1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận phú nhuận, thành phố hồ chí minh

83 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm nhân thân của người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận, làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến sự hình thành các đặ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Mai Thị Thu Dung

NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Mai Thị Thu Dung

NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN PHÚ NHUẬN,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thống kê, kết quả đề cập trong luận văn là trung thực, chính xác và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng

Tác giả luận văn

Mai Thị Thu Dung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU 7

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội xâm phạm

sở hữu 7 1.2 Các đặc điểm của nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu 12 1.3 Các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu 19

Chương 2: THỰC TRẠNG NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM

SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29

2.1 Khái quát tình hình tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh 29 2.2 Cơ cấu của tình hình tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận 31 2.3 Thực trạng các đặc điểm nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận 33 2.4 Thực trạng những yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận 43

Chương 3: DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA CÁC TỘI XÂM PHẠM

SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN PHÚ NHUẬN TỪ KHÍA CẠNH NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI 57

3.1 Dự báo tình hình tội xâm phạm sở hữu và đặc điểm nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận 57 3.2 Các giải pháp phòng ngừa tình hình tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận từ khía cạnh nhân thân người phạm tội 60

KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLHS : Bộ luật hình sự

CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng

HSST : Hình sự sơ thẩm

TAND : Tòa án nhân dân

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

XPSH : Xâm phạm sở hữu

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Thống kê so sánh tình hình các tội XPSH với tình hình tội phạm

nói chung trên địa bàn quận Phú Nhuận giai đoạn 2013-2017

Bảng 2.2 Thống kê so sánh tình hình các tội XPSH trên địa bàn quận Phú

Nhuận với địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013-2017

Bảng 2.3 Cơ cấu theo tội danh của tình hình tội XPSH trên địa bàn quận

Phú Nhuận, giai đoạn 2013-2017

Bảng 2.4 Thực trạng theo giới tính của nhân thân người phạm tội XPSH

trên địa bàn quận Phú Nhuận giai đoạn 2013-2017

Bảng 2.5 Thực trạng theo độ tuổi của nhân thân người phạm tội XPSH trên

địa bàn quận Phú Nhuận giai đoạn 2013-2017

Bảng 2.6 Thực trạng về trình độ học vấn của nhân thân người phạm tội

XPSH trên địa bàn quận Phú Nhuận 2013-2017

Bảng 2.7 Thực trạng về nghề nghiệp của nhân thân người phạm tội XPSH

trên địa bàn quận Phú Nhuận 2013-2017

Bảng 2.8 Thực trạng về nơi cư trú của nhân thân người phạm tội XPSH trên

địa bàn quận Phú Nhuận 2013-2017

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quận Phú Nhuận được thành lập theo Nghị quyết ngày 09/5/1975 của Ban chấp hành Đảng bộ Đảng lao động Việt Nam thành phố Sài Gòn - Gia Định Xã Phú Nhuận cũ được tách ra khỏi quận Tân Bình để thành lập quận Phú Nhuận trực thuộc thành phố Sài Gòn - Gia Định Ngày 02/7/1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VI, kỳ họp thứ 1 chính thức đổi tên Thành phố Sài Gòn-Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh Quận Phú Nhuận trở thành quận trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh

Quận Phú Nhuận là một quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh Phía Đông giáp với quận Bình Thạnh, phía Tây giáp với quận Tân Bình, phía Nam giáp với Quận 1 và Quận 3, phía Bắc giáp với quận Gò Vấp

Toàn quận có 15 phường trực thuộc: từ phường 1 đến phường 17 (ngoại trừ không có phường 6 và 16) Diện tích toàn quận khoảng 4,88 km2

, với dân số khoảng 182.477 nhân khẩu, bao gồm nhiều dân tộc khác nhau nhưng chủ yếu là dân tộc Kinh, Hoa, Khơ me… Tôn giáo có Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Cao đài…

Quận Phú Nhuận nằm ở hướng Tây Bắc của thành phố, là nơi có vị trí giao thông đường bộ, đường sắt quan trọng Đường Nguyễn Văn Trỗi và đường Hoàng Văn Thụ là những trục đường chính, là cửa ngõ ra vào sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất Vì là quận trung tâm, nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù diện tích nhỏ nhưng mật độ dân số rất cao (37.393 người/km2), cư dân tập trung làm ăn sinh sống ở đây nhiều Cơ cấu kinh tế của quận Phú Nhuận phát triển theo xu hướng dịch vụ thương mại, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Các loại hình dịch vụ cao cấp như tài chính, tín dụng, dịch vụ du lịch… phát triển mạnh Hầu hết, đời sống vật chất và tinh thần của người dân trên địa bàn quận ngày càng được nâng cao Bên cạnh những yếu tố tích cực, những thành tựu đạt được thì mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng gây khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, tình hình tội phạm trên địa bàn dân cư diễn biến hết sức phức tạp như: trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản… vẫn còn xảy ra nhiều, tính chất và mức độ ngày càng nguy

Trang 8

2

hiểm, phương thức thủ đoạn tinh vi Hậu quả mà tội phạm gây ra đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, đến cuộc sống bình yên của quần chúng nhân dân, đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn quận

Trong 05 năm qua (2013-2017) trên địa bàn quận Phú Nhuận, các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) đã khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử 585 vụ án với 854 bị cáo Trong đó, các tội phạm về xâm phạm sở hữu có 353 vụ chiếm tỷ lệ lớn (60,34% trong tổng số tội phạm trên địa bàn quận) với 455 bị cáo (chiếm 53,28%) Hằng năm, các tội xâm phạm sở hữu vẫn chiếm tỷ

lệ cao trong tổng số các vụ án, các bị cáo mà Tòa án đưa ra xét xử

Để cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, những quy định của pháp luật, các chiến lược, kế hoạch của Chính phủ về công tác phòng, chống tội phạm, trong thời gian qua các cấp chính quyền ở quận Phú Nhuận đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện nhiều giải pháp để đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung

và tình hình tội xâm phạm sở hữu nói riêng Tuy nhiên, các giải pháp này vẫn chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn Tình hình tội xâm phạm sở hữu vẫn có diễn biến phức tạp, các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội ngày càng thể hiện sự manh động, táo bạo, liều lĩnh

Để công tác phòng ngừa tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận đạt hiệu quả cao nhất, thì một trong những vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng đó là nghiên cứu chuyên sâu về nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu Bởi lẽ, việc nghiên cứu này có vai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội, lý giải được các nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, các yếu tố tác động hình thành nhân thân người phạm tội, trên cơ sở đó giúp cho việc đề ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận đạt hiệu quả, khoa học và có tính thực thi cao Xuất phát từ lý do trên, tác giả quyết định

chọn đề tài Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu được thực hiện liên quan đến nhân thân người phạm tội đã công bố, tiêu biểu như:

Trang 9

3

- Luận án Tiến sĩ Luật học: Nhân thân người phạm tội trong trong luật hình

sự Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Thủy, năm 2005;

- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu

trên địa bàn tỉnh Kiên Giang của Hồ Thanh Lam (2016), Học viện khoa học xã hội;

- Luận văn thạc sĩ Luật học: Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu từ

thực tiễn quận Bình Tân của Lê Thành Công (2016), Học viện khoa học xã hội

- Luận văn Thạc sĩ luật học: "Nhân thân người phạm tội theo pháp luật hình

sự Việt Nam từ thực tiễn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” của Lưu Thị Hằng

(2017), Học viện Khoa học xã hội;

- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội hiếp dâm trẻ em trên

địa bàn tỉnh Bình Phước của Nguyễn Thanh Tuấn (2017), Học viện khoa học xã

hội;

- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản trên

địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của Lê Ngô Phương Thanh (2017), Học viện khoa

học xã hội;

- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản trên

địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh của Phan Thị Phương Thảo (2017),

Học viện khoa học xã hội;

- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội cướp tài sản trên địa

bàn Thành phố Hồ Chí Minh của Lê Đình Toàn (2017), Học viện khoa học xã hội;

Ngoài ra còn có các bài viết được đăng trên các tạp chí như: Tạp chí Nghề luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Tòa án… có nội dung liên quan đến nhân thân người phạm tội trong tội phạm học

Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nhân thân người phạm tội, bao gồm khái niệm nhân thân người phạm tội, phân biệt khái niệm nhân thân người phạm tội với một số khái niệm khác có liên quan, các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, vai trò của nhân thân người phạm tội trong cơ chế hành vi phạm Trong đó, có những luận văn đã làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội trên một số địa bàn như địa bàn quận Bình Tân, Quận 7,

Trang 10

4

Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu… Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh Do đó, đề tài Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh”

mà tác giả đã chọn làm luận văn không trùng với bất kỳ công trình khoa học nào đã được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm nhân thân của người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận, làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân ở người phạm tội, luận văn hướng đến mục đích đưa ra các giải pháp phòng ngừa đối với các tội xâm phạm sở hữu trong thời gian tới ở địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nêu trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ cơ

bản sau:

Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm

tội xâm phạm sở hữu;

Thứ hai: Phân tích làm rõ thực trạng nhân thân người phạm tội xâm phạm sở

hữu và các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội xâm phạm

sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 - 2017;

Thứ ba: Dự báo và đề xuất các giải pháp phòng ngừa các tội xâm phạm sở

hữu từ khía cạnh nhân thân người phạm tội trên địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 11

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017

Để nghiên cứu về nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận, tác giả dựa trên các số liệu thống kê xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận giai đoạn 2013 - 2017, cũng như trên cơ sở kết quả nghiên cứu 120 bản án xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận giai đoạn 2013 - 2017 được thu thập đầy đủ

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Để hoàn thành việc nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của tội phạm học, cụ thể như:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả sưu tầm, hệ thống các văn bản pháp lý, các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu Trên cơ sở đó phân tích làm rõ các vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu

- Phương pháp thống kê hình sự: Qua việc thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tác giả xây dựng các bảng theo các tiêu chí và điền, sắp xếp các số liệu một cách khoa học phục vụ việc phân tích, so sánh, tổng hợp rút

ra từ các nhận xét, đánh giá, các vấn đề có tính quy luật nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Thông qua nghiên cứu các hồ

sơ, tài liệu, số liệu, tác giả phân tích, so sánh, tổng hợp tìm các quy luật, các hạn

Trang 12

6

chế, khó khăn đưa ra các dự báo để làm cơ sở đề xuất các giải pháp phòng ngừa tình hình tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nuận từ khía cạnh nhân thân người phạm tội

- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Tác giả phân tích một số vụ án xâm phạm sở hữu điển hình, từ đó đưa ra những đánh giá chính xác và giải pháp phòng ngừa thiết thực đối với tình hình tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận

từ khía cạnh nhân thân người phạm tội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của luận văn có kết cấu gồm 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội xâm phạm sở

hữu

Chương 2: Thực trạng nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa

bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Dự báo và giải pháp phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu trên

địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh từ khía cạnh nhân thân người phạm tội

Trang 13

7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI

XÂM PHẠM SỞ HỮU 1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu

1.1.1 Khái niệm nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu

Nhân thân là một khái niệm đặc thù, chỉ sử dụng khi nói về bản chất của con người Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin thì nhân thân con người chính là một phạm trù xã hội lịch sử, nó là sản phẩm của một thời đại nhất định, được quy định bởi các điều kiện lịch sử cụ thể của hiện thực xã hội Mỗi một thời đại khác nhau sản sinh ra những mẫu người không giống nhau, song dù ở thời đại nào thì bản chất của con người luôn luôn là tổng hòa những mối quan hệ xã hội [11, tr 101]

Trong bất kỳ xã hội nào con người không bao giờ sống riêng lẻ, tách mình ra khỏi xã hội mà luôn quan hệ với nhau trong quá trình lao động sản xuất cũng như trong mọi sinh hoạt hàng ngày Tất cả các đặc điểm tâm, sinh lý cùng những biểu hiện trong các quan hệ xã hội của con người, thể hiện bản chất đặc trưng của một con người sẽ hợp thành nhân thân của con người đó

Nhân thân con người là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người tham gia vào tất cả các mối quan hệ xã hội Đó là các đặc điểm, dấu hiệu sinh học, nhân khẩu học, các đặc điểm về xã hội học, đạo đức, tâm lý

Nói đến nhân thân là nói đến con người với tính cách là một thành viên của

xã hội, một thực thể xã hội cũng như một con người tham gia vào những quan hệ xã

hội Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, “Con người là một sản phẩm của

tự nhiên và xã hội, là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội”

Con người do tự nhiên sinh ra nên trước hết nó mang các đặc tính tự nhiên, đặc tính sinh vật học Đặc điểm sinh học trong con người quy định sự hình thành những hiện tượng và quá trình tâm lý của họ Bất kỳ người nào cũng có những nhu cầu mang tính sinh học, mang bản tính xã hội Sự thống nhất của hai đặc tính này hình thành nên nhân thân con người, trong đó đặc tính xã hội giữ vai trò quyết định Nói cách

Trang 14

Người phạm tội được hiểu là người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm [38, tr.149] Tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi một con người cụ thể Đặc trưng của người phạm tội là thực hiện hành vi mang tính nguy hiểm cho xã hội Nhân thân người phạm tội sẽ có những khác biệt, những đặc điểm riêng mà người không phạm tội không có Những đặc điểm nhân thân của con người được hình thành và phát triển trong xã hội theo

cả hai hướng: tốt và xấu Chính do sự tồn tại đồng thời của hai hướng này mà có người trở thành người phạm tội còn người khác thì không Những đặc điểm thuộc

về nhân thân con người - sinh học, tâm lý, xã hội - nếu gặp những điều kiện, hoàn cảnh không thuận lợi của quá trình hình thành nhân cách sẽ trở thành những đặc điểm nhân thân xấu, những đặc điểm nhân thân xấu này khi gặp những tình huống bên ngoài thuận lợi sẽ dễ làm phát sinh hành vi phạm tội [23, tr.10]

Một số quan điểm của các nhà khoa học luật gia nước ta đưa ra khái niệm về nhân thân người phạm tội, cụ thể như sau:

- Theo GS TS Võ Khánh Vinh: “Nhân thân người phạm tội tức là người có

lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong

sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó”

- Theo GS TS Đỗ Ngọc Quang: “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp

những đặc điểm, những dấu hiệu, mối quan hệ xã hội về một con người chứa đựng phẩm chất cá nhân tiêu cực trong nhân cách dẫn đến hành vi phạm tội”

- Theo TS Lý Văn Quyền: “Nhân thân người phạm tội được hiểu là nhân

thân người có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm đoán và trừng phạt”

Trang 15

9

- Theo TS Nguyễn Mạnh Kháng: “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp

các đặc tính, các dấu hiệu thể hiện bản chất của con người mà trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định và dưới tác động của chính các điều kiện, hoàn cảnh đó động cơ phạm tội nảy sinh”

- Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa: “Nhân thân người phạm tội trong Luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa trong việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ”

- Theo PGS.TS Kiều Đình Thụ: “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp tất

cả những khía cạnh xã hội đặc trưng của người phạm tội tạo thành cá nhân, có ý nghĩa giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự”

Trên cơ sở khái niệm nhân thân người phạm tội của một số nhà khoa học, có thể đưa ra khái niệm chung về nhân thân người phạm tội: là tổng hợp những đặc điểm sinh học, tâm lý và xã hội của người phạm tội, các đặc điểm này kết hợp với các điều kiện hoàn cảnh khách quan bên ngoài dẫn con người đó đến việc thực hiện hành vi phạm tội [38, tr.150]

Trên cơ sở khái niệm nhân thân người phạm tội, có thể đưa ra khái niệm nhân thân người phạm tội XPSH như sau:

Nhân thân người phạm tội XPSH là tổng hợp những đặc điểm sinh học, tâm

lý và xã hội của người phạm tội XPSH, những đặc điểm này kết hợp với điều kiện hoàn cảnh khách quan bên ngoài dẫn con người đó đến việc thực hiện hành vi phạm tội XPSH được quy định tại chương XVI của BLHS 2015

1.1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội xâm phạm

Thứ nhất, nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH tạo cơ sở cho việc

xác định nguyên nhân và điều kiện của tội phạm

Trang 16

10

Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm được hiểu là mối quan hệ tương tác giữa những nhân tố chủ quan của con người (đặc điểm tâm, sinh lý, thói quen, tính cách…) với các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài làm phát sinh tội phạm XPSH

Những yếu tố thuộc mặt chủ quan là những sai lệch về nhu cầu, nhất là cách thức để thỏa mãn nhu cầu sẽ là động cơ thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội Yếu tố chủ quan cũng có thể là do ý thức pháp luật kém, không tôn trọng pháp luật, không thừa nhận giá trị xã hội đích thực của pháp luật

Mặt khách quan bên ngoài là những tình huống, hoàn cảnh bên ngoài thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm, có thể là hoàn cảnh kéo dài hay một sự kiện có tính nhất thời

Các nguyên nhân và điều kiện trong sự tác động lẫn nhau đã tham gia vào quá trình hình thành đặc điểm tâm lý, đạo đức của cá nhân, quyết định động cơ và

sự quyết tâm thực hiện tội phạm Không phải con người nào sinh ra cũng thực hiện tội phạm, hay nói cách khác là trở thành người phạm tội Mà do những nguyên nhân, điều kiện khác nhau tác động dẫn đến con người trở thành người phạm tội Chính vì vậy, nghiên cứu nhân thân người phạm tội sẽ cho thấy rõ những điều kiện, hoàn cảnh tiêu cực từ môi trường tác động thế nào đến sự hình thành nhân cách, đạo đức, đến quá trình động cơ hóa hành vi phạm tội Nói cách khác, nghiên cứu nhân thân người phạm tội sẽ cho phép xác định được nguyên nhân phát sinh tội phạm

Thứ hai, nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH có ý nghĩa rất lớn

trong việc định tội, định khung và quyết định hình phạt một cách chính xác, thuyết phục Qua việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội, chúng ta đánh giá được tính chất nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội, khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội để có thể đưa ra hình phạt tương ứng Mặc dù nhân thân người phạm tội XPSH không phải là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm nhưng trong quá trình xác định trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập, nghiên cứu đầy đủ và chính xác những đặc điểm riêng biệt này để giúp cho việc định tội, định khung và quyết định hình phạt đúng quy định pháp luật, không bỏ lọt

Trang 17

11

tội phạm, không làm oan người vô tội Bộ luật tố tụng hình sự quy định khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, bắt buộc các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) phải chứng minh làm rõ được những đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo Các đặc điểm về nhân thân bị can, bị cáo phải được thu thập, phản ánh trong hồ sơ điều tra, bản cáo trạng, bản án và các giấy tờ kèm theo

hồ sơ vụ án [23, tr.16] Khoản 1 Điều 50 của BLHS 2015 cũng quy định nhân thân người phạm tội là một trong các yếu tố buộc phải cân nhắc khi Tòa án quyết định hình phạt, nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố và xét xử đúng người, đúng tội

và đúng pháp luật, đảm bảo mục đích phòng ngừa của hình phạt được áp dụng

Thứ ba, nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH có ý nghĩa quan trọng

trong dự báo và phòng ngừa tội phạm nói chung và các tội XPSH nói riêng Qua nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH, giúp nhận thức được các yếu tố nhân thân đặc trưng, mang tính chất quyết định, ảnh hưởng đến việc phạm tội của các đối tượng, nhận thức được căn nguyên dẫn đến việc hình thành các yếu tố nhân thân này, kết hợp với xu hướng phát triển kinh tế, xã hội của địa bàn, từ đó đưa ra dự báo

về tình hình loại tội phạm trong thời gian tới Trên cơ sở dự báo đó, đề xuất các biện pháp phòng ngừa đối với các tội XPSH có độ chính xác cao và kịp thời, khắc phục hoặc hạn chế những điều kiện có thể dẫn đến việc phát sinh các tội XPSH

Thứ tư, nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH có ý nghĩa quan trọng

trong việc xây dựng các biện pháp giáo dục, cải tạo người phạm tội XPSH một cách hiệu quả Pháp luật hình sự Việt Nam luôn đề cao tính nhân đạo Nhân đạo là một nguyên tắc đặc trưng được quy định trong Bộ luật hình sự Hình phạt cũng như các biện pháp tác động khác chỉ được áp dụng đến mức độ cần cho sự cải tạo và giáo dục chứ không nhằm mục đích nào khác [41, tr.153] Để đảm bảo nguyên tắc này thì việc nghiên cứu đặc điểm nhân thân người phạm tội nói chung cũng như nhân thân người phạm tội XPSH nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc lựa chọn các hình thức, phương pháp giáo dục, cải tạo, quản lý người phạm tội XPSH phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất nhằm giảm bớt hoặc loại trừ các đặc điểm nhân thân xấu, là yếu tố quan trọng làm phát sinh tội phạm Đồng thời, góp phần hình

Trang 18

12

thành các đặc điểm nhân thân tốt, cải tạo, giáo dục họ thành công dân có ích cho xã hội Việc giáo dục cải tạo tốt cũng giúp quá trình tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội trở nên dễ dàng hơn, trở nên có ích cho xã hội và cho chính bản thân người phạm tội

1.2 Các đặc điểm của nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu

Nhân thân người phạm tội là tổng thể các yếu tố, các đặc điểm, dấu hiệu riêng biệt thể hiện bản chất xã hội của người phạm tội Mỗi đặc điểm, dấu hiệu lại

có hình thức biểu hiện khác nhau nhưng có mối quan hệ qua lại, gắn bó, tác động lẫn nhau Nhân thân người phạm tội nói chung có những đặc điểm đặc thù trong sự phân biệt với người không phạm tội Riêng đối với nhân thân người phạm tội XPSH lại có những đặc điểm riêng không chỉ để phân biệt với người không phạm tội mà còn phân biệt với các loại tội phạm khác được quy định trong Bộ luật hình sự

1.2.1 Các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu

Nghiên cứu các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu của nhân thân người phạm tội XPSH nghĩa là nghiên cứu các đặc trưng về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, nơi cư trú… của người phạm tội

1.2.1.1 Đặc điểm về độ tuổi

Nghiên cứu về đặc điểm độ tuổi của người phạm tội cho chúng ta biết về mức độ tích cực phạm tội” và các đặc điểm về hành vi chống đối xã hội của những người thuộc những lứa tuổi khác nhau, về đặc điểm của thành phần lứa tuổi của những nhóm người tội phạm khác nhau Điều đó cũng rất cần thiết cho việc kế hoạch hóa và tác động phòng ngừa tình hình tội phạm [50, tr.133]

Độ tuổi là một đặc điểm có mối quan hệ hữu cơ với việc phát triển và hình thành nhân cách trong đặc điểm nhân thân của người phạm tội Nghiên cứu đặc điểm lứa tuổi trong nhân thân người phạm tội XPSH sẽ giúp chúng ta xác định được lứa tuổi nào phạm tội XPSH nhiều nhất, lứa tuổi nào phạm tội ít nhất Từ đó, đưa ra biện pháp phòng ngừa cho phù hợp Độ tuổi có ảnh hưởng đáng kể đến việc thực hiện hành vi phạm tội bởi vì nó liên quan đến nhận thức và lý trí của con người Trong nghiên cứu tội phạm học, có nhiều cách chia độ tuổi Tuy nhiên, cách phổ

Trang 19

Tóm lại, nghiên cứu về độ tuổi của người phạm tội XPSH sẽ giúp cho việc xây dựng các giải pháp phòng ngừa tội phạm XPSH có hiệu quả hơn

1.2.1.2 Đặc điểm về giới tính

Khi nghiên cứu đặc điểm giới tính của người phạm tội, tội phạm học tập trung xác định hai vấn đề: tỷ lệ phạm tội của nam giới và nữ giới thực hiện và đặc trưng của giới tính có ảnh hưởng như thế nào đến cơ chế hành vi phạm tội

Nghiên cứu đặc điểm giới tính của người phạm tội XPSH giúp chúng ta xác định được người thực hiện hành vi phạm tội là nam hay nữ, qua đó cho thấy tình hình các tội XPSH theo từng giới Nghiên cứu số liệu về cơ cấu giới tính của người phạm tội cho thấy rằng nam giới chiếm số lượng tuyệt đối lớn trong tổng số những người phạm tội Đối với một số tội XPSH phần lớn do nam giới thực hiện, như: tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản… Nam giới có một số đặc điểm tâm sinh lý là dễ bị tác động, ảnh hưởng của môi trường và điều kiện sống, dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu, liều lĩnh hơn so với nữ giới Những đặc điểm đó

có liên quan với các điều kiện giáo dục, với các đặc điểm về chuẩn mực hành vi và hoạt động sống, với tính chất của các quan hệ lao động, gia đình, lối sống và những quan hệ khác của nam giới và nữ giới [50, tr.132] Việc xác định được ảnh hưởng của giới tính sẽ có nhiều ý nghĩa trong đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm XPSH trong thời gian tới

1.2.1.3 Đặc điểm về trình độ học vấn

Trình độ học vấn là một yếu tố chi phối rất lớn đến quá trình hình thành nhân cách của cá nhân khi cá nhân đó tham gia vào quan hệ xã hội, ảnh hưởng đến khả năng ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội nói chung và hành vi phạm tội nói riêng Mức độ ảnh hưởng của trình độ học vấn đối với từng loại tội,

Trang 20

14

từng nhóm tội cũng khác nhau Có những nhóm tội đòi hỏi phải có trình độ học vấn nhất định mới thực hiện được hành vi phạm tội, chẳng hạn như nhóm tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, nhóm tội phạm tham nhũng… Đối với nhóm tội XPSH, người phạm tội không cần phải có trình độ học vấn cao mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội Nghiên cứu về nhân thân người phạm tội XPSH cho thấy: Đa số những người phạm tội XPSH thường có trình độ văn hóa thấp, ứng với mỗi tội XPSH khác nhau thì người phạm tội cũng có trình độ học vấn khác nhau Từ đó, dẫn đến nhận thức chưa đúng hoặc chưa đủ về các quy tắc đạo đức, các quy tắc xã hội và ảnh hưởng tới tâm lý, lối sống của họ

Căn cứ vào trình độ học vấn, người phạm tội XPSH có thể được chia thành

05 nhóm: người không biết chữ hoặc có trình độ tiểu học; người có trình độ trung học cơ sở; người có trình độ trung học phổ thông; người có trình độ trung cấp, cao đẳng và người có trình độ đại học trở lên

1.2.1.4 Đặc điểm về địa vị xã hội và nghề nghiệp

Nghiên cứu các đặc điểm về địa vị xã hội và nghề nghiệp của người thực hiện hành vi phạm tội cho chúng ta biết được ở những điều kiện và trình độ nào tội phạm được thực hiện Một người có nghề nghiệp ổn định, tạo ra thu nhập ổn định thì sẽ thỏa mãn được phần lớn các nhu cầu thiết yếu của bản thân, do đó ít hình thành đặc điểm nhân thân tiêu cực Thực tiễn nghiên cứu tội phạm học trong thời gian qua cho thấy: Phần lớn người phạm tội XPSH là những người không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định

Đặc điểm địa vị xã hội và nghề nghiệp cũng có mối quan hệ mật thiết với việc hình thành và phát triển nhân cách con người Qua nghiên cứu địa vị xã hội và nghiệp sẽ cho biết được nhóm người làm việc ở những ngành, lĩnh vực nào trong xã hội dễ thực hiện tội phạm và loại tội phạm họ thực hiện [48, tr.145] Mức độ ảnh hưởng của hai đặc điểm địa vị xã hội và nghề nghiệp đối với việc thực hiện tội XPSH cũng có sự khác nhau: địa vị xã hội có ảnh hưởng đến hành vi phạm tội nhưng mức độ không nhiều, trong khi đó đặc điểm nghề nghiệp lại có ảnh hưởng khá lớn Dựa vào đặc điểm địa vị xã hội, có thể chia người phạm tội XPSH thành

Trang 21

15

các nhóm: công nhân, nông dân, học sinh, viên chức… Dựa vào đặc điểm nghề nghiệp, có thể chia thành 03 nhóm: người không nghề nghiệp; người có nghề nghiệp nhưng không ổn định và người có nghề nghiệp ổn định

1.2.1.5 Đặc điểm về hoàn cảnh gia đình

Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự hình thành và phát triển tính cách của mỗi cá nhân Và cũng chính trong gia đình, mỗi cá nhân sẽ học được cách cư xử với những người xung quanh và xã hội Gia đình là nơi gần gũi, gắn bó nhất của mỗi con người Do vậy, hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các đặc điểm nhân cách của con người nói chung và của người phạm tội nói riêng Hoàn cảnh gia đình

và sự thay đổi hoàn cảnh đó ở người phạm tội cũng ảnh hưởng đến sự hình thành các đặc điểm cá nhân, và ở một mức độ nhất định chúng cũng ảnh hưởng đến tính định hướng và tính vững chắc của hành vi phạm tội [48, tr.146] Hoàn cảnh gia đình

có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành những phẩm chất tâm lý tiêu cực của con người, dẫn đến họ sẽ có tính chống đối xã hội, có những hành vi đi ngược với các chuẩn mực xã hội Chính yếu tố gia đình trong đa số trường hợp đã kích thích tính tích cực của mỗi thành viên, đồng thời gia đình giữ vai trò kiểm sát, giám sát hành

vi của những thành viên trong gia đình, hạn chế đến mức tối đa các hiện tượng tiêu

người phạm tội XPSH là nghiên cứu ở các khía cạnh: quan hệ gia đình, đạo đức-lối sống, hòan cảnh kinh tế gia đình có ảnh hưởng, tác động đến người phạm tội như thế nào Gia đình là nơi nuôi dưỡng các giá trị của hạnh phúc Sự hạnh phúc của gia đình là tiền đề để hình thành nên nhân cách tốt cho những công dân của xã hội, của các thành viên trong gia đình Mối quan hệ thương yêu, xử sự văn minh, nhân ái giữa các thành viên trong gia đình có ý nghĩa rất lớn tới việc kiểm soát hành vi, định hướng hành vi của mỗi người, giúp hạn chế những tiêu cực có thể xảy ra Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người sống trong một gia đình hạnh phúc, êm ấm, thuận hòa thì tỷ lệ phạm tội của họ ít hơn những gia đình bị khiếm khuyết (cha mẹ

ly hôn), gia đình có thành viên thường xuyên vi phạm pháp luật hoặc cuộc sống gia

Trang 22

16

đình luôn căng thẳng, mất đoàn kết, không hạnh phúc Qua đó cho thấy sức mạnh tác động của gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tính định hướng của hành vi phạm tội Dựa vào đặc điểm quan hệ gia đình, người phạm tội XPSH có thể chia thành 04 nhóm: người chưa kết hôn; người đã kết hôn; gia đình có cơ cấu hoàn thiện và gia đình bị khiếm khuyết

Yếu tố kinh tế của mỗi gia đình như: mức thu nhập, điều kiện sống… cũng

có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành động cơ, mục đích phạm tội XPSH Gia đình có điều kiện kinh tế đầy đủ, đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu cần thiết cho cuộc sống các thành viên thì động cơ phạm tội XPSH thấp, còn với những gia đình kinh tế khó khăn, thu nhập bấp bênh, có nhiều thành viên trong gia đình ở độ tuổi lao động nhưng không có công ăn việc làm, sự quan tâm giữa các thành viên với nhau không có… dễ tác động lên suy nghĩ tâm lý tiêu cực của con người Đa số người thực hiện hành vi phạm tội XPSH đều nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi ích vật chất cho bản thân Dựa vào đặc điểm hoàn cảnh kinh tế gia đình, người phạm tội XPSH được chia thành 02 nhóm: người phạm tội sống trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế thuận lợi và người phạm tội sống trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế không thuận lợi

1.2.1.6 Đặc điểm về nơi cư trú

Nơi cư trú của người phạm tội là nơi mà người đó thường trú hoặc tạm trú, hay nói cách khác đó là nơi người phạm tội sinh sống Nơi cư trú có những đặc điểm riêng về kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, đạo đức, thuần phong

mỹ tục… cũng có những tác động đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân người phạm tội nói chung và nhân thân người phạm tội XPSH nói riêng Người có nơi cư trú rõ ràng và ổn định trong một thời gian dài thường là những người có công ăn việc làm thu nhập ổn định cho nên họ ít hình thành các thói hư tật xấu, các đặc điểm nhân thân tiêu cực Được sống ổn định trong một môi trường lành mạnh, an ninh tốt, khu phố văn hóa, tình làng nghĩa xóm luôn được đề cao thì động cơ, mục đích phạm tội XPSH rất thấp Ngược lại, sống trong môi trường mà có nhiều tệ nạn xã hội, nạn thất nghiệp nhiều, thu nhập không ổn định, xung quanh có nhiều người vi

Trang 23

17

phạm pháp luật… thì nguy cơ phạm tội XPSH khá cao Dựa vào nơi cư trú, có thể chia người phạm tội XPSH thành 03 nhóm: người không có nơi cư trú (sống lang thang), người có nơi cư trú không ổn định và người có nơi cư trú ổn định

1.2.2 Các đặc điểm về đạo đức - tâm lý

Những đặc điểm đạo đức - tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành động cơ và trong sự lựa chọn phương án hành vi phạm tội trong những tình huống nhất định [50, tr.136] Những đặc điểm đạo đức - tâm lý của nhân thân người phạm tội XPSH bao gồm quan niệm, quan điểm về đạo đức, về giá trị xã hội và các đặc điểm tâm lý như nhu cầu, thói quen, sở thích, nguyện vọng Quá trình hình thành nhân thân người phạm tội XPSH còn chịu ảnh hưởng của những yếu tố mang tính đạo đức, tâm lý Nghĩa là thái độ của cá nhân đối với các giá trị xã hội, tư tưởng tham lam, ích kỷ, nhu cầu, các sở thích, ham muốn

1.2.2.1 Đặc điểm đạo đức

Con người tồn tại trong xã hội, mỗi cá nhân là một thành tố của xã hội Mỗi con người đều sống trong các mối quan hệ xã hội nhất định Do vậy, quan niệm, quan điểm đối với các giá trị đạo đức xã hội và pháp luật cũng khác nhau Điều này cho thấy tại sao trong một hoàn cảnh nhất định, người này phạm tội còn người khác thì không Những người phạm tội XPSH phần lớn là những người có cái nhìn tiêu cực, coi trọng lợi ích vật chất, hám lợi, đặt lợi ích cá nhân của mình là trên hết Họ coi thường pháp luật, coi thường các chuẩn mực xã hội để chỉ biết sống cho bản thân, thỏa mãn những ham muốn, đua đòi, thích hưởng thụ nhưng lại không muốn

bỏ công sức lao động chân chính của mình

1.2.2.2 Đặc điểm về tâm lý

Những đặc điểm tâm lý cá nhân của người phạm tội XPSH thể hiện ở nhu cầu, sở thích, thói quen, sự đam mê, tình cảm, xúc cảm… Những đặc điểm này đều tồn tại ở bất kỳ người nào trong xã hội Mỗi người đều có những nhu cầu, sở thích, thói quen khác nhau, có thể là nhu cầu thói quen lành mạnh, cũng có thể là nhu cầu,

sở thích, thói quen tiêu cực Những người phạm tội XPSH thường có nhu cầu, sở thích, thói quen tiêu cực, không lành mạnh như thích ăn ngon, mặc đẹp, thích thể

Trang 24

18

hiện bản thân, nghiện các chất kích thích… và họ sẵn sàng làm mọi việc kể cả vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức để thỏa mãn nhu cầu, sở thích sai lệch, thấp kém

đó Điều đó đã tác động trực tiếp đến việc hình thành mục đích, động cơ phạm tội

và sự kiên định thực hiện tội phạm đến cùng của người phạm tội

Như vậy, các đặc điểm về mặt đạo đức - tâm lý của người phạm tội XPSH không những phản ánh rõ sự hình thành động cơ, sự lựa chọn cơ chế thực hiện tội phạm trong hoàn cảnh cụ thể mà còn cho thấy những điều kiện xã hội của đời sống

cá nhân người phạm tội, họ đã bị những ảnh hưởng tác động gì, có vị trí vai trò xã hội gì, thái độ trách nhiệm ra sao Tất cả những yếu tố ấy thể hiện rõ rệt trong quá trình người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội XPSH

1.2.3 Đặc điểm pháp lý hình sự

Các đặc điểm pháp lý hình sự của nhân thân người phạm tội XPSH là những dấu hiệu có ý nghĩa quan trọng được quy định rõ trong Bộ luật hình sự làm cơ sở cho việc định tội, định khung và quyết định hình phạt, là tiêu chí nói lên tính nguy hiểm cho xã hội của người thực hiện hành vi phạm tội Qua đó, để có khả năng cảm hóa, giáo dục cải tạo họ, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp phòng ngừa hiệu quả

- Động cơ và mục đích: Động cơ, mục đích phạm tội thể hiện trạng thái tâm

lý của người phạm tội đối với hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi đó gây ra Nghiên cứu động cơ, mục đích phạm tội của người thực hiện hành vi phạm tội XPSH không chỉ góp phần làm rõ được nguyên nhân mà họ thực hiện tội phạm mà còn giúp cho việc đánh giá một cách chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nếu động cơ phạm tội càng mãnh liệt, mục đích phạm tội càng rõ ràng thì tính chất của tội phạm càng nguy hiểm và hậu quả của tội phạm càng nghiêm trọng

- Hình thức phạm tội: Tội phạm được thực hiện đơn lẻ hay có đồng phạm?

Tội phạm đơn lẻ là hành vi phạm tội do một cá nhân thực hiện mà không có sự giúp sức của người khác Còn đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Nếu tội phạm được thực hiện là đồng phạm thì đó là đồng phạm giản đơn hay đồng phạm phức tạp, có tổ chức? Nếu là đồng phạm thì vai trò

Trang 25

19

của mỗi người trong khi thực hiện hành vi phạm tội XPSH ra sao? Mức độ thực hiện hành vi phạm tội đến đâu?

- Người phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm: Nếu tái phạm thì

thuộc trường hợp tái phạm dạng nào? Tái phạm chung, tái phạm nguy hiểm hay tái phạm đặc biệt nguy hiểm?

- Đặc điểm về tiền án, tiền sự: Nghiên cứu đặc điểm nhân thân người phạm

tội nói chung và nhân thân người phạm tội XPSH nói riêng, một vấn đề rất lớn và không thể bỏ qua đó là tiền án, tiền sự của người phạm tội Điều này được thể hiện

rõ trong lý lịch bị can, trích lục tiền án, tiền sự của người phạm tội

- Tính chất phạm tội: hành vi phạm tội XPSH được thực hiện với tính chất,

mức độ nguy hiểm cho xã hội như thế nào? Hậu quả của hành vi gây ra ra sao? phạm tội có mang tính chất chuyên nghiệp, côn đồ hay không

Các đặc điểm pháp lý trên có thể làm cho tính chất và mức độ của hành vi phạm tội tăng lên như: tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tổ chức, phạm tội mang tính chuyên nghiệp… hoặc cũng có thể làm giảm tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như: người phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, biết ăn năn hối cải…

Tóm lại, đặc điểm của nhân thân người phạm tội XPSH bao gồm 03 nhóm đặc điểm cơ bản là: các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu, về đạo đức - tâm lý và

về pháp lý hình sự Mỗi nhóm đặc điểm thể hiện khía cạnh khác nhau của nhân thân người phạm tội XPSH Các đặc điểm này không tách rời nhau mà luôn gắn liền với từng cá nhân con người, chúng có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành nhân cách tiêu cực của cá nhân người phạm tội Nhân cách này trong mối liên hệ, tác động với hoàn cảnh, tình huống xung quanh dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội XPSH

1.3 Các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu

Sự hình thành các đặc điểm nhân thân là một quá trình do sự tương tác giữa các môi trường sống với các yếu tố thuộc chủ quan của con người trong quá trình

Trang 26

20

nhận thức Môi trường tốt cộng với thái độ nhận thức tích cực sẽ giúp hình thành các đặc điểm nhân thân tốt Ngược lại, môi trường tiêu cực cùng với thái độ nhận thức tiêu cực sẽ hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực và khi gặp yếu tố, hoàn cảnh thuận lợi sẽ dễ dàng làm phát sinh hành vi phạm tội Do đó, nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội XPSH có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các nguy cơ phạm tội XPSH để từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa

1.3.1 Các yếu tố khách quan thuộc về môi trường sống

Môi trường sống của mỗi cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành

và phát triển nhân cách của mỗi người Đặc biệt, khi sống trong một môi trường không lành mạnh, con người ta dễ bị tác động dẫn đến việc hình thành nhân cách lệch lạc của mỗi cá nhân Sự hình thành nhân cách của người phạm tội XPSH chịu

sự tác động của các yếu tố tiêu cực thuộc 3 môi trường sống, đó chính là môi trường gia đình, nhà trường và xã hội

1.3.1.1 Môi trường gia đình

Con người khi sinh ra mới chỉ là một thực thể sinh học thuộc loài người mà chưa hề có nhận thức và các kỹ năng sống, lại càng chưa có quan điểm riêng, sở thích riêng, cá tính riêng… Nghĩa là con người mới sinh ra đó mới chỉ hoàn toàn là một con người về mặt sinh học Con người sinh học sẽ trở thành con người xã hội thông qua một quá trình học tập, tiếp thu văn hóa cộng đồng để hòa nhập vào xã hội

đó Đó là quá trình xã hội hóa cá nhân, là quá trình hình thành nhân cách cá nhân Trong quá trình xã hội hóa cá nhân, môi trường gia đình giữ vai trò quan trọng và quyết định trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Gia đình là trường học đầu tiên và gắn bó suốt đời của mỗi người, là môi trường chính yếu hình thành, phát triển nhân cách con người Nếu các thành viên trong gia đình không gương mẫu, vi phạm chuẩn mực đạo đức, pháp luật; gia đình không hòa thuận, hạnh phúc; cha mẹ ít quan tâm hoặc quá nuông chiều con cái; gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn… thì sẽ góp phần hình thành nên nhân cách lệch lạc của con cái ngay từ thời thơ ấu Từ đó, sẽ đi vào con đường phạm tội

Trang 27

21

Những yếu tố tiêu cực trong môi trường gia đình gồm:

Thứ nhất, thành viên trong gia đình không gương mẫu, vi phạm chuẩn mực

Thứ hai, gia đình quá nuông chiều con cái: Hiện nay, nền kinh tế ngày càng

phát triển, nhiều gia đình có điều kiện kinh tế lại quá nuông chiều con cái Mọi nhu cầu của con đưa ra đều được đáp ứng ngay lập tức, nhằm thỏa mãn cho con mặc dù những đòi hỏi của người con đưa ra là không phù hợp, không chính đáng Sự nuông chiều quá mức của cha mẹ khiến cho con cái hình thành tính ích kỷ, lười biếng, ỷ lại

và vô trách nhiệm, luôn đòi hỏi được hưởng thụ, được phục vụ, đáp ứng mọi yêu sách của mình Khi nhu cầu, đòi hỏi của mình không được cha mẹ đáp ứng kịp thời thì những người này dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực, coi thường đạo đức, coi thường pháp luật dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội

Thứ ba, gia đình thiếu sự quan tâm chăm sóc, giáo dục con cái: cha mẹ lo

làm ăn kinh tế mà bỏ bê sự quan tâm, chăm sóc con cái Họ nghĩ rằng đã có ông bà, nhà trường hoặc người giúp việc quan tâm, chăm sóc, theo dõi con hàng ngày là ổn rồi Tuy nhiên, cha mẹ không nghĩ rằng khi thiếu tình thương yêu chăm sóc của cha,

mẹ thì đứa trẻ luôn có tâm trạng hụt hẫng, thiệt thòi ngay từ trong chính gia đình của mình Từ đó, đứa trẻ sẽ chán nản, giận hờn, thù hận, thậm chí muốn trả thù cha

mẹ, trả thù đời bằng những hành vi vi phạm pháp luật, thậm chí phạm tội

Thứ tư, gia đình khuyết thiếu: đây là gia đình mà đứa trẻ lớn lên hoặc không

có cha, hoặc không có mẹ hoặc không có cả cha lẫn mẹ hoặc gia đình mà con cái

Trang 28

22

phải sống chung với cha dượng hay mẹ kế Sống trong những gia đình khuyết thiếu, đứa trẻ thường thiếu sự dạy dỗ và thiếu tình thương của cha, mẹ nên dễ phát sinh tâm lý lệch lạc, tự do, ngang bướng, bất cần, tự ti, mặc cảm, thiếu sự quản lý, giáo dục dẫn tới mất phương hướng khi hành động, dễ bị tác động, rủ rê, lôi kéo vào việc

vi phạm pháp luật, phạm tội

Thứ năm, gia đình không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã, chửi bới, gây gỗ

nhau: đó là những gia đình cha, mẹ sống không hòa thuận, không hạnh phúc; cha,

mẹ, vợ chồng thường xuyên cãi, chửi hoặc thậm chí là đánh nhau Sống trong gia đình như thế, nhiều trẻ em lớn lên có tâm lý con thường cha mẹ, không tôn trọng cha mẹ, người lớn trong gia đình, có tâm lý bi quan, chán nản, ưa bạo lực, sự thù ghét, căm hận cuộc đời, trong lòng luôn mong muốn tìm cách để trả thù Đây là những tâm lý rất dễ dẫn đến không kiểm soát, không làm chủ được hành vi của bản thân mình và dễ đi vào con đường phạm tội

1.3.1.2 Môi trường giáo dục

Cùng với gia đình thì nhà trường được xem như là một môi trường có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách con người Trường học là nơi học sinh được tiếp thu những kiến thức cũng như sự dạy dỗ của thầy cô

về nhân cách con người Môi trường giáo dục là ngôi nhà thứ hai mà cha mẹ ở đây chính là các thầy cô giáo Tuy nhiên, môi trường giáo dục ở nhà trường cũng gồm hai khía cạnh tích cực và tiêu cực Nếu nhà trường thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ, một môi trường giáo dục, sư phạm lành mạnh thì sẽ giáo dục ra một thế

hệ học trò có đủ đức và tài, làm những công việc có ích cho xã hội, góp phần xây dựng đất nước phát triển, giàu mạnh Ngược lại, nếu môi trường giáo dục ở nhà trường là môi trường đầy những tiêu cực, những yếu kém, hạn chế, không hoàn thành nhiệm vụ, chức năng của mình thì học trò sẽ dễ hình thành những đặc điểm nhân cách xấu Khi đó, nếu gặp điều kiện, tình huống thuận lợi thì dễ phát sinh tội phạm Những bất cập, hạn chế mà môi trường giáo dục có tác động tiêu cực đến hình thành đặc điểm nhân thân người phạm tội XPSH đó là:

Thứ nhất, nhà trường đối xử bất công, thiên vị, thiếu sự quan tâm đối với học

sinh, gian lận trong thi cử hình thành nên tâm lý buồn chán, mất niềm tin, căm

Trang 29

23

ghét trong học sinh Từ đó, học sinh có thái độ bất mãn, buông xuôi và dễ bị lôi kéo,

dụ dỗ, gặp tình huống tiêu cực dễ thực hiện hành vi phạm tội

Thứ hai, chương trình giáo dục trong nhà trường quá tải về nội dung, phương

pháp học tập không phù hợp, tồn tại tình trạng bạo lực học đường, lạm dụng tình dục Những nguyên nhân này sẽ hình thành tâm lý căng thẳng, chán nản, lo âu, thất vọng trong mỗi học sinh Từ đó họ có tâm lý buông xuôi, lơ là việc học, tụ tập bè phái, dễ sa vào các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, game khi không có tiền để thỏa mãn những nhu cầu này thì sẽ dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội XPSH

Thứ ba, nhà trường thiếu sự quan tâm, giáo dục các kỹ năng sống, các kiến

thức pháp luật Nhà trường cần phải dạy cho trẻ cách ứng xử trước những khó khăn trong cuộc sống như hoàn cảnh gia đình có cha mẹ ly hôn, trong việc học tập mà có kết quả thấp hoặc phải giáo dục cho trẻ hiểu được các giá trị của cuộc sống để tránh

xa những tệ nạn xã hội, hành động theo bản năng, khi gặp tình huống tiêu cực sẽ không biết lựa chọn cách xử sự dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội XPSH

Thứ tư, việc quản lý học sinh của nhà trường chưa sâu sát, lỏng lẻo, đôi khi

mang nặng tính hình thức Sự phối hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình, với

xã hội chưa tốt Điều đó, cũng dẫn đến học sinh có nguy cơ trốn học, bỏ học, ý thức

kỷ luật kém, dẫn đến kết quả học tập kém, dễ bị lôi kéo, đua đòi, tham gia băng nhóm tụ tập ăn chơi, khi thiếu tiền thì thực hiện phạm tội XPSH để có tiền thỏa mãn nhu cầu của bản thân

1.3.1.3 Môi trường bạn bè

Cùng với gia đình, thầy cô, người thân thì bạn bè chính là những người thường xuyên gần gũi, tâm sự, có cùng quan điểm và có sự ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành các đặc điểm nhân thân người phạm tội Vì thế, quan điểm, lối sống, nhận thức, cách cư xử của chúng rất dễ ảnh hưởng tác động tới nhau Việc chọn bạn

mà chơi vô cùng quan trọng, khi chơi với người bạn tốt, ngoan ngoãn, chăm chỉ học tập, lễ phép thì đứa trẻ sẽ học được những đức tính tốt từ người bạn của mình Ngược lại, khi đứa trẻ thường xuyên chơi với những người bạn bè ăn chơi, đua đòi,

Trang 30

24

nghiện ngập, xao lãng việc học tập thì đứa trẻ cũng sẽ nhiễm những thói hư tật xấu

từ người bạn Khi không có tiền để thỏa mãn thì chúng sẽ tìm mọi cách để có tiền, thậm chí là phạm tội

1.3.1.4 Môi trường làm việc, công tác

Cũng giống như môi trường gia đình, trường học, bạn bè, môi trường làm việc cũng có vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển nhận thức, năng lực chuyên môn, lối sống cũng như những phẩm chất đạo đức cá nhân Nếu môi trường làm việc thoải mái, lành mạnh, an toàn, chế độ đãi ngộ thỏa đáng, quyền lợi chính đáng của người lao động được quan tâm, đồng nghiệp gần gũi, đoàn kết giúp đỡ nhau trong công việc, mọi người biết chí thú làm ăn, chấp hành nghiêm chỉnh các nội quy, quy chế cơ quan, các quy định của pháp luật thì sẽ làm cho con người cảm thấy thoải mái, hăng say lao động, đạt năng suất cao, có tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách đúng đắn của cá nhân và hạn chế được sự phát triển nhân cách lệch lạc Ngược lại, nếu môi trường làm việc không thoải mái, đố kỵ, chứa đựng nhiều nhân tố tiêu cực, đồng nghiệp luôn chèn ép lẫn nhau, ganh tỵ, coi trọng lợi ích cá nhân, không đề cao tính tập thể, có lối sống lệch lạc thì người lao động

sẽ có tâm lý chán nản, lười làm việc, chỉ biết coi trọng lợi ích của mình mà coi thường lợi ích người khác, của tập thể từ đó dễ nảy sinh lòng tham, ghen ghét, coi thường pháp luật, nhiễm thói hư tật xấu, tiềm ẩn nhiều nguy cơ lôi kéo, tác động đến những người thiếu bản lĩnh, không vững vàng, dễ sa ngã trước cái xấu, cái tiêu cực, từ đó có thể ảnh hưởng, dẫn đến việc hình thành và phát triển nhân cách lệch lạc của cá nhân, dễ dẫn đến phạm tội XPSH

1.3.1.5 Môi trường kinh tế, xã hội vĩ mô

Đất nước ta ngày càng phát triển về mọi mặt, trong đó sự phát triển về kinh

tế đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, xã hội phát triển Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển mạnh, tuy nhiên mặt trái của nó tác động tiêu cực đến con người, coi trọng đồng tiền bằng mọi cách dẫn đến một số người sẵn sàng thực hiện các hành vi trái với đạo đức, trái pháp luật Môi trường xã hội vĩ mô cũng có vai trò quan trọng trong việc tác động

Trang 31

25

hình thành và phát triển nhận thức, lối sống, quan điểm của cá nhân Có thể liệt kê một số nhân tố có tác động tiêu cực đến nhân thân người phạm tội XPSH như: tác động từ sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội, vấn đề thất nghiệp, đói nghèo, bất bình đẳng xã hội; tác động của chính sách, pháp luật đôi lúc còn chưa chặt chẽ, sơ hở; hoạt động của các cơ quan quản lý trong các lĩnh vực chưa đồng bộ, thiếu kiên quyết trong việc xử lý vi phạm Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong xử lý

vi phạm, tội phạm còn chưa hiệu quả

1.3.1.6 Môi trường văn hóa, tư tưởng, đạo đức

Cùng với đời sống vật chất ngày được nâng cao thì đời sống văn hóa tinh thần của người dân cũng ngày càng phong phú, đa dạng Các giá trị truyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành Sự du nhập của các nền văn hóa quốc tế thúc đẩy đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam được cải thiện, nâng cao Tuy nhiên, công tác quản lý các loại hình văn hóa, loại hình dịch vụ chưa chặt chẽ, đạo đức kinh doanh chưa được coi trọng, các văn hóa phẩm đồi trụy như phim, ảnh, sách báo mang tính bạo lực, đồi trụy, phản cảm tràn lan, chưa được kiểm duyệt, chưa được quản lý một cách chặt chẽ Tình trạng này thể hiện sự tiếp thu thiếu chọn lọc các nền văn hóa từ bên ngoài, thiếu định hướng của các nhà quản lý dẫn đến sự suy thoái về đạo đức của một bộ phận người dân Họ có tư tưởng coi trọng vật chất, xem thường giá trị đạo đức, xem thường pháp luật, lười biếng lao động, xem thường tính mạng, tài sản của người khác Khi nhu cầu, sở thích không được đáp ứng thì họ sẵn sàng phạm tội nhằm để có tiền thỏa mãn cho nhu cầu của mình

1.3.2 Các yếu tố chủ quan thuộc về người phạm tội xâm phạm sở hữu

Nguyên nhân làm phát sinh tội phạm là sự tác động qua lại giữa yếu tố khách quan của môi trường sống với các yếu tố chủ quan thuộc về cá nhân con người” [30, tr.43-51] Quá trình hình thành và phát triển nhân thân con người trong bất cứ xã hội nào cũng luôn tồn tại 2 khả năng: tích cực (tốt) và tiêu cực (xấu) Đó

là do trong quá trình tương tác giữa khả năng nhận thức, hiểu biết của mỗi người với những yếu tố từ môi trường bên ngoài Điều kiện xã hội và những ảnh hưởng từ

Trang 32

26

bên ngoài chỉ có thể tác động đến con người thông qua tâm lý của họ, tạo thành động lực thúc đẩy họ hành động [45, tr.99] Các yếu tố chủ quan mang tính tiêu cực thuộc về nhân thân con người gặp môi trường sống thích hợp cho việc phát sinh tội phạm sẽ hình thành nên hành vi phạm tội Tức là, con người khi mang trong mình những đặc điểm nhân thân xấu kết hợp với các tình huống tiêu cực cụ thể sẽ dễ làm phát sinh hành vi phạm tội Trong khi đó quá trình hình thành các đặc điểm nhân thân xấu phụ thuộc vào nhận thức chủ quan cũng như đặc điểm tâm lý của từng cá nhân cụ thể [30, tr.43-51] Điều này lý giải cho sự khác nhau của việc có nhiều cá nhân sống trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh nhưng có người phạm tội, có người không

Các yếu tố chủ quan thuộc về người phạm tội XPSH đó là: Sai lệch về sở thích, sai lệch về nhu cầu và cách thức thỏa mãn nhu cầu, hạn chế về ý thức pháp luật, về năng lực trí tuệ…

1.3.2.1 Sai lệch về sở thích

Sở thích chính là thú vui, thú tiêu khiển, là những hoạt động thường xuyên hoặc theo thói quen để đem lại cho con người niềm vui, sự phấn khởi trong khoảng thời gian thư giãn, sở thích cũng chỉ về sự hứng thú, thái độ ham thích đối với một đối tượng nhất định Sở thích của mỗi người, mỗi cá nhân có thể giống nhau, cũng có thể khác nhau Những người có sở thích chơi thể thao, đọc báo, nghe nhạc, xem phim…thì thường hình thành nhân cách tốt Ngược lại, những người có

sở thích nhậu nhẹt, cờ bạc, tụ tập bạn bè chơi bời, xem phim bạo lực, khiêu dâm… thì những sở thích này có thể thẩm thấu sâu vào nhận thức của họ dẫn đến có cái nhìn lệch lạc, tiêu cực, hình thành nên tâm lý buông thả, thực dụng, coi thường các chuẩn mực đạo đức, văn hóa… Nhận thức sai nên khi gặp những điều kiện bên ngoài tác động một cách tiêu cực sẽ không xác định được đúng sai, coi thường pháp luật, thậm chí thực hiện tội phạm

1.3.2.2 Sai lệch về nhu cầu và cách thức để thỏa mãn nhu cầu

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người

Trang 33

27

có những nhu cầu khác nhau Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được, là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu của con người đa dạng và vô tận bao gồm nhiều mặt như nhu cầu về kinh tế, về chính trị, về danh vọng… Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối hành vi của con người càng cao Nhu cầu đúng đắn, lành mạnh thì thúc đẩy con người hành động đúng, tích cực Ngược lại, nhu cầu lệch lạc, chi phối tâm lý, hướng con người đến nhận thức, hành động tiêu cực, thậm chí cả thực hiện hành vi phạm tội Ngoài

ra, có những nhu cầu chính đáng nhưng chủ thể lại lựa chọn phương thức thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu một cách không chính đáng

1.3.2.3 Hạn chế trong năng lực trí tuệ

Năng lực trí tuệ ở mỗi cá nhân con người là khác nhau Sống trong một môi trường xã hội chung nhưng mỗi con người lại có sự phát triển khác nhau về mặt nhận thức hiểu biết thế giới xung quanh Người thông minh sẽ biết phân tích, chắt lọc những điều hay lẽ phải, những mặt tích cực của môi trường sống để tiếp thu học hỏi hoàn thiện bản thân mình Ngược lại, những người mà sự hiểu biết hạn hẹp, khả năng tiếp cận vấn đề trong cuộc sống thiếu linh hoạt, nhạy bén thì khi gặp những tình huống tiêu cực, khả năng tự phản kháng lại rất kém Trên thực tế, đa số người phạm tội XPSH đều có khả năng nhận biết, trình độ thấp, lười lao động, muốn hưởng thụ, muốn có tiền tiêu xài mà không muốn bỏ công sức lao động chân chính của mình Do đó, để thỏa mãn nhu cầu họ rất dễ bị dụ dỗ, lôi kéo, sẵn sàng chiếm đoạt tài sản của người khác

1.3.2.4 Sai lệch, hạn chế trong ý thức pháp luật của cá nhân

Đây cũng chính là một yếu tố tác động trong cơ chế làm phát sinh tội phạm Con người sống trong một môi trường xã hội nào cũng đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật Tuy vậy, khả năng hiểu biết pháp luật, nhận thức pháp luật của mỗi người lại không giống nhau Có người không hiểu biết gì về pháp luật, cũng có người chỉ hiểu biết sơ sài, cũng có người hiểu nhưng lại hiểu sai về pháp luật Trong thực tiễn thì đa số những người phạm tội XPSH là những người có trình độ học vấn

Trang 34

lý và pháp lý hình sự Trên cơ sở đó, tác giả đã đi sâu phân tích và làm rõ những yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội XPSH gồm những yếu

tố khách quan và những yếu tố chủ quan

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, kết luận ở chương 1 sẽ là cơ sở để tìm hiểu

và làm rõ về các đặc điểm nhân thân và nguyên nhân hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực của người phạm tội XPSH trên địa bàn quận Phú Nhuận được trình bày ở chương 2 của luận văn

Trang 35

29

Chương 2 THỰC TRẠNG NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát tình hình tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Mức độ (thực trạng) của tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận giai đoạn 2013-2017

Thực trạng (mức độ) của tình hình tội phạm trên địa bàn quận Phú Nhuận trong giai đoạn 2013-2017 được xác định thông qua số liệu thống kê tổng số tội XPSH và số người thực hiện hành vi phạm tội XPSH Trong luận văn này, tác giả chỉ tiếp cận phần hiện của thực trạng thông qua số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận và Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Bởi

lẽ, có những tội XPSH trên địa bàn quận Phú Nhuận đã thực hiện nhưng đến thời điểm nghiên cứu vẫn không bị phát hiện nên không thể hiện trong thống kê hình sự

Bảng 2.1 Thống kê so sánh tình hình các tội XPSH với tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn quận Phú Nhuận giai đoạn 2013-2017

Năm

Tình hình tội phạm

nói chung Tình hình tội XPSH

Tỷ lệ (%) giữa tội XPSH/tội phạm chung

Số vụ án

(1)

Số bị cáo (2)

Số vụ án (3)

Số bị cáo (4)

Số vụ án (3/1)

Số bị cáo (4/2)

(Nguồn: số liệu thống kê của VKSND Thành phố Hồ Chí Minh)

Số liệu thống kê trong bảng 2.1 cho thấy, trong thời gian từ năm 2013 đến

2017 (05 năm), trên địa bàn quận Phú Nhuận đã xét xử tổng cộng 585 vụ án hình sự với 854 bị cáo Bình quân mỗi năm xét xử 117 vụ với hơn 170 bị cáo Riêng nhóm

Trang 36

30

tội phạm XPSH đã đƣa ra xét xử 353 vụ với 455 bị cáo, chiếm tỷ lệ 60,34% trong tổng số vụ án hình sự và chiếm 52,28% trong tổng số bị cáo bị đƣa ra xét xử Trong năm 2013, số vụ án phạm tội XPSH là 90 vụ/121 bị cáo, năm 2014 số vụ án XPSH

là 89 vụ/123 bị cáo Nhƣ vậy, so với năm 2013 thì số vụ án năm 2014 giảm 01 vụ, tuy nhiên số bị cáo tăng lên 02 bị cáo; năm 2015 số vụ án XPSH là 77 vụ/99 bị cáo,

so với năm 2014 thì số vụ án XPSH năm 2015 đã giảm 12 vụ, số bị cáo giảm 24 bị cáo; năm 2016 số vụ án XPSH là 46 vụ/57 bị cáo, so với năm 2015 thì số vụ án XPSH giảm 31 vụ, số bị cáo giảm 22 bị cáo; năm 2017 số vụ án XPSH là 51 vụ/55

bị cáo, so với năm 2016 thì số vụ án tăng lên 05 vụ, tuy nhiên số bị cáo giảm 02 vụ

Năm xảy ra nhiều vụ án phạm tội XPSH nhất là năm 2013 (90 vụ, 121 bị cáo) và năm ít vụ án XPSH nhất là năm 2016 (46 vụ, 57 bị cáo)

Qua phân tích ở trên cho thấy, số vụ án phạm tội XPSH từ năm 2013 đến năm 2016 đã giảm rõ rệt (năm 2013: 90 vụ, năm 2016: 46 vụ, giảm đến 48,9%) Tuy nhiên, đến năm 2017 thì số vụ án lại tăng lên 05 vụ, điều đó cho thấy tình hình tội phạm XPSH xảy ra có diễn biến phức tạp hơn

Bảng 2.2 Thống kê so sánh tình hình các tội XPSH trên địa bàn quận Phú Nhuận với địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013-2017

Số vụ án (3)

Số bị cáo (4)

Số vụ án (3/1)

Số bị cáo (4/2)

Trang 37

31

Tỷ lệ tội phạm XPSH xảy ra trên địa bàn quận Phú Nhuận so với toàn Thành phố Hồ Chí Minh không lớn, chiếm tỷ lệ thấp, cụ thể: số vụ án chiếm 2,19 %, số bị cáo chiếm 2,01% trong tổng số 24 quận, huyện trên toàn thành phố Tuy nhiên, có nhiều vụ án phạm tội XPSH với tính chất nguy hiểm rất cao, các bị cáo sử dụng phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt

2.1.2 Diễn biến (động thái) của tình hình tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận

Qua hai bảng số liệu trên (bảng 2.1 và bảng 2.2) cho thấy diễn biến số vụ án,

số bị cáo phạm tội XPSH trên địa bàn quận Phú Nhuận đã có xu hướng giảm rõ rệt

cả về số vụ án lẫn bị cáo trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2016 Trong năm

2013 số vụ án XPSH là 90 vụ/121 bị cáo, đến năm 2016 thì số vụ án XPSH chỉ còn lại 46 vụ/57 bị cáo Nếu lấy năm 2013 làm mốc và số vụ án phạm tội XPSH được xét xử trên địa bàn quận Phú Nhuận là 100%, thì từ năm 2013 đến năm 2016 số vụ

án giảm đáng kể, cụ thể: năm 2014 giảm còn 98,89%, năm 2015 giảm còn 81,82%, năm 2016 giảm còn 51,11% Như vậy, năm 2014 và năm 2015 tình hình tội XPSH

có diễn biến khá ổn định, nhưng đến năm 2016 thì số vụ án tội XPSH giảm một cách đáng kể (giảm đến 48,9%) Tuy nhiên, đến năm 2017 thì số vụ án XPSH lại có chiều hướng tăng (tăng 05 vụ so với 2016, chiếm tỷ lệ 56,67%) Nếu so sánh tổng

số vụ án nói chung với các tội phạm XPSH xảy ra trên địa bàn quận Phú Nhuận trong giai đoạn 2013 -2017 thì tội phạm XPSH vẫn chiếm tỷ lệ cao Đặc biệt là các tội trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản xảy ra nhiều với thủ đoạn tinh vi, diễn biến phức tạp

2.2 Cơ cấu của tình hình tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Phú Nhuận

Để có sự nhận thức một cách toàn diện về tình hình tội phạm XPSH trên địa bàn quận Phú Nhuận giai đoạn 2013-2017, sau đây tác giả sẽ trình bày một số đặc điểm cơ cấu cơ bản về nhân thân người phạm tội XPSH để có thể nhận thức được một cách đầy đủ và đúng đắn về tình hình của nhóm tội phạm này

2.2.1 Cơ cấu theo tội danh

Trang 38

(Nguồn: số liệu thống kê của VKSND Thành phố Hồ Chí Minh)

Căn cứ vào bảng số liệu 2.3 nói trên đã thể hiện các tội danh của nhóm tội XPSH xảy ra trên địa bàn quận Phú Nhuận trong giai đoạn 2013-2017, trong đó: Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS) chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số tội phạm XPSH (chiếm 46,74%); tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS) chiếm 36,26%; tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS) chiếm 8,50%; tội cướp tài sản (Điều

136 BLHS) chiếm 3,68%; tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS) chiếm 1,70%; tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137 BLHS) và tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143 BLHS) chiếm 0,28%

Trang 39

33

Riêng đối với nhóm tội XPSH gồm: tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134 BLHS), tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141 BLHS), tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142 BLHS), tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144 BLHS), tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 BLHS) là hoàn toàn không xảy ra trong giai đoạn nghiên cứu

2.2.2 Cơ cấu theo mục đích phạm tội, thời gian thực hiện tội phạm

Qua nghiên cứu với 120 bản án với 185 bị cáo phạm tội XPSH trên địa bàn quận Phú Nhuận giai đoạn từ năm 2013-2017 cho thấy: người phạm tội XPSH nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân, hám lợi chiếm tỷ lệ cao nhất (89,05%), còn mục đích khác (như chơi game, nghiện ma túy…) chiếm tỷ lệ thấp (10,95%) Điều đó cho thấy người phạm tội XPSH mục đích chính của họ là nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân, muốn nhanh chóng có tài sản (tiền, vật, các giấy

tờ có giá trị bằng tiền…) mà không muốn bỏ công sức lao động bằng con đường chân chính của mình

Riêng đối với thời gian mà người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội XPSH chủ yếu là vào khoảng thời gian từ 12 giờ trưa đến 24 giờ là chiếm tỷ lệ cao (72,08%), còn khoảng thời gian từ 0 giờ đến cận 12 giờ chiếm tỷ lệ thấp hơn (27,92%) Điều này cho thấy người phạm tội đã có chủ ý về thời gian thực hiện tội phạm là vào buổi trưa hoặc buổi tối nạn nhân thường lơ là, mất cảnh giác Hơn nữa, lưu lượng người lưu thông qua lại trên các tuyến đường trong khoảng thời gian này

ít, lực lượng tuần tra cũng giảm do đó người phạm tội sẽ dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội và việc tẩu thoát sẽ thuận lợi hơn

2.3 Thực trạng các đặc điểm nhân thân người phạm tội XPSH trên địa bàn quận Phú Nhuận

Qua nghiên cứu trong 120 vụ án với 185 bị cáo phạm tội XPSH trên địa bàn quận Phú Nhuận từ năm 2013-2017 cho thấy đặc điểm nhân thân người phạm tội XPSH như sau:

2.3.1 Thực trạng các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu

2.3.1.1 Về giới tính

Trang 40

(Nguồn: 120 bản án xét xử sơ thẩm của TAND quận Phú Nhuận)

Qua bảng số liệu trên cho thấy người phạm tội XPSH chủ yếu là nam giới với 169/185 bị cáo, chiếm tỷ lệ 91,35% Riêng đối với nữ giới chỉ chiếm 16/185 bị cáo, chiếm tỷ lệ 8,65% Nếu lấy năm 2013 làm mốc và số bị cáo phạm tội XPSH được xét xử trên địa bàn quận Phú Nhuận là 100%, thì tỷ lệ tăng, giảm mỗi năm tiếp theo thể hiện như sau: năm 2014 so với năm 2013, số bị cáo giảm 19 bị cáo (giảm còn 66,07%); năm 2015 so với năm 2014, số bị cáo giảm 02 bị cáo (giảm còn 62,5%); năm 2016 so với năm 2015 số bị cáo giảm 10 bị cáo (giảm còn 44,65%); năm 2017 so với năm 2016 số bị cáo tăng lê 07 bị cáo (chiếm 57,14%) Còn nếu lấy năm 2013 làm mốc và số bị cáo nam, nữ phạm tội XPSH được xét xử trên địa bàn quận Phú Nhuận là 100%, thì tỷ lệ tăng, giảm mỗi năm tiếp theo thể hiện như sau: năm 2014 so với năm 2013, nam giới phạm tội giảm 16 bị cáo (giảm còn 67,35%),

nữ giới giảm 3 bị cáo (giảm còn 42,86%); năm 2015 so với năm 2014, nam giới phạm tội tăng 01 bị cáo (chiếm 69,39%), nữ giới giảm 03 bị cáo (giảm còn 14,29%); năm 2016 so với năm 2015, nam giới phạm tội giảm 11 bị cáo (giảm còn 46,94%), nữ giới tăng 01 bị cáo (chiếm 28,57%); năm 2017 so với năm 2016, nam giới phạm tội tăng 07 bị cáo (chiếm 67,22%), nữ giới bằng năm 2017 (chiếm 28,57%) Tỷ lệ phạm tội XPSH giữa nam và nữ có sự tăng giảm ở mỗi năm Mặt khác, có sự chênh lệch lớn về tỷ lệ phạm tội giữa nam và nữ Điều này xuất phát từ

Ngày đăng: 19/06/2018, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Cảm (2001), Nhân thân người phạm tội - Một số vấn đề lý luận cơ bản, Tạp chí Tòa án, (số 10), tr. 7-11, (số 11), tr. 5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội - Một số vấn đề lý luận cơ bản
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
4. Nguyễn Văn Cảnh và Phạm Văn Tỉnh (2013), Một số vấn đề tội phạm học Việt Nam, Nxb Học viện cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tội phạm học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cảnh và Phạm Văn Tỉnh
Nhà XB: Nxb Học viện cảnh sát nhân dân
Năm: 2013
6. Lê Thành Công (2016), Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn quận Bình Tân, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn quận Bình Tân
Tác giả: Lê Thành Công
Năm: 2016
7. Nguyễn Chí Công (2013), Phòng ngừa tội phạm cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long từ góc độ nhân thân người phạm tội, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng ngừa tội phạm cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long từ góc độ nhân thân người phạm tội
Tác giả: Nguyễn Chí Công
Năm: 2013
9. Đỗ Đức Hồng Hà (2005), Các tình tiết định khung tăng nặng trong tội giết người phản ánh mức độ lỗi và các đặc điểm về nhân thân người phạm tội, Tạp chí Toà án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tình tiết định khung tăng nặng trong tội giết người phản ánh mức độ lỗi và các đặc điểm về nhân thân người phạm tội
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Năm: 2005
10. Nguyễn Quang Hạnh (2013), Một số vấn đề nhân thân người phạm tội, Tạp chí Nghề luật, (số 1), tr. 52-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nhân thân người phạm tội
Tác giả: Nguyễn Quang Hạnh
Năm: 2013
11. Trần Minh Hưởng (2011), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự - phần các tội phạm, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự - phần các tội phạm
Tác giả: Trần Minh Hưởng
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2011
12. Phạm Thị Triều Mến (2016), Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh B nh Dương, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh B nh Dương
Tác giả: Phạm Thị Triều Mến
Năm: 2016
13. Đinh Văn Quế (2003), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội xâm phạm sở hữu, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội xâm phạm sở hữu
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2003
14. Đinh Văn Quế (2009), Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự liên quan đến nhân thân người phạm tội, Tạp chí Toà án, (số 13), tr. 23-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự liên quan đến nhân thân người phạm tội
Tác giả: Đinh Văn Quế
Năm: 2009
15. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
16. Quốc hội (2009), Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 sửa đổi bổ sung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 sửa đổi bổ sung
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
17. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
18. Trần Văn Sơn (1997), Nhân thân người phạm tội một căn cứ để quyết định hình phạt, Tạp chí Luật học, (số 1), tr. 41-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội một căn cứ để quyết định hình phạt
Tác giả: Trần Văn Sơn
Năm: 1997
21. Nguyễn Thị Thanh Thủy (2001), Một số vấn đề về nhân thân người phạm tội, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số 5), tr. 46-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nhân thân người phạm tội, Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy
Năm: 2001
22. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2005), Vấn đề nhân thân người phạm tội trong thực tiễn quyết định hình phạt, Tạp chí Toà án nhân dân, (số 19), tr. 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhân thân người phạm tội trong thực tiễn quyết định hình phạt
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
Năm: 2005
23. Phạm Uyên Thy (2015), Nhân thân người phạm tội trên địa bàn quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội trên địa bàn quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Uyên Thy
Năm: 2015
24. Phạm Văn Tỉnh (2000), Các phương pháp nghiên cứu tình hình tội phạm, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu tình hình tội phạm, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Văn Tỉnh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
25. Phạm Văn Tỉnh (2004), Đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Văn Tỉnh
Năm: 2004
26. Phạm Văn Tỉnh (2005), Đặc điểm định lượng của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 4), tr. 73-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm định lượng của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Văn Tỉnh
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w