Trong xu thế liên kết và hoà nhập với nền kinh tế thế giới thành một chỉnh thể thống nhất, hầu hết các nước trên thế giới đều tham gia ngày càng tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế. Việt nam cũng đang trên đà phát triển tiến tới hội nhập với nền kinh tế thế giới. Để thực hiện được điều này, chúng ta cần một lượng vốn lớn để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng. Do đó, để bổ sung vào sự thiếu hụt vốn để phát triển kinh tế thì không thể không kể đến vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vấn đề đặt ra phải làm sao để tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam. Với hàng trăm công ty đa quốc gia quy mô lớn, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, Mỹ là chủ đầu tư của nhiều nước. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển ở Châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ vốn có truyền thống đầu tư vài ba chục năm ở các nước này, nhất là các nước NICs, ASEAN. Trong bối cảnh chung đó, do nhiều lý do khác nhau mà đầu tư của Mỹ vào Việt nam còn quá ít, chưa tương xứng với tiềm năng một cường quốc số một về kinh tế, chưa khai thác hết lợi thế của một vùng đất mà Mỹ đã và đang có mặt. Để tìm hiểu rõ hơn việc Mỹ đầu tư trực tiếp vào Việt nam và muốn góp phần thúc đẩy đầu tư của Mỹ vào Việt nam, nên em chọn đề tài: "Tình hình đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt nam. Thực trạng và một số giải pháp".
Trang 1LỜI NÓI ĐẦUTrong xu thế liên kết và hoà nhập với nền kinh tế thế giới thành mộtchỉnh thể thống nhất, hầu hết các nước trên thế giới đều tham gia ngày càngtích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế
Việt nam cũng đang trên đà phát triển tiến tới hội nhập với nền kinh tếthế giới Để thực hiện được điều này, chúng ta cần một lượng vốn lớn đểthúc đẩy nền kinh tế phát triển Vốn trong nước là quyết định, vốn nướcngoài là quan trọng Do đó, để bổ sung vào sự thiếu hụt vốn để phát triểnkinh tế thì không thể không kể đến vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài Vấn đề đặt ra phải làm sao để tăng cường thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào Việt nam
Với hàng trăm công ty đa quốc gia quy mô lớn, hoạt động trên nhiềulĩnh vực, Mỹ là chủ đầu tư của nhiều nước Đặc biệt đối với các nước đangphát triển ở Châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ vốn có truyền thống đầu tư vài
ba chục năm ở các nước này, nhất là các nước NICs, ASEAN Trong bốicảnh chung đó, do nhiều lý do khác nhau mà đầu tư của Mỹ vào Việt namcòn quá ít, chưa tương xứng với tiềm năng một cường quốc số một về kinh
tế, chưa khai thác hết lợi thế của một vùng đất mà Mỹ đã và đang có mặt Đểtìm hiểu rõ hơn việc Mỹ đầu tư trực tiếp vào Việt nam và muốn góp phần
thúc đẩy đầu tư của Mỹ vào Việt nam, nên em chọn đề tài: "Tình hình đầu
tư trực tiếp của Mỹ vào Việt nam Thực trạng và một số giải pháp".
Đề tài gồm 3 phần:
Phần I: Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Phần II: Thực trạng đầu tư trực tiếp của Mỹ ở Việt nam giai đoạn
Trang 2thầy cô và các bạn Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Trần Mai Hoa đã tận tình góp ý, hướng dẫn em hoàn thành đề án này.
PHẦN I
LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI
1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trước hết ta đi vào tìm hiểu khái niệm đầu tư, đầu tư nước ngoài:
Đầu tư là việc bỏ vốn hoặc chi dùng vốn cùng với các nguồn lực khác trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó (tạo ra hoặc khai thác sử dụng một tài sản) nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai.
Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển các nguồn lực từ nước này sang nước khác để thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm tối đa hoá lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu.
Từ đó ta đi vào khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư mà chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, điều hành cũng như sử dụng vốn.
Đây là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư và người sửdụng vốn là một chủ thể Có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá nhân ngườinước ngoài (các chủ đầu tư) trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sửdụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi đủ vốn đã bỏra
Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ
sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay một phần cơ sở đó Đây
là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớnvào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ
2 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dựa vào tỉ lệ sở hữu vốn, FDI được thực hiện dưới các dạng sau:
Trang 3- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là loại hình đầu tư, trong đó các bên
tham gia hợp đồng ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt độngsản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư, trên cơ sở qui định rõ đối tượng,nội dung kinh doanh, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho cácbên tham gia
Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bênhợp doanh ký Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng do các bên thoả thuận vàđược cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư chuẩn y
Đây là loại hình đầu tư không thành lập pháp nhân mới, lợi nhuận vàrủi ro phân chia theo tỉ lệ góp vốn của mỗi bên Tuy nhiên, thời gian thựchiện ngắn, lợi nhuận không cao
- Liên doanh là hình thức đầu tư trong đó các bên nước ngoài và nước
chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi
Hình thức này được nước chủ nhà ưa chuộng vì có điều kiện để họctập kinh nghiệm quản lý, đào tạo lao động, gián tiếp nhanh chóng có chỗđứng trên thị trường thế giới Loại hình đầu tư này được nước chủ nhà ápdụng đối với các công cuộc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng xã hội vì sự pháthuy tác dụng của các kết quả đầu tư này đòi hỏi phải được kiểm soát chặtchẽ Khi áp dụng hình thức này, đòi hỏi phải có khả năng góp vốn, có đủtrình độ tham gia quản lý doanh nghiệp với người nước ngoài thì nước chủnhà mới đạt được hiệu quả mong muốn
- 100% vốn nước ngoài là hình thức đầu tư, trong đó chủ đầu tư nước
ngoài đầu tư 100% vốn tại nước sở tại, có quyền điều hành và chịu hoàn
Trang 4toàn trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của dự án Chủ đầu tư chỉ có mộttrách nhiệm với nước sở tại là nộp thuế Do đó, nước sở tại không mất vốn
mà lại thu được thuế Tuy nhiên, nước nhận đầu tư không kiểm soát đượchoạt động đầu tư và việc chuyển giao công nghệ không được thực hiện
- Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT): loại hình này
tập trung vào dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Các chủ đầu tư chịutrách nhiệm tiến hành xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian
đủ để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý Sau khi dự án kết thúc, toàn
bộ công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ nhà mà không thu bất cứmột khoản tiền nào
Theo phương thức thực hiện đầu tư, FDI được chia ra thành:
- Đầu tư mới là hình thức đầu tư, trong đó chủ đầu tư nước ngoài bỏ
vốn ra hoặc kết hợp với nước chủ nhà thành lập nên một cơ sở sản xuất kinhdoanh mới Đầu tư mới tạo nhiều việc làm, tạo nhiều cơ sở sản xuất kinhdoanh, dịch chuyển cơ cấu đầu tư
- Mua lại và sát nhập (M&A) là hình thức đầu tư trong đó hai hoặc
nhiều công ty sát nhập lại thành một công ty lớn
Hình thức này không ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư Với nước nhậnđầu tư, M&A không làm tăng cơ sở hạ tầng, không tăng việc làm, thậm chícòn giảm
Theo mục đích đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài chia thành:
- Đầu tư theo chiều dọc là đầu tư để chiếm lĩnh thị trường trong nước,
dần dần tiêu diệt các cơ sở trong nước
- Đầu tư theo chiều ngang là đầu tư sản xuất một số sản phẩm, linh
kiện ở các nước khác và xuất khẩu sang các nước khác để khai thác tối đa lợithế so sánh của nhiều nước một lúc tạo ra sản phẩm với chi phí tối thiểu
Với các phương thức tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau, cáctác giả đã đưa ra nhiều mô hình và quan điểm lý thuyết về nguyên nhân hình
Trang 5thành và ảnh hưởng của FDI đến nền kinh tế thế giới, trong đó đặc biệt làđối với các nước đang phát triển.
Lý thuyết FDI có thể được chia thành 2 nhóm:
Trang 61 Các lý thuyết kinh tế vĩ mô về FDI
Nhóm lý thuyết này được phân tích dựa trên cơ sở của quy luật lợi thế
so sánh phân công lao động quốc tế và được coi là lý thuyết cơ bản của FDI
Các nhà kinh tế lý thuyết đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau đểphân tích nguyên nhân và ảnh hưởng của FDI đối với các nước tham gia đầu
tư, trong đó nổi bật là các mô hình của Heckcher-Ohlin-Samuelson và môhình của MacDougall-Kemp
1.1 Mô hình Heckcher-Ohlin-Samuelson (HOS)
Lý thuyết di chuyển vốn quốc tế hoặc FDI là một phần của lý thuyếtthương mại quốc tế Lý thuyết này chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích mô hìnhHOS để đưa ra các nhận định về nguyên nhân di chuyển vốn là có sự chênhlệch về tỉ suất lợi nhuận so sánh giữa các nước, và sự di chuyển đó tạo ratăng sản lượng cho nền kinh tế thế giới và các nước tham gia đầu tư
Để đơn giản cho sự phân tích, mô hình HOS được xây dựng trên cácgiả định: Hai nước tham gia trao đổi hàng hoá hoặc đầu tư (nước I và nướcII-phần còn lại của thế giới), hai yếu tố sản xuất (lao động-L và vốn-K), haihàng hoá(X và Y), trình độ kỹ thuật sản xuất, thị hiếu và hiệu quả kinh tếtheo quy mô ở hai nước như nhau, không có chi phí vận tải, can thiệp củachính sách, hoạt động của thị trường hai nước là hoàn hảo và không có sự dichuyển các yếu tố sản xuất giữa các nước Với những giả định này, mô hìnhHOS phân tích tỷ lệ chi phí của các yếu tố sản xuất (L, K) ở hai nước I và II
Mô hình HOS đã chỉ ra rằng sản lượng của hai nước sẽ tăng lên nếumỗi nước tập trung sản xuất để xuất khẩu những hàng hoá sử dụng yếu tốsản xuất dư thừa và tiết kiệm yếu tố sản xuất khan hiếm Ngược lại, nhậpkhẩu những hàng hoá dùng nhiều yếu tố khan hiếm và ít hàm lượng yếu tố
dư thừa Như vậy, sự khác biệt trong chi phí sản xuất hàng hoá và lợi thế sosánh giữa các nước được lý thuyết HOS phân tích từ sự khác biệt giữa tính
dư thừa và khan hiếm của các yếu tố sản xuất, vì thế mô hình này còn đượcgọi là lý thuyết các yếu tố sản xuất
1.2 Mô hình Mac Dougall-Kemp
Trang 7Khác với mô hình HOS, mô hình này phân tích ảnh hưởng kinh tế vĩ
mô của FDI với nền kinh tế thế giới và các nước tham gia đầu tư Mô hìnhnày được xây dựng trên các giả định: Nền kinh tế thế giới chỉ có hai nước(nước đầu tư-I và phần còn lại là nước đầu tư-II), trước khi di chuyển vốnquốc tế thì năng suất cận biên của vốn đầu tư nước I thấp hơn nước II (nước
I dư thừa và nước II khan hiếm vốn), cạnh tranh hoàn hảo ở hai nước, quyluật năng suất cận biên của vốn giảm dần và giá cả sử dụng vốn được quyếtđịnh bởi quy luật này
Từ các giả định trên, các tác giả đã đi đến kết luận về nguyên nhânhình thành FDI là do có sự chênh lệch năng suất cận biên của vốn đầu tưgiữa các nước và ảnh hưởng của nó làm tăng sản lượng thế giới (nhờ vàotăng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất) và các nước tham gia đầu
tư đều có lợi Mô hình này cũng phân tích FDI tạo ra ảnh hưởng rất khácnhau ở nước đầu tư và nước chủ nhà Đối với nước I, thu nhập từ sử dụngvốn tăng lên do năng suất cận biên của vốn tăng khi vốn đầu tư chuyển sangnước II, trong khi đó thu nhập từ lao động lại giảm đi vì mất lượng vốn đầu
tư đã chuyển sang nước II Đối với nước II, thu nhập từ vốn và lao động diễn
ra theo chiều hướng ngược lại với nước I
Những kết luận từ phân tích mô hình này đã có ý nghĩa quan trọngđến sự phát triển của lý thuyết FDI, trong đó đặc biệt là lý thuyết thuế tối ưucủa đầu tư nước ngoài Lý thuyết này được phát triển bởi nhiều tác giả, trong
đó chủ yếu phân tích ảnh hưởng của mức thuế FDI đến việc phân chia phầngiá trị gia tăng giữa các nước tham gia đầu tư và hiệu quả sử dụng các nguồnlực sản xuất của hai nước Khi nước chủ nhà đánh thuế FDI ở tỷ lệ thích hợp(tối ưu) thì mặc dù tổng sản lượng có giảm, nhưng thu nhập quốc dân thựctế- thu nhập gia tăng từ thuế- sẽ cao hơn trong trường hợp không đánh thuế(trong trường hợp tự do di chuuyển vốn, tuy tổng sản lượng lớn, nhưng phầnsản lượng gia tăng lại chuyển về nước đầu tư nhiều hơn, vì thế làm cho thunhập quốc dân của nước chủ nhà thấp) Phân tích tình hình tương tự nhưvậy, đối với nước đầu tư sẽ đạt được thu nhập tối đa khi có tỉ lệ thuế tối ưu
để giới hạn xuất khẩu vốn đến mức không làm suy giảm lớn thu nhập từ laođộng
Trang 81.3 Lý thuyết phân tán rủi ro - Salvatore
Ở các nước, mức độ rủi ro đầu tư khác nhau Một nước đầu tư ranhiều nước khác, mất vốn nước này sẽ còn vốn nước kia
Trang 91.4 Lý thuyết của Krugman
Theo Krugman, có hành động đầu tư ra nước ngoài là do có chínhsách kinh tế vĩ mô khác nhau: chính sách tiền tệ, chính sách tài chính… Đầu
tư ra nước ngoài để tìm môi trường thuận lợi hơn
1.5 Lý thuyết của Kojima
Theo Kojima, nguyên nhân có đầu tư nước ngoài là do có sự chênhlệch về tỷ suất lợi nhuận, là do các nước có lợi thế so sánh khác nhau
2 Các lý thuyết kinh tế vi mô về FDI
Có nhiều quan điểm lý thuyết kinh tế vi mô để giải thích hoạt độngđầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1 Lý thuyết chiết trung
Lý thuyết này giải thích hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là do:
- Có được lợi thế độc quyền so với các công ty cùng ngành của nướcnhận đầu tư
- Các công ty độc quyền phải sử dụng được ít nhất một yếu tố sản xuấttại nước nhận đầu tư
2.2 Lý thuyết nội vi hoá
Lý thuyết này xây dựng trên 3 giả định: TNCs tối đa hoá lợi nhuậntrong điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo, tính không hoàn hảo của thịtrường bán thành phẩm và TNCs tạo ra quốc tế hoá thị trường Từ những giảđịnh này, lý thuyết đã chỉ ra nguyên nhân đầu tiên hình thành và phát triểncủa các TNCs là do tác động của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Hơnnữa, TNCs còn được xem như giải pháp nhằm khắc phục những vấn đề củathị trường thông qua việc mở rộng quy mô ra bên ngoài để sản xuất và phânphối các sản phẩm một cách có hiệu quả
2.3 Lý thuyết tổ chức công nghiệp
Các nhà kinh tế giải thích có sự đầu tư ra nước ngoài là để khai tháclợi thế độc quyền, mở rộng quy mô sản xuất từ đó tối đa hoá lợi nhuận
Trang 102.4 Lý thuyết địa điểm công nghiệp
Nguyên nhân có đầu tư nước ngoài là do có địa điểm công nghiệpthuận lợi nhằm hạ chi phí đầu vào và tiêu thụ sản phẩm Từ đó giảm chi phívận tải và chi phí sản xuất
2.5 Lý thuyết xuất khẩu tư bản
Theo lý thuyết này, có hoạt động đầu tư ra nước ngoài là do giá trịthặng dư trong nước mang lại bị hạn chế (lợi nhuận ít) Do đó, tìm cáchchuyển sản xuất ra nước ngoài, đặc biệt từ những nước phát triển sangnhững nước đang phát triển vì những nước đang phát triển có thị trường tiêuthụ bị bỏ ngõ, chi phí lao động còn thấp, nguyên vật liệu đầu vào chưa đượckhai thác hết
2.6 Lý thuyết chênh lệch chi phí sản xuất
Lý thuyết này giải thích có hoạt động đầu tư ra nước ngoài là do:
- Chi phí sản xuất ở trong nước và nước ngoài khác nhau (chi phí sảnxuất ở nước ngoài > chi phí sản xuất ở trong nước)
- Quy mô thị trường đạt ở một mức nào đó P
C: đường chi phí thêm cho 1 sản phẩm ở nước ngoài
Do đó, tổng chi phí sản xuất 1sản phẩm ở nước ngoài là AC'= AC + C
Với AC': đường chi phí sản xuất ở nước ngoài
Giá bán sản phẩm trên thị trường khi có thuế nhập khẩu là MM
Trang 11Lúc này sẽ xảy ra các trường hợp sau:
- Nếu quy mô thị trường trong nước II < OQ1 thì nước I sẽ không đầu tưsang nước II, mà chỉ sản xuất trong nước và xuất khẩu sang nước II
- Nếu quy mô thị trường trong nước II nằm trong đoạn Q1Q2 thì nước Ihoặc sẽ vẫn sản xuất trong nước, hoặc cho nước II thuê lợi thế độcquyền để sản xuất
- Chỉ khi nào quy mô thị trường trong nước II > OQ2 thì mới có hoạtđộng FDI
2.7 Lý thuyết chu kỳ sản phẩm - Vernon
Lý thuyết này giải thích sự phát triển của TNCs theo 3 giai đoạn pháttriển của sản phẩm: đổi mới, tăng trưởng và bão hoà Vernon đã phân tíchgiai đoạn đổi mới sản phẩm chỉ diễn ra ở các nước phát triển (Mỹ), vì thunhập cao có ảnh hưởng đến nhu cầu và khả năng tiêu thụ sản phẩm mới.Cũng chỉ ở các nước phát triển, kỹ thuật sản xuất tiên tiến với đặc trưng sửdụng nhiều vốn và các điều kiện sản xuất (tương đương với các nước đầu tư)mới phát huy được hiệu suất cao Kết quả là sản xuất tăng nhanh theo quy
mô lớn, năng suất lao động cao và các sản phẩm mới đã đạt đến mức bãohoà
Để sản xuất tiếp tục được phát triển, công ty phải mở rộng thị trườngtiêu thụ ở nước ngoài, nhưng việc bán sản phẩm ra nước ngoài đã nhanhchóng bị hạn chế bởi hàng rào thuế quan hoặc hạn ngạch Thêm vào đó,cước phí vận tải và chi phí nguyên vật liệu, lao động rẻ ở các nước đang pháttriển là động lực quan trọng thúc đẩy TNCs đầu tư ra nước ngoài
Theo Vernon, hầu hết các TNCs như là các tổ chức độc quyền bán vàchia làm 3 giai đoạn phát triển: độc quyền trên cơ sở đổi mới, độc quyền bảohoà và độc quyền suy yếu Giai đoạn 1 với đặc trưng là dựa vào ưu thế vê kỹthuật tiên tiến để tạo ra các sản phẩm mới và thu được lợi nhuận độc quyền.Giai đoạn tiếp theo là đạt đến mức độc quyền tối đa so với các đối thủ vềquy mô sản xuất, tiếp thị, nghiên cứu và triển khai (marketing và R&D).Giai đoạn cuối cùng là các yếu tố đổi mới và quy mô kinh tế đã mất vị tríđộc quyền Từ đó tác giả đã đi đến kết luận về nguyên nhân hình thành FDInhư là kết quả của quá trình bảo vệ thị trường độc quyền của TNCs
2.8 Lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp - Akamatsu
Trang 12Theo Akamatsu, sản phẩm mới được phát minh và ra đời ở nước đầu
tư, sau đó được xuất khẩu ra thị trường quốc tế Tại nước nhập khẩu, do ưuđiểm của sản phẩm mới và nhu cầu thị trường nội địa tăng lên, chính phủnước nhập khẩu đã tăng cường sản xuất thay thế sản phẩm nhập khẩu nàybằng cách dựa vào vốn, kỹ thuật… của nước ngoài Đến khi nhu cầu thịtrường nội địa về sản phẩm mới được sản xuất trong nước đạt đến sự bãohoà, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện và cứ theo chu kỳ như vậy mà dẫn đếnviệc hình thành FDI
Lý thuyết kinh tế FDI là sự phát triển liên tục của các quan điểm khácnhau trong quá trình phân tích và giải thích sự tăng trưởng của đầu tư nướcngoài Việc kết hợp hài hoà giữa các mô hình lý thuyết và các quan điểm vi
mô là phương pháp tốt nhất để hiểu biết về cơ sở lý thuyết của FDI
III VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
FDI có tác động tích cực đến cả nước nhận đầu tư cũng như như nước
đi đầu tư Tuy nhiên, trong bài viết này tôi chỉ đề cập tới vai trò của FDI tớinước nhận đầu tư
Đối với nước nhận đầu tư, FDI có vai trò quan trọng
1 FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho các nước chủ nhà để phát
triển kinh tế.
Vốn cho đầu tư phát triển kinh tế gồm nguồn vốn trong nước và vốn
từ nước ngoài Đối với các nước lạc hậu, nguồn vốn tích luỹ từ trong nướccòn hạn hẹp thì vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đốivới quá trình phát triển nền kinh tế Trong điều kiện hiện nay, khi mà trênthế giới có nhiều nước đang nắm trong tay một khối lượng vốn khổng lồ và
có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài thì đó là cơ hội để các nước đang phát triển
có thể tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào việc phát triển kinh tế
Ở nhiều nước đang phát triển, vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỉ lệ đáng
kể trong tổng vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế Nó có vai trò to lớn đối với
sự phát triển kinh tế Các nhà nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng vốn FDIchiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong GDP thì tốc độ tăng trưởng GDP thực tếcàng cao Điều này cho thấy FDI có ý nghĩa quyết định đến tăng trưởng kinh
Trang 13tế của các nước này Bên cạnh đó, nguồn thu FDI còn là nguồn bổ sung quantrọng để các nước này thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đối với các nước công nghiệp phát triển, đây là những nước xuất khẩuvốn FDI nhiều nhất, nhưng cũng là nước tiếp nhận vốn FDI nhiều nhất hiệnnay FDI vẫn là nguồn bổ sung vốn quan trọng và có ý nghĩa to lớn cho quátrình phát triển nền kinh tế của những quốc gia này
2 FDI với việc chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực công nghệ
Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển vàonước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc, thiết
bị, nguyên vật liệu, nhà xưởng… (hay còn gọi là phần cứng) và vốn vô hìnhnhư chuyên gia kỹ thuật công nghệ, tri thức khoa học, tổ chức, bí quyết,quản lý, năng lực tiếp cận thị trường… (hay còn gọi là phần mềm).Thôngqua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, quá trình chuyển giao công nghệđược thực hiện tương đối nhanh chóng và thuận tiện cho cả bên đầu tư cũngnhư bên nhận đầu tư
Một trở ngại lớn nhất trên con đường phát triển kinh tế của hầu hếtcác nước đang phát triển là trình độ kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu Conđường nhanh nhất để phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ sản xuất củacác nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay là: phải biết tận dụng đượcnhững thành tựu kỹ thuật công nghệ tiên tiến của nước ngoài thông quachuyển giao công nghệ Tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài là mộtphương thức cho phép các nước đang phát triển tiếp thu được trình độ kỹthuật công nghệ hiện đại trên thế giới Trong điều kiện hiện nay, trên thếgiới có nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau có nhu cầu đầu tư ranước ngoài và thực hiện chuyển giao công nghệ cho nước nào tiếp nhận đầu
tư Thì đây là cơ hội cho các nước đang phát triển có thể tiếp thu được kỹthuật công nghệ thuận lợi nhất Nhưng không phải các nước đang phát triểnđược "đi xe miễn phí", mà họ cũng phải trả một khoản "học phí' không nhỏcho việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ này
Các nước phát triển, mặc dù đã có trình độ sản xuất hiện đại, khoa học
kỹ thuật tiên tiến nhưng không thể nào toàn diện được Để đạt hiệu quả kinh
Trang 14tế cao, mỗi nước chỉ tập trung vào một số lĩnh vực nào mà họ có ưu thế hơn
và ngược lại chính sự tập trung đó cho phép họ có khả năng phát triển vượttrội lên ở một hay một số lĩnh vực nào đó, điều đó càng củng cố thêm địa vị
và quyền lợi kinh tế của họ trên thế giới
Mặc dù sự chuyển giao này còn nhiều hạn chế do những yếu tố chủquan và khách quan chi phối, song điều không thể phủ nhận là chính nhờ có
sự chuyển giao đó mà các nước chủ nhà có được kỹ thuật tiên tiến (trong đó
có những công nghệ không thể mua được bằng quan hệ thương mại đơnthuần), kinh nghiệm quản lý, năng lực marketing, đội ngũ lao động được đàotạo, bồi dưỡng, rèn luyện về nhiều mặt (trình độ kỹ thuật, phương pháp làmviệc, kỷ luật lao động,…)
Trong quá trình tiếp thu công nghệ, các nhà khoa học trong nước cảibiến công nghệ cho phù hợp với tình hình thực tế Việc luôn cọ sát với côngnghệ tiên tiến hơn trên thế giới khiến năng lực công nghệ của các cơ sởtrong nước phát triển hơn
3 FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bảnthân sự phát triển nội tại nền kinh tế, mà nó còn là đòi hỏi của xu hướngquốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay Để hội nhậpvào nền kinh tế thế giới và tham gia tích cực vào quá trình liên kết kinh tếgiữa các nước trên thế giới, đòi hỏi từng quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh
tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế Sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chungtrên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài Ngược lại thì chính đầu tư trực tiếp nước ngoài lại góp phần thúc đẩynhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4 FDI góp phần phát triển nguồn nhân lực và tạo thêm nhiều việc làm mới
Các dự án FDI có yêu cầu cao về chất lượng nguồn lao động, do đó sựphát triển của FDI ở các nước sở tại đã đặt ra yêu cầu khách quan phải nângcao chất lượng về ngoại ngữ,trình độ chuyên môn của người lao động Mặt
Trang 15khác, chính các chủ đầu tư nước ngoài cũng đã góp phần tích cực bồi dưỡng,đào tạo đội ngũ lao động ở nước sở tại Đó chính là đội ngũ nòng cốt trongviệc học tập, tiếp thu kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, năng lực quản lý điềuhành tiên tiến của nước ngoài Các dự án FDI cũng góp phần thu hút mộtlượng lớn lao động, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp
Trang 165 Những tác động khác
Ngoài những tác động trên đây, FDI còn có một số tác động khác như
mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, thúc đẩy quá trình xuất nhập khẩu, nângcao tính cạnh, đóng góp đáng kể vào nguồn thu của ngân sách nhà nướcthông qua việc nộp thuế của các đơn vị đầu tư nước ngoài và tiền thu từ việccho thuê đất,…; góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế…
IV MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA FDI
FDI không phải khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác động tíchcực đối với đời sống kinh tế xã hội của nước chủ nhà Nó chỉ có thể phát huytác dụng tốt trong môi trường kinh tế, chính trị xã hội ổn định và đặc biệt lànước nhận đầu tư biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình Tuynhiên, qua nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút FDI củanhiều nước đã chỉ ra rằng FDI có không ít những mặt hạn chế Cụ thể:
- Nguồn vốn FDI mang lại cho nước chủ nhà song trên thực tế do chủđầu tư quản lý trực tiếp và sử dụng theo những mục tiêu cụ thể của mình
- Nhiều nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đã lợi dụng chỗ sơ hở trongluật pháp và trong công tác quản lý của nước chủ nhà để trốn thuế, gây táchại đến môi trường sinh thái và lợi ích của nước chủ nhà
- Chuyển giao công nghệ là mặt tác động lớn của FDI, song còn tồntại nhiều hạn chế và nhiều tiêu cực, trong đó có việc chuyển giao nhỏ giọt,từng phần và thông thường là công nghệ lạc hậu và gây ô nhiễm… với giácao hơn mặt bằng quốc tế
- Trong số các nhà đầu tư nước ngoài không phải không có trườnghợp hoạt động tình báo, gây rối an ninh, chính trị,…
Nêu lên những hạn chế của FDI không có nghĩa là phủ nhận tác dụngcủa nó mà chỉ muốn lưu ý rằng không nên quá ảo tưởng về nó và cần cónhững biện pháp kiểm tra, kiểm soát và đối sách hữu hiệu để phát huy mặttích cực, hạn chế mặt tiêu cực của FDI
Trang 17V CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT VỐN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Hiện nay, nhu cầu vốn đầu tư phát triển của các quốc gia rất lớn vàngày một tăng, nhưng khả năng cung cấp vốn đầu tư rất hạn chế, do đó quan
hệ cung cầu về vốn trên thế giới rất căng thẳng Khả năng thu hút vốn đầu tưcủa các quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó, các nhân tố cơ bản
là xu hướng vận động có tính quy luật của các dòng vốn FDI trên thế giới,chiến lược đầu tư và phát triển của các tập đoàn đa quốc gia, môi trường đầu
tư và khả năng cạnh tranh thu hút vốn FDI của các nước tiếp nhận đầu tư
1 Xu hướng vận động của vốn FDI trên thế giới hiện nay
- Dòng vốn FDI trên thế giới ngày một gia tăng và chịu sự chi phối chủyếu của các nước công nghiệp phát triển
- Đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức hợp nhất hoặc mua lại các chi nhánhcông ty ở nước ngoài (M&A) đã bùng nổ trong những năm gần đây, trởthành chiến lược hợp tác phát triển chính của các công ty xuyên quốc gia(TNCs)
- Có sự thay đổi sâu sắc trong lĩnh vực đầu tư trên thế giới
- Các nước Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật chi phối dòng vận động chính củavốn FDI (vào, ra) trên thế giới
- Các tập đoàn xuyên quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong đầu tư trựctiếp ra nước ngoài và đang đẩy mạnh quá trình đầu tư ra nước ngoài
- Dòng vốn FDI đổ vào các nước đang phát triển đang gia tăng mạnh mẽ,đặc biệt là các nước đang phát triển ở Châu Á
Các xu hướng trên có ảnh hưởng to lớn tới việc thu hút FDI của tất cảcác quốc gia trên thế giới
2 Chiến lược đầu tư phát triển của các TNCs
Từ đầu thập kỷ 80 đến nay các TNCs đã dần trở thành lực lượng chủ yếu,nòng cốt thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế giớithông qua tác động to lớn của các TNCs trong việc phân bố nguồn lực củanền kinh tế thế giới, thúc đẩy quá trình chuyển biến cơ cấu kinh tế ở các
Trang 18quốc gia, chi phối lưu chuyển hàng hoá của thương mại quốc tế Các TNCscũng đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải kỹ thuật, công nghệ thúcđẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở những nước đang phát triển.
Do đó, chiến lược đầu tư phát triển của các TNCs có tác động rất lớn đếndòng và xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
3 Môi trường đầu tư và khả năng cạnh tranh thu hút vốn FDI của các nước tiếp nhận đầu tư.
Dòng FDI chỉ thực sự mở rộng và ưa tìm đến những nơi có môi trường đầu
tư đảm bảo cho dòng vốn sinh sôi nảy nở Môi trường đầu tư hấp dẫn, có sứccạnh tranh để thu hút FDI trước hết bao gồm các nhân tố:
- Sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư
- Sự mềm dẻo và hấp dẫn của hệ thống chính sách khuyến khích đầu tưnước ngoài
- Sự phát triển của cơ sở hạ tầng
- Sự phát triển của đội ngũ lao động, của trình độ khoa học - công nghệ và
hệ thống doanh nghiệp trong nước và trên địa bàn
- Sự phát triển của nền hành chính quốc gia và hiệu quả của các dự án FDI
đã triển khai
Tóm lại, FDI đã, đang và sẽ tìm đến quốc gia và địa phương nào có
nền kinh tế - chính trị - xã hội ổn định, hệ thống pháp luật đầu tư đầy đủ, cởi
mở, tin cậy và mang tính chuẩn mực quốc tế cao; chính sách ưu đãi đầu tưlinh hoạt và hấp dẫn,… Đặc biệt việc các quốc gia đó tham gia vào các tổchức kinh tế khu vực và quốc tế, cũng như tuân thủ nghiêm túc các côngước, quy định về luật pháp đầu tư và thông lệ đối xử quốc tế… sẽ là nhữngyếu tố đảm bảo lòng tin và hấp dẫn các dòng FDI thậm chí còn mạnh hơnviệc đưa ra các ưu đãi tài chính cao… nghĩa là dòng FDI chỉ ưa tìm đếnnhững nơi đầu tư an toàn, đồng vốn được sử dụng có hiệu quả, quay vòngnhanh và ít rủi ro
Trang 19độ lao động có chuyên môn cao, luật pháp ổn định rõ ràng, mức độ rủi rothấp Như vậy, những nước có nền kinh tế càng phát triển càng thu nhậnnhiều FDI Và các nước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (bao gồm cảASEAN) là địa chỉ hấp dẫn để thu hút FDI
Năm 1998, dòng FDI của thế giới là 643.879 triệu USD Trong đó,riêng FDI ra nước ngoài của Mỹ là 121.644 triệu USD, chiếm 19% dòng vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài của toàn thế giới
Trong bối cảnh chung đó, để biết được Mỹ đầu tư vào Việt nam nhưthế nào, ta đi vào xem xét thực trạng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt nam
I THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ 1994 ĐẾN NAY
Trang 20các công ty của Nhật Bản, Châu Âu và các nước khác Do đó khi huỷ bỏlệnh cấm vận, các công ty Mỹ đã "nhảy" vào đầu tư ở Việt nam Cụ thể, saukhi huỷ bỏ lệnh cấm vận 1 ngày, đã có 30 công ty mở văn phòng đại diện tạiViệt nam, "mở đầu cuộc đấu tranh để giành trái tim và ví tiền của người Việtnam" Chỉ vài năm sau đó, nhất là khi bình thường hoá quan hệ ngoại giao,đầu tư của Mỹ tại Việt nam đã tăng lên nhanh chóng Cụ thể:
Bảng 1: Đầu tư của Mỹ tại Việt nam (Tính đến tháng 10/2002 - các dự án còn hiệu lực) Năm Số dự
án
Tổng số vốn đầu tư (triệu USD)
Tỷ trọng (%)
Quy mô dự án (triệu USD)
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Với quy mô và tốc độ đầu tư tăng khá lớn vào Việt nam, chỉ 2 nămsau khi lệnh cấm vận được dỡ bỏ, Mỹ đã vượt lên thứ 6 trong danh sách 10nhà đầu tư lớn nhất vào Việt nam và chỉ sau Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc,Xingapo và Thuỵ Điển Năm 1995, đã tạo ra một bước đột biến mới với 19
dự án đầu tư của Mỹ với tổng số vốn đầu tư là 397,871 triệu USD Đây lànăm đạt mức đầu tư cao kỷ lục cả về số lượng dự án lẫn số vốn đầu tư vàquy mô dự án, chiếm tới 28,34% tổng vốn đầu tư; 13,19% số dự án đầu tư,với quy mô dự án bình quân đạt 20,94 triệu USD - mức cao nhất từ trướcđến giờ của đầu tư Mỹ vào Việt nam và cao hơn nhiều so với quy mô dự áncủa cả giai đoạn (9,75 triệu USD) Điều đáng quan tâm là các công ty tầm cỡthế giới của Mỹ đã tham gia chính với những dự án quy mô lớn và có tầmquan trọng đối với tương lai phát triển của nền kinh tế Việt nam Chẳng hạnnhư Mobil Oil với dự án dầu khí (Mỏ Thanh Long) 55 triệu USD, dự án khu
du lịch Non Nước của tập đoàn BBI China Beach Ltd 243 triệu USD… Vịtrí này Mỹ tiếp tục giữ trong năm 1997, mặc dù cả số dự án lẫn tổng vốn đầu
Trang 21tư của Mỹ vào Việt nam giảm mạnh (trong năm chỉ có thêm 12 dự án vớitổng số vốn 98,544 triệu USD) Tuy tốc độ đầu tư của Mỹ vào Việt nam hainăm 1996-1997 có dấu hiệu chựng lại do tác động của nhiều nhân tố kháchquan như khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, môi trường, chínhsách đầu tư của Việt nam chưa ổn định, phức tạp, nhiều rủi ro, chậm thu lợinhuận, chính sách đối xử của Việt nam đối với các công ty nước ngoài nóichung, công ty Mỹ nói riêng, còn nhiều phân biệt, chưa thuận cho cách làm
ăn kinh doanh của họ,… Nhưng tác động tích cực của các nhân tố khác nhưviệc chính phủ Mỹ cho phép Cơ quan phát triển thương mại Mỹ (TDA)chính thức mở các chương trình hỗ trợ đầu tư tại Việt nam, sự cấp phép hoạtđộng tại Việt nam của ngân hàng xuất nhập khẩu và Tổ chức đầu tư tư nhânhải ngoại (OPIC), cũng như hiệp định về bản quyền giữa chính phủ hai nướcđược ngoại trưởng hai nước ký vào ngày 27/6/1997, đã tạo cơ sở pháp lý vànhững tiền đề quan trọng trong việc phát triển quan hệ kinh tế hai nước nhất
là lĩnh vực đầu tư
Sau hai năm theo xu hướng giảm sút, đầu tư của Mỹ vào Việt namnăm 1998 lại tạo được bước tăng đột biến với số vốn đầu tư tăng hơn 3 lần
so với năm trước, đạt 306,955 triệu USD với 15 dự án Điều này một phần là
do ngày 10/3/1998, tổng thống Mỹ B.Clinton đã tuyên bố bãi bỏ tù chính ánJackson-Vanik đối với Việt nam, nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế với Việtnam lên một bước mới Phía Mỹ cho rằng, bỏ tù chính án Jackson-Vanik đốivới Việt nam là bước đầu cho việc thực hiện các chương trình bảo hiểm đầu
tư, tạo thế thuận lợi cho cả hai bên Việt-Mỹ, đồng thời tăng thêm niềm tinđối với các công ty Mỹ vốn quan tâm tới việc hợp tác đầu tư vào Việt nam.Mặc dù vốn đầu tư tăng song thứ hạng của Mỹ đã tụt xuống vị trí thứ 8 trongdanh sách 10 nhà đầu tư lớn nhất vào Việt nam
Sang năm 1999 - năm ảm đạm nhất trong lĩnh vực thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài vào Việt nam - đầu tư của Mỹ vào Việt nam cũng trong tìnhtrạng chung Mặc dù số dự án đầu tư của Mỹ vào Việt nam giảm không đáng
kể so với năm trước, đạt 66,352 triệu USD Nếu như năm 1995 được ghinhận là năm đạt mức cao kỷ lục về tổng vốn đầu tư, số dự án và quy mô dự
án thì năm 1999 đánh dấu mức thấp nhất về tổng vốn đầu tư và quy mô dự
án của vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt nam Quy mô trung bình một dự
Trang 22án chỉ bằng 48,62% mức trung bình của cả giai đoạn và chỉ gần bằng 1/4 sovới mức tương ứng năm 1995 Sự giảm sút này đã đẩy Mỹ xuống vị trí cuốicùng trong danh sách 10 nhà đầu tư lớn nhất vào Việt nam trong năm 1999
Tính đến hết năm 2000, Mỹ chỉ chiếm 3,5% tổng vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài vào Việt nam, xếp thứ 9 trong tổng số 13 nước này
Năm 1999-2000 đầu tư của Mỹ vào Việt nam đã giảm hẳn Tìm hiểunguyên nhân suy giảm đầu tư của Mỹ vào Việt nam có thể đưa ra vài nhậnxét: Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, nhiều nước đã lấy lại đượcphong độ phát triển tốt, thay đổi chính sách đầu tư như Thái Lan, HànQuốc… nên đã hút vốn nước ngoài nhiều hơn, trong đó có Mỹ, thay vì Mỹđầu tư vào Việt nam thì đầu tư vào các nước đó Mặt khác, Trung Quốc lànước láng giềng của Việt nam cũng có nhiều lợi thế hơn trong việc thu hútcác nhà đầu tư Mỹ vào Trung Quốc Ngoài ra, phải kể đến, nền kinh tế Mỹbắt đầu suy thoái, các công ty Mỹ cần cơ cấu lại và họ sẵn sàng rút các dự ánđầu tư ở nước ngoài nếu nhắm thấy không có hiệu quả
Tuy nhiên, số dự án đầu tư của Mỹ đang có chiều hướng tăng lên.Năm 2000, luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi đã chỉ rõ những ngành nghềđược nhà nước khuyến khích đầu tư: sản xuất hàng xuất khẩu, sử dụng kỹthuật cao, sử dụng nhiều lao động, tài nguyên sẵn có tại Việt nam, xây dựng
cơ sở hạ tầng,… Bên cạnh đó, Hiệp định thương mại Việt-Mỹ được kí kếtvào ngày 13/7/2000 (giờ Hoa Kỳ) đánh dấu việc hoàn tất quá trình bìnhthường hoá hoàn toàn quan hệ Việt-Mỹ Theo các chuyên gia kinh tế đánhgiá thì hiệp định thương mại Việt-Mỹ được kí kết sẽ tạo môi trường thuậnlợi hơn để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt nam, đặc biệt là cácnhà đầu tư Mỹ Do đó, năm 2001, đầu tư của Mỹ vào Việt nam được cảithiện hơn với 23 dự án và tổng só vốn đầu tư là 110,8 triệu Điều này đã đưa
Mỹ lên vị trí thứ 6 trong tổng số 10 nhà đầu tư lớn vào Việt nam năm 2001.Mặc dù vậy, nếu so với các quốc gia khác như Hà Lan - nước dẫn đầu đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào Việt nam năm 2001- thì tổng vốn đầu tư của Mỹchưa bằng 1/5 của Hà Lan
Từ đầu năm 2002 đến nay, các doanh nghiệp Mỹ đã đầu tư vào Việtnam khoảng 20 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký gần 50 triệu USD, trở