1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tư tưởng đất nước của nhân dân trong bài Đất Nước

27 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI MẪU SỐ 1: Đề tài đất nước trong thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ là một đề tài rộng lớn, ở mỗi nhà thơ có cách cảm nhận riêng mang dấu ấn trải nghiệm riệng của bản thân, đặc biệt là

Trang 1

BÀI MẪU SỐ 1:

Đề tài đất nước trong thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ là một đề tài rộng lớn, ở mỗi nhà

thơ có cách cảm nhận riêng mang dấu ấn trải nghiệm riệng của bản thân, đặc biệt là các cây bút trực tiếp cầm súng chiến đấu ở chiến trường như: Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật, Hữu

Thỉnh, Thanh Thảo,… Tiêu biểu trong đó là tư tưởng đất nước của nhân dân được thể hiện một cách sâu sắc trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm

Bài thơ mở đầu bằng chín câu thơ lý giải cội nguồn đất nước để trả lời cho câu hỏi đất nước

có từ bao giờ:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa…" mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết tròng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…

Đất nước ra đời trước khi con người có mặt trên trái đất này vì thế không ai biết được cụ thể

nó có từ bao giờ, chỉ biết rằng “khi ta lớn lên đất nước đã có rồi” Nguyễn Khoa Điềm đã

mượn mô típ quen thuộc của truyện cổ tích “ngày xửa ngày xưa” để nói lên lịch sử hình

thành của đất nước đã từ lâu lắm rồi Đồng thời nhà thơ còn gắn sự ra đời của đất nước với văn hóa hình thành từ lâu đời, đó là những phong tục tập quán rất quen thuộc trong nếp sinh hoạt truyền thống của dân tộc ta Phong tục ăn trầu xuất hiện trong cuộc sống hằng ngày với hình ảnh “miếng trầu là đầu câu chuyện”, trong các sự kiện quan trọng của đời người như

đám hỏi, đám cưới, đám tang Bên cạnh đó còn có tục búi tóc sau đầu, hình ảnh cái kèo, cái cột thành tên Đất nước còn lớn lên cùng với hành trình lịch sử dựng nước, giữ nước và lao động sản xuất để xây dựng đất nước Hình ảnh nhân dân ta trồng tre để đánh giặc đã rất

quen thuộc trong sự tích Thánh Gióng Công cuộc lao động sản xuất vất vả để làm ra hạt

VĂN MẪU LỚP 12: ĐẤT NƯỚC - NGUYỄN KHOA ĐIỀM

TỔNG HỢP 6 BÀI “CẢM NHẬN VỀTƯ TƯỞNG “ ĐẤT NƯỚC CỦA NHÂN DÂN”

TRONG ĐOẠN TRÍCH ĐẤT NƯỚC NGUYỄN KHOA ĐIỀM”

Trang 2

gạo, phải trải qua một nắng hai sương, qua các công đoạn sản xuất: xay, giã, giần, sàng cũng được nhắc đến trong đoạn thơ Đất nước ra đời cũng gắn với đời sống sinh hoạt tình nghĩa

với hình ảnh gia đình, vợ chồng thủy chung Đây là chính là yếu tố gợi lên sự gần gũi , gắn

bó nhất, thiêng liêng nhất trong các yếu tố hình thành nên một đất nước, một dân tộc Câu

thơ kết “Đất Nước có từ ngày đó” như một hình thức quy nạp Như vậy, cội nguồn đất nước gắn với những hình ảnh bình dị, quen thuộc, bình thường nhất

Đất nước trong quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm được hình thành từ không gian địa lý:

“Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc"

Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"

Thời gian đằng đẵng

Không gian mệnh mông

Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”

Đất nước được hình thành nên từ phương diện địa lý qua các hình ảnh giản dị Đó là hình

ảnh sinh hoạt đời thường “anh đến trường”, “em tắm” Đó là hình ảnh đi vào ca doa truyền thống “con chím phượng hoàng bay về hòn núi bạc”, “con cá ngư ông móng nước biển

khơi” Bài thơ còn mở ra không gian sinh tồn của người dân Việt Nam, đó là phạm vi mà

nhân dân ta đã sống qua các triều đại Không gian tình yêu cũng được tái hiện khi tác giả

gắn hình ảnh đất nước với tình yêu đôi lứa qua hình ảnh “anh” và “em” Đặc biệt, tác giả đã đưa không gian lịch sử vào trong bài thơ Không gian ấy bắt đầu từ những truyền thuyết

nhuốm màu sắc lịch sử, lí giải sự ra đời của các dân tộc anh em “con rồng cháu tiên” cùng

các triều đại vua Hùng đã có công dựng nước và giữ nước “nhớ ngày giỗ Tổ” Đất nươc còn được hình thành từ không gian văn hóa Không gian ấy gắn với các sự tích: Chim về, Rồng

Trang 3

ở, Lạc Long Quân, Âu Cơ cùng truyền thống uống nước nhớ nguồn Trong tất cả các không gian ấy không thể thiếu bóng dáng và vai trò của con người:

“Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Hàng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ “

Con người Việt Nam đã lao động xây dựng đất nước, chiến đấu chống thù trong giặc ngoài đầy gian khổ Bên cạnh đó, nhưng người dân còn phải gánh vác nhiệm vụ duy trì nòi giống, giáo dục con cháu về trách nhiệm của bản thân, tiếp nối truyền thống của cha ông Như vậy mỗi một thế hệ con người Việt Nam đều mang trong mình nhiệm vụ giữ gìn phát huy những

gì thế hệ đi trước để lại và đồng thời có cả trách nhiệm với thế hệ tương lai

Đất nước Việt Nam không những được hình thành từ không gian địa lý, lịch sử mà còn

được xây dựng từ sự hòa hợp của con người, giữa cái riêng và cái chung:

“Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng mình hài hòa nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

quá trình gian lao vất vả của các thế hệ cha anh Đồng thời tác giả cũng sử dụng những hình ảnh, từ ngữ nói về tình yêu đôi lứa để nói rằng đất nước được tạo ra từ chính tình yêu Từ

Trang 4

tình yêu đôi lứa dần phát triển lên thành những tình yêu cao cả hơn, đó là tình yêu quê

hương, đất nước, là sự hài hòa giữa cái riêng và cái chung

Đất nước còn gắn với trách nhiệm của mỗi con người:

“Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang đất nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời…”

Những danh lam thắng cảnh cũng g óp phần tạo dựng nên một đất nước hoàn chỉnh:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên

Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…”

“Em ơi em

Trang 5

Hãy nhìn rất xa

Vào bốn ngàn năm Đất Nước

Năm tháng nào cũng người người lớp lớp

Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

Cần cù làm lụng

Khi có giặc người con trai ra trận

Người con gái trở về nuôi cái cùng con

Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

Nhiều người đã trở thành anh hùng

Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ

Những em biết không

Có biết bao người con gái, con trai

Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân

Họ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái trái

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh bại

Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân

Trang 6

Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại

Dạy anh biết "yêu em từ thuở trong nôi"

Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội

Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

Đi trả thù mà không sợ dài lâu

Ôi những dòng sông bắt nước từ lâu

Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát

Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

Đất nước được dựng lệ từ những con người vo danh Đó là những người con trai ra trận

đánh giặc Đó là những người con gái ở nhà làm lụng vất vả Những con người giản dị, bình thường nhưng không tầm thường ấy đã làm nên lịch sử hơn bốn nghìn năm đất nước Họ giữ lửa, dạy trồng lúa, truyền giọng nói, mở mang bờ cõi, làm nên văn hóa, truyền thống của

dân tộc, không có họ thì sẽ không có đất nước của ngày hôm nay Vì vậy, Nguyễn Khoa

Điềm đã khẳng định “Đất nước này là đất nước của nhân dân” Đây chính là tư tưởng của

toàn bộ bài thơ Đất nước không phải của bất kì một vị vua hay một triều đại nào cả mà

ngay từ khi mới được hình thành, đất nước đã là của nhân dân bởi nó sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân mà tồn tại

Với cái nhìn mới mẻ về đất nước qua các phương diện lịch sử, địa lý, văn hóa, tình yêu,

Nguyễn Khoa Điềm đã xây dựng lên một hình ảnh đất nước toàn vẹn – đất nước của nhân

dân Tư tưởng ấy đã khẳng định vai trò của những con người vô danh, bình thường mà

không tầm thường

Trang 7

BÀI MẪU SỐ 2:

I- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm

1 Vài nét về tác giả

Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 ở Huế trong một gia đình trí thức cách mạng

Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ trẻ những năm chiến tranh chống Mĩ

Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, thể hiện một chiều sâu văn hóa, đặc trưng của thế

hệ nhà thơ đã có một hành trang văn hóa chuẩn bị khá chu đáo trước khi bước vào chiến

trường Các tác phẩm chính của ông: “Đất ngoại ô” (1972), “Mặt đường khát vọng” (1974)

2 Giới thiệu vài nét về tác phẩm

Bài “Đất nước” trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”, bản trường ca

gồm chín chương viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ sống nơi thành thị vùng tạm chiếm miền

Nam, nhận rõ bộ mặt mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, đã có ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình trước tình thế hiềm nghèo của đất nước, đã đứng dậy xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc

II- Phân tích tư tưởng “Đất nước của nhân dân” thể hiện trong đoạn trích

1 Tư tưởng “Đất nước của nhân dân” đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả chương thơ về “Đất nước” và xâu chuỗi mọi cảm xúc hình ảnh thơ

a Điều này được biểu hiện trước tiên là tác giả đã sử dụng rộng rãi các chất liệu văn hóa

dân gian từ ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, cổ tích; từ phong tục tập quán đến cuộc sống dân

dã hàng ngày: miếng trầu, hạt gạo, hòn than, cái kèo, cái cột Chúng tạo nên một thế giới

nghệ thuật hết sức quen thuộc gần gũi mà sâu xa, bay bổng của văn hóa dân gian Việt Nam bền vững, độc đáo

b Từ đó, nhà thơ đi sâu thể hiện những cảm xúc, suy tưởng của mình về đất nước Cảm

hứng có vẻ phóng túng, tự do như một thứ tuỳ bút bằng thơ nhưng vẫn có một hệ thống lập luận khá chặt chẽ, rõ ràng Tác giả đã tập trung thể hiện đất nước trên ba bình diện cơ bản

gắn bó thống nhất: trong chiều dài thời gian lịch sử, trong chiều rộng không gian lãnh thổ,

địa lí và cuối cùng là trong bề dày văn hoá, tâm hồn, tính cách Việt Nam

c Chính nhờ đứng trên quan điểm “Đất nước của nhân dân”, thông qua chất liệu văn hóa

dân gian giàu chất thơ, kết hợp với lối tư duy bình luận hiện đại mà tác giả đã có những phát hiện mới mẻ, có chiều sâu ở chính những hình ảnh, chất liệu quen thuộc

2 “Đất nước của nhân dân” được thể hiện trong chiều dài thời gian lịch sử

a Nói về lịch sử mấy ngàn năm của đất nước, Nguyễn Khoa Điềm không dùng những sử liệu như nhiều nhà thơ khác Ông dùng lối kể đậm đà màu sắc dân gian:

Trang 8

“Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc”

Hình ảnh thơ phải chăng gợi nhắc về sự tích trầu cau từ thời Hùng Vương dựng nước xa

xưa, về truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân Lịch sử đất nước được đọng lại trong từng câu chuyện, hiện hình trong “miếng trầu bà ăn”, trong “cây tre đánh giặc”

Điều đó muốn nói lên rằng đất nước đã nằm sâu trong tiềm thức mỗi người dân, trường tồn trong đời sống tâm hồn nhân dân trải qua bao thế hệ

b Vì vậy khi nghĩ về lịch sử mấy nghìn năm của đất nước, Nguyễn Khoa Điềm không

điểm lại các triều đại hay các tên tuổi những anh hùng, những danh nhân như: Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… mà nhấn mạnh

đến muôn ngàn những con người bình dị vô danh: “Có biết bao người con gái con trai…

không ai nhớ mặt đặt tên…” “Nhưng họ đã làm ra đất nước”

Những con người vô danh ấy chính là nhân dân, họ không chỉ là bảo vệ đất nước mà còn sáng tạo và truyền lại mọi giá trị vật chất và tinh thần cho các thế hệ nối tiếp nhau:

“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng…

Họ gánh theo tên làng, tên xã trong mỗi chuyến di dân”

Đất nước ấy còn có một không gian cụ thể, nơi sinh tồn của cả cộng đồng

a Cùng với “thời gian đằng đẵng” là “không gian mênh mông” được tạo lập từ thuở sơ

khai với truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ: “Đất là nơi chim về, nước là nơi rồng ở” - Một đất nước đẹp đẽ thiêng liêng biết bao!

b Nhưng “Đất nước” cũng là cái không gian rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày của mỗi người dân: “Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm” Và đất nước ấy cũng đã chứng kiến những mối tình đầu của biết bao lứa đôi: “Đất nước là nơi ta hò hẹn… nhớ thầm”

c Từ quan niệm “Đất nước của nhân dân”, nhân dân làm nên đất nước, tác giả đã có một phát hiện sâu sắc và thú vị: những thắng cảnh thiên nhiên đất nước không chỉ mang màu sắc gấm vóc của non sông, mà chúng còn là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn, truyền thống dân tộc, là sự

“hóa thân” của những cuộc đời bình dị vô danh diễn ra trong mọi thời gian, trong mọi không gian đất nước

“Ôi! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta!”

3 Đất nước trong bề dày văn hóa, tâm hồn cốt cách Việt Nam

Trang 9

a Cũng như hai phương diện trên, bề dày văn hóa, tâm hồn cốt cách Việt Nam không được nói đến qua các danh nhân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lê Quí Đôn, Ngô Thì Nhậm…

mà được thể hiện trong nguồn mạch phong phú của văn hóa dân gian - tiếng nói tâm hồn

nhân dân trải qua từng thời kỳ lịch sử

b Tác giả ca ngợi ba vẻ đẹp nổi bật của tâm hồn, tính cách Việt Nam Đó là thật đắm say và thuỷ chung trong tình yêu! Biết quý trọng tình nghĩa nhưng cũng thật quyết liệt với kẻ thù

5 Kết luận

a “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm là đất nước của nhân dân, của ca dao thần thoại

b Những thi liệu dân gian đậm đà chất thơ kết hợp chặt chẽ với những suy nghĩ giàu chất trí tuệ của tác giả đã làm nên nét đặc sắc đoạn thơ

c Đó là một đóng góp riêng rất quan trọng của Nguyễn Khoa Điềm làm sâu sắc thêm ý

niệm về đất nước của thơ ca hiện đại

Trang 10

BÀI MẪU SỐ 3:

Đất nước là một chủ đề được quan tâm hàng đầu đối với văn học của những đất nước cđ

chiến tranh, vì thế là một chủ

để xuyên suốt lịch sử văn học nước ta Mỗi thời đại có mộ cách hiểu, cách quan niệm riêng

về đất nước Thời trung đại người ta thường quan niệm đất nước gắn liền với công láo của

các triều đại, do các triều đại kế tiếp nhau gây dựng lên Còn ở thời hiện đại, khi người ta

nhìn thấy rõ sức mạnh to lớn của nhân dân, người ta mới thấy rằng đất nước là của nhân

dân Điều này tất nhiên càng được các nhà văn Việt Nam ý thức sâu sắc hơn ai hết khi dân tộc ta tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại chống Mỹ cứu nước Tư tưởng xuyên suốt chương thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm chính là tư tưởng ấy:

“Để đất nước này là đất nước nhân dân

Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao, thần thoại”

Phân tích đoạn trích Đất nước để làm rõ tư tưởng đất nước của nhân dân

Phân tích đoạn trích Đất nước để làm rõ tư tưởng đất nước của nhân dân

Tư tưởng này đã được Nguyễn Khoa Điểm thể hiện một cách nhuần nhuyễn trong cả

chương thơ rất dài, trước hết bằng một chất liệu hết sức phù hợp: chất Ịiệu văn hoá dân gian Quả là viết về tư tưởng đất nước của nhân dân thì không có chất liệu nào có thể có ưu thế

bằng văn hoá dân gian Chính vì thế mà Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác một cách phong

phú vốn văn hoá dân gian giàu có của ta để viết nên bài thơ này Có thể nói cả bài thơ đã

được sáng tạo, tái tạo từ những gì quen thuộc nhất trong nền văn hoá dân gian lâu đời của

người Việt Nam Có thể thấy hàng loạt những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca, hàng loạt những truyện cổ, hàng loạt những phong tục, tập quán, hàng loạt những địa danh rải

trên khắp sông núi đã được huy động vào trong bài thơ này Có những câu thơ, đoạn thơ tác giả trích nguyên văn từ những câu ca dao Nhưng phần quan trọng hơn là những chất liệu ấy

đã được nhào nặn bằng một cảm xúc mới với một ánh sáng mới, khiến cho những câu thơ

vừa rất hiện đại vừa thấm đẫm chất dân gian truyền thống Chúng ta không khó khăn gì khi chỉ ra những truyện cổ, những câu thành ngữ, tục ngữ đã hoá thân thành các câu thơ của

Nguyễn Khoa Điềm Đọc câu:

“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”

hay câu – “Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

Trang 11

Chúng ta có thể thấy ngay trong đó diện mạo của các câu thành ngữ “một nắng hai sương”, câu ca dao “Em ơi chua ngọt đã từng – Gừng cay muối mặn ta đừng quên nhau”, và bài ca dao nổi tiếng:

“Khăn thương nhó ai – khăn rơii xuống dát

Khăn thương nhớ ai – khăn vắt trên vai’

Thậm chí có những câu thơ rất giản dị nhưng dường như đã được nhào nặn, tái tạo từ nhiều nguồn chất liệu khác nhau

Ví như: “Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Nó gợi lên trong chúng ta một tập tục đã ăn sâu vào truyền thống của người Việt: tục ân trầu, nó gợi lên những thành ngữ quen thuộc:

”Miếng trầu là đầu câu chuyện”

“Cơi trầu nên dâu nhà người”

Đồng thời nó cũng gợi lên trong chúng ta một sự tích vào loại cổ nhất của người Việt: “Sự tích trầu cau” Ngoài ra nó cũng đánh thức dậy hình ảnh những miếng trầu đã trở thành các biểu tượng của tình yêu, lòng thuỷ chung: miếng trầu của cô Tấm, miếng trầu của Xuân

Hương Nhờ am hiểu khá sâu sắc và phong phú vốn văn hoá dân gian cho nên ngòi bút của Nguyễn Khoa Điềm tỏ ra rất linh hoạt Người ta thấy rõ những hình ảnh, hình tượng trong

bài “Đất nước” này được khơi dậy, được vun trồng bằng văn hoá dân gian và bản thân

chúng cũng bắt rễ rất sâu vào nguồn văn hoá dân gian ấy Văn hoá dân gian đã nuôi dưỡng cho một hồn thơ, khơi dòng cho một cảm hứng và nuôi dưỡng cho đến từng câu thơ trong

bài “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm

Được viết trong thời chống Mỹ, bài “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm dường như là một

sự nhận thức lại về một vấn đề đã trở nên quen thuộc: vấn đề đất nước Đất nước được hình thành như thế nào? Đất nước của ai, đất nước được hiện lên trong đời sống hàng ngày ra

sao? Nguyễn Khoa Điềm đã nghiền ngẫm để trả lời những câu hỏi ấy vì thế nhà thơ đã

khám phá, phát hiện vé đất nước Mà tựu chung là khám phá trên ba bình diện: bề rộng

không gian, chiều dài lịch sử, bé dày văn hoá ở bình diện nào cũng có những phát hiện thật

lí thú, sắc sảo và hết sức bất ngờ Có lẽ đối với bất cứ Tổ quốc nào thì hai thành phần khởi đầu, hai “nguyên tố”, hai tế bào khởi đầu cho mọi sự sinh thành đều cũng là Đất và Nước

Hai nguyên tố này kết hợp với nhau, giao hoà với nhau để rồi từ đó mà sinh thành nên cái

cơ thể của đất đai, nước non, xứ sở Nguyễn Khoa Điềm đã bắt đầu khám phá bề rộng

không gian từ hai nguyên tố ấy:

Trang 12

“Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đát nưóc là nơi ta hò hẹn

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đoạn thơ trên đây đã được viết bằng tư duy vừa giàu chất trữ tình thơ ca, vừa mang tính

huyền thoại, vừa thấm đượm một phong vị triết học Không phải ngẫu nhiên mà Đất tương ứng với Anh, Nước tương ứng với Em Một yếu tố thuộc Âm, một yếu tố thuộc Dương Khi nói riêng về từng người thì Đất nước cũng tách riêng thành hai chữ Nhưng đến khi Anh với

Em hò hẹn, Anh với Em hợp lại để thành Ta thì Đất và Nước cũng liền lại với nhau thành

Đất Nước Như vậy Đất và Nước hoà hợp cùng với tình yêu và trong tình yêu của con

người Từ đó bắt đầu sự sinh sôi Và khi Em nhớ Anh thì cả Đất Nước dường như cũng

sống trong nỗi nhớ thầm Cho nên câu thơ “Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong

nỗi nhớ thầm” là một câu thơ đẹp trong đótình yêu đôi lứa đã hoà hợp làm một với tình yêu của đất nước

Cứ thế, đất nước lớn lên trong tình yêu Cả trong phạm vi đôi lứa, cả trong phạm vi của

cộng đồng Tư duy của Nguyễn Khoa Điểm cứ mở rộng mãi để bao quát sự sinh thành,

trưởng thành, mở mang của cả đất nước:

“Đất là nơi con chim phượng hoàng bay vê hòn núi bạc

Nước là nơi con cá ngư ông mong nước biền khơi”

“Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ

một dòng tên vô nghĩa Đằng sau mỗi tên đất, tên rừng, tên núi, tên sông là mỗi cuộc đời,

mỗi cuộc đời là một kì tích, một huyền thoại Một mảnh đất chưa có tên là một miền đất

hoang chưa có lịch sử, chưa có sự sống của con người Vì thế khi địa danh lan đi đến đâu thì đất đai được mở rộng đến đó Nó là dấu ấn về sự sinh tồn của dân tộc này Cho nên lần theo những địa danh Nguyễn Khoa Điểm đã dựng lại được cả diện mạo non sông đất nước, mỗi

Trang 13

địa danh đều làm rung động sâu tâm linh của con người: Núi bút non nghiên, hòn Trống

Mái, Vọng Phu, vịnh Hạ Long, sông Cửu Long, ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm…

Mỗi địa danh là một cuộc đời, mối cuộc đời hoá thân thành sông núi Điều đó cũng có nghĩa

là chính nhân dân đã gây dựng, mở mang, gìn giữ nên đất nước này

Một đất nước mới chỉ có lãnh thổ không thôi thì chưa đủ Nó còn phải có lịch sử, lịch sử của một dân tộc chính là sự sống của dân tộc ấy trong chiều dài thời gian Điểm vé lịch sử,

Nguyễn Khoa Điềm không nhắc tên những triều đại nổi tiếng, những anh hùng hữu danh

Trái lại nhà thơ thấy bốn nghìn năm lịch sử là một cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của

bốn nghìn thế hệ Họ cầm trong tay ngọn đuốc sự sống của Việt Nam Mỗi thế hệ chạy một quãng đường và trao lại cho thế hệ kế tiếp:

“Nhưng em biết không

Có biết bao người con gái, con trai

Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ dã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra đất nước”

Cứ như thế sự sống của đất nước được duy trì, được gìn giữ và phát triển bởi vô số những

con người vô danh Và lịch sử cũng không chỉ được hiểu như là những cuộc chống ngoại

xâm kế tiếp Mà lịch sử là toàn bộ sự sống của người Việt Chính những người vô danh đã gìn giữ sự sống này qua những việc rất cụ thể:

‘Họ truyền lửa qua mồi nhà từ hòn than qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân

…vùng lên đánh bại”

Cứ như thế đã suốt bốn nghìn năm, lịch sử này thuộc về những người vô danh, thuộc về

nhân dân

Nói về một đất nước mà mới chỉ dừng lại ở lãnh thổ và lịch sử không thồi thì rõ ràng chưa

đủ Sự sống của một cộng đồng trong thời gian, cẩn phải được kết tinh thành lối sống riêng, cốt cách riêng, tâm hổn riêng, khuôn mặt riêng… không lẫn với những dân tộc khác Có

Ngày đăng: 19/06/2018, 20:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w