1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị nội trú tại bệnh viện đại học võ trường toản năm 2016

87 417 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, những con số này cũng một phần phản ánh về thực trạng sử dụng thuốc không hợp lý: sự tiêu thụ thuốc quá mức, dùng sai thuốc hoặc không cần thiết, sử dụng thuốc đắt tiền, thất

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

PHẠM DUY LÂN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN

NĂM 2016 LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

PHẠM DUY LÂN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự tri ân sâu sắc đến cô PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài Mặc dù bất lợi về khoảng cách địa lý và thời gian nhưng cô luôn sắp xếp, tạo điều kiện để hai cô trò có thể trao đổi với nhau Qua các cuộc điện thoại hay những lần gặp mặt trực tiếp, cô tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi cách tiếp cận và tư duy về vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc nhất có thể Bên cạnh đó, cô còn là một nguồn động viên, khích lệ thôi thúc tôi hoàn thành quyển luận văn này bởi sự nhiệt tình và tận tụy của cô

Kế tiếp, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô Trường Đại học Dược Hà Nội Quý thầy cô đã không quản đường xa vào trong miền Nam để truyền đạt cho chúng tôi những bài học quý báu, cả kiến thức chuyên môn lẫn kinh nghiệm sống

Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Võ Trường Toản, ban lãnh đạo bệnh viện Đại học Võ Trường Toản đã tạo điều kiện cho chúng tôi tham gia và hoàn thành khóa học thạc sĩ này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Phạm Duy Lân

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Kê đơn thuốc trong chu trình sử dụng thuốc 3

1.1.1 Một số nguyên tắc kê đơn 4

1.1.2 Một số quy định về ghi chép và chỉ định thuốc trong điều trị nội trú 5 1.1.2.1 Một số hướng dẫn về ghi chép thông tin bệnh nhân trong hồ sơ bệnh án 5

1.1.2.2 Một số quy định về chỉ định thuốc trong điều trị nội trú 5

1.1.3 Các chỉ số lựa chọn sử dụng thuốc trong điều trị nội trú 7

1.2 Thực trạng thực hiện quy định kê đơn và lựa chọn sử dụng thuốc trong điều trị nội trú 8

1.3 Tính cấp thiết của đề tài 14

1.4 Vài nét về bệnh viện Đại học Võ Trường Toản 14

1.4.1 Quá trình thành lập và đặc điểm của bệnh viện 14

1.4.2 Cơ cấu tổ chức bệnh viện 16

1.4.3 Mô hình bệnh tật 17

1.4.4 Chức năng, nhiệm vụ của khoa Dược bệnh viện 18

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 19

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Biến số nghiên cứu 19

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu 24

2.2.3 Mẫu nghiên cứu 24

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu 26

2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 26

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Phân tích việc thực hiện các quy định trong hồ sơ bệnh án 27

3.1.1 Thực hiện quy định ghi thông tin về bệnh nhân 27

Trang 5

3.1.2 Thực hiện quy định ghi thông tin về thuốc 27

3.1.2.1 Thực hiện quy định về ghi tên thuốc 29

3.1.2.2 Thực hiện quy định về ghi nồng độ/ hàm lượng, liều dùng 1 lần, liều dùng 1 ngày 29

3.1.2.3 Thực hiện quy định về ghi thời điểm dùng thuốc 29

3.1.3 Thực hiện một số quy định khác 30

3.1.3.1 Thực hiện quy định về trình tự chỉ định thuốc, thời gian dùng thuốc và ghi số thứ tự ngày dùng 30

3.1.3.2 Thực hiện quy định về ghi thời điểm kê đơn và ký tên bác sĩ 31

3.2 Phân tích một số chỉ số sử dụng thuốc trong điều trị nội trú 31

3.2.1 Số ngày nằm viện trung bình và số thuốc trung bình cho một người bệnh trong một ngày 31

3.2.1.1 Số ngày nằm viện trung bình 31

3.2.1.2 Số thuốc trung bình cho một người bệnh trong một ngày 34

3.2.2 Các chỉ số về thuốc tiêm truyền, kháng sinh, vitamin và khoáng chất 36

3.2.2.1 Các chỉ số về thuốc tiêm truyền 37

3.2.2.2 Các chỉ số về thuốc kháng sinh 38

3.2.2.3 Các chỉ số về thuốc vitamin và khoáng chất 44

3.2.3 Thuốc trong danh mục thuốc bệnh viện 44

3.2.4 Tương tác thuốc 44

Chương 4 BÀN LUẬN 47

4.1 Thực hiện các quy định trong hồ sơ bệnh án 47

4.2 Một số chỉ số sử dụng thuốc trong điều trị nội trú 51

4.3 Hạn chế của đề tài 57

KẾT LUẬN 58

KIẾN NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADR Adverse Drug Reactions (Phản ứng có hại của thuốc)

BYT Bộ y tế

DMTBV Danh mục thuốc bệnh viện

HSBA Hồ sơ bệnh án

ICD International Classification Diseases

(Phân loại quốc tế về bệnh tật)

TB Trung bình

TT Thứ tự

WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Đại học Võ Trường Toản

Bảng 3.3 Thực hiện quy định về ghi thông tin bệnh nhân 27 Bảng 3.4 Thực hiện quy định ghi thông tin về thuốc 28 Bảng 3.5 Thực hiện quy định về chỉ định thuốc theo trình tự đường

dùng, thời gian dùng thuốc và ghi số thứ tự ngày dùng 30 Bảng 3.6 Thực hiện quy định về ghi thời điểm kê đơn và ký tên 31

Bảng 3.8 Số thuốc trung bình cho 1 người bệnh trong 1 ngày 34 Bảng 3.9 Hồ sơ bệnh án có kê thuốc tiêm truyền, thuốc kháng sinh,

Bảng 3.14 Tỷ lệ hồ sơ bệnh án có tương tác thuốc 45

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Chu trình sử dụng thuốc trong bệnh viện 3

Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bệnh viện 16

Hình 3.3 Bệnh án thực hiện đầy đủ ghi thông tin về thuốc 28

Hình 3.4 Cơ cấu nhóm thuốc kháng sinh đƣợc kê 41

Hình 3.5 Cơ cấu thuốc kháng sinh đƣợc kê theo hình thức chi trả 42

Trang 9

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội Vì thế, vấn đề chăm sóc sức khỏe luôn là chiến lược y tế hàng đầu của mỗi quốc gia Theo một báo cáo về ngành dược phẩm, tổng doanh thu tiêu thụ thuốc trên thế giới tăng trưởng bình quân 5,8%/năm từ mức 455 tỷ USD năm 2004 lên mức

717 tỷ USD năm 2013 [18] Gần 86% chi phí sử dụng thuốc dùng để điều trị các bệnh không lây nhiễm, trong đó các nhóm thuốc điều trị bệnh ung thư, tim mạch, tiểu đường chiếm chi phí điều trị cao nhất (28% tổng tiêu thụ thuốc toàn cầu) [19] Điều này cho thấy chất lượng chăm sóc sức khỏe được chú trọng Tuy nhiên, những con số này cũng một phần phản ánh về thực trạng sử dụng thuốc không hợp lý: sự tiêu thụ thuốc quá mức, dùng sai thuốc hoặc không cần thiết, sử dụng thuốc đắt tiền, thất thoát thuốc trong quá trình cấp phát, sử dụng,… Bên cạnh đó, việc có quá nhiều thuốc với tên thương mại gần giống nhau cũng gây khó khăn cho bác sĩ kê đơn, đặc biệt là trong nội trú

vì chưa áp dụng kê đơn điện tử Tình trạng kê đơn thuốc không đúng quy định, bệnh nhân sử dụng quá nhiều thuốc trong một ngày, lạm dụng thuốc đường tiêm truyền, thuốc kháng sinh, vitamin và khoáng chất vẫn còn phổ biến Những sai sót này có thể gây thất bại trong điều trị và nguy cơ xảy ra các phản ứng có hại của thuốc Để đánh giá cũng như giám sát hoạt động kê đơn thuốc trong bệnh viện, Bộ y tế đã ban hành các văn bản quy định về hoạt động kê đơn thuốc trong bệnh viện: thông tư số 23/2011/TT-BYT Hướng dẫn

sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh; thông tư số BYT Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện

21/2013/TT-Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản là bệnh viện đa khoa hạng 3 với quy

mô 300 giường bệnh, 10 khoa lâm sàng, 2 khoa cận lâm sàng và 4 phòng chức năng Với sứ mệnh mang lại sự lựa chọn hoàn hảo về chăm sóc sức khỏe toàn diện chất lượng cao, bệnh viện chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị

Trang 10

2

hiện đại, không ngừng nâng cao tay nghề cũng như y đức của đội ngũ nhân viên y tế Bệnh viện thành lập Hội đồng tư vấn chuyên môn với các bác sĩ có chuyên môn và kinh nghiệm dày dặn Tuy nhiên, bệnh viện mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn nên hoạt động còn gặp nhiều khó khăn, công tác tư vấn thuốc còn nhiều hạn chế Hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện có nhiều tồn tài, đặc biệt vấn đề kê đơn thuốc trong điều trị nội trú chưa được

giám sát chặt chẽ Vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích thực trạng

kê đơn thuốc trong điều trị nội trú tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản năm 2016” với 2 mục tiêu:

1 Phân tích việc thực hiện quy định trong hồ sơ bệnh án tại bệnh viện Đại học Võ trường Toản năm 2016

2 Phân tích một số chỉ số sử dụng thuốc trong điều trị nội trú tại bệnh viện Đại học Võ Trường Toản năm 2016

Từ kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra những đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện quy định kê đơn thuốc và công tác lựa chọn sử dụng thuốc, hướng đến tăng cường sử dụng thuốc trong bệnh viện hợp lý, an toàn và kinh

tế trong những năm tiếp theo

Trang 11

3

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Kê đơn thuốc trong chu trình sử dụng thuốc

Sử dụng thuốc là một trong bốn hoạt động của công tác cung ứng thuốc trong bệnh viện Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), “Sử dụng thuốc hợp lý nghĩa là đảm bảo cho bệnh nhân nhận được thuốc thích hợp với tình trạng bệnh lý của họ và với liều phù hợp cho từng cá thể người bệnh (đúng liều, đúng đường dùng và đúng thời gian)” [9] Sử dụng thuốc hợp lý là nhiệm vụ quan trọng trong ngành y tế Để đạt được mục tiêu này thì trách nhiệm trực tiếp thuộc về các nhóm đối tượng: người kê đơn (bác sĩ điều trị), dược sĩ lâm sàng, điều dưỡng và người sử dụng thuốc Trong đó, dược sĩ lâm sàng đóng vai trò là cầu nối giữa bác sĩ – người đưa ra y lệnh và người sử dụng thuốc – người phải thực hiện y lệnh

Kê đơn thuốc là một trong bốn hoạt động của chu trình sử dụng thuốc trong bệnh viện Kê đơn là hành vi xác định xem người bệnh cần dùng những thuốc gì, liều dùng cùng với liệu trình điều trị phù hợp Hoạt động kê đơn và chỉ định dùng thuốc là công việc tiếp theo sau khi chẩn đoán, thể hiện tính chất chuyên nghiệp của bác sĩ Những nguyên nhân sai sót trong quá trình kê đơn và chỉ định dùng thuốc thường rất phức tạp, liên quan đến trình độ của bác sĩ, sự hiểu biết về thuốc, thói quen dùng thuốc, ý thức trách nhiệm và y đức

Cấp phát thuốc Tuân thủ điều trị

Hình 1.1 Chu trình sử dụng thuốc trong bệnh viện [1]

Trang 12

4

Đơn thuốc là căn cứ hợp pháp để bán thuốc, cấp phát thuốc, pha chế thuốc theo đơn và sử dụng thuốc; là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sĩ cho bệnh nhân Vấn đề kê đơn thuốc bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: kiến thức chuyên môn cũng như kinh nghiệm của bác sĩ điều trị, tài chính của bệnh nhân, các chính sách quản lý của nhà nước về thực hành điều trị và kê đơn thuốc Ngoài

ra, việc thực hiện kê đơn của bác sĩ cũng bị ảnh hưởng nhiều từ công tác quảng cáo, hoạt động marketing của các hãng dược phẩm

1.1.1 Một số nguyên tắc kê đơn

Người kê đơn phải chịu trách nhiệm về đơn thuốc do mình kê cho người bệnh và thực hiện các quy định sau:

- Chỉ được kê thuốc điều trị các bệnh được phân công khám, chữa bệnh hoặc các bệnh trong phạm vi hành nghề ghi trong giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp

- Chỉ được kê đơn thuốc sau khi trực tiếp khám bệnh

- Không kê đơn thuốc trong các trường hợp sau:

+ Không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh;

+ Theo yêu cầu không hợp lý của người bệnh;

+ Kê thực phẩm chức năng

- Khi thật cần thiết mới phải dùng đến thuốc

- Kê những thuốc tối thiểu cần thiết và phải có đầy đủ thông tin về thuốc

- Kê thuốc phù hợp với tình trạng bệnh, hợp lý về hiệu quả và giá cả

- Thận trọng tiền sử bệnh, tiền sử dùng thuốc, tình trạng dị ứng thuốc

- Cho liều phù hợp, đúng thời gian và khoảng cách dùng thuốc

- Thận trọng trong các phối hợp thuốc và chú ý đến các phản ứng có hại của thuốc [3]

Trang 13

5

1.1.2 Một số quy định về ghi chép và chỉ định thuốc trong điều trị nội trú

1.1.2.1 Một số hướng dẫn về ghi chép thông tin bệnh nhân trong hồ sơ bệnh

án

- Họ và tên: Ghi đầy đủ (viết chữ in hoa có dấu)

- Sinh ngày: Yêu cầu ghi đầy đủ ngày, tháng và năm sinh (2 ô đầu là

ngày, 2 ô tiếp là tháng và 4 ô cuối là năm) Nếu ngày, tháng có một con số thì ghi số 0 vào trước Trường hợp không nhớ ngày, tháng thì ghi năm sinh Nếu người bệnh không nhớ ngày, tháng, năm sinh mà chỉ nhớ tuổi thì ghi tuổi vào

2 ô tuổi

- Giới: đánh dấu nhân (x) vào ô tương ứng

- Địa chỉ: Ghi đầy đủ số nhà, thôn, phố, xã, phường, huyện, thị, tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương (thôn, phố có nơi còn gọi là làng, bản, buôn, sóc, đường phố, ngõ, hẻm, tổ dân phố)

- Chẩn đoán: Nơi chuyển đến (khoa cấp cứu, khoa khám bệnh, khoa điều

trị): ghi tên bệnh và mã bệnh theo International Classification Diseases 10 (ICD 10) Chẩn đoán khi ra viện là chẩn đoán khi người bệnh được ra viện dựa vào kết luận của điều trị là bệnh chính, bệnh kèm theo (nếu có), ghi mã

theo ICD 10 [24]

1.1.2.2 Một số quy định về chỉ định thuốc trong điều trị nội trú

Kê đơn thuốc điều trị nội trú là việc quyết định thuốc nào cần thiết cho bệnh nhân, liều bao nhiêu và quá trình điều trị bao lâu Thuốc được kê vào hồ

sơ bệnh án của bệnh nhân nội trú Điều trị nội trú được thực hiện trong trường hợp sau đây:

- Có chỉ định điều trị nội trú của người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

- Có giấy chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác

Trang 14

6

Khi khám bệnh, thầy thuốc phải khai thác tiền sử dùng thuốc và ghi diễn biến lâm sàng của người bệnh vào HSBA (giấy hoặc điện tử theo quy định của Bộ Y tế) để chỉ định sử dụng thuốc hoặc ngừng sử dụng thuốc

Khi bệnh nhân điều trị nội trú, bác sĩ ghi y lệnh dùng thuốc trong phiếu điều trị hằng ngày của HSBA Việc sử dụng thuốc trong cơ sở khám, chữa bệnh có điều trị nội trú phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

- Chỉ sử dụng thuốc khi thật sự cần thiết, đúng mục đích, an toàn, hợp lý

- Nội dung chỉ định thuốc bao gồm: tên thuốc, nồng độ (hàm lượng), liều dùng một lần, số lần dùng thuốc trong 24 giờ , thời điểm dùng thuốc, đường dùng thuốc và những chú ý đặc biệt khi dùng thuốc

- Ghi chỉ định thuốc theo trình tự: đường tiêm – uống – đặt – dùng ngoài

và các đường dùng khác

- Đánh số thứ tự ngày dùng thuốc đối với một số nhóm thuốc cần thận trọng khi sử dụng: Thuốc phóng xạ; Thuốc gây nghiện; Thuốc hướng tâm thần; Thuốc kháng sinh; Thuốc điều trị lao; Thuốc corticoid [3]

Cách chọn đường dùng thuốc cho người bệnh:

Căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý để ra y lệnh đường dùng thuốc thích hợp;

Trang 15

7

Chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc sử dụng thuốc đường uống không đáp ứng điều trị hoặc thuốc chỉ dùng được đường tiêm [3]

Chỉ định thời gian dùng thuốc:

Trường hợp người bệnh cấp cứu, thầy thuốc chỉ định thuốc theo diễn biến của bệnh Trường hợp người bệnh cần theo dõi để lựa chọn thuốc hoặc lựa chọn liều thích hợp, thầy thuốc chỉ định thuốc hàng ngày Trường hợp người bệnh đã được lựa chọn thuốc và liều thích hợp, thời gian chỉ định thuốc tối đa không quá 2 ngày (đối với ngày làm việc) và không quá 3 ngày (đối với ngày nghỉ) [3]

1.1.3 Các chỉ số lựa chọn sử dụng thuốc trong điều trị nội trú

- Số ngày nằm viện trung bình

- Tỷ lệ % thuốc được kê đơn trong danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV)

- Số thuốc trung bình cho một người bệnh trong một ngày

- Số thuốc kháng sinh trung bình cho một người bệnh trong một ngày

- Số thuốc tiêm truyền trung bình cho một người bệnh trong một ngày

- Chi phí thuốc trung bình cho một người bệnh trong một ngày

- Tỷ lệ % người bệnh được phẫu thuật có sử dụng kháng sinh dự phòng trước hợp lý

- Số xét nghiệm kháng sinh đồ được báo cáo

- Tỷ lệ % người bệnh nội trú có biểu hiện bệnh lý do các phản ứng có hại của thuốc có thể phòng tránh

- Tỷ lệ % người bệnh nội trú tử vong do các phản ứng có hại của thuốc có thể phòng tránh

- Tỷ lệ % người bệnh được giảm đau sau phẫu thuật hợp lý [5]

Trang 16

có thể gây ra các phản ứng có hại hoặc tác động xấu đến tâm lý bệnh nhân Tại Nepal, một nửa chi phí cho dược phẩm có liên quan đến việc sử dụng thuốc không hợp lý [20] Tại Zimbabwe, thuốc kháng sinh được kê quá mức cần thiết và có xu hướng kê 1 loại thuốc cho các triệu chứng bệnh Tổ chức Y

tế Thế giới đã khuyến cáo về thực trạng kê đơn đáng lo ngại trên toàn cầu: khoảng 30 – 60% bệnh nhân được kê đơn kháng sinh, tỷ lệ này cao gấp đôi so với nhu cầu lâm sàng, khoảng 20 – 90% số ca viêm đường hô hấp trên được

kê đơn kháng sinh để điều trị và 60 – 90% bệnh nhân được kê đơn kháng sinh không phù hợp [22]

Một số hậu quả điển hình của việc sử dụng thuốc bất hợp lý là nguy cơ gia tăng các biến cố có hại của thuốc không đáng có, gia tăng tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh, tăng tỷ lệ nhập viện cũng như tỷ lệ tử vong và gia tăng gánh nặng kinh tế Để có thể can thiệp một cách hiệu quả nhằm nâng cao tính hợp lý trong sử dụng thuốc, rất cần thiết có các nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng; quan trọng hơn, các nghiên cứu này phải được thực hiện với một

bộ chỉ số nghiên cứu phù hợp Các hội nghị của WHO trong đó điển hình là International Conference on Improving Use of Medicines (ICIUM) đã họp và đồng thuận về sự cần thiết của việc xây dựng và áp dụng chỉ số để đánh giá các xu hướng trong quản lý, kê đơn, cấp phát thuốc tại các cơ sở điều trị cả công lập và tư nhân Đồng thời ICIUM 2014 cũng khuyến cáo nhóm thuốc

Trang 17

9

đầu tiên cần đánh giá sử dụng trong bệnh viện là kháng sinh, vì đây là nhóm thuốc được kê đơn thường xuyên nhất (chiếm khoảng 30 – 50% trong các đơn thuốc), cũng là nhóm thuốc thường xảy ra sai sót trong sử dụng cũng như gây

ra các phản ứng có hại (ADR) nhiều nhất Ngoài ra việc sử dụng bất hợp lý thuốc kháng sinh sẽ gây nguy cơ gia tăng tính kháng thuốc và dẫn đến hậu quả là không còn thuốc điều trị trong tương lai [21] Sau quyết định của ICIUM, nhiều tổ chức, quốc gia đã tiến hành xây dựng các bộ chỉ số và triển khai để phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng thuốc trong bệnh viện

*Vấn đề thực hiện quy định hành chính trong HSBA

Mặc dù Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định chặt chẽ hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện, như thông tư số 23/2011/TT – BYT hay thông tư số 21/2013/TT – BYT, song công tác sử dụng, kê đơn thuốc trong điều trị nội trú vẫn còn nhiều sai sót

Năm 2012, một nghiên cứu tại bệnh viện Nhân dân 115 cho thấy hoạt động kê đơn thuốc vẫn còn nhiều sai sót: 42% sai sót về tên thuốc, 21% về liều dùng, 26% về đường dùng và sai sót về nồng độ, hàm lượng là 55% [8] Tại bệnh viện phụ sản Hà Nội năm 2014, tỷ lệ HSBA ghi tên thuốc chỉ định không đúng quy định là 96%; không ghi nồng độ hàm lượng là 97,8%; không ghi đường dùng là 99,3% [13] Cùng năm 2014 tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, một nghiên cứu về thực trạng kê đơn thuốc của tác giả Ngô Thị Phương Thúy cho thấy tất cả các HSBA khảo sát đều không ghi thời điểm dùng thuốc [16]

Tại bệnh viện phong – da liễu TW Quỳnh Lập năm 2014 thì vấn đề ghi thời điểm dùng thuốc vẫn chưa đạt 100% (còn 8% HSBA không ghi rõ thời điểm dùng thuốc) Vấn đề về ghi tên thuốc chỉ định tại bệnh viện này vẫn còn sai sót (chỉ 83% HSBA ghi tên thuốc chỉ định theo quy định) [7]

Trang 18

10

Năm 2015, một nghiên cứu tại bệnh viện Quân y 105 cho thấy việc thực hiện các quy định hành chính trong HSBA có nhiều sai sót: 22,3% HSBA ghi tên thuốc không rõ ràng; 21,7% HSBA không ghi thời điểm dùng [17]

Một nghiên cứu về việc thực hiện các thủ tục hành chính tại bệnh viện đa khoa huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng năm 2014 cho thấy, tỷ lệ HSBA ghi đầy đủ tên, tuổi, giới tính bệnh nhân chỉ đạt ở mức 89%; vấn đề ghi đầy

đủ chẩn đoán đạt khoảng 93,8%, thường mắc các lỗi viết tắt, ghi ký hiệu chẩn đoán [11]

Tại bệnh viện phụ sản Hà Nội năm 2014, chỉ có 43,8% số hồ sơ bệnh án

có ký và ghi rõ họ tên bác sĩ điều trị; tỷ lệ HSBA không ghi đúng chỉ định thuốc theo trình tự đường dùng là 8,8%; không ghi số thứ tự ngày dùng là 11,5 [13] Tỷ lệ HSBA có thực hiện đánh số thứ tự ngày dùng đối với các thuốc cần thận trọng khi sử dụng tại bệnh viện Quân y 105 chỉ đạt ở mức 80,7% [17]

*Vấn đề kê đơn thuốc kháng sinh

Việt Nam là một trong những nước có tỷ trọng giá trị sử dụng thuốc kháng sinh lớn nhất tại các bệnh viện (chiếm 1/3 tổng kinh phí mua thuốc) [2] Trong những năm qua, các bệnh lây nhiễm có xu hướng giảm dần, chỉ chiếm 25% tổng số bệnh tật, tuy nhiên chi phí sử dụng kháng sinh ở các bệnh viện là rất cao Chi phí cho thuốc kháng sinh tại bệnh viện Bạch Mai năm

2008 là 48,5%; bệnh viện nhi Nghệ An là 87,7%; bệnh viện đa khoa số 2 tỉnh Lào Cai là 87,1%; bệnh viện tỉnh Yên Bái là 80,2%; bệnh viện tỉnh Ninh Bình

là 80% [4] Điều đó cho thấy tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến Tỷ lệ sử dụng kháng sinh ở mức 43,4%; nhóm kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất là cephalosporin (75%); tỷ lệ sử dụng kết hợp 2 kháng sinh khá cao (83,7%) Theo một báo cáo về phân tích thực trạng thanh toán thuốc bảo hiểm y tế trong năm 2010 có tới 10 hoạt chất thuộc nhóm kháng sinh (chiếm

Trang 19

Năm 2014, tỷ lệ HSBA kê thuốc kháng sinh tại bệnh viện phong – da liễu

TW Quỳnh Lập là 76%; tại bệnh viện Phụ sản Trung ương là 89,75%; tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội thì tỷ lệ này rất cao (98%) [7],[13],[16] Năm 2015,

có tới 76,7% số HSBA tại bệnh viện Quân Y 105 có chỉ định kháng sinh [17] Một nghiên cứu về hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện đa khoa huyện Kiến Thụy – Hải Phòng năm 2014 cho thấy, một bệnh nhân mỗi ngày sử dụng trung bình khoảng 1,4 thuốc kháng sinh [11] Tại bệnh viện Quân Y 105 thì chỉ số này lên tới 1,8 khoản thuốc kháng sinh cho một người bệnh trong một ngày [17] Như vậy, việc lạm dụng thuốc kháng sinh gây nguy cơ kháng thuốc hay dị ứng thuốc là rất cao

*Vấn đề kê đơn thuốc dùng đường tiêm, truyền

Việc lạm dụng thuốc tiêm, truyền gây ra nhiều rủi ro như phơi nhiễm với HIV, viêm gan B Ở bệnh viện Phổi Trung ương năm 2009, chỉ có 40,64% bệnh nhân được thử phản ứng trước khi tiêm, điều này có thể làm tăng nguy

cơ ADR [6] Nghiên cứu tại một số bệnh viện đa khoa cho thấy, tỷ lệ các dạng thuốc tiêm, truyền cao hơn các dạng thuốc uống (61,6 – 74,7% giá trị sử dụng thuốc tiêm tại các bệnh viện tuyến trung ương và 46,1 – 65,3% tại các bệnh viện tuyến tỉnh) [10] Có tới 87,75% HSBA tại bệnh viện Phụ sản Trung ương

kê thuốc dùng đường tiêm truyền và cả 400 HSBA được nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2014 đều kê thuốc dùng đường tiêm truyền [13],[16] Tỷ lệ kê thuốc tiêm truyền cũng khá cao (78%) tại bệnh viện Quân

Trang 20

12

Y 105 vào năm 2015, số thuốc tiêm một bệnh nhân dùng trong một ngày là 2,3 thuốc [17]

*Vấn đề kê đơn thuốc bổ, vitamin và khoáng chất

Vấn đề về kê đơn thuốc bổ, vitamin dường như đã thành thói quen của bác

sĩ hoặc đôi khi bệnh nhân đòi hỏi các bác sĩ kê đơn nhưng thật chất không cần thiết Việc sử dụng quá nhiều thuốc bổ, vitamin và khoáng chất làm tăng thêm gánh nặng về chi phí cho bệnh nhân; đồng thời tăng số lượng thuốc sử dụng trong ngày gây khó khăn trong khâu sử dụng và tuân thủ điều trị Năm 2010,

có 3 trong tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán bảo hiểm y tế lớn nhất, trong đó L – Ornithin L – Aspartat nằm trong 5 hoạt chất có giá trị thanh toán lớn nhất Tại một bệnh viện đa khoa tuyến trung ương năm 2012, 3 thuốc chứa L – Ornithin L – Aspartat 500mg dạng tiêm có giá trị sử dụng là 21 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 25,3% trong nhóm thuốc tiêu hóa [10] Vitamin nằm trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất tại tất cả các bệnh viện từ tuyến huyện trở lên

Tỷ lệ HSBA kê vitamin và khoáng chất tại bệnh viện Phụ sản Trung ương

là 21,25% [16]; tại bệnh viện phong – da liễu TW Quỳnh lập là 31% [7] Tại bệnh viện Quân y 105 thì tỷ lệ này lên tới 69,7% [17]

*Vấn đề về thời gian điều trị và số thuốc được sử dụng

Thời gian điều trị kéo dài phản ánh tình trạng bệnh nặng hoặc là hiệu quả điều trị không tốt Như vậy sẽ làm tăng gánh nặng chi phí điều trị của bệnh nhân, nguy cơ không đủ giường bệnh để tiếp nhận các bệnh nhân mới Bệnh nhân sử dụng nhiều thuốc, một số thuốc lại không cần thiết dễ dẫn đến nguy

cơ nhờn thuốc, tương tác thuốc hay phản ứng có hại của thuốc dễ xảy ra Kết quả phân tích tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện phong – da liễu

TW Quỳnh Lập năm 2014 cho thấy: số ngày nằm viện trung bình của một bệnh nhân tương đối dài (7,71 ngày); mỗi bệnh nhân sử dụng trung bình khoảng 8,02 khoản thuốc [7] Cùng năm, một nghiên cứu tương tự tại bệnh

Trang 21

13

viện đa khoa Kiến Thụy – Hải Phòng của tác giả Vũ Thị Lê cũng phản ánh, mỗi bệnh nhân sử dụng trung bình khoảng 4,7 thuốc trong một ngày [11] Năm 2015, các bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Quân Y 105 có thời gian nằm viện trung bình là 3,643 ngày, số thuốc trung bình cho một nhân trong một ngày lên tới 6,2 ngày [17]

*Vấn đề tương tác và phản ứng có hại của thuốc

Vấn đề tương tác thuốc hầu như vẫn còn tồn tại ở các bệnh viện trên cả nước Mặc dù tỷ lệ HSBA có tương tác thuốc không cao nhưng cũng ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả điều trị, kéo dài thời gian nằm viện Tỷ lệ HSBA có tương tác thuốc tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2014 là 1,25% [16], tại bệnh viện Quân y 105 năm 2015 là 1,8% [17] Năm 2015, bệnh viện đa khoa Tỉnh Hà Nam có 60/384 BA được khảo sát có tương tác thuốc [15] Năm 2016, Trung tâm DI & ADR Quốc gia và Trung tâm DI & ADR khu vực thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận và xử lý 10977 báo cáo ADR (đạt 119,7 báo cáo/1 triệu dân), tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2015 (9266 báo cáo) Trong số các báo cáo đã tiếp nhận, có 10584 (96,4%) báo cáo về biến cố bất lợi của thuốc và 68 (0,6%) báo cáo về chất lượng thuốc, 325 (3,0%) báo cáo về các vấn đề khác (báo cáo liên quan đến thiết bị y tế, ma túy, sử dụng với chỉ định chưa được phê duyệt,…) Thông tin về thuốc nghi ngờ được thống kê trên 9385 báo cáo Tổng số thuốc nghi ngờ được báo cáo là 11290 thuốc (1,2 thuốc/1 báo cáo) Các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo thuộc 3 nhóm chính: kháng sinh (cefotaxim, ceftriaxon, ceftazidim, ciprofloxacin, cefuroxim, amoxicilin/acid clavulanic, levofloxacin), các thuốc điều trị lao (rifampicin, isoniazid, pyrazinamid) và nhóm thuốc giảm đau, chống viêm (diclofenac) Cefotaxim vẫn là thuốc nghi ngờ gây ra ADR được báo cáo nhiều nhất với tỷ lệ 12,2% [23]

Trang 22

14

1.3 Tính cấp thiết của đề tài

Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản là bệnh viện tư nhân hạng 3, mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn nên hoạt động còn gặp nhiều khó khăn, công tác tư vấn thuốc còn nhiều hạn chế Bệnh viện tập trung nhiều vào công tác quảng cáo, giới thiệu các gói dịch vụ khám chữa bệnh mà chưa thành lập Hội đồng thuốc và điều trị Do đó, hoạt động sử dụng thuốc còn nhiều tồn tài, đặc biệt vấn đề kê đơn thuốc trong điều trị nội trú chưa được giám sát chặt chẽ Chính vì thế, cần thiết tiến hành một số nghiên cứu để từ đó đưa ra các

đề xuất góp phần tăng cường sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và kinh tế, là nền tảng để bệnh viện hoạt động bền vững

1.4 Vài nét về bệnh viện Đại học Võ Trường Toản

1.4.1 Quá trình thành lập và đặc điểm của bệnh viện

- Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản được xây dựng cuối năm 2014 chính thức đi vào hoạt động ngày 22/08/2015

- Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản là dự án trọng điểm có mô hình thành phố Đại học tọa lạc trên mặt tiền Quốc lộ 1A với tổng diện tích xây dựng 21,600 m2, tổng đầu tư hơn 350 tỷ đồng, quy mô 300 giường

- Khu khám chữa bệnh với quy mô 3 tầng gồm khoa khám bệnh ngoại trú, khoa phẫu thuật – gây mê hồi sức, nhà thuốc bệnh viện, phòng chăm sóc khách hàng, phòng tư vấn, khu vui chơi dành cho thiếu nhi,…

- Khu điều trị nội trú với quy mô 5 tầng gồm các khoa điều trị nội, ngoại, sản, nhi, tai – mũi – họng, khu cấp cứu tổng hợp, khoa xét nghiệm, khoa chẩn đoán hình ảnh, khoa hồi sức tích cực, khoa chống nhiễm khuẩn,…

- Nhằm phục vụ công tác chuyển bệnh nhân cấp cứu nhanh chóng, an toàn

và kịp thời, bệnh viện đã thiết kế và xây dựng sân đáp dành riêng cho máy bay trực thăng sử dụng trong trườ ng hợp khẩn cấp

- Hiện tại, bệnh viện đang sử dụng nhiều máy móc, thiết bị y tế hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu khám và điều trị bệnh một

Trang 23

15

cách chuyên sâu Tiêu biểu là máy chụp cộng hưởng từ Toshiba Vantage Elan 1.5T thuộc thế hệ hiện đại nhất hiện nay có mặt tại thị trường Việt Nam với kinh phí đầu tư trên 30 tỷ đồng Hệ thống chụp cắt lớp điện toán đa mặt cắt (CT-scanner) Alexion thế hệ mới nhất của hãng Toshiba (Nhật Bản) có khả năng chụp CT ba chiều toàn thân trong 20 giây Hệ thống máy phân tích miễn dịch tự động Elecsys, máy xét nghiệm huyết học tự động 26 thông số Sysmex, máy phân tích điện giải tự động Erba Lyte Plus, máy xét nghiệm sinh hóa tự động hoàn toàn 240 test/giờ Monarch… cho phép giảm thiểu các quy trình thực hiện xét nghiệm, rút ngắn thời gian trả kết quả; đồng thời nâng cao độ chính xác của kết quả xét nghiệm, giúp tăng cường khả năng chẩn đoán bệnh

ở giai đoạn sớm

- Ngoài ra, bệnh viện được trang bị hệ thống màng lọc chuyên dụng và hệ thống lạnh trung tâm hiện đại Daikin của Nhật Bản nhằm đảm bảo môi trường bệnh viện luôn trong lành và sạch sẽ

- Cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện đại, bệnh viện Đại học Võ Trường Toản còn có thế mạnh về nguồn nhân lực chất lượng cao, với Hội đồng tư vấn chuyên môn là đội ngũ bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm và tận tâm với nghề qua thời gian học tập và làm việc tại các bệnh viện trong và ngoài nước

- Trong môi trường làm việc thân thiện và hiện đại, đội ngũ cán bộ, bác sĩ, dược sĩ và nhân viên y tế của bệnh viện Đại học Võ Trường Toản thường xuyên được làm việc trực tiếp với chuyên gia y tế đến từ các nước phát triển

và luôn được cập nhật các phương pháp chẩn đoán, điều trị tiên tiến nhất, đồng thời hình thành phong cách chuyên nghiệp nhằm phục vụ công tác chuyên môn tốt hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển không ngừng của bệnh viện

- Năm 2016, bệnh viện triển khai khám chữa bệnh bảo hiểm y tế thông tuyến theo quy định của Bộ y tế Với điều kiện trang thiết bị hiện đại cùng với

cơ sở hạ tầng và vị trí thuận lợi nên đối tượng điều trị chủ yếu là các bệnh

Trang 24

16

KHOA CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH

KHOA XÉT NGHIỆM

KHOA GÂY MÊ

Trang 25

Tỷ lệ (%)

1 Bệnh của hệ thống cơ, xương và

8 Bệnh của da và tổ chức dưới da L00-L99 3394 2,88

9 Bệnh của hệ tiết niệu sinh dục N00-N99 2890 2,46

10 Triệu chứng, dấu hiệu và phát hiện

bất thường lâm sàng, xét nghiệm R00-R99 2615 2,22

11 Bệnh của mắt và phần phụ H00-H59 2531 2,15

12 Vết thương, ngộ độc và kết quả của

các nguyên nhân bên ngoài S00-T98 1729 1,47

14 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ

người khám nghiệm và điều tra Z00-Z99 1354 1,15

15 Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật A00-B99 1272 1,08

16 Rối loạn tâm thần và hành vi F00-F99 684 0,58

18 Bệnh của máu, cơ quan tạo máu và

Trang 26

18

10

Lượt mắc

Tỷ lệ (%)

19 Dị dạng bẩm sinh, biến dạng của

20 Một số bệnh trong thời kì chu sinh P00-P96 71 0,06

21 Nguyên nhân bên ngoài của bệnh

1.4.4 Chức năng, nhiệm vụ của khoa Dược bệnh viện

Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý

Một số nhiệm vụ khoa Dược

- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc,

tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến

tác dụng không mong muốn của thuốc

- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện

- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc

Trang 27

19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Hồ sơ bệnh án nội trú năm 2016 của bệnh viện Đại học Võ Trường Toản

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2016

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Biến số nghiên cứu

Bảng 2.2 Biến số nghiên cứu

Trang 29

Biến phân loại:

Biến phân loại:

Trang 30

và tiền chất, kháng sinh, thuốc phóng xạ, thuốc trị lao, corticoid)

Biến phân loại:

Biến phân loại:

Trang 31

Biến phân loại:

khác

Biến phân loại:

1 Kháng sinh

2 Vitamin và khoáng chất

3 Khác

Phụ lục 1

Trang 32

Biến phân loại:

Biến phân loại:

1 Có

0 Không

Phụ lục 1

và DMTBV

33 Tương tác

thuốc HSBA có tương tác thuốc

Biến phân loại:

1 Có

0 Không

Phụ lục 1

và trang web https://www.drugs.com/

tác thuốc

Biến phân loại:

1 Minor (Nhẹ)

2 Moderate (Trung bình)

3 Major (Nặng)

Phụ lục 1

và trang web https://www.drugs.com/

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu

Mô hình thiết kế nghiên cứu trong đề tài: Mô tả hồi cứu

Thực hiện hồi cứu số liệu từ hồ sơ bệnh án của bệnh viện với các hồ sơ nhập viện từ ngày 1/1/2016 đến hết ngày 31/12/2016

2.2.3 Mẫu nghiên cứu

*Cỡ mẫu

Theo công thức tính cỡ mẫu đối với quần thể vô hạn, ta được:

Trang 33

25

Trong đó:

n: Cỡ mẫu nghiên cứu

α: Mức ý nghĩa thống kê

(α = 0,05 thì hệ số giới hạn tin cậy Z1-α/2 = 1,96)

d: Khoảng sai chệch cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ của quần thể Chọn d = 0,05

p: tỷ lệ nghiên cứu ước tính Vì chưa có nghiên cứu trước đó nên chúng tôi chọn giá trị p giả định là 0,5 để được cỡ mẫu tối đa Thay vào công thức chúng tôi được n = 385

Theo thống kê năm 2016, bệnh viện Đại học Võ Trường Toản có

4513 bệnh nhân điều trị nội trú Do đó, cỡ mẫu hiệu chỉnh được tính như sau: Nhc = 385*4513/(385+4513) = 355

Vậy cỡ mẫu nghiên cứu trong đề tài là 355 HSBA

* Chọn mẫu

- Mã lưu trữ HSBA tại bệnh viện Đại học Võ Trường Toản gồm 15 kí tự: + Hai kí tự đầu: BT (Bình thường) hoặc TN (Tai nạn)

+ Hai kí tự tiếp theo: Số thứ tự kho lưu trữ

+ Hai kí tự kế tiếp: Số thứ tự kệ lưu trữ

+ Một kí tự kế tiếp: Số thứ tự tầng của kệ lưu trữ

+ Hai kí tự kế tiếp: Hai chữ số cuối của năm lưu trữ

+ Sáu kí tự cuối: Dãy sáu chữ số (Số thứ tự HSBA được đánh theo thời gian xuất viện)

- Tổng số HSBA nội trú từ ngày 1/1/2016 đến ngày 31/12/2016 là 4513, chúng tôi chọn khoảng cách lấy mẫu: 4513/355 = 12 Chọn ngẫu nhiên một

số thứ tự trong khoảng từ 1 đến 12 bằng phần mềm random.org, đây là số thứ tự của bệnh án đầu tiên rút ra, các bệnh án tiếp theo được lấy có số thứ tự bằng số thứ tự bệnh án trước cộng 12 (Lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống) Lấy đến đủ cỡ mẫu nghiên cứu Nếu HSBA lấy ra rơi vào tiêu chuẩn loại trừ thì

Trang 34

26

lấy HSBA có số thứ tự liền sau

- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân chuyển tuyến khác hoặc xin ra viện khi chưa hết thúc quá trình điều trị hoặc bệnh nhân tử vong

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu

Người thực hiện đề tài tự thu thập số liệu Dữ liệu khảo sát là dữ liệu được lấy từ HSBA của bệnh nhân Sau mỗi 5 HSBA được điền thông tin vào mẫu, người thu thập sẽ tiến hành kiểm tra lại để xác định mỗi phiếu thu thập

số liệu đều được điền đầy đủ thông tin và kiểm tra lại xem mỗi thông tin được điền là chính xác Thu thập số liệu theo biểu mẫu ở phụ lục 1

2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Xử lý số liệu bằng phần mềm là Microsoft Excel 2007 Các bước thực

hiện:

o Thống kê phân loại theo các biến số đã được xác định

o Các số liệu thu được sẽ được mã hóa, làm sạch

o Kiểm tra lại các dữ liệu trong microsoft Excel trước khi phân tích

o Xuất dữ liệu theo từng chỉ tiêu cụ thể

- Lập bảng số liệu, biểu đồ: Lập bảng số liệu và vẽ biểu đồ đã qua xử lý

- Kết quả đầu ra được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình

Trang 35

27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Phân tích việc thực hiện các quy định trong hồ sơ bệnh án

3.1.1 Thực hiện quy định ghi thông tin về bệnh nhân

Kết quả việc thực hiện các quy định về ghi họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ bệnh nhân, tiền sử dùng thuốc và chẩn đoán bệnh được trình bày trong bảng 3.3 bên dưới

Bảng 3.3 Thực hiện quy định về ghi thông tin bệnh nhân

suất

Tỷ lệ (%) (n= 355)

Số liệu từ bảng trên cho thấy vấn đề ghi thông tin về bệnh nhân được thực hiện tương đối tốt Tuy nhiên, địa chỉ bệnh nhân vẫn còn chưa được ghi rõ ràng vào trong HSBA Đa số các bệnh án chỉ ghi tỉnh (thành), quận (huyện),

xã (phường) nơi bệnh nhân sinh sống Chỉ 4,5% bệnh án khảo sát ghi địa chỉ bệnh nhân chi tiết đến số nhà, đường phố hoặc thôn xã

3.1.2 Thực hiện quy định ghi thông tin về thuốc

*Hồ sơ bệnh án thực hiện đầy đủ các quy định ghi thông tin về thuốc

Tỷ lệ % HSBA ghi rõ tên thuốc, nồng độ/ hàm lượng, liều dùng 1 lần, liều dùng 1 ngày, đường dùng, thời điểm dùng ở tất cả các thuốc được kê thể hiện trong hình 3.3 bên dưới

Trang 36

28

Hình 3.3 Bệnh án thực hiện đầy đủ ghi thông tin về thuốc

Kết quả từ biểu đồ trên cho thấy tỷ lệ HSBA có ghi nồng độ/ hàm lượng thuốc, liều dùng 1 lần, liều dùng một ngày, đường dùng ở tất cả các thuốc được kê tương đối cao (trên 99%) Trong 355 HSBA khảo sát chỉ có 153 bệnh

án ghi rõ tất cả các tên thuốc (chiếm 43,1%) Có 95,2% HSBA ghi rõ thời điểm dùng ở tất cả các thuốc

*Thuốc được ghi thông tin đúng quy định

Bảng 3.4 Thực hiện quy định ghi thông tin về thuốc

T

lượt

Tỷ lệ (%) (n=10426)

1 Thuốc được ghi rõ tên, không viết tắt, ký hiệu 10024 96,1

2 Thuốc được ghi nồng độ/ hàm lượng 10416 99,9

4 Thuốc được ghi liều dùng 1 ngày 10416 99,9

Trang 37

29

Tỷ lệ % lượt thuốc có ghi nồng độ/ hàm lượng, liều dùng 1 lần, 1 ngày, đường dùng, thời điểm dùng đạt trên 99% Có 402 lượt thuốc được kê không ghi rõ tên, viết tắt hay ký hiệu, chiếm 3,9%

3.1.2.1 Thực hiện quy định về ghi tên thuốc

Trong 355 HSBA khảo sát có 253 thuốc được kê, trong đó có 65 thuốc ghi tên không đúng quy định Đa số các trường hợp là ghi không rõ nét hoặc thiếu nét Các thuốc ghi tên không đúng quy định chủ yếu là những thuốc có tên dài

và có nhiều nguyên âm trùng nhau Pantoprazol là thuốc có số lượt kê và ghi sai tên nhiều (60 lượt sai), thường ghi thiếu nét hoặc không rõ nét

Trong 65 thuốc ghi đúng quy định có một số thuốc thuộc nhóm thuốc cần thận trọng khi sử dụng như: kháng sinh ceftriaxone (11 lượt ghi tên không đúng quy định trong tổng số 56 lượt kê, chiếm 19,6%); ciprofloxacin (19,5% lượt ghi tên không đúng quy định); hydrocortisone chỉ kê 25 lượt nhưng 16%

số lượt ghi tên không đúng quy định Danh mục thuốc có tên ghi không đúng quy định được trình bày chi tiết trong phụ lục 3

3.1.2.2 Thực hiện quy định về ghi nồng độ/ hàm lượng, liều dùng 1 lần, liều dùng 1 ngày

Trong quá trình thực hiện ghi chỉ định thuốc cho bệnh nhân, còn một vài trường hợp thuốc không được ghi nồng độ/ hàm lượng, liều dùng 1 lần, liều dùng 1 ngày Đặc biệt, trong đó có một số thuốc thuộc nhóm cần thận trọng khi sử dụng như corticoid (hydrocortisone) và kháng sinh (ofmantine) Danh mục thuốc không ghi nồng độ/ hàm lượng, liều dùng 1 lần, liều dùng 1 ngày được trình bày trong phụ lục 4

3.1.2.3 Thực hiện quy định về ghi thời điểm dùng thuốc

Có 10 thuốc trong tổng số 253 thuốc được kê trong các bệnh án khảo sát không ghi thời điểm dùng Tuy nhiên, đa số các trường hợp này là những thuốc không kê đơn, ngoại trừ 2 kháng sinh amogentine và klamentin Danh mục thuốc không ghi thời điểm dùng được trình bày trong phụ lục 5

Trang 38

Bảng 3.5 Thực hiện quy định về chỉ định thuốc theo trình tự đường dùng,

thời gian dùng thuốc và ghi số thứ tự ngày dùng

1 Chỉ định thuốc theo trình tự đường dùng 296 355 83,4

2 Chỉ định đúng thời gian dùng thuốc 355 355 100

3 Ghi số thứ tự ngày dùng đối với nhóm thuốc

Kết quả từ bảng số liệu trên cho thấy, vấn đề về ghi thuốc chỉ định theo trình tự đường dùng và ghi số thứ tự ngày dùng đối với nhóm thuốc cần thận trọng khi sử dụng vẫn còn nhiều sai sót

Trong 355 HSBA khảo sát chỉ có 296 bệnh án (83,4%) thực hiện chỉ định thuốc đúng theo trình tự đường dùng: thuốc tiêm – uống – đặt – dùng ngoài – khác Các bệnh án chỉ định thuốc không đúng theo trình tự thường là các trường hợp kê thuốc tiêm sau các thuốc có đường dùng khác hoặc là kê thuốc uống sau thuốc khí dung hay dùng ngoài

Trong 355 HSBA khảo sát, có 228 bệnh án có kê nhóm thuốc cần thận trọng khi sử dụng Tuy nhiên, chỉ có 221 bệnh án thực hiện ghi số thứ tự ngày

Trang 39

31

dùng đối với các thuốc đó Các thuốc không ghi số thứ tự ngày dùng là thuốc kháng sinh tarcefosym và klamentin

3.1.3.2 Thực hiện quy định về ghi thời điểm kê đơn và ký tên bác sĩ

Bảng 3.6 Thực hiện quy định về ghi thời điểm kê đơn và ký tên

(n=355)

Vấn đề ghi thời điểm kê đơn và ký tên của bác sĩ điều trị được thực hiện đầy đủ, 100% bệnh án có ghi rõ thời điểm kê đơn, ký tên và ghi rõ họ tên bác

sĩ ở tất cả các lượt kê thuốc

3.2 Phân tích một số chỉ số sử dụng thuốc trong điều trị nội trú

3.2.1 Số ngày nằm viện trung bình và số thuốc trung bình cho một người bệnh trong một ngày

3.2.1.1 Số ngày nằm viện trung bình

Kết quả về số ngày nằm viện trung bình, số ngày nằm viện lớn nhất và nhỏ nhất phân theo nhóm bệnh được trình bày cụ thể trong bảng 3.7 bên dưới

Trang 40

Lớn nhất

Nhỏ nhất

9

R00-R99

Các triệu chứng, dấu hiệu, biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường, chưa được phân loại ở phần khác

Ngày đăng: 20/06/2018, 09:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Vũ Thị Lê (2015), Phân tích hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện đa khoa huyện Kiến Thụy Hải Phòng năm 2014, Luận văn dƣợc sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện đa khoa huyện Kiến Thụy Hải Phòng năm 2014
Tác giả: Vũ Thị Lê
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2015
12. Bùi Thị Cẩm Nhung (2013), Nghiên cứu hoạt động giám sát sử dụng thuốc tại bệnh viện phụ sản Thanh Hóa năm 2012, Luận án Dƣợc sĩ chuyên khoa cấp II, Đại Học Dƣợc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoạt động giám sát sử dụng thuốc tại bệnh viện phụ sản Thanh Hóa năm 2012
Tác giả: Bùi Thị Cẩm Nhung
Năm: 2013
13. Nguyễn Triệu Quý (2015), Phân tích thực trạng kê đơn thuốc tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2014, Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại học Dƣợc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng kê đơn thuốc tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2014
Tác giả: Nguyễn Triệu Quý
Nhà XB: Trường Đại học Dƣợc Hà Nội
Năm: 2015
14. Phạm Lương Sơn (2011), “Phân tích thực trạng thanh toán Thuốc bảo hiểm y tế”, Tạp chí Dược học, số 428, tháng 12.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng thanh toán Thuốc bảo hiểm y tế”, "Tạp chí Dược học
Tác giả: Phạm Lương Sơn
Năm: 2011
15. Văn Ngọc Sơn (2016), Phân tích thực trạng kê đơn thuốc kháng sinh cho bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2015, Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng kê đơn thuốc kháng sinh cho bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2015
Tác giả: Văn Ngọc Sơn
Năm: 2016
16. Ngô Thị Phương Thúy (2015), Phân tích thực trạng kê đơn thuốc tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2014, Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại học Dƣợc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng kê đơn thuốc tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2014
Tác giả: Ngô Thị Phương Thúy
Năm: 2015
17. Nguyễn Thị Thanh Thủy (2016), Phân tích thực trạng kê đơn thuốc cho bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Quân Y 105 - Tổng cục hậu cần năm 2015, Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng kê đơn thuốc cho bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Quân Y 105 - Tổng cục hậu cần năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy
Năm: 2016
18. Hoàng Hiếu Tri (2014), "Thuốc generic chất lượng cao – tương lai của ngành dƣợc Việt Nam", Báo cáo ngành dược phẩm, 04/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc generic chất lượng cao – tương lai của ngành dƣợc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hiếu Tri
Năm: 2014
19. Hoàng Hiếu Tri (2017), "Cuộc cách mạng từ số lƣợng sang chất lƣợng", Báo cáo ngành dược phẩm, 03/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc cách mạng từ số lƣợng sang chất lƣợng
Tác giả: Hoàng Hiếu Tri
Năm: 2017
20. Holloway K.A., gautam B.R., Reeves B.C. (2001), “The effects of different kinds of user fee on prescribing costs in rural Nepal”, Health Policy Plan, 16(4), pp. 421-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effects of different kinds of user fee on prescribing costs in rural Nepal
Tác giả: Holloway K.A., gautam B.R., Reeves B.C
Nhà XB: Health Policy Plan
Năm: 2001
21. U.S. Agency for International Development, Rational Pharmaceutical Management Plus Program, Center for Pharmaceutical Management, Management Sciences for Health (2011), “How to Investigate Antimicrobial Drug Use in Hospitals: Selected Indicators (Working Draft)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: How to Investigate Antimicrobial Drug Use in Hospitals: Selected Indicators (Working Draft)
Tác giả: U.S. Agency for International Development, Rational Pharmaceutical Management Plus Program, Center for Pharmaceutical Management, Management Sciences for Health
Năm: 2011
22. WHO (2011), The World Medicines Situation 2011- Rational Use of Medicines (3rd Edition).Tài liệu website Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Medicines Situation 2011- Rational Use of Medicines (3rd Edition)
Tác giả: WHO
Năm: 2011
23. Trần Ngân Hà (2017), Tổng kết công tác báo cáo ADR năm 2016, <http://magazine.canhgiacduoc.org.vn/Magazine/Details/183>, đã xem ngày 31/07/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết công tác báo cáo ADR năm 2016
Tác giả: Trần Ngân Hà
Năm: 2017
24. Cục Quản lý khám chữa bệnh, Hướng dẫn ghi và mã các thông tin số hồ sơ bệnh án, < kcb.vn/wp-content/uploads/2015/07/Huong-dan-ghi-chep.doc>, đã xem ngày 31/07/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn ghi và mã các thông tin số hồ sơ bệnh án
Tác giả: Cục Quản lý khám chữa bệnh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm