1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã phù long và trân châu, huyện cát hải, thành phố hải phòng

116 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

có các nghiên cứu đánh giá về tác động của BĐKH đến các hệ sinh thái tự nhiên, xã hội và kinh tế của 2 xã trên cũng như vẫn thiếu các giải pháp cụ thể cho phát triển sinh kế của người dâ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ BÍCH NGỌC

SINH KẾ BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI XÃ PHÙ LONG VÀ TRÂN CHÂU, HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Ngành: Phát triển bền vững

Mã số : Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TSKH TRƯƠNG QUANG HỌC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến GS.TSKH Trương Quang Học, người hướng dẫn khoa học cho tôi Thầy không chỉ truyền đạt kiến thức cho tôi mà còn truyền cho tôi lòng nhiệt huyết cũng như phương pháp nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình học tập vừa qua Được làm việc và dưới sự hướng dẫn của thầy,tôi thấy mình có được rất nhiều kiến thức bổ ích Tôi xin cảm ơn ECODE – Trung tâm phát triển cộng đồng sinh thái đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn của mình Làm việc với ECODE cùng nhóm nghiên cứu của thầy Trương Quang Học và cô Hoàng Thị Ngọc Hà đã cho tôi những phương pháp nghiên cứu

bổ ích cùng những trải nghiệm, sáng tạo qua những chuyến đi thực tế Và, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giảng viên thuộc Học viện Khoa học – Xã hội, nơi tôi đã nghiên cứu và học tập trong thời gian vừa qua Các thầy, cô không chỉ truyền đạt kiến thức, phương pháp mà còn truyền cho tôi những kinh nghiệm và cách sống cũng như tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành chương trình học Những bài học

mà các thầy, cô truyền đạt cho sẽ luôn là bài học kinh nghiệm cũng như tri thức của bản thân tôi trong suốt quãng đời còn lại

Tôi cũng xin được cảm ơn ban giám hiệu, các đồng nghiệp ở trường THCS Trương Công Định, nơi tôi đang công tác Không có sự động viên, hỗ trợ và sự giúp

đỡ từ cơ quan công tác, tôi sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ học tập suốt 2 năm qua trong điều kiện vừa học vừa làm Tôi cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các đơn

vị, các phòng ban có liên quan đến đề tài nghiên cứu khoa học của tôi: UBND huyện Cát Hải, UBND các xã Phù Long và Trân Châu, sở TN- MT Hải Phòng, trạm khí tượng thủy văn Phù Liễn Có được sự trợ giúp của các phòng, ban là sự giúp đỡ

to lớn để tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn ý nghĩa nhất đến gia đình tôi, những người đã hết lòng ủng hộ tôi về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành chương trình học này

Đỗ Bích Ngọc

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Trương Quang Học, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Hà Nội, ngày 25/3/2018

Học viên

Đỗ Bích Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ SINH KẾ BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 24

1.1 Một số khái niệm 24

1.2 Cách tiếp cận 32

1.3 Tiêu chí đánh giá SKBV trong bối cảnh BĐKH 36

1.4 Kinh nghiệm một số địa phương về sinh kế bền vững 37

Chương 2 THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN XÃ PHÙ LONG VÀ TRÂN CHÂU TRONG THỜI GIAN QUA 41

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 41

2.2 Tác động của BĐKH đến khu vực huyện Cát Hải 56

2.3 Tác động từ sự thay đổi quy hoạch sử dụng đất trong Quy hoạch mới về phát triển KT-XH đảo Cát Hải 64

2.4 Thực trạng phát triển sinh kế tại xã Phù Long và Trân Châu 66

2.5 Đánh giá SKBV trong bối cảnh BĐKH và những vấn đề đặt ra: 69

Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH BĐKH Ở KHU VỰC HUYỆN ĐẢO CÁT HẢI ĐƯỢC ĐỀ XUẤT 76

3.1 Dự báo diễn biến BĐKH ở khu vực huyện đảo Cát Hải 76

3.2 Cơ sở và nguyên tắc đề xuất giải pháp 78

3.3 Đề xuất cụ thể các giải pháp sinh kế thích ứng BĐKH 78

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, HÌNH BẢNG

Bảng 1 Cơ cấu phiếu phân theo đợt khảo sát 21

Bảng 2 Ma trận 5*5 phân tích 5 yếu tố của hệ thống thể hiện tính dễ tổn thương và năng lực chống chịu, ứng phó BĐKH của cộng đồng 22

Bảng 2.1: Diện tích nuôi trồng thủy sản đảo Cát Bà ( 2016 ) 47

Bảng 2.2 Các nguồn thu nhập chính của cá nhân và nhóm hộ điều tra 57

Bảng 2.3 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao A2 (cm) 58

Bảng 2.4 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình B2 (cm) 59

Bảng 2.5 Đánh giá tình hình sinh kế tại Phù Long và Trân Châu 67

Bảng 2.6 Xếp loại mức độ ưu tiên can thiệp, hỗ trợ cho các sinh kế trên địa bàn 2 xã(ưu tiên cao nhất là 1) 72

Bảng 3.1 Mức tăng nhiệt độ trung bình (oC) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 của Hải Phòng ứng với kịch bản phát thảitrung bình (B2) 76

Bảng 3.2 Mức tăng nhiệt độ trung bình (oC) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 của Hải Phòng ứng với kịch bản phát thải thấp (B1) 77

HÌNH Hình 1 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng 2016 2

Hình 2 (a): Nhiệt độ trung bình bề mặt của đất và đại dương toàn cầu giai đoạn từ 1850 đến 2012; và (b) Thay đổi mực nước biển trung bình toàn cầu giai đoạn 1901 – 2012 5

Hình 3: Khung sinh kế bền vững của DFID 8

Hình 1.1 Sơ đồ mối tương tác của BĐKH và các hợp phần của hệ sinh thái-nhân văn (A) và Khung các vấn đề của BĐKH (B) (Nguồn IPCC 33

Hình 1.2 Các hệ tự nhiên và các dịch vụ HST như một hợp phần quan trọng trong chiến lược tổng thể để quản lý tổng hợp tài nguyên, giúp con người 34

Hình 1.3 Khung sinh kế bền vững DFID 35

Hình 2.1 Bản đồ hành chính Tp Hải Phòng 41

Trang 6

Hình 2.2 Bản đồ huyện đảo Cát Hải 42

Hình 2.3 Đặc trưng nhiệt độ khu vực Hải phòng 44

Hình 2.4 Bản đồ xã Trân Châu 45

Hình 2.5 Cơ cấu kinh tế các xã năm 2016 50

Hình 2.6 Xu thế biến đổi của nhiệt độ qua các năm tại trạm Phù Liễn 52

Hình 2.7 Mực nước biển dương tại trạm Hòn Dáu – Đồ Sơn – Hải Phòng 2014 52

Hình 2.8 a Xu thế biến đổi của lượng mưa trong mùa mưa tại trạm Phù Liễn (HP) 53

Hình 2.8 b Xu thế biến đổi của lượng mưa trong mùa khô tại trạm Phù Liễn (HP) 53

Hình 2.9 Bản đồ nguy cơ ngập khu vực Hải Phòng ứng với mực NBD 1m Màu đỏ là khu vực bị ngập 60

Hình 2.10: Lược đồ quy hoạch đảo Cát Bà 65

Hình 2.11 Quy hoạch tổng dự án cáp treo của Sungroup 66

Hình 3.1.a.Mức tăng nhiệt độ trung bình mùa đông vào giai đoạn 2050 Với thời kỳ 1980 - 1999 ở Tp Hải Phòng ứng với kịch bản phát thải TB(B2) 78

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

BĐKH Cimate change Biến đổi khí hậu

COP Conference of the Parties Hội nghị cấp cao Liên Hợp Quốc về Biến đổi

khí hậu

DFID Department for International

Development

Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh DTSQ Biosphere Reserve Dự trữ sinh quyển

EbA Ecosystem-based Adaptation Thích ứng dựa vào hệ sinh thái

HVCA Hazard – Vulnerability –

Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu

IUCN International Union for

Conservation of Nature Tổ chức Bảo tồn Thiên nhi ên Quốc tế

MAB Vietnam Man and Biosphere MAB Vietnam

MONRE Ministry of Natural Resources

and Environment Bộ Tài nguyên và Môi trường

MCD

Center for Marinelife Conservation and Community Development

Trung tâm B ảo tồn sinh vật biển và Phát tri

ển cộng đồng

Trang 8

NGO Non-Government

Organnization Tổ chức phi chính phủ

PRA Participatory Rural Appraisal Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham

gia RRTT Disaster risk Rủi ro thiên tai

SWOT Strength – Weekness –

Opportunity – Threats Điểm mạnh – Yếu – Cơ hội – Thách thức

UNDP United Nations Development

Programme Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc

UNEP United Nations Environment

Programme Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc UNESCO

United Nations Educational, Scientific and Cultural Oganization

T ổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa c

ủa Liên Hợp Quốc UNFCCC

United Nations Framework Convention on Climate Change

Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Bi

ến đổi khí hậu WCED

World Commision on Environment and Development

Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát tri ển

Organization Tổ chức Khí tượng Thế giới

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới hiện nay đang đối mặt với rất nhiều cuộc khủng hoảng Đó là: khủng hoảng lương thực, khủng hoảng tài chính, khủng hoảng năng lượng, suy thoái tài nguyên, và một trong những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất, diễn ra trên phạm vi toàn cầu là cuộc khủng hoảng khí hậu – hay còn gọi là biến đổi khí hậu( BĐKH) BĐKH với biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng… đang trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng nhất của nhân loại trong thế kỉ 21 BĐKH tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống của con người: sức khỏe, kinh tế, xã hội, môi trường Song tùy từng vị trí địa lý, tình hình phát triển, mức độ thích ứng cụ thể của từng địa phương, từng quốc gia mà mức độ ảnh hưởng của BĐKH sẽ ít hay nhiều

Việt Nam là một quốc gia với đường bờ biển dài hơn 3260km, có 28 tỉnh, thành nằm ven biển, nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thô để xuất khẩu, đặc biệt là nguồn tài nguyên biển Vì vậy nên đây là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của tình trạng BĐKH đang diễn ra hiện nay( WB 2007) Một trong hai địa điểm chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH theo kịch bản BĐKH mới nhất năm 2016 chính là đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) Khu vực này được dự báo theo kịch bản năm 2016 là mực nước biển dâng sẽ làm mất đi trên 10% diện tích Trong đó phải kể đến dải ven biển ( DVB ) với chiều dài 3260km đường bờ biển WB năm 2007 đã dự đoán rằng khu vực DVB chính là nơi chịu nhiều tác động nặng nề nhất của BĐKH mà trực tiếp chính là tình trạng mực nước biển dâng, thiên tai, lũ lụt, những hậu quả về môi trường…Họ tính rằng, nếu mực nước biển dâng thêm 1m thì Việt Nam sẽ đối mặt với mức thiệt hại lên tới 17 tỉ USD/năm ( tương đương 10% GDP ), 1/5 dân số mất nhà cửa, 12,3% diện tích đất trồng trọt biến mất, 40.000km2 diện tích đồng bằng( 39% ĐBSCL và 10% ĐBSH)…Hải Phòng – một thành phố thuộc khu vực ĐBSH và nằm trên DVB của nước ta

Cũng như các khu vực ven biển khác, nơi đây cũng được đánh giá là khu vực chịu tác động mạnh mẽ của hiện tượng BĐKH tiêu biểu như nhiệt độ tăng, nước

Trang 10

Hình 1: Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng 2016

( Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Với diện tích khoảng hơn 300km2, địa hình nơi đây tương đối phức tạp, rừng núi chiếm 2/3 diện tích của huyện đảo Huyện có 2 đảo hợp thành là đảo Cát Hải và quần đảo Cát Bà Huyện có 336 hòn đảo trong đó đảo Cát Bà là đảo lớn nhất Cát Hải có 10 xã và 2 thị trấn Huyện có gần 31 ngàn người dân sinh sống( 2012 ) Với

vị trí nằm tách biệt giữa biển, huyện đảo không chỉ gặp những khó khăn về sự chênh lệch phát triển kinh tế - xã hội giữa đất liền và hải đảo, giữa miền đồng bằng

và miền biển mà còn phải đối mặt với các điều kiện thời tiết, thiên tai rất phức tạp khiến cho cuộc sống của người dân càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa Không chỉ dừng ở đây, hiện nay đảo Cát Bà đang đồng thời đối mặt với các rủi ro của BĐKH

và những thay đổi thực sự trong quy hoạch sử dụng đất của chính phủ, của thành phố với dự kiến biến một vùng dân cư có sinh kế truyền thống là nông nghiệp và

Trang 11

có các nghiên cứu đánh giá về tác động của BĐKH đến các hệ sinh thái tự nhiên, xã hội và kinh tế của 2 xã trên cũng như vẫn thiếu các giải pháp cụ thể cho phát triển sinh kế của người dân đảo trong giai đoạn có nhiều sự chuyển đổi mạnh mẽ này Trong khi đó, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu: “đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển…” , trong đó nhấn mạnh việc ưu tiên phát triển kinh tế cho người dân hải đảo trong bối cảnh BĐKH Như vậy, nếu có các nghiên cứu đánh giá tác động BĐKH và các đề xuất phù hợp cho sinh kế, huyện đảo Cát Hải sẽ có thêm cơ hội và tranh thủ được nguồn lực từ các chương trình, dự án quốc gia ưu tiên cho vùng biển đảo

Trong bối cảnh như vậy, chúng tôi đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp

chương trình thạc sĩ phát triển bền vững là: “ Sinh kế bền vững trong bối cảnh

biến đổi khí hậu tại xã Phù Long và Trân Châu, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Nghiên cứu trên thế giới

Trong thế kỉ 21, BĐKH đã trở thành vấn đề toàn cầu và là mối quan tâm không riêng gì quốc gia nào.Lần đầu tiên, vào năm 1896 vấn đề BĐKH đã được Arrhenius, nhà khoa học người Thụy Điển đề cập đến Cuối thập niên 1980, tổ chức IPCC - Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH ra đời cùng với Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đồng thành lập (năm 1988) nhằm đánh giá "các thông tin khoa học, kỹ thuật và KT-XH cho phép tìm hiểu các nguy cơ của BĐKH do con người gây ra” (IPCC, 2007) Kể từ đó đến nay, nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học đã tập trung vào đánh giá tác động của BĐKH tại các khu vực, vùng lãnh thổ và đặc biệt là tại các quốc gia được dự báo là sẽ hứng chịu nhiều rủi ro nhất do BĐKH trong đó có Việt Nam

Những nghiên cứu và triển khai về BĐKH trong thời gian qua đã được phân tích và tổng kết trong 5 báo cáo của IPCC (Báo cáo lần 1, 1990; Báo cáo lần 2,

Trang 12

tỏ thế giới đang nóng lên và các hoạt động của con người là nguyên nhân chủ yếu Cũng theo báo cáo này, việc tăng đáng kể nồng độ các khí nhà kính CO2, CH4 và N2O kể từ năm 1750 đến nay chính là hậu quả từ các hoạt động của con người Nhiệt độ bề mặt trung bình của Trái Đất đã tăng khoảng 0,740C trong 100 năm qua (1906 - 2005) Con số này cao hơn so với báo cáo năm 2001 với mức 0,60C do những năm gần đây liên tục có những đợt nóng cực điểm Cho đến năm 2014, IPCC

đã tổng hợp hàng loạt các nghiên cứu từ nguyên nhân đến hệ quả (sự tăng nhiệt độ

bề mặt trái đất, sự tăng lên của mực nước biển, cùng với những biến đổi về thời tiết, thủy văn, hải dương ), từ tác động của nó đối với tự nhiên, môi trường, các đối tượng KT-XH đến việc xây dựng giải pháp thích ứng và chiến lược ứng phó toàn cầu Các báo cáo của IPCC là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị Thượng đỉnh của LHQ về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro,1992; Hội nghị các bên nước tham gia UNFCCC (từ COP 1 đến COP 23) Qua các báo cáo của IPCC, từ cuối thế kỷ XIX đến nay có thể nhận thấy được xu thế chung là nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể Nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,6oC (+/- 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển; thập kỷ 90 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2007) [36] Tháng 9 năm 2013, IPCC đã công bố tóm tắt Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5-WG1) về hiện trạng BĐKH toàn cầu theo góc nhìn vật lý cơ bản, do Nhóm công tác số 1 thuộc IPCC soạn thảo (Kỷ Quang Vinh, 2013) [73] Theo tài liệu này, trong ba thập kỷ vừa qua, cứ sau mỗi thập kỷ bề mặt trái đất đã liên tục nóng lên hơn bất kỳ thập kỷ nào trước đó kể từ năm 1850 (xem hình 1.3 a,b) Ở Bắc bán cầu, giai đoạn từ 1983 đến 2012 dường như là khoảng thời gian 30 năm ấm nhất trong 1.400 năm qua

Trang 13

Tại hội nghị về BĐKH do Liên Hợp Quốc tổ chức tại New York (Mỹ) vào ngày 23/9/2014, các chuyên gia chỉ ra rằng, cần hành động nhanh chóng để tránh các thảm họa trong tương lai như: những đợt nắng nóng, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng Ủy ban Toàn cầu về Kinh tế và Khí hậu cũng cho biết, trong vòng 15 năm tới, thế giới cần đầu tư 90.000 tỷ USD, trong đó tập trung vào 3 lĩnh vực chủ chốt là năng lượng xanh, xây dựng thành phố ít cacbon và sử dụng đất đai hợp lí Điều đáng mừng, các quốc gia đang dần tìm được tiếng nói chung trong các nỗ lực cùng hành động ứng phó với BĐKH Vừa qua, Hội nghị lần thứ 20 các Bên tham gia Công

Trang 14

về ứng phó với BĐKH giai đoạn sau 2020, EU nêu cam kết cắt giảm phát thải khí nhà kính giai đoạn 2020-2030 và, các nước ASEAN vừa ký tuyên bố chung ASEAN-Hoa

Kỳ về BĐKH (Báo điện tử của Chính phủ Việt Nam, 2014) [74] Tại COP21, thỏa thuận Paris - Thỏa thuận lịch sử toàn cầu chống biến đổi khí hậu Mục tiêu quan trọng của Thỏa thuận này giữ nhiệt độ của trái đất đến năm 2100 là không quá 2° và gắng tiến tới ngưỡng thấp hơn 1,5 độ C Và đây cũng là lần đầu tiên, thế giới thống nhất là đặt mục tiêu đạt sự cân bằng giữa lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính và hấp thụ từ rừng hay biển vào giữa thế kỷ này Để đạt được mục tiêu này, các chính phủ cam kết ngăn chặn sự gia tăng của lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính một cách “sớm nhất có thể” Thỏa thuận đưa ra, đến sau năm 2050, lượng khí thải do con người tạo ra phải được giảm xuống mức mà các khu rừng và đại dương có thể hấp thụ hoàn toàn

Tóm lại, trên phạm vi quốc tế, việc nghiên cứu, đánh giá BĐKH, tác động của

nó cũng như đề xuất các giải pháp, chiến lược và kế hoạch ứng phó với BĐKH hiện nay đã trở thành vấn đề toàn cầu BĐKH đang là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trên các diễn đàn khoa học quốc tế và thu hút rất nhiều các nhà nghiên cứu tham gia Các nghiên cứu và triển khai về các giải pháp thích ứng, đặc biệt là về sinh kế cho cộng đồng vùng ven biển đang được quan tâm nhiều và đó là một trong những hoạt động trọng tâm của nhiều nghiên cứu, dự án thuộc mảng thích ứng BĐKH hiện nay Tuy vậy, vẫn còn nhiều vấn đề cần được thảo luận để có được sự đồng thuận như các nghiên cứu dựa vào cộng đồng đã không được chú trọng đúng mức (Reidlinger and Berkes, 2001) và các sản phẩm của mô hình khí hậu toàn cầu

và các kịch bản là quá thiếu các thông tin chi tiết phục vụ quy hoạch có hiệu quả và

các biện pháp thích ứng ở quy mô địa phương (Dolan and Walker, 2004)

Ý tưởng về sinh kế được đề cập trong các tác phẩm nghiên cứu của Chambers vào những năm 1980 Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên

cứu của Ellis, Barret và Reardon… Có rất nhiều định nghĩa về sinh kế như sau:

Trang 15

7

Chambers và Conway (1992) cho rằng sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự

trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để đảm bảo phương tiện sinh sống

Sinh kế có thể được diễn tả như là sự kết hợp của các nguồn tài nguyên được sử

dụng và các hoạt động được thực hiện để sống Các tài nguyên đó có thể bao gồm cả các khả năng và kỹ năng của con người (vốn con người), đất đai, tiền tiết kiệm và trang thiết bị (vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn vật chất), và các dịch vụ hỗ trợ chính thức hoặc không chính thức cho các hoạt động (vốn xã hội) (Farrington và cs, 1999)

Trong nhiều nghiên cứu của mình, Ellis (2010) cho rằng sinh kế bao gồm những tài sản, những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), và theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hay nông hộ

Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình

Kể từ Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro ở Brazil năm 1992, PTBV đã trở thành xu thế chung mà toàn nhân loại đang nỗ

lực hướng tới Theo đó, trong phát triển nông thôn xuất hiện xu hướng phát triển sinh

kế bền vững bao gồm cả các mục tiêu giảm nghèo (Bộ TN & MT và CCWG, 2015)

Trước đây, hoạt động sinh kế được hiểu là những phương tiện kiếm sống nhằm phục vụ nhu cầu cơ bản của cuộc sống (Ví dụ: thực phẩm, chỗ ở, quần áo,

thuốc men ) Khái niệm về sinh kế bền vững cũng được hiểu là những nỗ lực để

xoá đói giảm nghèo (Krantz, 2001) Tuy nhiên, các khái niệm đó chưa bao quát

được hết mọi khía cạnh của hoạt động sinh kế, đặc biệt là các nguồn lực làm hạn

chế hoặc tăng cường khả năng của con người

Khái niệm về sinh kế bền vững được Chambers và Conway (1992) mở rộng

hơn Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đu o ng đầu và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoạ c cải thiẹ n na ng lực và tài sản, và cung cấp các co họ i sinh kế bền vững cho các thế hẹ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp đọ địa phu o ng hoạ c toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn (Chambers Conway, 1992) Một số nghiên cứu của Barret và Reardon (2000) khẳng định các chính sách

để xác định sinh kế người dân theo hướng bền vững được xác định liên quan chặt

Trang 16

là yếu tố nền tảng trong quyết định một sinh kế có bền vững hay không

Dựa trên nền tảng nghiên cứu điển hình của Chambers và Conway, đã có rất nhiều

lập luận được điều chỉnh cho khái niệm sinh kế bền vững Đặc biệt quan trọng là

đóng góp của Scoones và các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển(IDS) tại trường Đại học Sussex, Vương quốc Anh và Bộ phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFI

Hình 3: Khung sinh kế bền vững của DFID

- Khu vực

tƣ nhân

CHIẾN LƢỢC SINH

H

S

N

N: Nguồn vốn tự nhiên (Natural Capital) P: Nguồn vốn vật chất (Physical Capital)

S: Nguồn vốn xã hội (Social Capital)

Trang 17

9

Tổ chức DFID đã xây dựng khung sinh kế bền vững như là một công cụ nhằm

xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể (Hình 1.2)

Cách tiếp cận sinh kế bền vững để giảm nghèo đã được Krantz khẳng định và

so sánh dựa trên ba khung phân tích sinh kế bền vững của UNDP, CARE và DFID Trong đó, sinh kế bền vững được coi là phương pháp hữu hiệu nhất để xóa bỏ đói nghèo trong bối cảnh nhiều biến động như hiện nay

Như vậy, sinh kế bền vững là sinh kế: 1) Có thể phục hồi và đối mặt với các cú

sốc và khủng hoàng; 2) Không quá phụ thuộc vào sự hỗ trợ bên ngoài; 3) Duy trì và bảo tồn được tài nguyên; 4) Không bị suy yếu và suy giảm theo thời gian (Bộ TN &

MT và CCWG, 2015)

Nhiều tác giả (Scoones, 1998; DFID, 1999, 2001) đều thống nhất đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế:

• Bền vững về kinh tế: được đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu gia tăng thu nhập

• Bền vững về xã hội: được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như: tạo thêm việc làm, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực,cải thiện phúc lợi

• Bền vững về môi trường: được đánh giá thông qua việc sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên (đất, nước, rừng, tài nguyên thủy sản…), không gây hủy hoại môi trường (như ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường) và có khả năng thích ứng trước những tổn thương và cú sốc từ bên ngoài

• Bền vững về thể chế: được đánh giá thông qua một số tiêu chí như: hệ thống pháp luật được xây dựng đầy đủ và đồng bộ, qui trình hoạch định chính sách có sự tham gia của người dân, các cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư hoạt động có hiệu quả; từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách để giúp các sinh kế được cải thiện một cách liên tục theo thời gian (Nguyễn Văn Sửu, 2010; Nguyễn Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2017 Kinh tế và chính sách BĐKH, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân[53, 12]

Trang 18

và ảnh hưởng đến gần 1,5 tỷ người tiêu dùng thủy sản trên thế giới Và để ứng phó với BĐKH thì cần chú ý: (i) cung cấp trước thông tin dự báo về BĐKH hỗ trợ cho lập kế hoạch ứng phó; (ii) cần công nhận và tận dụng các cơ hội có lợi từ BĐKH đối với ngành thủy sản, (iii) các chiến lược thích ứng với BĐKH cần được thiết kế trên quan điểm đa ngành, liên ngành, và (iv) phải ghi nhận những đóng góp tiềm năng của thủy sản trong các nỗ lực giảm nhẹ (Badjeck et al., 2010)

2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về BĐKH đã được tiến hành từ những thập niên

90 của thế kỷ 20 Tháng 6 năm 1992, để chuẩn bị tham gia Hội nghị Môi trường và Phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janeiro, Brazin, 1992, các nhà khoa học Việt Nam đã thực hiện và công bố báo cáo “BĐKH và tác động của chúng

ở Việt Nam” Năm 1994, các nhà khoa học như Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu… đã tham gia thực hiện dự án “BĐKH ở châu Á” do ADB tài trợ; Bộ Thủy lợi chủ trì đã hoàn thành báo cáo về: 1) BĐKH ở Việt Nam trong 100 năm qua; 2) Tác động của BĐKH đến NBD và một số ngành kinh tế quốc dân; 3) Kiểm kê quốc gia KNK năm 1990 ở Việt Nam

Từ những năm 1998 - 2003, Tổng Cục Khí tượng Thủy văn, nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho UNFCCC, trong đó tổng kết BĐKH của Việt Nam trong 100 năm gần đây, kiểm kê quốc gia KNK 1993 và ước tính KNK các năm 2020, 2050, đánh giá tác động của

nó đến các lĩnh vực KT-XH, xây dựng kịch bản BĐKH, kiến nghị các giải pháp giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH ở Việt Nam (Bộ TN MT, 2003, 2008) [2] Vào ngày 02/12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 158/2008/QĐ – TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (NTP-RCC) với mục tiêu chiến lược của Chương trình là nhằm nâng cao khả năng ứng phó với BĐKH của Việt Nam trong từng giai đoạn cụ thể; bảo đảm sự phát

Trang 19

Trong chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 “Khoa học và công nghệ phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH” được ban hành theo quyết định số 2630/QĐ-BKHCN ngày 29 tháng 08 năm 2011 Chương trình có 3 mục tiêu và 5 nội dung chính: i) Nghiên cứu

cơ sở khoa học xây dựng cơ sở dữ liệu về BĐKH và tác động của BĐKH đối với một số ngành , lĩnh vực dễ bị tổn thương; ii) Nghiên cứu bản chất khoa học của BĐKH; đánh giá thực trạng và mức độ của BĐKHở Việt Nam; iii) Nghiên cứu cơ

sở khoa học cho việc đánh giá tác động của BĐKH, tính dễ tổn thương do BĐKHvà các giải pháp thích ứng với BĐKH; iv) Nghiên cứu cơ chế chính sách, định hướng công nghệ để giảm nhẹ BĐKH (cụ thể là làm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính), tận dụng các cơ hội để phát triển hướng tới nền kinh tế các-bon phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam, và; v) Nghiên cứu cơ sở khoa học để tích hợp vấn đề BĐKHvào các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành và địa phương Từ năm 2011 đến 2013 đã có 33 nhiệm vụ của Chương trình được thực hiện (Trương Quang Học và nnk, 2014) [31]

Từ khi ký kết UNFCCC năm 1994 và KP năm 2002, Chính phủ Việt Nam

đã có rất nhiều nỗ lực, thông qua công tác xây dựng chính sách và luật pháp và đã

có một số sáng kiến thích ứng và giảm nhẹ để ứng phó với những mối đe dọa từ BĐKH Một đánh giá quan trọng về môi trường chính sách hiện hành liên quan đến thích ứng với BĐKH bao gồm: Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH (NTP-RCC) (2008), Định hướng Chiến lược Phát triển Bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21) (2008); Thông báo Quốc Gia lần thứ nhất cho UNFCCC (2003) đưa ra đánh giá tính dễ bị tổn thương và thích ứng đối với những

Trang 20

12

tác động của BĐKH dựa trên những mô hình đang sử dụng tại thời điểm đó và đưa

ra những phương án giảm nhẹ KNK Thông báo quốc gia thứ hai cho UNFCCC được hoàn thành năm 2010, bao gồm các phát hiện của các đánh giá sâu hơn về tính

dễ bị tổn thương và thích ứng cũng như đưa ra một khung chính sách thực hiện những ứng phó mang tính chiến lược (Bộ TN MT, 2010) [5]; Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh trong đó chú trọng các giải pháp kinh tế nhằm giảm phát thải KNK và nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH (QĐ của TTCP, 2014) [64]

Trong đánh giá tính dễ bị tổn thương, theo xu hướng của thế giới, từ đầu những năm 2000, ở Việt Nam, cũng đã có những nhà nghiên cứu, ứng dụng các lý thuyết và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với các ngành khoa học

khác nhau Mai Trọng Nhuận và cs (2004, 2009) đã nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương về môi trường, vùng ven biển Việt Nam, đới duyên hải Nam Trung Bộ, đới ven biển Phan Thiết–Hồ Tràm, tài nguyên địa chất tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu [47, 48] Cũng theo hướng nghiên cứu này, Thái Thành Lượm và cs (2008) đã đánh giá mức độ tổn thương hệ thống tự nhiên KT-XH vùng biển Hà Tiên – vịnh Cây Dương (Kiên Giang) [40] Võ Hồng Tú và cs (2012) đã đánh giá tổn thương sinh kế nông

hộ bị ảnh hưởng lũ tại tỉnh An Giang và các giải pháp ứng phó Kết quả của nghiên cứu này đã cho thấy được vốn sinh kế của người dân là dễ bị tổn thương cao khi có

lũ Thiên về hướng rủi ro kinh tế (Võ Hồng Tú và cs., 2012) [66]

Những nghiên cứu về vấn đề BĐKH đối với khu vực ven biển, hải đảo hoặc tác động của BĐKH đến nông nghiệp, cách tiếp cận hệ sinh thái trong ứng phó với BĐKH… những năm gần đây có nhiều đóng góp quan trọng trong đó có thể kể đến

một số tác giả: Đinh Vũ Thanh và Nguyễn Văn Viết, 2013 với “Tác động của BĐKH đến các lĩnh vực Nông nghiệp và giải pháp ứng phó” [56]; Nguyễn Thị Kim Cúc, (2011) với nghiên cứu “Thích ứng của hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển dưới tác động của nước biển dâng – Nghiên cứu ở ĐB Sông Hồng” [9];

Trương Quang Học trong báo cáo “Tác động của BĐKH lên đất ngập nước” [28];

Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, (2012) với “BĐKH và sinh kế ven biển” [12]; Nguyễn Hoàng Trí (2012) với báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất phương pháp đánh

Trang 21

về san hô thế giới trong bối cảnh BĐKH và đề xuất cho vùng biển Việt Nam”

Và đáng chú ý trong thời gian này phải kể đến những nghiên cứu của Trương Quang Học theo hướng tiếp cận liên ngành, xuyên ngành trong ứng phó với BĐKH

và PTBV – một vấn đề mang tính liên ngành trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay (Trương Quang Học, 2008b, 2012, 2013)

Đến năm 2011, Tổng cục Môi trường đã hoàn thành báo cáo “Điều tra, đánh giá và cảnh báo biến động của các yếu tố khí tượng thuỷ văn và sự dâng cao mực nước biển do BĐKH có nguy cơ gây tổn thương TN - MT vùng biển và dải ven biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp phòng tránh và ứng phó” Trong báo cáo đã phân

tích, đánh giá biến động, xu thế và quy luật hoạt động của các yếu tố khí tượng, thủy văn gây tổn thất trong mối liên hệ với sự BĐKH, trong đó khẳng định bão, ATNĐ, gió mùa, thủy triều là các nhân tố chính tạo ra sự dâng, rút của mực nước biển [59]

Thực hiện Chương trình NTP-RCC, Bộ TN MT đã hoàn thành việc cập nhật Kịch bản BĐKH, NBD cho Việt Nam và chính thức công bố vào tháng 06 năm

2012 Năm 2014, Nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và

BĐKH gồm Mai Văn Khiêm và cs đã công bố đề tài "Nghiên cứu xây dựng Atlas khí hậu và BĐKH Việt Nam" thuộc Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ

Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH Đây là một đóng góp quan trọng do đã đúc kết và minh họa được những quy luật, đặc điểm phân bố của khí hậu và BĐKH ở Việt Nam trong thế kỷ 20 và thập kỷ đầu của thế kỷ 21, đồng thời

Trang 22

“Đánh giá tác động của cơ chế chi trả cho hấp thụ cacbon đến ra quyết định và tính

dễ bị tổn thương của hộ gia đình với BĐKH ở Việt Nam”; Lưu Thị Hương Giang, (2013) với “Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng và vấn đề sử dụng thông tin khí hậu”; Dư Văn Toán, (2013) có báo cáo “Tác động và giải pháp phòng chống thiên tai trước BĐKH dựa vào cộng đồng tại các xã bãi ngang vùng ven biển Việt Nam”; Phạm Thị Bích Ngọc và Trương Quang Học, (2013) có báo cáo “Nâng cao nhận thức

và đào tạo nguồn nhân lực ứng phó với BĐKH cho các tổ chức phi chính phủ”

Qua kết quả nghiên cứu tổng hợp ở trên cho thấy, Việt Nam bước đầu đã có những nghiên cứu về BĐKH, gồm cả nghiên cứu đánh giá tác động và tìm kiếm các giải pháp ứng phó, trong đó đã chú ý nhiều đến vấn đề BĐKH tác động đến hệ sinh thái và cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng ven biển Đáng lưu ý là các nghiên cứu đã xây dựng được hệ thống thể chế, xây dựng được kịch bản BĐKH và NBD của quốc gia và có những nghiên cứu, đánh giá tác động, khả năng ứng phó và các giải pháp thích ứng, giảm nhẹ BĐKH tại các địa phương Tuy nhiên, nhìn chung hiện nay, ở các địa phương vùng ven biển Việt Nam, các nghiên cứu về BĐKH và tác động của BĐKH đến sinh kế cộng đồng vẫn còn thiếu chiều sâu và chưa đồng bộ Nhiều địa phương còn thiếu những nghiên cứu chuyên sâu nhằm đánh giá toàn diện tác động của BĐKH đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên, KT-XH và cộng đồng Các nghiên cứu đánh giá nguy cơ tổn thương và năng lực ứng phó với BĐKH của cộng đồng các vùng biển, hải đảo ở Việt Nam cũng chưa được thực hiện đầy đủ, toàn diện trong khi các nguy cơ rủi ro về BĐKH – NBD và sự thay đổi các quy hoạch phát triển kinh tế vẫn gia tăng Vì vậy, hướng nghiên cứu này trong thời gian tới cần được tiếp tục đẩy mạnh, đặc biệt là cần có thêm nhiều nghiên cứu về sức chống chịu và giải pháp tăng cường sức chống chịu của hệ sinh thái - xã hội của các vùng hải đảo trước tác động của BĐKH

Trang 23

Dựa trên tiếp cận sinh kế bền vững, Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2012) đã thử sử dụng bộ số liệu điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2008 và đã xác định mười chiều đo đại diện cho bốn nhóm tài sản sinh kế là vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, và vốn tài chính của hộ gia đình nông thôn Việt Nam dựa trên các phương pháp thống kê đa biến Sau đó, nghiên cứu này tiếp tục dựa vào khung phân tích sinh kế bền vững (DFID, 1999) để xác định các chỉ báo đo lường nghèo đa chiều cho hộ gia đình nông thôn Việt Nam và sử dụng

bộ dữ liệu VHLSS 2010 để kiểm tra lại tính nhất quán của các chiều đo và các chỉ báo nghèo đa chiều

Trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan giai đoạn II (1997 - 2002) đã có nhiều nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững, trong đó một

số những nghiên cứu giải pháp xây dựng mô hình kinh tế nông lâm ngư kết hợp ở Vườn Quốc gia Bạch Mã (Nguyễn Thị Nguyệt, 2005); Giải pháp phát triển kinh tế nông lâm nghiệp bền vững vùng đồi nghèo khó xã Viên Thành, Yên Thành, Nghệ

An (Ngô Trực Nhà, 2005)… Những nghiên cứu này bước đầu xác lập cơ sở khoa học cho những giải pháp nhằm nâng cao tính bền vững của sinh kế nông thôn

Các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam đã thực hiện một số dự án nâng cao

sinh kế theo hướng bến vững như “Dự án sinh kế bền vững cho phụ nữ nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc” do Liên minh Hợp tác xã Canada (CCA) tài trợ năm 2012;

Dự án “Các tổ chức phi chính phủ Viêt Nam hướng tới sinh kế của các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” của Trung tâm SRD Hay trong khuôn khổ Dự

án Giảm nghèo khu vực Tây Nguyên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối với với Ngân

hàng Thế giới (2014) phát hành Sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án: Phát triển sinh

kế bền vững nhằm hướng dẫn các tổ chức thực hiện dự án thúc đẩy sinh kế bền

vững hiệu quả

Một số những nghiên cứu trong khuôn khổ luận án tiến sĩ hay luận văn cao học của Nguyễn Văn Cường (2005), Phùng Văn Thạch (2012), Nguyễn Hoàng Hoa

Trang 24

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu nghiên cứu:

Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về sinh kế bền vững, luận văn làm rõ thực trạng phát triển sinh kế tại địa bàn nghiên cứu hiện nay, từ đó đề xuất được các giải pháp sinh kế bền vững tại đây

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Đánh giá được hoạt động sinh kế của người dân và tổng quan các tác động của BĐKH đối với sinh kế

- Đề xuất được các giải pháp tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của người dân tại địa bàn nghiên cứu nhằm thích ứng được với thực trạng BĐKH

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Sinh kế bền vững trong bối cảnh BĐKH

- Về chuyên môn: được giới hạn trong các vấn đề sau:

BĐKH: BĐKH được phân tích dựa trên các biểu hiện chính: nhiệt độ trung bình và tính bất thường của thời tiết tăng; các hiện tượng thiên tai, khí hậu cực đoan gia tăng về tần suất cũng như cường độ nước biển dâng và gia tăng xâm nhập mặn BĐKH được phân tích theo diễn biến: quá khứ(30 năm trở lại đây) , hiện tại và trong tương lai( theo kịch bản BĐKH cho Hải Phòng)

Trang 25

17

Sinh kế bền vững: Nghiên cứu các loại sinh kế của người dân tại 2 xã trên và

đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tính bền vững cho các sinh kế đó trong bối cảnh BĐKH

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Nếu áp dụng Khung sinh kế bền vững của DFID kết hợp với cách tiếp cận thích ứng dựa vào cộng đồng sẽ tìm ra được giải pháp nhằm tăng cường tính bền vững cho sinh kế của người dân tại địa bàn nghiên cứu nhằm ứng phó với BĐKH

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đánh giá tác động của BĐKH đến đảo Cát Bà và năng lực ứng phó của địa phương cũng như đánh giá tình hình sinh kế cộng đồng thì cần được thực hiện với sự kết hợp đồng thời các phương pháp: thu thập thông tin thứ cấp và lược khảo tài liệu; khảo sát, điều tra địa bàn và hộ gia đình; phỏng vấn sâu có định hướng; phương pháp PRA (các công cụ); phương pháp đo CDRI với công cụ ma trận 5*5; và phương pháp tham vấn chuyên gia Hai phương pháp quan trọng nhất được sử dụng là: Đánh giá nông thôn có sự tham gia và xác định các chỉ số chống chịu khí hậu và thiên tai – CDRI Hai phương pháp này thì người dân và cán bộ địa phương được trực tiếp và chủ động tham gia suốt quá trình đánh giá và đưa ra các phân tích, nhận định, đề xuất một cách thẳng thắn, khách quan, đúng với tình hình của địa phương

Đặc điểm chung về các mẫu điều tra thu thập thông tin

Những đối tượng tham gia cuộc điều tra khảo sát và cung cấp thông tin (trả

lời phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm…):

o Lãnh đạo UBND huyện Cát Hải: lãnh đạo huyện, lãnh đạo phòng Nông nghiệp, phòng Tài Nguyên và Môi trường

o Lãnh đạo UBND xã Trân Châu và xã Phù Long

o Cán bộ các xã, thị trấn thuộc các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, thủy sản, cán bộ Khuyến nông, khuyến ngư và lao động, đào tạo nghề

o Đại diện các chi hội, đoàn thể: Hội phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên, Hội Người cao tuổi

o Chuyên gia trong lĩnh vực môi trường và sinh kế

Trang 26

dịch vụ, công nhân, lao động tự do

Tiêu chí chọn mẫu và đặc điểm chung:

o Những đối tượng/ hộ dễ bị tổn thương ở các khu vực có tổn thương do thiên tai

và BĐKH

o Các cá nhân, hộ dân thuộc đa dạng các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau trong đó chú trọng nhóm sinh kế nông nghiệp (Trồng trọt - chăn nuôi, đánh bắt, chế biến và nuôi trồng thủy sản)

o Có đại diện của 2 nhóm đối tượng kinh tế là: (i) nhóm hộ nghèo và cận nghèo

o 50% và, (ii) Nhóm hộ trung bình trở lên 50%

o o Có đại diện trẻ em và người khuyết tật tham gia trả lời phỏng vấn sâu Trẻ em thuộc nhóm học sinh cấp 1 và 2 (8 học sinh/địa bàn) o 1/3 số người tham gia là phụ nữ

o Người đã sinh sống nhiều năm và am hiểu về tình hình địa phương

o Giới hạn độ tuổi của người (lớn) tham gia trả lời phỏng vấn và thảo luận nhóm:

từ 22-65 tuổi, trong đó: 40% tuổi từ 50 – 70; 40% tuổi từ 35 – 49; 20% tuổi từ 22 – 34 Người có khả năng giao tiếp, cung cấp thông tin Vì vậy các phương pháp cụ thể được sử dụng để nghiên cứu là:

5.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu( số liệu thứ cấp)

Thu thập, phân tích, đánh giá, tổng hợp tài liệu gồm:

- Các tài liệu đã được công bố về BĐKH và RRTT

- Các tài liệu, dữ liệu cơ bản về khí hậu

- Các kịch bản về BĐKH

- Các chính sách và chương trình của quốc gia và T.p Hải Phòng về ứng phó với BĐKH

- Chiến lược quốc gia về Phòng tránh thiên tai

- Các hiện tượng thời tiết cực đoan đến năm 2020 và kế hoạch thực hiện

- Kịch bản về NBD và BĐKH ở Việt Nam và T.p Hải Phòng

- Các báo cáo, thống kê hàng năm về kinh tế - xã hội của chính quyền các cấp

- Số liệu về khí tượng, thủy văn cũng như điều kiện tự nhiên của các địa phương

Trang 27

Ngoài ra, phương pháp này còn được sử dụng nghiên cứu tại văn phòng, giúp làm rõ hơn cơ sở lý luận và các hướng nghiên cứu

5.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Quá trình nghiên cứu điều tra khảo sát tại thực địa được tổ chức thành 3 đợt nhằm đạt được mục đích nghiên cứu Các đợt khảo sát được tiến hành lần lượt tai 2

xã nhằm quan sát thực tế trực tiếp khu vực nghiên cứu, thu thập thông tin và tư liệu hình ảnh, phỏng vấn một số cán bộ làm việc, người dân tại địa phương và đối chiếu những số liệu sẵn có với thực tế nơi nghiên cứu Các kết quả khảo sát này đã làm rõ hơn những thực trạng phát triển kinh tế - xã hội cũng như đặc điểm tự nhiên cũng như những vấn đề về BĐKH và các loại hình sinh kế của người dân

5.2.3 Phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia ( PRA )

Là một hoạt động học hỏi kinh nghiệm được tiến hành trong cộng đồng, có tính tập trung, hệ thống, bán cơ cấu, trong một thời gian ngắn Hoạt động này thường được thực hiện bởi một nhóm chuyên viên liên ngành và bao gồm tất cả các thành viên của cộng đồng ( Nguyễn Xuân Nghĩa, 2010 ) PRA giúp cho người dân nông thôn có thể chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức hiểu biết của họ về cuộc sống, điều kiện sống cũng như lập kế hoạch, thực hiện và giám sát, đánh giá PRA

áp dụng trong nhiều lĩnh vực: đánh giá tính dễ bị tổn thương, nghiên cứu nghèo đói, khả năng ứng phó của cộng đồng trước BĐKH ( Hoàng Thị Ngọc Hà, 2014e ) Nghiên cứu này sử dụng 6 công cụ trong PRA:

- Khảo sát trực tiếp

- Phỏng vấn sâu có định hướng

- Hồ sơ lịch sử hiểm họa thiên nhiên ( Historical Timeline )

- Lịch thiên tai và mùa vụ ( Seasonal Calendar )

- Sơ đồ Venn ( Venn Diagram )

- Phân tích SWOT ( Strengths – Weeks – Opportunity – Threats)

Các công cụ này được sử dụng để làm việc với chính quyền và người dân địa phương nhằm thu thập thông tin định tính và định lượng, qua đó đánh giá được những nguy cơ hiểm họa từ BĐKH/ thiên tai của khu vực đảo Cát Bà; những tổn

Trang 28

Trong quá trình trao đổi và thu thập thông tin, nhóm nghiên cứu có sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc Các hộ gia đình và cá nhân được phỏng vấn

đã kể lại các câu chuyện về thiên tai, những hiện tượng thời tiết cực đoan đã xảy ra như thế nào, thiệt hại ra sao đến đời sống và sản xuất, cách thức ứng phó và phục hồi rủi ro ra sao…

5.2.4 Phương pháp xử lý thống kê bằng phần mềm Exel:

Thu thập các thông tin dựa trên việc thiết kế hệ thống câu hỏi có thể thực hiện

để phân tích thống kê (xem Phụ lục 1) Đây là phương pháp chính của nghiên cứu giúp

đánh giá được thực trạng hoạt động sinh kế của dân cư 2 xã 90 phiếu điều tra bằng bảng hỏi được xử lý thống kê bằng phần mềm Exel Kết quả của phương pháp này là toàn bộ kết quả định lượng luận văn

Cuộc điều tra lựa chọn các đối tượng phù hợp tại 2 xã Phù Long và Trân Châu thuộc phần quản lý hành chính của huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng Tổng số phiếu khảo sát là 90 phiếu Trong đó, 20 phiếu là phỏng vấn các cán bộ huyện thuộc các phòng, ban và lãnh đạo huyện Cát Hải Ngoài ra, có 70 phiếu phân như sau: số phiếu điều tra ở xã Phù Long chiếm 54,5%, xã Trân Châu chiếm 45,6% tổng số phiếu điều tra Số lượng phiếu ở 2 xã có sự chênh lệch không đáng kể, mục đích là để phân tích được tương quan giữa hai xã Mẫu phiếu khảo sát trong 2 đợt được phân ra như sau:

Trang 29

21

Bảng 1 Cơ cấu phiếu phân theo đợt khảo sát

5.2.5 Phương pháp xác định các chỉ số chống chịu khí hậu và thiên tai – CDRI (Climate Disaster Risk Index)

CDRI là phương pháp mới,đo dựa trên 5 chỉ số chính là Hạ tầng/Cơ sở vật chất

- Kinh tế - Xã hội - Môi trường/Tự nhiên và Thể chế - chính sách để làm căn cứ đánh giá tính chống chịu (resilient) của một hệ thống, tổ chức hay cộng đồng (Ramasamy et al., 2011) [93] Có thể dùng phép đo CDRI phân tích và cho điểm theo 5 chỉ số trên để đạt được các kết quả đánh giá định tính hoặc định lượng, tùy theo mục đích, yêu cầu, đối tượng áp dụng và theo điều kiện kinh phí, thời gian của nhóm nghiên cứu Phương pháp CDRI cũng bao gồm sử dụng bảng hỏi chi tiết và khung ma trận thông qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu thứ cấp Với nghiên cứu này, tác giả áp dụng CDRI theo cách thiết kế các mẫu bảng hỏi hộ gia đình

và thảo luận, tổng hợp thông tin từ người dân bằng công cụ ma trận 5*5

Các chỉ số đánh giá tính chống chịu với RRTT và BĐKH phù hợp với điều kiện, năng lực của địa phương đã được đề xuất dựa trên hệ thống các chỉ số đánh giá phát triển bền vững của Liên hiệp quốc (UN, 2001, 2007) và bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững (Chính phủ CHXHCN Việt Nam, 2011, 2013)

Việc đánh giá tính chống chịu của hệ sinh thái – xã hội của 2 xã trên đảo Cát

Bà là đánh giá tình hình, thực trạng 5 yếu tố sau của địa phương: Hạ tầng/Cơ sở vật chất - Kinh tế - Xã hội - Môi trường/Tự nhiên và Thể chế - chính sách (Physical – Economy – Social – Natural – Institutional)

Trang 30

22

Bảng 2 Ma trận 5*5 phân tích 5 yếu tố của hệ thống thể hiện tính dễ tổn thương

và năng lực chống chịu, ứng phó BĐKH của cộng đồng

Hạ tầng/CSVC Kinh tế Xã hội Môi trường/

Tài nguyên Thể chế Công trình

……… Nước

………

Năng lực quản lý của địa phương

……… Thông tin liên

lạc………

Ngân sách

………

Tri thức bản địa

về vấn đề BĐKH, đồng thời có thể trở thành một điền hình tốt có thể nhân rộng ra các địa phương có điều kiện tương tự

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn có cấu trúc theo quy định, gồm các phần chính sau:

Trang 31

23

Phần mở đầu: Tính cấp thiết của đề tài; Tình hình nghiên cứu đề tài; Mục đích

và nhiệm vụ nghiên cứu, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu; Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về sinh kế bền vững trong bối cảnh BĐKH

Chương 2: Thực trạng sinh kế tại xã Phù Long và Trân Châu trong thời gian qua Chương 3: Các giải pháp phát triển sinh kế bền vững trong bối cảnh BĐKH ở khu vực huyện đảo Cát Hải được đề xuất

Trang 32

24

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

VỀ SINH KẾ BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.1 Một số khái niệm

Những khái niệm được lựa chọn giới thiệu và phân tích trong luận văn này

có mối liên hệ logic và có hệ thống với nhau nhằm tập trung vào các nội dung nghiên cứu chính là: Tác động của BĐKH, hệ sinh thái – xã hội, tiếp cận dựa vào hệ sinh thái, sinh kế và sinh kế bền vững, cụ thể:

Biến đổi khí hậu (Climate change): Theo IPCC, BĐKH là sự biến đổi về

trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình

và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển (IPCC, 2007)

Tính dễ bị tổn thương do BĐKH (Vunerability): Khái niệm tính dễ bị tổn

thương được hiểu theo nhiều cách khác nhau do đó cũng được ứng dụng theo các hướng khác nhau Trong BĐKH, IPCC đã nhiều năm nghiên cứu và phát triển nhằm

có được định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đối với BĐKH và NBD một cách chính xác nhất Khái niệm được ứng dụng rộng rãi hiện nay là khái niệm do IPCC 2007 xây dựng: “Tình trạng dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống dễ bị ảnh hưởng

và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu Tình trạng dễ bị tổn thương là hàm

số của tính chất, cường độ và mức độ phơi lộ (hứng chịu) của các biến đổi và dao

động khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống (IPCC, 2007)

Tóm lại, tính dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH

Ứng phó với BĐKH (Responding to climate change): Là các hoạt động của

con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH Như vậy, ứng phó với BĐKH gồm

Trang 33

Thích ứng với BĐKH (Adaptation) là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc

KT-XH đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng

bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ TN&MT, 2008)

Giảm nhẹ BĐKH (Mitigation) là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc

cường độ phát thải KNK (Bộ TN&MT, 2008)

Hệ sinh thái (Hệ sinh thái tự nhiên hay Hệ trái đất) (Ecosystem/natural

ecosystem/Earth’s system - HST): được hiểu là một tổ hợp động của quần xã thực vật, động vật, vi sinh vật, và các điều kiện môi trường vô sinh xung quanh trong sự tương tác lẫn nhau như một đơn vị chức năng thông qua các dòng năng lượng và các chu trình vật chất Như vậy, HST là đơn vị tổ chức cơ bản của sinh quyển, có quy mô thay đổi, từ nhỏ bé như một bể cá cảnh, đến rộng lớn như rừng mưa nhiệt đới Giới hạn của HST thường được xác định theo mục đích của từng nghiên cứu cụ thể Hệ sinh thái là một hệ mở, luôn có sự liên hệ với các hệ khác xung quanh (Trương Quang Học, 2008b, 2011c, 2013)

Hệ sinh thái - xã hội (Socio-ecological system): là một biến thể của HST

nhân văn, nhấn mạnh yếu tố xã hội của loài người và được định nghĩa khái quát là một hệ gồm cả con người và tự nhiên, một đơn vị Sinh - Vật - Địa và các yếu tố xã hội, thể chế đi kèm Hệ sinh thái - xã hội là hệ thống phức tạp nhất, trong đó, tùy theo góc độ và phạm vi nghiên cứu mà các đặc trưng khác nhau được nhấn mạnh (Trương Quang Học, 2013)

Con người, theo quan niệm hiện đại, đã trở thành trung tâm của HST, với hai nghĩa: i) Con người là nhân tố tác động vào HST một cách mạnh mẽ nhất, và ii)

Trang 34

Tính chống chịu – thích ứng (Adaptive resilience): Giữa tính dễ bị tổn

thương, tính chống chịu và tính thích ứng của HST có mối liên quan với nhau (mối quan hệ trong nội bộ hệ thống) và liên quan với yếu tố tác động (tần xuất, cường độ, tính chất của các tác động từ bên ngoài Trong thực tế, thì hai quá trình chống chịu và thích ứng xảy ra xen kẽ với nhau Khi sự chống chịu xảy ra thì cũng là lúc bắt đầu có quá trình thích ứng, và sự thích ứng sẽ làm tăng khả năng chống chịu

Vì vậy, thuật ngữ tính chống chịu - thích ứng (Adaptive resilience) đặc trưng cho các HST, vừa nói lên khả năng chống chịu ở thời điểm bị tác động, vừa nói nên khả năng tự phục hồi lại trạng thái ban đầu sau khi bị tác động Từ đó, có thể nói khi tính chống chịuthích ứng của một HST tăng sẽ làm giảm tính dễ bị tổn thương và rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống Vì thế, xây dựng/tăng cường tính chống chịu của hệ thống là nguyên tắc chung nhất nhằm phát triển hệ thống một cách bền vững và ứng phó hiệu quả với những tác động từ bên ngoài (Trương Quang Học, 2013)

Sinh kế (livelihood): có nghĩa là nghề nghiệp hoặc việc làm và cũng có nghĩa là

con đường để kiếm sống Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống (DFID, 1999)

Chiến lược sinh kế (livelihoods strategy): là sự phối hợp các hoạt động và lựa

chọn mà người dân sử dụng để thực hiện mục tiêu kiếm sống:

- Sự chọn lựa chiến lược sinh kế phụ thuộc vào việc tiếp cận các loại vốn nào;

- Mỗi chiến lược sinh kế cần một sự kết hợp các loại vốn khác nhau;

Tuy nhiên mỗi loại vốn có thể sử dụng cho nhiều chiến lược khác nhau (Bộ TN

& MT, CCWG, 2015)

Sinh kế bền vững (sustainable livelihood): tiếp tục được hoàn thiện nội hàm bởi

DFID Sinh kế bền vững là sinh kế có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên (DFID, 1999, 2007)

Sinh kế thích ứng (với BĐKH) (Climate change adaptive livelihood): Sinh kế

thích ứng là hệ thống sinh kế, trước hết phải có khả năng chống chịu với BĐKH/ giảm nhẹ phát thải KNK và phục hồi trước các tác động của BĐKH, đặc biệt là thiên tai/hiện tượng thời tiết cực đoan (bão lụt, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại, v.v),

Trang 35

Sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH (climate change adaptive sustainable

livelihood: Sinh kế thích ứng với BĐKH là hệ thống sinh kế, có khả năng chống chịu

với BĐKH, giảm nhẹ phát thải KNK và phục hồi trước các tác động của BĐKH, đặc biệt là các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão lụt, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại, v.v), đảm bảo, duy trì hoặc tăng năng suất, sản lượng một cách ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng và điều kiện KT-XH địa phương (Bộ TN & MT, CCWG, 2015)

Tiếp cận sinh kế bền vững (The sustainable livelihoods approach): là một cách

cải thiện sự hiểu biết về sinh kế của người nghèo Nó dựa trên các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế người nghèo và các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố này Nó

có thể được sử dụng để lên các kế hoạch hoạt động mới và đánh giá các hoạt động hiện

có để tạo ra sinh kế bền vững Cách tiếp cận này đưa ra một khung tiếp cận giúp hiểu biết về sự phức tạp của nghèo đói đồng thời đưa ra một bộ các nguyên tắc hướng dẫn hành động nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói (Carney, 2009)

Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái(Ecosystem based approach/EbA)

Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái đã được phát triển từ những năm 90 của thế kỷ

XX, là chiến lược do Công ước đa dạng sinh học (CBD) đề xuất, ban đầu nhằm mục đích phục vụ cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo tồn ĐDSH, sau đó được áp dụng rộng rãi cho PTBV và hiện nay cho ứng phó với BĐKH, theo nguyên tắc xây dựng/tăng cường tính chống chịu-thích ứng của các hệ sinh thái - xã hội (Trương

Quang Học, 2008b, 2012, 2013)

Cách tiếp cận dựa trên HST nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa HST/dịch vụ HST với phúc lợi của con người Con người, một mặt, sống nhờ vào HST thông qua các dịch vụ của nó, gồm: (i) Dịch vụ cung cấp, Dịch vụ điều tiết, dịch vụ văn hóa-tinh thần và dịch vụ hỗ trợ; Mặt khác, con người lại tác động vào hệ HST thông qua các hoạt động sinh kế trực tiếp và các hoạt động phát triển KT-XH, chính sách, làm suy thoái HST/ĐDSH Như vậy, theo cách tiếp cận HST, các vấn đề được xem xét

Trang 36

Cách tiếp cận kết hợp Từ dưới lên (Bottom-up) và Từ trên xuống (Top-down)

Cách tiếp từ dưới lên hay cách tiếp cận dựa vào cộng đồng (Community based approach) nhấn mạnh vào vai trò chủ động và sự tham gia tích cực của cộng đồng trong cả quá trình ứng phó với thiên tai và BĐKH Cộng đồng lập kế hoạch, thực hiện

và giám sát, đánh giá các hoạt động ứng phó với sự hỗ trợ, thúc đẩy của chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn và tổ chức, cá nhân Các nguồn lực, năng lực của cộng đồng được xem xét trước tiên (Hoàng Thị Ngọc Hà, 2014a, 2014)

Cách tiếp cận từ trên xuống nhấn mạnh vào các thể chế, chính sách của nhà nước cũng như các chủ trương, định hướng, quy hoạch, kế hoạch của trung ương và địa phương

Vốn xã hội (Social Capital): là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để

theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng

Vốn con người ( Human capital): là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả công việc

1.1.2 Khung phân tích của vấn đề nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là: Đánh giá các tác động của BĐKH đến hệ sinh thái

tự nhiên – xã hội của địa bàn nghiên cứu trong đó tập trung vào các tác động đến sinh kế của cộng đồng Từ đó đề xuất các giải pháp ứng phó cho cộng đồng với trọng tâm là sinh kế bền vững trong bối cảnh BĐKH.Do đó logic của nghiên cứu sẽ gồm những nội dung theo trình tự sau: 1) Đánh giá tác động của BĐKH( quá khứ, hiện tại và tương lai) đến hoạt động sinh kế; 2) Cách tiếp cận từ trên xuống các thể chế, chiến lược và chính sách đến hoạt động sinh kế của người dân; 3)Cách tiếp cận

từ dưới lên các yếu tố: vốn sinh kế, năng lực thích ứng cùng với tri thức bản địa tới hoạt động sinh kế; 4) Dưới những tác động này sẽ tao ra các chiến lược phát triển

Trang 37

29

sinh kế và các giải pháp, mô hình sinh kế mới; 5) Qua quá trình giám sát, đánh giá

sẽ tạo ra được các giải pháp SKBV

Trong bối cảnh BĐKH mang tính toàn cầu đang diễn ra hiện nay, việc gia tăng rủi ro từ khí hậu sẽ làm tăng khả năng bị tổn thương của những sinh kế dựa vào các nguồn TNTN Do đó, các giải pháp SKBV được lựa chọn phải đảm bảo tính thích ứng với BĐKH hay chính là sự tăng cường khả năng chống chịu của sinh kế trước BĐKH

Khung phân tích vấn đề nghiên cứu trên được phát triển dựa trên Khung sinh

kế bền vững của DFID (2007) và Khung sinh kế bền vững của ECODE (2014) nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu Trong đó nhấn mạnh đến tính hệ thống của các vấn đề nghiên cứu

Khung phân tích:

Trang 38

30

Chiến lƣợc Phát triển sinh kế:

- Tăng tính thích ứng

- Sử dụng tài nguyên bền vững

- Giảm thiểu rủi ro

- Thể chế

- Chiến lƣợc

- Chính sách

Trang 39

31

1.1.3 Tính hệ thống và liên ngành của vấn đề nghiên cứu

BĐKH với các hiện tượng như trái đất nóng lên, NBD hay các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng tăng về tần suất cũng như cường độ là điều không còn phải bàn cãi BĐKH tác động tới tất cả các lĩnh vực, các vùng miền cũng như các hệ thống kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu, đe dọa sự tồn tại của Trái đất (IPCC, 2007) IPCC chỉ ra rằng để ứng phó với BĐKH bao gồm 2 hợp phần là giảm nhẹ và thích ứng Vì vậy, để nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH, đánh giá nguy cơ tổn thương nhằm có giải pháp ứng phó kịp thời là rất cần thiết Để làm được điều này cần phải xác định được kịch bản BĐKH, những kịch bản này càng chính xác bao nhiêu thì công tác ứng phó với BĐKH càng hiệu quả bấy nhiêu Vì vậy trong nghiên cứu, triển khai về BĐKH cần phải đặt dưới sự liên kết của nhiều ngành khoa học khác nhau Việc nghiên cứu BĐKH có thể được chia thành 3 nhóm nhiệm vụ: bản chất, nguyên nhân và cơ chế vật lý của BĐKH; đánh giá tác động của BĐKH, tính dễ bị tổn thương do BĐKH và giải pháp thích ứng; giải pháp, chiến lược và kế hoạch hành động nhằm thích ứng và giảm thiểu BĐKH Xét trên quy mô toàn cẩu

và theo logic, việc nghiên cứu BĐKH cần phải được thực hiện một cách tuần tự theo các bước trên (Trương Quang Học, 2007, 2011a)

Hoạt động sinh kế về cơ bản đều do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình thiết lập trong cộng đồng Do đó, để đánh giá được thực trạng của hoạt động này cần phải đưa ra được mối liên hệ giữa: kết quả sinh kế, các nguồn lực sinh kế và những yếu tố tác động đến hoạt động sinh kế như là thể chế, chính sách hay quan hệ xã hội

Cách tiếp cận sinh kế bền vững là một cách phân tích toàn diện về phát triển

và giảm nghèo Cách tiếp cận này giúp chúng ta hiểu được việc con người sử dụng các loại vốn mình có để kiếm sống, thoát nghèo hay tránh mình rơi vào đói nghèo như thế nào Nó không chỉ minh họa các chiến lược tìm kiếm thu nhập mà còn phân tích và lý giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn lực mà các cá thể và

hộ gia đình sử dụng để biến các nguồn lực đó trở thành sinh kế

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, cụ thể là đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, BĐKH và NBD đã có nhiều tác động tiêu cực đến các lĩnh vực: tự nhiên, môi trường, kinh tế và môi trường Các lĩnh vực này có mối liên

Trang 40

1.2 Cách tiếp cận

Trong luận văn này, cách tiếp cận hệ thống và liên ngành/ dựa trên hệ sinh thái cùng với cách tiếp cận thích ứng dựa vào cộng đồng là hai cách tiếp cận chủ đạo Ngoài ra, còn kết hợp sử dụng Khung sinh kế bền vững DFID để nghiên cứu, đánh giá thực trạng sinh kế

1.2.1 Cách tiếp cận hệ thống và liên ngành/dựa trên hệ sinh thái

Đây là cách tiếp cận chính cho những nghiên cứu về BĐKH và PTBV hiện nay

Hệ thống có thể được hiểu là một tập hợp các phần tử có quan hệ tương tác

để thực hiện một mục tiêu xác định (Vũ Cao Đàm, 2003) Tiếp cận hệ thống là cách nhìn nhận thế giới qua cấu trúc hệ thống, thứ bậc và động lực của chúng; đó là một tiếp cận toàn diện và động (Nguyễn Đình Hòe, 2013)

Cách tiếp cận dựa trên HST (do Công ước ĐDSH đề xuất) là một chiến lược quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên (đất, nước và sinh vật) Gần đây, cách tiếp cận này đã được áp dụng rộng rãi trong phát triển bền vững và ứng phó với BĐKH, khi đặt con người và thực tiễn sử dụng tài nguyên là trung tâm của các HST (Trương Quang Học, 2012)

Con người hiện nay đã trở thành trung tâm của HST (hệ sinh thái xã hội), với hai nghĩa: i) Con người là nhân tố tác động vào HST một cách mạnh mẽ nhất, và ii) Các hoạt động bảo tồn HST cuối cùng vẫn phải hướng tới và đem lại phúc lợi cho con người (MEA, 2005) Cho nên, cách tiếp cận hệ sinh thái/dựa trên hệ sinh thái (do Công ước Đa dạng sinh học đề xuất) là một chiến lược, là cách thức để quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên (đất, nước và sinh vật) nhằm thúc đẩy việc bảo tồn

Ngày đăng: 19/06/2018, 16:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008). Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009). Kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam. Hà nội, tháng 6-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường và Chương trình SEMLA (Nguyễn Đức Ngữ và Trương Quang Học biên soạn) (2009). Nâng cao nhận thức về BĐKH và bảo vệ môi trường vùng ven biển. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao nhận thức về BĐKH và bảo vệ môi trường vùng ven biển
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường và Chương trình SEMLA (Nguyễn Đức Ngữ và Trương Quang Học biên soạn)
Năm: 2009
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010). Báo cáo môi trường quốc gia 2010: Tổng quan môi trường Việt Nam. Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia 2010: Tổng quan môi trường Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012). Cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, NBD cho Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, NBD cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
6. Bộ Thủy sản (2007). Tác động của BĐKH đến nghề cá và nuôi trồng thủy sản. Báo cáo trình bày tại Hội thảo về Đa dạng sinh học và Biến đổi khí hậu: Mối liên quan tới Đói nghèo và Phát triển bền vững. Hà Nội, 22-23/5/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của BĐKH đến nghề cá và nuôi trồng thủy sản
Tác giả: Bộ Thủy sản
Năm: 2007
7. Nguyễn Thị Kim Cúc (2011). Thích ứng của hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển dưới tác động của NBD – Nghiên cứu ở ĐBSH. Báo cáo Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Đất ngập nước Biến đổi khí hậu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thích ứng của hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển dưới tác động của NBD – Nghiên cứu ở ĐBSH". Báo cáo Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Đất ngập nước Biến đổi khí hậu
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Cúc
Năm: 2011
10. Nguyễn Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2012). Biến đổi khí hậu và Sinh kế ven biển, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và Sinh kế ven biển
Tác giả: Nguyễn Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2012
11. Hoàng Thị Ngọc Hà (2013). Báo cáo Đánh giá sinh kế thích ứng BĐKH khu vực ven biển Thái Bình, Nam Định và Hải Phòng. Dự án “Tăng cường quan hệ đối tác nhằm giảm nhẹ RRTT và ứng phó BĐKH cho cộng đồng khu vực ĐBSH ”. MCD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Đánh giá sinh kế thích ứng BĐKH khu vực ven biển Thái Bình, Nam Định và Hải Phòng". Dự án “Tăng cường quan hệ đối tác nhằm giảm nhẹ RRTT và ứng phó BĐKH cho cộng đồng khu vực ĐBSH
Tác giả: Hoàng Thị Ngọc Hà
Năm: 2013
14. Hoàng Thị Ngọc Hà và ECODE (2014e). Tài liệu hướng dẫn đánh giá sinh kế vùng dự án, và, Tài liệu hướng dẫn tập huấn TOT và đánh giá HVCA. Tài liệu biên soạn cho dự án HRCD của World Vision Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn đánh giá sinh kế vùng dự án", và, "Tài liệu hướng dẫn tập huấn TOT và đánh giá HVCA
16. Trương Quang Học (2007). Biến đổi khí hậu, Đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Tạp chí Bảo vệ Môi trường, Số 7, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu, Đa dạng sinh học và phát triển bền vững
Tác giả: Trương Quang Học
Năm: 2007
17. Trương Quang Học (2008a). Từ phát triển đến phát triển bền vững – nhìn từ góc độ giáo dục và nghiên cứu khoa học. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Khoa học phát triển – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ phát triển đến phát triển bền vững – nhìn từ góc độ giáo dục và nghiên cứu khoa học". Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Khoa học phát triển – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
18. Trương Quang Học (2008b). Hệ sinh thái trong phát triển bền vững. Trong Sách “20 năm Việt Nam học theo hướng liên ngành. NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ sinh thái trong phát triển bền vững
Nhà XB: NXB Thế giới
19. Trương Quang Học (2011a). Biến đổi toàn cầu – cơ hội và thách thức trong nghiên cứu khoa học và đào tạo. Trong Sách “Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - 25 năm Xây dựng và Phát triển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi toàn cầu – cơ hội và thách thức trong nghiên cứu khoa học và đào tạo". Trong Sách “Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - 25 năm Xây dựng và Phát triển
20. Trương Quang Học (2011c). Tác động của BĐKH lên đất ngập nước. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Đất ngập nước Biến đổi khí hậu”. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của BĐKH lên đất ngập nước". Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Đất ngập nước Biến đổi khí hậu
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
21. Trương Quang Học (2012). VIỆT NAM: Thiên nhiên, Môi trường và Phát triển bền vững. NXB Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: VIỆT NAM: Thiên nhiên, Môi trường và Phát triển bền vững
Tác giả: Trương Quang Học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội
Năm: 2012
22. Trương Quang Học (2013). Cơ sở sinh thái học cho phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Nâng cao Sức chống chịu trước BĐKH. Kỷ yếu hội thảo quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, 2013. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học cho phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Trương Quang Học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2013
23. Trương Quang Học và Trần Đức Hinh (2008). BĐKH và các bệnh do vectơ truyền. Báo cáo trình bày tại Hội nghị Côn trùng học lần thứ 6, Hà Nội, 5/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BĐKH và các bệnh do vectơ truyền
Tác giả: Trương Quang Học và Trần Đức Hinh
Năm: 2008
24. Trương Quang Học và Nguyễn Đức Ngữ (2011). Một số điều cần biết về biến đổi khí hậu. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điều cần biết về biến đổi khí hậu
Tác giả: Trương Quang Học và Nguyễn Đức Ngữ
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2011
25. Trương Quang Học, Phạm Đức Thi và Nguyễn Thị Bích Ngọc (2011). Hỏi và Đáp về Biến đổi khí hậu. NXB Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và Đáp về Biến đổi khí hậu
Tác giả: Trương Quang Học, Phạm Đức Thi và Nguyễn Thị Bích Ngọc
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w