều thực hiện trước khi đủ tuổi
Việc giảm hình phạt đã áp dụng đối với người phạm tội nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng cũng được pháp luật hình sự quan tâm điều chỉnh Theo đó, ngoài những quy định chung về giảm hình phạt đã áp dụng, đối với người chưa thành niên, việc giảm hình phạt đã áp dụng còn được áp dụng nguyên
tắc có lợi hơn quy định tại Điều 66: “Người chưa thành niên bị kết án nếu cải tạo
tốt thì được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định ở Điều 49”
Như vậy, về cơ bản, Bộ luật Hình sự năm 1985 đã đặt ra một hệ thống quy định chuyên biệt thể hiện chính sách hình sự riêng của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội, trong đó có áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1999 đến trước năm 2015
Kế thừa quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999; được sửa đổi, bổ sung năm 2009 tiếp tục dành một chương riêng quy định về người chưa thành niên phạm tội với nhiều quy định tiến bộ, hoàn thiện hơn tại Chương X - Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Điều 68 được xác định là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội Điều này có nghĩa là hành vi phạm tội của họ được thực hiện từ ngày sinh nhật lần thứ 14 của họ đến trước ngày sinh nhật lần thứ 18 thì họ được xác định là người chưa thành niên phạm tội Như vậy, khái niệm người phạm tội dưới 18 tuổi hiện nay đang sử dụng có cùng nội hàm với khái niệm người chưa thành niên phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 trước đây
a Về căn cứ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo quy định tại Điều 68: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới
18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” Do đó, khi áp dụng hình phạt đối với người chưa
thành niên phạm tội, Tòa án căn cứ trước tiên vào các quy định tại chương X, nếu
Trang 37không được quy định tại chương này sẽ áp dụng các quy định khác trong Bộ luật để giải quyết các vấn đề liên quan đến áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Quy định này giống như đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1985 như đã phân tích ở trên
Chương X của Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định về căn cứ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Do đó, việc áp dụng hình phạt căn cứ vào quy định chung về áp dụng hình phạt được quy định tại Điều 45, đó là:
“Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”
Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc cơ bản về xử lý những hành vi phạm tội của người chưa thành niên được quy định tại Điều 69 Theo đó, khi quyết định và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội còn phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu
nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Việc áp dụng hình phạt đối với người người chưa thành niên phạm tội phải căn cứ và trên cơ sở làm rõ khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm
Thứ hai, chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong
những trường hợp cần thiết, căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm
Thứ ba, không áp dụng hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình đối với
người chưa thành niên phạm tội Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Không
áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội
Trang 38Thứ tư, không áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự, tăng nặng định khung đối với án đã tuyên đối với người phạm tội dưới 16 tuổi khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
b Các hình phạt và việc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các hình phạt có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn Như vậy, hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội đã loại bỏ hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình theo đúng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 69
Bộ luật hình sự không có quy định riêng đối với việc áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người chưa thành niên phạm tội Do đó, việc áp dụng hình phạt này được thực hiện tuân theo nguyên tắc chung và các quy định có liên quan để áp dụng hình phạt cảnh cáo Tuy nhiên, các hình phạt còn lại áp dụng đối với người chưa thành niên đều có những quy định cụ thể để áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
Đối với hình phạt tiền, theo quy định tại Điều 72 thì: “Phạt tiền được áp
dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng” Theo đó, việc áp
dụng hình phạt tiền với người chưa thành niên phạm tội phải thỏa mãn ba điều kiện:
Thứ nhất, chỉ được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính
Thứ hai, về độ tuổi, người chưa thành niên phạm tội khi họ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi
Thứ ba, người chưa thành niên phạm tội có thu nhập hoặc tài sản riêng
Về mức hình phạt, Điều 72 cũng quy định: “Mức phạt tiền đối với người chưa
thành niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định”
Đối với hình phạt Cải tạo không giam giữ được quy định tại Điều 73, theo
đó, việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên tuân theo các quy định chung về áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên nhưng có 02 điểm khác cần lưu ý:
Trang 39Thứ nhất, khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó
Thứ hai, thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định
Đối với hình phạt tù có thời hạn, Điều 74 quy định:
“1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
2 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được
áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định”
Như vậy, quy định này đã phân hóa mức hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở hai lứa tuổi khác nhau là từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi như vậy là hoàn toàn hợp lý và nhất quán với với chính sách hình sự đã thể hiện ở quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự của Bộ luật Người chưa đủ 16 tuổi được coi là trẻ em, có trình độ nhận thức non kém hơn
so với người đủ 16 tuổi trở lên nên cần được áp dụng hình phạt ở mức giảm nhẹ hơn Lứa tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên được Bộ luật hình sự xác định phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm nghĩa là luật hình sự coi họ có năng lực trách nhiệm hình sự tương đối đầy đủ, buộc phải nhận thức được và chịu trách nhiệm hoàn toàn
về hành vi của mình Tuy nhiên, do họ vẫn là người chưa thành niên nên luật cũng cho họ hưởng mức hình phạt giảm nhẹ nhưng không nhẹ bằng mức đối với người chưa thành niên phạm tội chưa đủ 16 tuổi
c Về tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội
Kế thừa Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng quy định trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm trước khi đủ 18 tuổi, có tội phạm sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng được thực hiện theo quy định tại Điều 75 như sau:
Trang 40“1 Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 74 của
“1 Người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có nhiều tiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, thì được Toà án xét giảm; riêng đối với hình phạt tù, mỗi lần có thể giảm đến bốn năm nhưng phải bảo đảm đã chấp hành ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên
2 Người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại
3 Người chưa thành niên bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.”
2.2 Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo Bộ luật Hình sự năm 2015