Một hình thức tồn tại đặc biệt của dịch vụ ngày càng phổ biến đó làthông tin, đặc biệt trong những ngành dịch vụ mang tính hiện đại như tư vấn, pháp lý, dịch vụ nghe nhìn, viễn thông, má
Trang 1Câu 1:
1 Có nhiều cách định nghĩa về dịch vụ:
Adam Smith từng định nghĩa rằng, "dịch vụ là những nghề hoangphí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩôpêra, vũ công Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó đượcsản xuất ra" Từ định nghĩa này, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith
có lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh "không tồn trữ được" của sảnphẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời
Có cách định nghĩa cho rằng dịch vụ là "những thứ vô hình" hay là
"những thứ không mua bán được"
Ngày nay vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế ngàycàng được nhận thức rõ hơn Có một định nghĩa rất hình tượng nhưngcũng rất nổi tiếng về dịch vụ hiện nay, mà trong đó dịch vụ được mô tả
là "bất cứ thứ gì bạn có thể mua và bán nhưng không thể đánh rơi nóxuống dưới chân bạn"
C Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hànghoa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thôngthông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đócủa con người thì dịch vụ ngày càng phát triển"
Như vậy, với định nghĩa trên, C Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và
sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụcàng phát triển mạnh
Như vậy có thể định nghĩa một cách chung nhất: dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
2 Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ
2.1 Tính không mất đi
Kỹ năng dịch vụ không mất đi sau khi đã cung ứng Người ca sĩkhông hề mất đi giọng hát sau một buổi trình diễn thành công, sau một
Trang 2ca phẫu thuật thành công, bác sĩ không hề mất đi khả năng kỹ thuật củamình.
2.2 Tính vô hình hay phi vật chất
C.Mác chỉ rõ: "Trong những trường hợp mà tiền được trực tiếp traođổi lấy một lao động không sản xuất ra tư bản, tức là trao đổi lấy mộtlao động không sản xuất, thì lao động đó được mua với tư cách là một
sự phục vụ.lao động đó cung cấp những sự phục vụ không phải với tưcách là một đồ vật, mà với tư cách là một sự hoạt động
Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ
ta không thể "sờ mó" sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể
đo lường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thểtích, trọng lượng Bệnh nhân không thể biết trước kết quả khám bệnhtrước khi đi khám bệnh, khách du lịch không biết trước tác động củanhững dịch vụ được cung cấp trước khi chúng được cung ứng và tiếpnhận
Một hình thức tồn tại đặc biệt của dịch vụ ngày càng phổ biến đó làthông tin, đặc biệt trong những ngành dịch vụ mang tính hiện đại như
tư vấn, pháp lý, dịch vụ nghe nhìn, viễn thông, máy tính Quá trình sảnxuất và tiêu thụ gằn với các hoạt động dịch vụ này có thể diễn ra khôngđồng thời như thường thấy ở những dịch vụ thông thường khác nhưphân phối, y tế, vận tải hay du lịch mà vốn đòi hỏi sự tiếp xúc trựctiếp giữa người cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng
2.3 Tính không thể phân chia
Quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời Khác vớisản xuất vật chất, sản xuất dịch vụ không thể làm sẵn để lưu kho sau đómới đem tiêu thụ Dịch vụ không thể tách rời khõi nguồn gốc của nó,trong khi hàng hóa vật chất tồn tại không phụ thuộc vào sự có mặt hayvắng mặt nguồ gốc của nó
2.4 Tính không ổn định và khó xác định được chất lượng
Chất lượng dịch vụ thường dao động trong một biên độ rất rộng,tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (ví dụ, người cung ứng, thờigian, địa điểm cung ứng phục vụ)
Trang 32.5 Tính không lưu giữ được
Dịch vụ không thể lưu giữ được Không thể mua vé xem bóng đátrận này để xem trận khác được Tính không lưu giữ được của dịch vụkhông phải là vấn đề quá lớn nếu như cầu cầu là ổn định và có thể dựđoán truớc Nhưng thực tiễn nhu cầu dịch vụ thường không ổn định,luôn dao động thì công ty cung ứng dịch vụ sẽ gặp những vấn đề trởngại về vấn đề sử dụng nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật
2.6 Hàm lượng trí thức trong dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn.
Người ta không cần các nguyên vật liệu đầu vào hữu hình như dâychuyền sản xuất hay nhà máy để sản xuất ra dịch vụ, mà giữ vai tròquan trọng nhất trong hoạt động dịch vụ là yếu tố con người, thể hiệnqua quá trình sử dụng chất xám và các kỹ năng chuyên biệt với sự hỗtrợ của các dụng cụ, trang thiết bị chứ không phải ở sức mạnh cơ bắphay các hoạt động gắn liền với các dây chuyền sản xuất đồ sộ Ðối vớinhững ngành dịch vụ có tính truyền thống như phân phối, vận tải hay
du lịch thì tầm quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật cũng rất đáng kể,tuy thế, vai trò của tri thức vẫn là chủ yếu và không thể thiếu được
2.7 Sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ
Ðây là đặc điểm nổi bật và quan trọng nhất của dịch vụ, thể hiện ởchất lượng dịch vụ không ngừng được tinh vi hoá, chuyên nghiệp hóa
và quan trọng hơn là sự xuất hiện liên tục những dịch vụ mới Thể hiện
rõ nét nhất ở dịch vụ điện thoại di động, từ thế hệ thứ nhất theo kỹ thuậtanolog sang đầu thập niên 90 đã chuyển sang thế hệ thứ hai là kỹ thuật
số, hiện nay trong những năm đầu của thế kỷ 21 người ta đang nói đếnthế hệ điện thoại di động thứ ba có thể truy cập internet hết sức dễdàng, mọi lúc mọi nơi
Định nghĩa về thương mại dịch vụ:
Gats định nghĩa về thương mại dịch vụ là sự cung cấp dịch vụ
Từ lãnh thổ nước này sang( nước cung ứng dịch vụ) đến lãnh thổ nước khác ( nước sử dụng dịch vụ) theo phương thức cung ứng dịch vụ qua biên giới.( hay phương thức 1 theo ngôn từ của WTO)
Trang 4Trên lãnh thổ của nước này ( nước sử dụng dịch vụ) cho người sử dụng dịch vụ của bất kỳ nước khác theo phương thức tiêu dung dịch vụ ở nước ngoài ( phương thức 2)
Bởi người, tổ chức, cung ứng dịch vụ của nước này ( nước cung cấp dịchvụ) tại bất kỳ nước nào khác ( nước sử dụng dịch vụ) theo phương thức hiện diện thương mại ( phương thức 3)
Bởi người, thể nhân, cung ứng dịch vụ của nước này (nước cung cấp dịch vụ) tại bất kỳ nước nào khác ( nước sử dụng dịch vụ ) theo phương thức hiện diện của thể nhân ( phương thức 4)
Đặc điểm của thương mại dịch vụ
a Tính đặc thù về đối tượng trao đổi trong thương mại dịch vụ
Sự khác biệt rõ nhận thấy nhất giữa thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ
chính là ở đối tượng của hoạt động trao đổi Trong thương mại hàng hóa đối tượng trao đổi là các sản phẩm vật thể còn trong thương mại dịch vụ chúng là các sản phẩm phi vật thể Mặc dù có sự khác biệt nhưng dịch
vụ và hàng hóa vẫn có những điểm giống nhau:Là sản phẩm của lao động vì vậy dich vụ mang giá trị Trong trao đổi giá trị dịch vụ thể hiện thông qua giá cả thị trường Dịch vụ cũng có giá trị sử dụng, giá trị sử dụng của dịch vụ hay công dụng của chúng chính là các lợi ích mà ngườitiêu dùng nhận được và thỏa mãn khi tiêu dùng chúng
Vì dịch vụ vô hình nên so với hàng hoá chúng khó thương mại hoá hơn, điều này lý giải vì sao cho mãi đến thập niên 70 các nhà kinh tế học vẫn
cho rằng: “ngành dịch vụ là tập hợp chủ yếu của những hoạt động phi thương mại” (theo UNCTAD) Cũng chính vì thế mà cho đến nay tỷ
trọng của các ngành dịch vụ trong GDP khá cao nhưng giá trị kim ngạch dịch vụ cho xuất khẩu hoặc trao đổi là tương đối nhỏ Đối với các nước phát triển tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP chiếm khoảng hai phần
ba nhưng kim ngạch thương mại dịch vụ trong nền kinh tế chỉ chiếm khoảng một phần năm (theo Service Economy)
Vì dịch vụ vô hình nên khi xẩy ra mất cân đối cung cầu theo thời gian người ta
Trang 5không dự trữ chúng lại trong các kho hoặc nếu có sự mất cân đối cung cầu theo không gian người ta không thể điều hoà bằng cách vận chuyển chúng từ nơi này qua nơi khác bằng các phương tiện vận tải nhằm điều tiết cung cầu như trong trường hợp thương mại hàng hoá.
Trong thương mại dịch vụ để thoả mãn đòi hỏi của khách hàng người ta luôn phải
đảm bảo sự sẵn sàng cung ứng tại nơi và thời điểm mà thị trường có nhu cầu Mâu thuẫn là ở chỗ cầu về dịch vụ thường có tính đàn hồi cao và mang tính thời vụ lớn trong khi cung dịch vụ lại có tính “cứng” Điều này dẫn tới những mâu thuẫn về cung cầu Đây là bài toán nan giải trongnhiều ngành dịch vụ Ví dụ: khả năng truyền tải mạng điện thoại di độnghay mạng Internet thì có hạn nhưng cầu lại biến động và mang tính thời
vụ rất cao nên thường xẩy ra tình trạng “quá tải” do có nhiều người cùng
sử dụng vào những giờ cao điểm hoặc ngược lại có những lúc lại có rất
ít người sử dụng như ban đêm hay
ngày nghỉ cuối tuần
b Tính đặc thù về các phương thức cung cấp trong thương mại dịch vụ
Do những đặc trưng của sản phẩm dịch vụ nên các giao dịch trong
thương mại dịch
vụ giữa người mua, người bán thường đòi hỏi phải có sự tiếp xúc trực tiếp Trao đổi các dịch vụ có thể xảy ra trong các trường hợp sau: dịch
vụ được chuyển dịch trực tiếp từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng
(trong thương mại hàng hóa hoạt động trao đổi này là phổ biến thì trong thương mại dịch vụ chỉ có một số ít dịch vụ được thực hiện theo cách này
Ví dụ như chuyển tiền qua ngân hàng…) Các trường hợp giao dịch phổ biến trong lĩnh vực dịch vụ là: nhà cung cấp dịch vụ dịch chuyển đến nơi
có người tiêu dùng (ví dụ các bác sỹ đến khám bệnh tại nhà) hoặc người tiêu dùng di chuyển đến nơi có nhà cung cấp dịch vụ (ví dụ bệnh nhân đến bệnh viện để khám, chữa bệnh) hoặc nhà cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng cùng di chuyển đến một địa điểm thứ ba, ví dụ: một doanh nghiệp của Pháp mở bệnh viện ở Việt Nam (bệnh viện Việt Pháp) để khám, chữa bệnh cho một bệnh nhân đến từ Nhật Bản
Trong buôn bán quốc tế dịch vụ được cung cấp giữa các quốc gia theo một trong bốn phương thức sau:
Trang 6- Phương thức 1: di chuyển qua biên giới của các sản phẩm dịch vụ (các
dịch vụ có
thể truyền qua phương tiện viễn thông như chuyển tiền qua ngân hàng)
- Phương thức 2: di chuyển của người tiêu dùng sang nước khác( khách
du lịch sang thăm một nước khác)
- Phương thức 3: thiết lập hiện diện thương mại tại một nước để cung
cấp dịch vụ
(thành lập chi nhánh hay công ty con ở nước ngoài)
- Phương thức 4: di chuyển tạm thời của thể nhân sang một nước khác
ra và cung ứng các dịch vụ (ví dụ như sản phẩm du lịch)
d Tính đa dạng cúa các loại hình dịch vụ
Dịch vụ là lĩnh vực rất rộng, đa dạng về quy mô và tính chất kinh doanh.Bên cạnh
một số ngành dịch vụ quy mô kinh doanh lớn: vốn đầu tư lớn, công nghệhiện đại, lao động chuyên môn cao như dịch vụ viễn thông, dịch vụ tài
chính, dịch vụ hàng không, vận tải biển, vận tải đường sắt… còn có vô
số những ngành dịch vụ kinh doanh nhỏ, linh hoạt phân tán, lao động giản đơn, thích hợp với loại hình kinh doanh nhỏ, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ Những ngành dịch vụ này tồn tại khách quan do nhu cầu đời
sống như trông xe, giữ trẻ, xe ôm, giúp việc gia đình… cho dù sự phát triển ở trình độ nào của nền kinh tế thì chúng vẫn tồn tại như là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế xã hội và vai trò của chúng
Trang 7không nhỏ, nhất là trong việc thỏa mãn nhu cầu muôn màu, muôn vẻ củađời sống xã hội và tạo công ăn việc làm cho dân cư.
Sự đa dạng về vai trò của dịch vụ đối với đời sống và sản xuất: có nhiều
ngành dịch vụ là những ngành quan trọng cung cấp yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh và trình độ của những ngành dịch vụ này có ảnh hưởng rất lớn tới sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ của quốc gia ví
dụ dịch vụ vận tải, dịch vụ viễn thông…Nhiều ngành dịch vụ không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất mà cả nhu cầu sinh hoạt của dân cư như dịch
vụ điện
Vai trò của thương mại dịch vụ
- Thương mại dịch vụ có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đóng góp vào GNP
của nền kinh tế các quốc gia.
Vai trò của thương mại dịch vụ với tăng trưởng kinh tế không những thể hiện ở sự
tăng trưởng nhanh chóng của bản thân những ngành dịch vụ mà vai trò này còn thể hiện ở việc thúc đẩy, hỗ trợ các ngành kinh tế khác trong nềnkinh tế quốc dân, đặc biệt là vai trò của các ngành dịch vụ như bưu
chính - viễn thông, tài chính - ngân hàng, giao thông - vận tải… Với khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đó, những đóng góp của thương mạidịch vụ vào GNP cũng ngày càng được khẳng định Theo WTO, giai đoạn 1980-2002, hàng năm bản thân thương mại dịch vụ trên thế giới có tốc độ tăng trưởng bình quân 9%, cao hơn tốc độ tăng 6% của thương mại hàng hóa Về đầu tư, khoảng 60% giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoàihiện nay đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ
- Vai trò của thương mại dịch vụ với tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế, cải
thiện cán cân thương mại của các quốc gia.
Xu thế tự do hóa thương mại không chỉ còn diễn ra ở lĩnh vực thương mại hàng hóa, mà tự do hóa thương mại dịch vụ cũng đang từng bước
mở ra Hiện nay, các nước phát triển đang chú trọng vào phát triển và tìm cơ hội xuất khẩu ở các ngành dịch vụ như tài chính, viễn thông, y tế
và giáo dục Các nước này thường thu được lợi ích rất cao nhờ vào
Trang 8những ngành dịch vụ và thường gây sức ép đòi hỏi các nước mở cửa hơnđối với thị trường này Mặc dù các nước đang phát triển và chậm phát triển thường có nhiều bất lợi khi mở của thị trường dịch vụ, song họ cũng đang khai thác những lợi thế so sánh của mình để hội nhập và cải thiện cán cân thương mại thông qua các ngành dịch vụ như du lịch, xuất khẩu lao động.
Vai trò của thương mại dịch vụ với việc thúc đẩy phân công lao động và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội, các ngành dịch vụ mới không ngừng ra đời và phát triển nhanh chóng Do vậy, lĩnh vực dịch vụ đã ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong
cơ cấu của nền kinh tế quốc dân Đồng thời, một số ngành dịch vụ ra đời
đã thúc đẩy tích cực trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các vùng, giữa các quốc gia, đưa đến xu thế phân bổ nguồn lực theo nguyên lý cân bằnghiệu quả cận biên (Marginal Efficiency) Những tác động đó đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong phạm vi từng quốc gia, cũng như trên phạm vi toàn thế giới phù hợp với lợi thế so sách của từng vùng và từng quốc gia
Vai trò của thương mại dịch vụ đối với việc tạo ra công ăn việc làm cho
số tương đối và tuyệt đối Đây là những lĩnh vực dịch vụ có cấu tạo hữu
cơ mà việc sử dụng lao động sống có xu hướng tăng nhanh hơn lao độngvật hóa Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia phát triển,
tỷ trọng lao động của các ngành dịch vụ chiếm khoảng 60-70% công ăn việc làm trong xã hội Chỉ tính riêng ngành du lịch, năm 2002 đã thu hút khoảng 204 triệu lao động trên toàn thế giới (ước tính cứ 9 lao động thì
Trang 9có 1 lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch), chiếm khoảng 10,6% lực lượng lao động thế giới.
Vai trò của thương mại dịch vụ đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của
con người.
Trước hết, xuất phát từ những vai trò của thương mại dịch vụ nói trên
mà nó đã góp cải thiện tích cực thu nhập cho xã hội và người lao động Theo đó việc cải thiện thu nhập được xem là một yếu tố quan trọng cho phép con người nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Mặt khác, thực tếngày nay ở hầu hết các quốc gia thì chất lượng cuộc sống
Rào cản và tác động đối với thương mại dịch vụ:
A các hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ dưới các hình thức hạn ngạch số lượng, độc quyền, các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền hay cácđòi hỏi kiểm định nhu cầu kinh tế cần thiết
B các hạn chế về tổng trị giá của các giao dịch dịch vụ hay tài sản dưới các hình thức hạn ngạch số lượng hay các đòi hỏi kiểm định nhu cầu kinh tế cần thiết;
C các hạn chế về tổng số các giao dịch dịch vụ hay tổng số lượng đầu racủa dịch vụ thông qua các đơn vị số lượng đã được các định dưới hình thức hạn ngạch hay đòi hỏi kiểm định nhu cầu kinh tế cần thiết
D các hạn chế về tổng số thể nhân mà có thể được thuê trong một lĩnh vực dịch vụ cụ thể hay một nhà cung cấp dịch vụ có thể thuê và họ là những người cần thiết, và liên quan trực tiếp tới việc cung cấp một dịch
vụ nhất định dưới hình thức hạn ngạch số lượng hay đòi hỏi kiểm định nhu cầu kinh tế cần thiết
E các biện pháp hạn chế hay đòi hỏi phải theo các hình thức thực thể pháp lý nhất định hay liên doanh thông qua đó một nhà cung cấp dịch vụ
Trang 10Câu 2 Trình bày khái niệm và phân tích các phương thức cung cấp dịch
vụ và cách phân loại dịch vụ theo Hiệp định của WTO về TMDV(GATS)
1 Phương thức cung cấp dịch vụ (Modes of supply) là gì?
Phương thức chính là cách thức cung cấp các dịch vụ
Phương thức cung ứng dịch vụ được xác định trên cơ sở:
+nguồn gốc của nhà cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ.
+ vị trí địa lý của nhà cung cấp lẫn người tiêu dùng khi dịch vụ được cungứng
2 Các phương thức cung cấp dịch vụ theo Hiệp định GATS
Hiện nay, theo quy định của Hiệp định chung về dịch vụ , tồn tại 4phương thức cung ứng dịch vụ sau đây:
Phương thức 1 - Cung ứng qua biên giới (Cross-border supply): sự cung
cấp dịch vụ từ lãnh thổ của một thành viên đến lãnh thổ của bất kỳ mộtthành viên nào khác Đặc điểm của loại hình cung cấp dịch vụ này là chỉ
có bản thân dịch vụ là đi qua biên giới, còn người cung cấp dịch vụkhông có mặt tại nước nhận dịch vụ
Ví dụ: Gọi điện thoại quốc tế Skype có thể gọi từ nhiều quốc gia khác
nhau, cung ứng đường truyền cáp quang dưới biển giữa Mỹ và ViệtNam, …
Trang 11Phương thức 2 - Tiêu dùng ở nước ngoài (Consumtion abroad): sự cung
cấp dịch vụ trên lãnh thổ của một thành viên cho người tiêu dùng dịch
vụ của bất kỳ thành thành viên nào khác
Ví dụ: cung cấp các dịch vụ du học hoặc lữ hành cho người Việt sang
các nước châu Âu, châu Mỹ, …
Phương thức 3 - Hiện diện thương mại (Commercial presence): sự cung
cấp dịch vụ do một người cung cấp dịch vụ của một thành viên thôngqua sự hiện diện thương mại trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nàokhác
Ví dụ: ngân hàng Commonwealth Bank của Úc đặt chi nhánh đại diện tại
TP.HCM, đại diện tập đoàn Apple trên nhiều nước khác nhau, …
Phương thức 4 - Di chuyển của thể nhân (Movement of natural people): sự cung cấp dịch vụ do một người cung cấp dịch vụ của một
thành viên thông qua sự hiện diện thể nhân trên lãnh thổ của bất kỳthành viên nào khác
Ví dụ: Một giáo sư được mời sang một trường đại học ở nước ngoài để
giảng bài, tổng công ty mẹ cử đại diện sang công ty con điều hành, giámsát, …
Trang 123 Phân loại dịch vụ theo WTO
Ngày nay, dịch vụ là một lĩnh vực bao gồm những hoạt động hết sứcrộng lớn Theo tài liệu ký hiệu MTN.GNS/W/120 của Ban Thư kí WTO
đã chia các hoạt động thành 12 ngành, trong đó bao gồm 155 tiểungành.Cụ thể như sau:
- Các dịch vụ kinh doanh
+ các dịch vụ kinh doanh chuyên ngành
+ các dịch vụ liên quan đến máy tính
+ các dịch vụ nghiên cứu và phát triền
- Các dịch vụ xây dựng và kỹ sư công trình
+ tổng công trình xây dựng nhà cao ốc
+ tổng công trình xây dựng cho các công trình dân sự
+ công việc lắp đặt và lắp ráp
+ công việc hoàn thiện và kết thúc xây dựng
Trang 13+ các dịch vụ xây dựng và kỹ sư công trình khác
- Các dịch vụ phân phối
+ các dịch vụ của đại lý ăn hoa hồng
+ các dịch vụ thương mại bán buôn
Trang 14+ vận tải đường thủy nội địa
+ các dịch vụ vận tải đường hàng không
+ vận tải vũ trụ
+ các dịch vụ vận tải đường sắt
+ các dịch vụ vận tải đường bộ
Trang 15+ vận tải theo đường ống dẫn
+ các dịch vụ phụ trợ cho tất cả các loại vận tải
+ các dịch vụ vận tải khác
- Các dịch vụ khác
Cần lưu ý rằng: nhóm các dịch vụ khác là vô số các dịch vụ tồn tại môt cách khách quan do nhu cầu của đời sống Những dịch vụ này rất đa dạng và hiện chưa được xét đến trong thong kê thương mại.
Câu 3: Các nguyên tắc pháp lý căn bản của GATS
GATS bao gồm các nguyên tắc được áp dụng vô điều kiện (Tức là khôngphụ
thuộc vào quá trình đàm phán) và các biện pháp áp dụng có điều kiện (chủ yếu dựa
trên các cam kết là kết quả đàm phán của mỗi nước) Vì vậy, không phải ngay lập
tức mọi lĩnh vực dịch vụ đều phải vận dụng toàn diện các nguyên tắc củaGATS,
mà tùy thuộc vào kết quả đàm phán và các cam kết trong lĩnh vực dịch
vụ, một
quốc gia sẽ thực thi mở cửa thị trường toàn diện hay hạn chế đối với lĩnhvực dịch
vụ đó
- Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc(MFN)
Được áp dụng cho tất cả các dịch vụ Trong khuôn khổ của GATS, nếu một
nước mở cửa một lĩnh vực cho cạnh tranh nước ngoài thì nước đó sẽ phải dành cơ
hội đồng đều cho các nhà cung ứng dịch vụ của tất cả các nước thành viên WTO
(Nguyên tắc này được áp dụng ngay cả khi một nước không đưa ra cam
Trang 16với nghĩa vụ MFN ” đồng thời với các cam kết ban đầu của mình.
Để bảo vệ nguyên tắc tối huệ quốc, các nước đã quyết định ngoại lệ chỉđược chấp nhận một lần duy nhất và không được bổ sung thêm
- Đãi ngộ quốc gia và các cam kết mở cửa thị trường
Cũng như nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên tắc đối xử quốc gia được xâydựng trên nền tảng của nguyên tắc không phân biệt đối xử Theo quy định của
GATS, nguyên tắc MFN được áp dụng ngay lập tức, vô điều kiện và mọithành
viên WTO phải chấp nhận, nhưng có ngoại lệ Còn đối với nguyên tắc đối xử quốc
gia thì đó không phải là nghĩa vụ chung mà là nghĩa vụ có điều kiện và được đàm
phán trong quá trình gia nhập
Kết quả đàm phán về mở cửa thị trường và đối xử quốc gia được ghi nhận
Trang 17trong Danh mục cam kết cụ thể Theo đó, những lĩnh vực đã được ghi trong Danh
mục cam kết cụ thể, mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch
vụ của bất kỳ nước thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự
đãi ngộ mà thành viên đó đã, đang và sẽ dành cho dịch vụ và người cungcấp dịch
vụ trong nước so với dịch vụ hay người cung cấp dịch vụ nước ngoài
- Nguyên tắc minh bạch hoá hệ thống chính sách
Theo GATS việc tự do hoá thương mại dịch vụ sẽ không thể có được nếu các
nhà cung cấp dịch vụ thiếu đi các thông tin cần thiết về các quy định mà