1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn quận bình tân, thành phố hồ chí minh

115 212 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thống nhất về mặt nhận thức và thực tiễn công tác phòng ngừa tình hình tội phạm có thể hiểu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm là phương thức tổ chức và phương thức vận hành của hệ thố

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC THÚY

CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM

TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC THÚY

CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM

TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm

Mã số: 8.38.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS HỒ TRỌNG NGŨ

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 7

1.1 Khái niệm tình hình tội phạm 7

1.2 Khái niệm cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm 9

1.3 Đặc điểm của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm 11

1.4 Các chủ thể phòng ngừa tội phạm trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm 14

1.5 Các nguyên tắc của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm 22

Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN, TP HỒ CHÍ MINH 27

2.1 Khái quát tình hình quận Bình Tân có liên quan đến cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm 27

2.2 Thực trạng nhận thức về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh 32

2.3 Thực trạng về tổ chức và hoạt động của các chủ thể trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh 34

CHƯƠNG 3: TĂNG CƯỜNG CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 55 3.1 Dự báo tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh 55 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh 59

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ANTT : An ninh trật tự

CAND : Công an nhân dân

CQBVPL : Cơ quan bảo vệ pháp luật

CQCA : Cơ quan Công an

CQĐT : Cơ quan điều tra

HĐND : Hội đồng nhân dân

PNTHTP : Phòng ngừa tình hình tội phạm

TAND : Tòa án nhân dân

THTP : Tình hình tội phạm

UBMTTQ : Ủy ban mặt trận tổ quốc

UBND : Ủy ban nhân dân

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

Trang 5

bàn quận Bình Tân từ năm 2013 đến năm 2017 tính theo dân số

Bảng 2.6 Cơ cấu về mức độ của tình hình tội phạm của 10 phường trên địa

bàn quận Bình Tân từ năm 2013 đến năm 2017 tính theo diện tích

Bảng 2.7 Cơ cấu về mức độ của tình hình tội phạm của 10 phường trên địa

bàn bàn quận Bình Tân được xác định trên cơ sở kết hợp yếu tố dân cư và diện tích

Trang 6

Biểu đồ 2.2.Tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân và TP Hồ Chí

Minh từ năm 2013 – 2017

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bình Tân là quận vùng ven của Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên

cơ sở Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ, được chia tách từ huyện Bình Chánh cũ, với diện tích tự nhiên 5.188,67 ha, gồm 3 xã: Tân Tạo, Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông và Thị trấn An Lạc Lúc mới thành lập quận có 10 phường (An Lạc, An Lạc A, Tân Tạo, Tân Tạo A, Bình Trị Đông, Bình Trị Đông A, Bình Trị Đông B, Bình Hưng Hòa, Bình Hưng Hòa A, Bình Hưng Hòa B), 121 khu phố với 50.823 hộ dân Địa giới hành chính quận Bình Tân: phía Đông giáp các quận 6, 8, Tân Phú; phía Tây giáp huyện Bình Chánh; phía Nam giáp quận 8; phía Bắc giáp quận 12 và huyện Hóc Môn

Khi mới thành lập, mặc dù có nhiều khó khăn như: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật -

xã hội còn nhiều yếu kém, phát triển chưa đồng bộ, kinh tế phát triển chưa vững chắc, sức cạnh tranh thấp, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp Nhưng với những nổ lực, quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quận Bình Tân, sau hơn 10 năm thành lập, quận Bình Tân đã có bước phát triển quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng - an ninh.“Trong những năm gần đây, dưới tác động của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, cùng với lợi thế về diện tích quận Bình Tân đã thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư trong và nước ngoài Tại đây nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập, kéo theo các loại hình dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí không chỉ thu hút một lực lượng lớn lao động từ các tỉnh phía Bắc, miền Trung và miền Tây Nam Bộ về đây tìm kiếm việc làm cùng với lượng khách đến thăm thân nhân, học tập, du lịch nên đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo về kinh tế, văn hóa xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân, trong đó có nhiều thay đổi tích cực”

Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm, lợi thế đem lại cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về an ninh trật tự, đặc biệt là tình hình tội phạm có chiều hướng ngày càng gia tăng Theo số liệu thống kê của Công an quận Bình Tân từ năm 2013 đến năm 2017 cho thấy tình hình tội phạm có diễn biến phức tạp với tính

Trang 8

chất, mức độ nguy hiểm ngày càng cao.Tình hình đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến

an ninh trật tự, tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân

Thời gian qua, các cơ quan có thẩm quyền của quận Bình Tân đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm, góp phần vào hiệu quả trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm Tuy nhiên, mức độ nhận thức về tầm quan trọng của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm của các cơ quan chức năng trên địa bàn quận vẫn còn những hạn chế nhất định, các chủ thể trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình còn nhiều thiếu sót, bất cập Mặc dù, hệ thống pháp luật đang ngày càng hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các hoạt động phòng ngừa của các chủ thể Song cơ chế phối hợp hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm giữa các chủ thể vẫn chưa được cụ thể hoá, thể hiện rõ nhất là ở sự phân công phân cấp chưa rõ ràng và thiếu cơ chế phối hợp nhịp nhàng

Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm, nhằm sắp xếp về mặt tổ chức các chủ thể, với sự phân công trách nhiệm và minh bạch các mối quan hệ phối kết hợp giữa các chủ thể, sẽ làm cơ

sở cho việc hoàn thiện pháp luật Từ đó, cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm được thực hiện một cách có hiệu lực, hiệu quả cao, hoạt động phòng ngừa được bảo đảm thực hiện đúng pháp luật

Tình hình đó đặt ra yêu cầu bức thiết là phải nghiên cứu làm rõ hơn nữa về

cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn và hạn chế tối đa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó tác giả lựa chọn đề tài:

“Cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố

Hồ Chí Minh” để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình khoa học có liên quan nghiên cứu về phòng ngừa tình hình tội phạm Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như sau:

Trang 9

- Giáo trình “Tội phạm học” của GS.TS Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản Công

an nhân dân, năm 2003

- Giáo trình “Tội phạm học” của GS.TS Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản Công

an nhân dân, năm 2013

- “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm”, của GS TS Nguyễn Xuân Yêm, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2001

- “Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam” của PGS TS Phạm Văn Tỉnh, Nhà xuất bản Tư Pháp, năm 2007

- “Một số vấn đề tội phạm học Việt Nam”, Trường Đại học Cảnh sát nhân

dân, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2013

- “Tội phạm ở Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”,Đề tài KX.04.14, của các tác giả Lê Tự Phả và Lê Thế Tiệm chủ biên, Nhà xuất bản Công

an nhân dân, năm 1994

- “Phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới”,Đề tài khoa học cấp Nhà nước (giai đoạn 1996 – 2000) KHXH 07.08 của GS TS Nguyễn Phùng Hồng, GS TS

Hồ Trọng Ngũ và tập thể các tác giả

- “Phòng ngừa một số tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, sách chuyên khảo của TS Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh, Nhà xuất bản Công

an nhân dân, năm 2016

- “Phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh” - Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội Việt Nam của tác giả

Lê Huỳnh Như, năm 2015

- “Tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội của tác giả Lê Công Nguyên, năm 2014

- “Tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội của tác giả Lê Phong Toàn, năm 2017

Đánh giá chung:

Trang 10

Có thể thấy, thời gian qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu có liên quan

ít nhiều đến phòng ngừa tình hình tội phạm Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên đây chỉ mới nghiên cứu phòng ngừa tình hình tội phạm hay đấu tranh phòng, chống tội phạm trên phạm vi cả nước hoặc ở một số địa phương nào đó Cũng có đề tài nghiên cứu đến phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn các Quận của Thành phố Hồ Chí Minh nhưng chủ yếu nghiên cứu về các giải pháp phòng ngừa Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh Đây cũng chính là hướng tiếp cận nghiên cứu của đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm, thực trạng của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh Từ

đó đề xuất những giải giải nhằm tăng cường cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

- Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Làm rõnhững vấn đề lý luận về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

- Thực trạng cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

- Làm rõ những hạn chế, nguyên nhân của các mặt hạn chế trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

- Làm rõ những vấn đề đặt ra trong tăng cường cơ chế phòng ngừa tình hình

tội phạm từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn làcơ chế phối hợp giữa các chủ thể phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi nghiên cứu

+ Luận văn nghiên cứu về THTP trong phạm vi tội phạm học

+ Về không gian: Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

+ Về thời gian: Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong thời gian từ năm

2013 đến năm 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận:Luận văn sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật

lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm đường lối chính sách của Đảng về công tác phòng ngừa tội phạm

- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các

phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Chương 1: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu và trích dẫn tài liệu nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

Chương 2: Sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, phỏng vấn và tham khảo ý kiến chuyên gia để làm rõ thực trạng cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về lý luận: Luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về cơ chế phòng ngừa

tình hình tội phạm; qua đó đóng góp thêm tri thức của Tội phạm học

- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là một trong những

nguồn tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính sách phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm nói riêng

Trang 12

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm Chương 2: Thực trạng cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn

quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3:Tăng cường cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn

quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 1.1 Khái niệm tình hình tội phạm

“Trong Tội phạm học nói chung và Tội phạm học Việt Nam nói riêng, khái niệm THTP là khái niệm cơ bản đầu tiên của Tội phạm học Đó là một thuật ngữ khoa học, nhưng đồng thời cũng là một thuật ngữ thường được dùng trong ngôn ngữ thông dụng, ngôn ngữ đời thường”

Theo quan điểm của GS TS Đỗ Ngọc Quang thì khái niệm “tình hình tội phạm” là khái niệm được ghép từ hai danh từ “tình hình” và “tội phạm” “Tình hình” theo Từ điển tiếng Việt có nghĩa: “Trạng thái và xu thế phát triển của sự vật”

“Tội phạm” là các hành vi thoả mãn các dấu hiệu (đặc điểm) của tội phạm theo quy định của BLHS Như vậy có thể hiểu “tình hình tội phạm” được hiểu là số liệu về tội phạm được điều tra, truy tố, xét xử

Theo giáo trình của trường Đại học Luật Hà Nội thì “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp và thay đổi theo quá trình của của lịch sử; được thể hiện ở một tổng hợp các tội phạm cụ thể đã xảy ra trong xã hội và trong một khoảng thời gian nhất định" [35, tr.9l]

GS TS Võ Khánh Vinh đã định nghĩa về THTP như sau: “Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội, pháp lý - hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính chất giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong khoảng thời gian nhất định” [44, tr.60]

Vậy, có thể hiểu tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, mang tính lịch sử và pháp lý hình sự với hạt nhân là tính giai cấp, được thể hiện bằng tổng hợp các tội phạm cụ thể đã xảy ra trong xã hội và trong một khoảng thời gian nhất định

Qua khái niệm trên có thể nhận diện một số đặc điểm cơ bản cùa tình hình tội phạm như sau:

-“Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, điều này nói lên bản chất của tình hình xã hội của tình hình tội phạm Sở dĩ nói tình hình tội phạm là một hiện

Trang 14

tượng xã hội bởi vì nó tồn tại trong xã hội, có nguồn gốc xã hội, có nội dung xãhội,

có nguyên nhân xã hội và số phận của nó cũng mang tính chất xã hội Mặt khác, tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội vì với tư cách là một biểu hiện, là mặt trái của xã hội, có tính độc lập tương đối Biểu hiện đó không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ khác trong xã hội, mà chính nó cũng là một loại quan hệ tồn tại trong xã hội [44, tr.53] Và như thế, tình hình không thể tồn tại ngoài xã hội

mà nó có mối liên hệ chặt chẽ với các hiện tượng xã hội khác.”

-“Tình hình tội phạm là một hiện tượng pháp lý - hình sự Tội phạm không những chỉ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, mà còn là hành vi trái pháp luật hình sự, tức là bị các bộ luật hình sự cấm bằng việc đe dọa áp dụng hình phạt Việc cân nhắc đặc điểm pháp luật của tình hình tội phạm trong việc đánh giá thực trạng (mức độ),

cơ cấu và động thái của nó là rất quan trọng, vì rằng những thay đổi của pháp luật hình sự theo hướng tội phạm hóa hoặc phi tội phạm hóa những hành vi cụ thể có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các chỉ số của nó”[44,tr.54]

-“Tình hình tội phạm là một hiện tượng thay đổi về mặt lịch sử Theo chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng mọi hiện tượng trong xã hội, trong tự nhiên không phải ở trạng thái tĩnh, tồn tại bất biến mà nó luôn luôn vận động, thay đổi theo thời gian, không gian nhất định Tình hình tội phạm sẽ thay đổi khi xã hội có sự thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội, sự thay đổi về hình thái kinh tế và cơ cấu kinh tế.Khi xã hội loài người có sự xuất hiện của Nhà nước thì lúc đó tội phạm mới xuất hiện và khi một hình thái kinh tế xã hội này được thay đổi bởi một hình thái kinh tế -xã hội mới thì một kiểu Nhà nước mới xuất hiện, lúc này tình hình tội phạm cũng sẽ có sự thay đổi Tính thay đổi về mặt lịch sử của tình hình tội phạm cho ta thấy hiện tượng

đó được xuất hiện trong lịch sử như thế nào, nó trải qua các giai đoạn phát triển nào, hiện nay tồn tại ra sao và cả sự phát triển, tồn tại của chúng trong tương lai” [44, tr.54]

-“Tình hình tội phạm là một hiện tượng mang tính chất giai cấp Tính giai cấp của tình hình tội phạm thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện, ở nguyên nhân phát sinh, ở nội dung của các tội phạm cụ thể - các thực thể, tế bào cấu thành nên hiện tượng đó

và cả số phận của nó trong tương lai”[44, tr 54]

Trang 15

“Tội phạm ra đời khi xã hội có sự phân chia giai cấp đối kháng, với sự ra đời của nhà nước Mỗi giai cấp thống trị khác nhau đều quy định những nhóm hành vi phạm tội khác nhau và các biện pháp trừng trị các hành vi đó cũng khác nhau, nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp và sự thống trị của mình, và do tình hình tội phạm là tổng thể biện chứng các tội phạm đã thực hiện trong thực tiễn, cho nên vẫn giữ nguyên tính giai cấp Bên cạnh đó, tính giai cấp của tình hình tội phạm còn thể hiện ở việc

nó xâm hại đến những quan hệ xã hội mà giai cấp thống trị bảo vệ, ở các nguyên nhân gốc rễ phát sinh mà theo V.I.Lênin đó là chế độ người bóc lột người, sự bần cùng hóa, nạn thất nghiệp.”

1.2 Khái niệm cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

Khái niệm cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong phòng ngừa tình hình tội phạm Nhưng hiện nay, khái niệm này chưa có cách hiểu thống nhất và chưa được tập trung nghiên cứu, phổ biến rộng rãi

Trên cơ sở nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm của các chủ thể phòng ngừa để xem xét khái niệm cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm Tìm hiểu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm là sự tiếp nối tất yếu từ việc nghiên cứu hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm Nghiên cứu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm cần tiếp cận các khái niệm về “cơ chế” và “phòng ngừa tình hình tội phạm” Tức là cần tiếp cận từ các góc độ khoa học của ngôn ngữ, triết học, và pháp

Theo từ điển Nga – Việt, cơ chế (MEXAHUZM) là “máy móc, bộ máy, cơ chế, cơ cấu” Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên) thì: “Cơ chế là cách thức, sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện” [46,

tr 463] Theo GS.TS Phạm Ngọc Quang: “Cơ chế là khái niệm dùng để chỉ một chuỗi những khâu liên kết với nhau theo một lôgic nhất định nhờ vậy mục tiêu được thực hiện” Dưới góc độ khoa học pháp lý, “cơ chế” lại được hiểu là: “tổng thể các bảo đảm về vật chất, chính trị, tư tưởng, pháp lý, tổ chức, nghiệp vụ cho việc thực hiện một quyền nào đó hoặc một việc nào đó”

Theo quan điểm của tác giả cho rằng thuật ngữ “cơ chế” gồmhai nội dung là

phương thức tổ chức của một chỉnh thể bao gồm nhiều bộ phận khác nhau hợp thành

có mối liên hệ mật thiết với nhau và phương thức vận hành hay hoạt động của chỉnh

Trang 16

thể đó theo những nguyên tắc và quá trình xác định nhằm đạt được một kết quả nhất định

Về định nghĩa phòng ngừa tình hình tội phạm cũng có nhiều quan điểm khác nhau Theo Từ điển Luật học định nghĩa: “Phòng ngừa tội phạm là ngăn ngừa tội phạm và loại trừ các nguyên nhân phát sinh tội phạm bằng toàn bộ những biện pháp liên quan với nhau do cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội tiến hành”

GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa lại đưa ra khái niệm này dưới góc độ tội phạm học cũng tương đối hợp lý như sau: “Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân, thực hiện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào các nhóm nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát, hạn chế tác dụng và loại trừ dần những nhóm nguyên nhân này…”

Theo GS TS Võ Khánh Vinh thì:“Việc phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước –

xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm”

Thống nhất về mặt nhận thức và thực tiễn công tác phòng ngừa tình hình tội phạm có thể hiểu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm là phương thức tổ chức và phương thức vận hành của hệ thống các cơ quan, tổ chức và công dân có mối liên

hệ mật thiết với nhau, hoạt động theo những nguyên tắc, qui định của pháp luật và những phương tiện pháp lý khác; để thực hiện các biện pháp hướng đến mục đích khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nhằm ngăn chặn, hạn chế và từng bước loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội

Ý nghĩa của việc nghiên cứu Cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

Nghiên cứu Cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm có những ý nghĩa cơ bản sau đây:

- Việc nghiên cứu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm làcơ sở để xây dựng, tổ chức và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm một cách khoa học và hiệu quả Chỉ trên cơ sở phân tích làm rõ cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm mới xây dựng được hệ thống các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm một cách toàn diện

Trang 17

- Nghiên cứu làm rõ cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm là cơ sở cho việc hoạch định các chính sách phòng ngừa tình hình tội phạm một cách phù hợp.Nâng cao hiệu quả phòng ngừa nhằm hạn chế và loại trừ dần dần những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm

- Cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm tốt sẽ hạn chế được tội phạm, điều

đó cũng đồng nghĩa với việc tiết kiệm rất lớn về kinh tế cũng như không gây ra các hậu quả xấu cho xã hội

Như vậy, trên cơ sở nghiên cứucơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm thì các

cơ quan chức năng sẽ có cơ sở hoạch định các chính sách phòng ngừa của địa phương một cách phù hợp nhằm giảm thiểu các tiêu cực xã hội là nguyên nhân làm phát sinh tình hình tội phạm

1.3 Đặc điểm của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

- Cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong phòng ngừa tình hình tội phạm được pháp luật ghi nhận và tính chất phối hợp trong quan hệ đó được xác định là trách nhiệm của các bên

Các hình thức và các biện pháp của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm phải do luật định, tức là các hình thức và các biện pháp đó phải được ghi nhận bằng các văn bản pháp luật của nhà nước - từ Hiến pháp (luật cơ bản của nhà nước) cho đến các văn bản luật và các văn bản dưới luật Các loại văn bản khác nhau đó điều chỉnh hoạt động của một hệ thống các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và nhân dân Đó là hệ thống quy định, quy phạm pháp luật chứa đựng nguyên lý tổ chức vận hành của toàn bộ cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm Hệ thống các quy định, quy phạm pháp luật này điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm Yếu tố này có tính chất “là môi trường pháp lý” để ràng buộc các chủ thể phòng ngừa hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, theo những quy định chung

Trên cơ sở của hệ thống quy phạm pháp luật, các chủ thể khi tham gia vào cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm có thể nhận thức được giới hạn nội dung và phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Mặt khác, hệ thống pháp luật cũng là cơ sở xác định năng lực của chủ thể khi tham gia vào cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

Ở Việt Nam, cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm được thể hiện trong

Trang 18

nhiều quy định của Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Để đảm bảo thắng lợi cho cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm cần nâng cao trách nhiệm, vai trò chủ động, sáng tạo của các ngành, các cấp, các tổ chức và mỗi cá nhân trong xã hội vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Hiến pháp Việt Nam năm 1992, sửa đổi

năm 2001 trước đây đã quy định: “Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức

xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật” (Điều 12) Đến Hiến pháp năm 2013 các quy định này

tương ứng được tiếp tục ghi nhận các điều 2, 8, 46… Điều này thể hiện quan điểm phòng ngừa tội phạm không phải là nhiệm vụ của riêng của bất cứ cơ quan mà phải

có sự tham gia của các lực lượng xã hội (tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi côngdân) Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đã xác định vai trò, vị trí, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong phòng ngừa tội phạm và đạt được những thành tựu nhất định trong xây dựng cơ chế này

Nhận thức về sự cần thiết và hiệu quả từ cơ chế phối hợp phòng ngừa tình hình tội phạm được khẳng định trong Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta Tính chất phối hợp trong quan hệ đó cũng được quy định là trách nhiệm thuộc về cả phía cơ quan Nhà nước lẫn các tổ chức xã hội và công dân Khoản 1, Điều 4, Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 xác định trách nhiệm đấu

tranh phòng ngừa và chống tội phạm như sau: “Các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng” Sự hướng dẫn, giúp đỡ của cơ

quan chức năng Nhà nước đối với tổ chức xã hội và nhân dân chính là trách nhiệm phối hợp từ phía các cơ quan Nhà nước Cơ quan Nhà nước phải bảo đảm cho quyền tham gia, phối hợp của các tổ chức và công dân trong phòng ngừa tội phạm

“Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ chức và công dân tham gia tố tụng hình sự; phải trả lời kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm cho tổ chức đã báo tin, người đã tố giác tội phạm biết”(khoản 2 Điều 25 Bộ luật tố

tụng hình sự năm 2003) Ngược lại, các tổ chức và công dân có trách nhiệm chấp hành sự hướng dẫn, phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Nhà nước thực

Trang 19

hiện tốt chức năng phòng ngừa tội phạm: “Các tổ chức, công dân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ” (khoản 3, Điều 25, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003)

-Trong cơ chế phối hợp, vị trí, vai trò của các chủ thể đã được xác định rõ ràng

Khoản 1, Điều 4, Bộ luật hình sự Việt Nam đã quy định các cơ quan chức năng của Nhà nước như Công an, Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra là các cơ quan chuyên trách, giữ vị trí trung tâm trong cơ chế phòng ngừa tội phạm Các chức năng, nhiệm vụ mà điều luật yêu cầu những cơ quan này phải thi hành đầy đủ chính

là chức năng phòng ngừa và phát hiện tội phạm, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự đã được quy định trong các văn bản như: Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, Luật Công an nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Thanh tra, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự Vị trí trung tâm, điều hành hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm của các cơ quan

chuyên trách này còn được thể hiện qua nhiệm vụ “hướng dẫn, giúp đỡ” các lực

lượng xã hội khác (các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân) trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm

Bên cạnh Nhà nước, các tổ chức, cá nhân được xác định có vai trò phối hợp,

hỗ trợ, tham gia vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm Khoản 2 và khoản 3, Điều 4 Bộ luật hình sự Việt Nam quy định trách nhiệm của các lực lượng này như sau:

+ Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản

lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình

+ Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tộiphạm

Vai trò tham gia của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 khẳng định lại một cách cụ

thể hơn: “Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” (Khoản 1, Điều

Trang 20

Phạm vi, khuôn khổ, phương thức hoạt động của các chủ thể được phân định

rõ ràng nhằm bảo đảm cho sự phối hợp nhịp nhàng Trên cơ sở xác định vai trò, vị trí của Nhà nước, các tổ chức xã hội, công dân trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm, Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự nước ta quy định rõ về phạm vi hoạt động của các chủ thể này Các quy định ở trên xác định cơ quan chuyên trách của Nhà nước “thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình”trong phòng ngừa tình hình tội phạm theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việc phân định rõ phạm vi hoạt động là hết sức cần thiết để tránh sự chồng chéo, xâm lấn thẩm quyền của nhau giữa các chủ thể của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

1.4 Các chủ thể phòng ngừa tội phạm trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

Theo Từ điển Triết học thì: Chủ thể là con người (cá nhân hay tổ chức…) tiến hành các hoạt động nhận thức cải tạo thế giới và có thể chia thành nhiều loại chủ thể khác nhau dựa trên đặc điểm tính chất của các hoạt động Vì vậy chủ thể của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm cũng là các cá nhân hoặc các tổ chức có trách nhiệm và quyền hạn tham gia hoạt động đấu tranh phòng và chống tội phạm

Phòng ngừa tình hình tội phạm là một hoạt động xã hội, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều lực lượng, các tổ chức cũng như công dân Tuy nhiên, mỗi lực lượng, tổ chức mỗi công dân khi tham gia vào cơ chế này lại có những chức năng, nhiệm vụ khác nhau Do đó, cần phải xác định rõ vai trò của từng chủ thể tham gia trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

Chủ thể phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm chủ thể lãnh đạo quá trình phòng ngừa và chủ thể thực hiện quá trình phòng ngừa Với cách hiểu này chủ thể của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm:

1.4.1 Chủ thể lãnh đạo của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

- Đảng Cộng sản Việt Nam:

Trang 21

Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam trong đó có hoạt động phòng ngừa tội phạm Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp 2013 có quy định:"Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…" Nhà nước và xã hội

ta đã thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn bộ xã hội Phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động vừa mang tính xã hội, vừa mang tính Nhà nước, vì vậy rất cần có sự lãnh đạo của Đảng Do đó, Đảng Cộng sản Việt Nam

là chủ thể của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm nhưng ở vị trí là chủ thể lãnh đạo

Với vai trò là tổ chức chính trị duy nhất lãnh đạo xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam tham gia phòng ngừa tình hình tội phạm qua việc định hướng trong từng giai đoạn, định hướng hoàn thiện cơ cấu tổ chức các cơ quan đấu tranh phòng chống tội phạm, thông qua các nghị quyết của Đảng Đảng chỉ đạo tiến hành một cách rộng rãi những biện pháp kinh tế, tư tưởng, văn hóa và cải tiến, hoàn thiện hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật tiến hành đấu tranh trực tiếp với tội phạm

Để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm cần phải có sự phối hợp thường xuyên hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội trong đấu tranh phòng chống tội phạm Nhiệm vụ của việc phối hợp này là đề ra những phương hướng cơ bản trong hoạt động của các cơ quan tổ chức để đấu tranh, phòng chống tội phạm có hiệu quả Sự phối hợp này chỉ có thể thực hiện tốt dưới sự lãnh đạo của Đảng Bên cạnh đó vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm còn thể hiện ở sự tiên phong, giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm của các đảng viên

1.4.2 Chủ thể thực hiện hoạt động phòng ngừa trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

Quá trình phòng ngừa tội phạm bao gồm từ khâu ban hành các quy định của pháp luật đến khâu triển khai thực hiện các quy định của pháp luật Do đó, chủ thể phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm các chủ thể ban hành pháp luật phòng ngừa

Trang 22

tình hình tội phạm và chủ thể triển khai thi hành các quy định pháp luật phòng ngừa tình hình tội phạm

Chủ thể ban hành pháp luật về phòng ngừa tình hình tội phạm

*Quốc hội

Theo Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Quốc hội là chủ thể phòng ngừa tình hình tội phạm có vai trò trong việc ban hành các đạo luật, nghị quyết, văn bản pháp lý về phòng ngừa tình hình tội phạm, từng bước hoàn thiện pháp luật tạo cơ sở cho các cơ quan nhà nước, tổ chức

xã hội và công dân làm tốt công tác phòng ngừa tình hình tội phạm Ngoài ra Quốc hội còn có vai trò trong việc kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, của cán bộ nhằm phòng ngừa các hành vi phạm tội và tuyên truyền phổ biến pháp luật nói chung; được cụ thể hóa ở một số nội dung sau:

- Quốc hội làm luật, hoàn thiện pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, góp phần ngăn ngừa tình hình tội phạm

- Kiểm tra giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước để phòng ngừa tiêu cực

và phạm tội

- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật

và tham gia quản lý nhà nước

- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật có quyền yêu cầu các cá nhân,

cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thực hiện những biện pháp cần thiết để chấm dứt hành vi trái pháp luật đó

* Hội đồng nhân dân

Theo Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND 2003 quy định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương” Hội đồng nhân dân thực hiện toàn bộ quyền lực nhà nước, đảm bảo việc tuân thủ các đạo luật, việc bảo vệ trật tự nhà nước và xã hội, các quyền lực và lợi ích hợp pháp của công dân [44, tr.171] Vai trò phòng ngừa tình hình tội phạm của Hội đồng nhân dân được cụ thể hóa ở một số nội dung:

Trang 23

- “Quyết định những chủ trương, biện pháp kinh tế xã hội quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, từ đó có tác dụng phòng ngừa tình hình tội phạm”

- Ban hành các văn bản pháp luật về phòng ngừa tình hình tội phạm ở địa phương

- Kiểm tra, giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương để phòng ngừa tiêu cực và phạm tội

Chủ thể triển khai, thi hành pháp luật phòng ngừa tình hình tội phạm

Chủ thể triển khai thi hành pháp luật phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm Chính phủ, UBND các cấp, các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan bảo vệ pháp luật, các tổ chức và các cá nhân, công dân

*Chính phủ

Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Về mặt quản lý Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tội phạm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/ 7/1998 “về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” Chính phủ quyết định tiến hành những chủ trương và biện pháp chỉ đạo công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, đã đề ra những chủ trương, biện pháp lớn, đồng thời phân công trách nhiệm cho các ngành, các cấp trong công tác phòng chống tội phạm Cụ thể:

- “Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục trong phạm vi quốc gia, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, từ đó có tác dụng phòng ngừa tình hình tội phạm

- “Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội, Chính phủ tổ chức thực hiện các chính sách, biện pháp để củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, trật tự an toàn xã hội; tổ chức và thực hiện các biện pháp phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, các vi phạm pháp luật”

- “Xây dựng các chương trình quốc gia phòng chống tội phạm Lãnh đạo hoạt động phòng chống tội phạm quốc gia thông qua Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống tội phạm, cơ quan chuyên môn của Bộ tư pháp, Thanh tra nhà nước chuyên ngành.;

* Ủy ban nhân dân các cấp

Trang 24

Là cơ quan hành chính nhà nước có nhiệm vụ triển khai các chương trình phòng ngừa tội phạm, triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về các chương trình phòng ngừa tình hình tội phạm, vai trò phòng ngừa tình hình tội phạm của Ủy ban nhân dân các cấp thể hiện như sau:

- “Xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, ở địa phương để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần nhân dân, từ đó có tác dụng phòng ngừa tình hình tội phạm”

- “Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, tùy cấp hành chính mà Ủy ban nhân dân các cấp có vai trò phòng ngừa tình hình tội phạm như sau: xây dựng chương trình, kế hoạch và lãnh đạo hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm ở địa phương”

- “Phát động quần chúng tham gia bảo vệ an ninh trật tự; quản lý những đối tượng có tiền án, tiền sự, những đối tượng có nhân thân xấu, phối hợp với các cơ quan hữu quan giám sát, giáo dục người chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập tại cộng đồng”

* Các cơ quan hành chính nhà nước chuyên môn

Bao gồm: các bộ, sở, phòng, từ trung ương đến địa phương Các chủ thể này tùy vào chức năng, nhiệm vụ của mình để tiến hành hoạt động triển khai, thi hành pháp luật phòng ngừa tình hình tội phạm trong phạm vi toàn quốc hay ở từng địa phương nhất định Cụ thể, các cơ quan tư pháp thuộc Bộ tư pháp thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tình hình tội phạm thông qua các hoạt động sau:

- Đưa ra sáng kiến lập pháp, tham gia vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật;

- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân;

- Nghiên cứu, bổ sung vào lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm;

- Phối hợp cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện các nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm

* Các cơ quan bảo vệ pháp luật

Bao gồm: Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án Các cơ quan này có vai trò rất quan trọng trong công tác phòng ngừa tình hình tội phạm Vai trò của các cơ

Trang 25

quan này được xác định trước hết là ở chức năng và nhiệm vụ của mỗi cơ quan và

sự phối hợp giữa các cơ quan Các cơ quan bảo vệ pháp luật giữ vai trò nòng cốt trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

- Cơ quan Công an

Theo Luật Công an nhân dân năm 2014, cơ quan Công an là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội, cơ quan Công an có vai trò tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong việc hoạch định các chương trình phòng chống tội phạm Trực tiếp tham gia hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm thông qua chức năng, nhiệm vụ của mình như kịp thời phát hiện, điều tra, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thông qua các biện pháp quản lý hành chính, tuần tra kiểm soát…; Trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm Công an là chủ thể giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, tạo điều kiện cho các chủ thể khác, nhất là quần chúng nhân dân tham gia vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm và chủ động phối hợp với các chủ thể khác

Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP, ngày 31/07/1998 Thủ tướng Chính phủ về

“tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” đã nêu rõ vai trò trong cơ chế phối hợp của lực lượng Công an đối với công tác phòng chống tội phạm: “Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan, cần nâng cao hiệu quả các biện pháp quản lý Nhà nước về an ninh trật tự; củng cố các lực lượng nghiệp vụ trực tiếp phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm nhất là các lực lượng ở

cơ sở, bảo vệ dân phố, dân phòng, bảo vệ chuyên trách, bán chuyên trách các cơ quan, xí nghiệp; đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, liên tục phát động quần chúng tấn công trấn áp tội phạm; kịp thời phát hiện, phòng ngừa đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm nguy hiểm; phối hợp với các ngành nội chính tiến hành điều tra, truy tố, xét xử kịp thời các đối tượng phạm tội; nghiên cứu, dự báo tình hình tội phạm, đề xuất chủ trương biện pháp đấu tranh phù hợp”

- Viện kiểm sát nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân, theo Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm

2014, VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có vai trò trong việc phối hợp với các chủ thể khác xây dựng, triển khai các chương trình phòng ngừa tình hình tội phạm, thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng ngừa tình hình tội phạm, thống kê tội phạm, đưa ra những kiến

Trang 26

nghị về các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm Tham gia cùng các cơ quan nhà nước khác có liên quan soạn thảo hệ thống, phương pháp thống kê, báo cáo và các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm

Bên cạnh đó, chức năng phòng ngừa tình hình tội phạm của VKSND còn được thể hiện trong việc kiểm sát hoạt động điều tra, thực hiện chức năng truy tố và buộc tội trong hoạt động xét xử tội phạm và kiểm sát thi hành án

- Tòa án nhân dân

Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “Tòa án nhân dân

là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “bằng hoạt động của mình, tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác” Thông qua hoạt động xét xử, TAND các cấp có vai trò phòng ngừa tình hình tội phạm, giám sát hoạt động thi hành án đối với người phạm tội Tham mưu cho Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp trong việc tổ chức phòng ngừa tội phạm; kiện toàn, tổ chức, ban hành chính sách phù hợp với từng điều kiện cụ thể để ngăn chặn những nguy cơ phát sinh tội phạm Ngoài ra, TAND các cấp còn có vai trò trong việc tuyên truyền pháp luật, phối hợp với các chủ thể khác xây dựng và triển khai các kế hoạch phòng ngừa tình hình tội phạm

* Các cơ quan quản lý chung và quản lý kinh tế

Những cơ quan khác nhau của bộ máy quản lý nhà nước, các ban lãnh đạo của các nhà máy, xí nghiệp, các trường học và các cơ quan giáo dục văn hóa tham gia vào việc phòng ngừa tình hình tội phạm, trước hết ở mức độ các biện pháp xã hội chung [44, tr.161]

Hoạt động phòng ngừa của các cơ quan này được thể hiện trong quá trình thực hiện phòng ngừa tội phạm trong nội bộ cơ quan và tham gia vào các chương trình, hoạt động phòng, chống tội phạm của Nhà nước, phối hợp với các cơ quan, tổ chức xã hội trong các hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm

Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, đặc biệt là các xí nghiệp, nhà máy, trường học là những cơ quan trực tiếp quản lý con người trong đó có những đối tượng phạm tội hoặc có vi phạm pháp luật Vì vậy hoạt động phòng ngừa tội

Trang 27

phạm của các chủ thể này thông qua các hình thức như: Tăng cường quản lý và giáo dục cán bộ, nhân viên trong cơ quan; quản lý và bảo vệ tài sản của cơ quan; thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong quản lý, những biểu hiện tiêu cực có khả năng dẫn đến các hành vi phạm tội và có biện pháp khắc phục; tham gia vào các chương trình, kế hoạch, các hoạt động phòng ngừa tội phạm của Nhà nước trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình; phối hợp với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội trong các hoạt động phòng ngừa

và phát huy các sáng kiến phòng ngừa tình hình tội phạm

* Các tổ chức và các cá nhân, công dân

Đối với tổ chức: Theo Khoản 2 Điều 4 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:

“Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có các biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan tổ chức của mình” Khoản

1 Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng quy định: “Các tổ chức, công dân

có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” “Các tổ chức ở đây bao gồm các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế,… tham gia hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm thông qua các hoạt động như: Kiểm tra, giám sát các hoạt động của cán bộ, cơ quan; kiến nghị các biện pháp phòng ngừa và áp dụng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tại tổ chức, đơn vị mình phụ trách; giáo dục thành viên của tổ chức tuân thủ pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu có giá trị phòng ngừa tình hình tội phạm cho các cơ quan chức năng Ngoài ra, các tổ chức còn phối hợp với các chủ thể khác thực hiện các chương trình, kế hoạch phòng ngừa tình hình tội phạm”

Đối với các cá nhân, công dân, khoản 3 Điều 4 Bộ luật hình sự năm 1999 cũng quy định: “Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” Theo đó, mọi công dân có thể tham gia vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm thông qua việc phát hiện, tố giác tội phạm, làm chứng trong các hoạt động tố tụng hình sự; ngăn chặn tội phạm; giáo dục, giúp đỡ người phạm tội đã

Trang 28

chấp hành xong hình phạt trở về địa phương tái hòa nhập cộng đồng; quản lý, giáo dục các thành viên trong gia đình

“Hiệu quả của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm một mặt phụ thuộc vào tính tích cực, khả năng của tất cả các chủ thể nói trên, mặt khác, phụ thuộc vào sự phối hợp giữa các chủ thể trong hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm”

Nhìn chung, chủ thể của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm nhiều chủ thể khác nhau với những chức năng, nhiệm vụ khác nhau Mặc dù có những chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng những chủ thể này phải thường xuyên phối hợp hoạt động nhằm đạt được hiệu quả cao trong phòng ngừa tình hình tội phạm Tuy nhiên, ở nước ta từ trước đến nay hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm về nguyên tắc do cơ quan Công an, Tòa án, Viện kiểm sát đảm nhiệm Còn sự tham gia của xã hội vào hoạt động này được coi là cơ chế đương nhiên Hiện nay, nước ta vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách nghiên cứu vấn đề phòng ngừa tình hình tội phạm, chưa có một cơ chế hoàn chỉnh về phòng ngừa tình hình tội phạm Tóm lại, cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm được áp dụng trên cơ sở hệ thống những chính sách và pháp luật, sử dụng nhiều biện pháp, được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau dựa trên những nguyên tắc nhất định Là một chỉnh thể bao gồm nhiều bộ phận hợp thành cho nên để có một cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ của bất kỳ chủ thể riêng lẻ nào mà cần có sự phối hợp, thống nhất giữa các chủ thể với nhau

1.5 Các nguyên tắc của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

Phòng ngừa tình hình tội phạm là một loại hoạt động thực tiễn xã hội có những đặc điểm đặc thù của mình Cách thức tổ chức và hoạt động của hệ thống đó phải được xây dựng theo những nguyên tắc nhất định [44, tr.146] Nguyên tắc của

cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm cũng phải tuân thủ các nguyên tắc trong phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung Đó là những quan điểm, phương châm xuyên suốt toàn bộ việc tổ chức và hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm Tất cả các biện pháp phòng ngừa dù ở phạm vi nào, với tính chất và mức độ nào cũng không thể thoát li khỏi những nguyên tắc chung, cơ bản, cụ thể như sau:

1.5.1 Nguyên tắc pháp chế

Nguyên tắc pháp chế thể hiện ở chỗ hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa phải có cơ sở pháp luật,

Trang 29

phải phù hợp với các quy định của pháp luật Trong quá trình tiến hành các hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm các chủ thể tuân thủ nghiêm chính, nhất quán các quy định của pháp luật về hoạt động đó [44, tr.146]

“Phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Hoạt động này nhằm thực hiện nhiệm vụ chung mà xã hội và Nhà nước đặt ra vì lợi ích chung của xã hội Do đó, việc tổ chức và hoạt động của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm cũng phải theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật Chỉ có thực hiện đúng các quy định của pháp luật thì cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm mới đảm bảo hoạt động có hiệu quả và đạt được mục đích của nó là phục vụ lợi ích xã hội, Nhà nước và công dân”

1.5.2 Nguyên tắc dân chủ

“ Dân chủ là một trong những đặc điểm nổi bật thể hiện bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc dân chủ quán xuyến toàn bộ các loại hình hoạt động của Nhà nước và xã hội”

Nội dung của nguyên tắc dân chủ thể hiện ở việc lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân lao động, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần và toàn xã hội tham gia vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm Nguyên tắc đó đòi hỏi phải phát huy tinh thần chủ động, tính tích cực, sáng tạo của mọi chủ thể tham gia vào hoạt động phòng ngừa, để tạo ra một hoạt động rộng lớn của xã hội [44, tr.146]

“Phòng ngừa tình hình tội phạm là lĩnh vực hoạt động có tính xã hội rộng rãi,

do đó cần tuân thủ nguyên tắc dân chủ Nó đòi hỏi phải đảm bảo sự tham gia đông

đủ của tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm, mọi chủ thể đều có quyền phát huy sáng kiến, vai trò của mình tham gia vào việc tổ chức và hoạt động phòng ngừa đó Mặt khác, không một cơ quan, tổ chức nào có khả năng độc lập giải quyết toàn bộ nhiệm vụ phòng ngừa tình hình tội phạm, đây là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, của các cơ quan Nhà nước, của mọi công dân Nguyên tác này đòi hỏi sự tham gia tích cực và

có hiệu quả của các chủ thể vào cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm Mức độ tham gia tùy theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các khả năng, lợi thế hiện có của các chủ thể”

1.5.3 Nguyên tắc nhân đạo

Trang 30

Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Mọi hoạt động của nhà nước,

xã hội đều hướng tới con người Phòng ngừa tội phạm về bản chất là hoạt động mang tính nhân đạo, vì con người, bảo vệ xã hội, nhà nước và công dân khỏi sự xâm hại của tội phạm

Nhân đạo là giá trị xã hội rất tiến bộ và được đề cao trong xã hội hiện đại Những đối tượng dễ bị tổn thương hoặc phải chịu những chế tài pháp lý thường được đối xử theo tinh thần nhân đạo Đối tượng của hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm hướng đến con người nói chung và người phạm tội nói riêng nên cần tuân thủ nguyên tắc nhân đạo Nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa được xây dựng và áp dụng trong thực tiễn không được hạ thấp nhân phẩm, danh dự, các quyền cơ bản của con người mà phải hướng đến việc định hướng hành vi, lối sống cho họ theo hướng hòa nhập với xã hội, làm những việc có ích cho xã hội Nguyên tắc này còn đòi hỏi hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm phải kết hợp hài hòa, đúng mức độ biện pháp cưỡng chế với thuyết phục theo hướng tăng cường

sự thuyết phục, giáo dục [44, tr.147]

Nguyên tắc nhân đạo trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm, về bản chất là hoạt động mang tính nhân đạo, vì con người, nó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội, Nhà nước và công dân Hơn nữa, phòng ngừa tình hình tội phạm cũng có nghĩa là không để cho các thành viên của xã hội phải gánh chịu hậu quả do hành vi phạm tội gây ra Mặt khác, tổ chức và hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm phải có hiệu quả Hiệu quả càng cao thì tính nhân đạo càng được đảm bảo

1.5.4 Nguyên tắc khoa học và tiến bộ

Nội dung của nguyên tắc khoa học và tiến bộ thể hiện ở chỗ các biện pháp phòng ngừa, tổ chức hệ thống phòng ngừa, các chủ thể phòng ngừa phải được xây dựng có cơ sở khoa học, tức là có cơ sở lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh với tội phạm, mang tính chất đồng bộ, có hệ thống, đạt hiệu quả cao và phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội và xu hướng hoạt động phòng ngừa của các nước trên thế giới [44, tr.147]

Để thực hiện tốt nguyên tắc này được, Nhà nước cần có những chủ trương để nghiên cứu về phòng ngừa tình hình tội phạm và ứng dụng có hiệu quả các kết quả nghiên cứu đó Nguyên tắc này góp phần đảm bảo khả năng thành công, tiết kiệm

Trang 31

nhân lực, vật lực và hạn chế được các rủi ro, tổn thất trong hoạt động của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

1.5.5 Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ hoạt động phòng ngừa giữa các chủ thể

Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ hoạt động phòng ngừa giữa các chủ thể đòi hỏi hoạt động phòng ngừa phải đặt trong một cơ chế phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, có

sự điều hành thống nhất giữa các cơ quan chuyên trách và không chuyên trách, giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế mà mọi công dân, giữa trung ương với địa phương Hình thức, nội dung và phạm vi hoạt động phòng ngừa cần phải được xác định thống nhất giữa các chủ thể hoạt động phòng ngừa [44, tr.147]

“Trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm nhiều chủ thể phòng ngừa khác nhau thực hiện Sự phối hợp thể hiện ở việc cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu, xây dựng chương trình kế hoạch, thực hiện các biện pháp, giải pháp Do vậy, cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm chỉ có thể đạt hiệu quả nếu đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ hoạt động phòng ngừa giữa các chủ thể phòng ngừa, đồng bộ giữa các biện pháp khác nhau trong hệ thống đó Để có sự phối hợp tốt, trước hết phải có sự lãnh đạo thống nhất từ một cơ quan đầu mối chuyên trách, đồng thời có một cơ chế phối hợp được xác định rõ trong các chương trình, kế hoạch phòng ngừa tình hình tội phạm”

1.5.6 Nguyên tắc phân hóa hoạt động phòng ngừa

Nội dung cơ bản của nguyên tắc phân hóa hoạt động phòng ngừa thể hiện ở chỗ hệ thống phòng ngừa phải được tổ chức tương ứng với các quy luật và đặc điểm của tình hình tội phạm và người phạm tội, các biện pháp phòng ngừa phải phù hợp với từng lĩnh vực phòng ngừa, đối tượng và địa điểm phòng ngừa; việc phòng ngừa

cá nhân phải được tiến hành trên cơ sở hiểu biết đầy đủ về cá nhân [44, tr.147,148]

Để thực hiện tốt nguyên tắc này, ngoài chương trình kế hoạch chung của quốc gia, các địa phương, ngành cần có chương trình, kế hoạch riêng và trên cơ sở

cụ thể hóa các nội dung của chương trình kế hoạch chung có tính đến điều kiện riêng của từng địa bàn, từng chủ thể Nguyên tắc này khắc phục tình trạng định

Trang 32

hướng chung chung nên gặp nhiều khó khăn trong triển khai hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm, hoặc hoạt động phòng ngừa theo kiểu hình thức, phong trào kém hiệu quả

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN

ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN, TP HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát tình hình quận Bình Tân có liên quan đến cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

2.1.1.Khái quát tình hình kinh tế- xã hội quận Bình Tân

Quận Bình Tân được thành lập ngày 05/11/2003, theo Nghị định số 130/2003/NĐ-CP của Chính phủ, trên cơ sở tách 3 xã (Bình Trị Đông, Bình Hưng Hòa, Tân Tạo) và thị trấn An Lạc của huyện Bình Chánh Sau khi thành lập, Quận được cơ cấu lại thành 10 phường Từ cột mốc quan trọng này, chặng đường 14 năm qua đã chứng kiến Đảng bộ, Chính quyền cùng người dân không ngừng nỗ lực, đưa quận Bình Tân vững bước trên quá trình hình thành và phát triển Từ một quận vùng ven trở thành khu vực đô thị văn minh, hiện đại Nằm án ngữ phía Tây thành phố với nhiều khu công nghiệp lớn như: Tân Tạo, Vĩnh Lộc, Tân Bình mở rộng và Tập đoàn Pouyeng, có Quốc lộ 1A chạy qua theo hướng Bắc - Nam nối với các tỉnh miền Tây Nam Bộ, nên quận Bình Tân có vị trí quan trọng về kinh tế và quốc phòng

- an ninh

Với tổng diện tích 5.188,67 ha, dân số hơn 640.000 người, chủ yếu là người Kinh (91,27%), người Hoa (8,35%), còn lại là các dân tộc khác Giai đoạn sau khi mới thực hiện chia tách, Bình Tân đối mặt với thách thức lớn từ cơ sở vật chất hạ tầng yếu kém, thiếu thốn nhân lực và nguồn vốn, dân số cơ học tăng nhanh… Do vậy, kết quả thực tế sau 14 năm thành lập cho thấy những bước tiến đầy ấn tượng của quận khi 10 năm trở lại đây, Bình Tân đã gia nhập nhóm “CLB 1.000 tỉ đồng” của thành phố

Năm 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế của quận tiếp tục ở mức 14,57% so với cùng kỳ; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng thương mại - dịch

vụ, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp Tổng thu ngân sách nhà nước trong năm 2016 đạt 2.631,17 tỷ đồng, vượt 40,9% dự toán pháp lệnh năm

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác quản lý đô thị trên địa bàn quận Bình Tân thời gian qua chịu nhiều áp lực và thách thức từ tỉ lệ tăng dân số cơ học luôn ở mức cao, kéo theo nhiều nguy cơ tiềm ẩn khác từ vấn đề nguồn nước sinh hoạt, tình hình an ninh trật tự và an sinh xã hội

Trang 34

2.1.2 Khái quát tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân giai đoạn

2013 - 2017

Để làm rõ tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017, tác giả sử dụng số liệu thống kê của TAND quận Bình Tân, số liệu được khai thác từ báo cáo tổng kết của Công an quận Bình Tân

2.1.2.1 Mức độ của tình hình tội phạmtrên địa bàn quận Bình Tân

Mức độ của THTP là đặc điểm định lượng tiêu biểu, cho biết toàn bộ số người phạm tội cũng như số tội phạm do họ thực hiện trong một đơn vị thời gian và không gian nhất định [10, tr.151]

Mức độ của THTP nói chung được thể hiện qua mức độ tổng quan, mức độ nhóm và mức độ hành vi Mức độ của tình hình tội phạm được phản ánh qua số vụ phạm tội và số bị cáo đã được xét xử sơ thẩm hình sự trên địa bàn quận Bình Tân từ năm 2013 đến năm 2017 như Bảng 2.1 phần Phụ lục

Qua bảng số liệu trên, có thể nhận thấy trong thời gian từ năm 2013 đến năm

2017, trên địa bàn quận Bình Tân xảy ra 1.829 vụ phạm pháp hình sự Trong đó khám phá được 1.160 vụ, với 1.501 đối tượng, trung bình mỗi năm trên địa bàn quận có 566 vụ.Số lượng tội phạm hình sự được điều tra, truy tố và xét xử trong 5 năm qua có diễn biến phức tạp Theo đó, năm 2014 có số vụ phạm pháp hình sự cao nhất với 439 vụ, năm 2017 có số vụ phạm pháp hình sự thấp nhất với 278 vụ Cụ thể tăng, giảm các năm như sau: Năm 2013 giảm so với năm 2012 là 43 vụ; năm

2014 tăng so với năm 2013 là 46 vụ; năm 2015 giảm so với năm 2014 là 66 vụ; năm

2016 giảm so với năm 2015 là 27 vụ; năm 2017 giảm so với năm 2016 là 68 vụ Có thể nhận thấy rằng, từ năm 2015 số vụ phạm pháp hình sự trên địa bàn có chiều hướng giảm, điều đó cho thấy cơ chế phòng ngừa cũng như nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong cơ chế tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân ngày càng được quan tâm và thực hiện có hiệu quả hơn

Trong mối tương quan với THTP nói chung của cả Thành phố Hồ Chí Minh, số

vụ phạm pháp hình sựtrên địa bàn quận Bình Tân được thể hiện trong Bảng 2.2 phần Phụ lục Như vậy, trong khoảng thời gian nghiên cứu, so với tổng số các vụ phạm pháp hình sự trên địa bàn toàn thành phố Hồ Chí Minh, số vụ phạm pháp hình sựtrên địa bàn quận Bình Tân chiếm 6,39%

Trang 35

Để có thể đánh giá toàn diện mức độ của tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân cần làm rõ thêm về cơ số tội phạm Đây là chỉ số khái quát có giá trị

so sánh toàn cầu, được tính bằng số vụ hoặc số bị cáo trên 100.000 dân trong thời gian một năm Ở đây cơ số tội phạm được tính bằng số bị cáo trên 100.000 dân, như Bảng 2.4 phần Phụ lục

Theo đó năm 2017 có mức độ tội phạm thấp nhất, cứ 100.000 dân thì có 39,41người phạm tội, năm 2013 có mức độ cao nhất, cứ 100.000 dân thì có 88,40người phạm tội Trong khoảng thời gian khảo sát, tính trung bình, mỗi năm trên địa bàn quận Bình Tân cứ 100.000 dân thì có 68,46 người phạm tội

Nghiên cứu mức độ của tình hình tội phạm, cũng cần xem xét mức độ nghiêm trọng của các vụ phạm tội.Các số liệu cũng cho thấy trên địa bàn quận Bình Tân từ năm 2013 đến năm 2017 xảy ra 1.829 vụ phạm pháp hình sự, trong đó có

707 vụ nghiêm trọng trở lên (chiếm 38,65%), có 1160 số vụ được khởi tố điều tra

(chiếm 63,42%)

2.1.2.2 Cơ cấu của tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân

Cơ cấu của THTP được tội phạm học xếp vào loại đặc điểm định tính tiêu biểu của tình hình tội phạm [10, tr.153].Đây là đặc điểm định tính đặc trưng của tình hình tội phạm, cho biết trong tình hình tội phạm được cấu tạo như thế nào Cơ cấu của tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân được tác giả nghiên cứu theo các đặc điểm sau đây:

- Cơ cấu hành chính lãnh thổ

Phân tích cơ cấu hành chính lãnh thổ của tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân nhằm xác định cấp độ nguy hiểm của tình hình tội phạm của từng địa bàn Để làm được việc này, tác giả vận dụng “phương pháp xác định cơ cấu chuyên biệt” [10, tr.155], như Bảng 2.5 phần Phụ lục

Trong bảng 2.5 cột dọc cuối cùng bên phải là thứ bậc được hình thành dựa vào việc đánh giá trị từ thấp đến cao của dân số trên một bị cáo theo từng địa bàn của quận Bình Tân Thứ bậc từ thấp đến cao (từ 1 đến 10), phản ánh mức độ phổ biến từ cao xuống thấp của tình hình tội phạm Theo đó, phường Bình Hưng Hòa A có mức

Trang 36

độ phổ biến của tình hình tội phạm cao nhất, cứ 1.236 người dân thì có 1 người bị xét

xử, tiếp đến là phường Bình Hưng Hòa, cứ 1.265 người dân thì có 1 người bị xét xử, phường có mức độ thấp nhất là Bình Trị Đông A, cứ 1.962 người dân thì mới có 1 người bị xét xử

Khi nói đến một đơn vị hành chính lãnh thổ thì ngoài số dân, còn phải nói tới diện tích của địa phương đó Do vậy, bên cạnh việc nghiên cứu các tội phạm theo số dân của từng địa bàn thì còn phải nghiên cứu tình hình tội phạm dựa trên diện tích của từng địa bàn cụ thể như Bảng 2.6 phần Phụ lục

Bảng 2.6 cho thấy mức độ tội phạm theo diện tích từng địa bàn cụ thể Trong bảng trên cột dọc cuối cùng bên phải được ký hiệu là thứ bậc được hình thành dựa vào việc đánh giá giá trị của cột số bị cáo trên diện tích theo từng địa bàn của quận Bình Tân Thứ bậc từ thấp đến cao (từ 1 đến 10), phản ánh mức độ từ cao xuống thấp của tình hình tội phạm Theo đó phường Bình Hưng Hòa A là địa bàn có mức

độ tội phạm cao nhất, với 21,67 bị cáo/1km2 (cứ 1 km2 thì có gần 21,67 bị cáo bị xét xử), tiếp đến là phường Bình Trị Đông, với 15,89 bị cáo/1km2, và thấp nhất là phường Tân Tạo A (cứ 1 km2 thì chỉ có gần 4,18 bị cáo bị xét xử)

Kết quả sử dụng đồng thời cả hai yếu tố dân cư và diện tích trong việc đánh giá THTP ở 10 địa bàn thuộc quận Bình Tân được thể hiện ở bảng thống kê 2.7 phần Phụ lục

Bảng 2.7 sắp xếp mức độ tiêu cực của tình hình tội phạm xét theo từng địa bàn quận Bình Tân theo thứ tự từ nhỏ đến lớn Điều này phản ánh cấp độ nguy hiểm của THTP theo từng địa bàn từ lớn đến nhỏ (hệ số tiêu cực càng nhỏ thì cấp độ nguy hiểm càng lớn) Kết quả từ bảng cho thấy, cấp độ nguy hiểm của tình hình tội phạm ở địa bàn phường Bình Hưng Hòa A là lớn nhất, kế đến là phường Bình Hưng Hòa và có cấp độ nguy hiểm thấp nhất là phường Bình Trị Đông A

Việc đánh giá cấp độ nguy hiểm theo diện tích và theo số dân sẽ cho thấy tình hình các tội phạm thể hiện rõ rệt, có sự phân hóa khác nhau theo từng địa bàn,

từ đó tìm hiểu nguyên nhân vì sao cấp độ nguy hiểm của tội phạm ở một địa bàn nào đó lại cao để đưa ra giải pháp thiết thực phù hợp với đặc điểm diện tích, dân cư của từng khu vực nhằm đặt ra một cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm có hiệu quả

Trang 37

- Cơ cấu xét theo các hành vi vi phạm

Nghiên cứu báo cáo tổng kết của Công an quận Bình Tân trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, nhận thấy rằng các hành vi vi phạm được thể hiện như

Bảng 2.8 phần Phụ lục

Bảng 2.8 sắp xếp thứ tự các hành vi phạm pháp hình sự Có thể nhận thấy liên quan đến phạm pháp hình sự chủ yếu là các tội phạm xâm phạm sở hữu, trong

đó phổ biến là tội trộm cắp tài sản (chiếm 56,9%), tiếp đến là tội cướp giật tài sản (chiếm 17,5%); tội cố ý gây thương tích (chiếm 6,6%), cướp tài sản (chiếm 6,1%);

- Cơ cấu xét theo đặc điểm nhân thân của người phạm tội

+ Cơ cấu xét theo độ tuổi, giới tính

Trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, đặc điểm nhân thân của người phạm tội trên địa bàn quận Bình Tân xét theo độ tuổi, giới tính thể hiện ở Bảng 2.9 phần Phụ lục

Về độ tuổi: Đa số bị cáo trong các vụ án trong độ tuổi từ đủ 18 đến dưới 30

tuổi, có đến 1.855 bị cáo trong độ tuổi này (chiếm 78,20%), tiếp đến là các bị cáo trong độ tuổi trên 30 tuổi với 380 bị cáo (chiếm 16,02%) và các bị cáo trong độ tuổi dưới 18 với 137 bị cáo (chiếm 5,78%)

Về giới tính: Số bị cáo là nam giới chiếm đa số Qua số liệu thống kê thì

có2181 bị cáo là nam giới (chiếm 91,95%)

+ Cơ cấu xét theo trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú

Trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của các bị cáo trên địa bàn quận Bình Tân được tổng kết ở Bảng 2.10 và bảng 2.13 phần Phụ lục

Về trình độ học vấn: Đa số các bị cáo có trình độ học vấn thấp Trong số các

bị cáo đã được xét xử thì số bị cáo có trình độ học vấn THCS chiếm tỉ lệ cao nhất với 1.077 (chiếm45,40%), trình độ tiểu học với 627 bị cáo (chiếm 26,43%), trình độ THPT với 521(chiếm 21,96%), có 145 bị cáo không biết chữ (chiếm 6,11%), thấp nhất là trình độ cao đẳng, đại học với 02 bị cáo (chiếm 0,08%) Điều này cho thấy, phần lớn các bị cáo thiếu sự hiểu biết và có trình độ kiến thức thấp

Trang 38

Về nghề nghiệp: Số bị cáo là làm nghề tự do, buôn bán, không nghề nghiệp

chiếm tỉ lệ cao nhất với 1.901 bị cáo (chiếm 80,14%) Chiếm tỉ lệ thấp nhất là số bị cáo làm nhân viên văn phòng hoặc công chức, viên chức Nhà nước với 109 bị cáo (chiếm 4,6%)

Về hộ khẩu thường trú: Nghiên cứu theo tiêu chí này thấy được các bị cáo có

hộ khẩu thường trú ở quận Bình Tân chiếm 14,88% với 353 bị cáo; tạm trú chiếm 29,47% vớí 699 bị cáo; bị cáo sinh sống tại các quận, huyện khác của TP Hồ Chí Minh chiếm 39,38% với 934 bị cáo; số bị cáo còn lại là người vô gia cư chiếm tỉ lệ 9,02% với 214 bị cáo; bị cáo sinh sống tại các tỉnh, thành khác chiếm 7,25% với

172 bị cáo (Theo bảng 2.12 phần phụ lục)

- Cơ cấu xét về tiền án, tiền sự: qua Bảng số 2.11 cho thấy, nhóm đối tượng

có tiền án, tiền sự chiếm tỷ lệ khá cao Cụ thể từ năm 2013 đến năm 2017 có đến

362 đối tượng thuộc nhóm này, chiếm tỉ lệ 15,26% Tuy số liệu qua từng năm có sự biến động nhất định nhưng luôn chiếm tỷ lệ cao Điều này chứng tỏ công tác quản

lý đối với những người có tiền án, tiền sự ở địa bàn quận Bình Tân thực hiện chưa thực sự tốt, dẫn đến tình trạng nhóm đối tượng này vẫn có thời cơ, điều kiện để tiến hành các hoạt động phạm tội Do đó, trong công tác phòng ngừa tội phạm yêu cầu đặt ra đối với các cơ quan chức năng, các ban ngành đoàn thể ở quận Bình Tân cần phải tăng cường hơn nữa việc giáo dục, cải tạo, theo dõi, quản lý chặt chẽ hơn nữa đối với những người có tiền án, tiền sự trên địa bàn, phải có những biện pháp mạnh

mẽ, thiết thực để giúp những người có tiền án, tiền sự trên địa bàn quận thực sự hòa nhập với cộng động và trở thành những công dân tốt cho xãhội

2.2 Thực trạng nhận thức về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Để làm rõ thực trạng nhận thức về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tác giả sử dụng phương pháp điều tra xã hội học Qua khảo sát bằng điều tra xã hội học ý kiến của 200 người bao gồm các thành phần khác nhau như: cán bộ hưu trí, công chức, viên chức nhà nước, người dân, công nhân, học sinh, sinh viên cho thấy thực trạng nhận thức về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm của các chủ thể trên địa bàn quận Bình Tân hiện nay còn có những hạn chế nhất định Cụ thể như sau:

Trang 39

- Hầu hết các chủ thể chưa nhận thức được đầy đủ và thống nhất về khái niệm cơ chế của tình hình tội phạm Việc nhận thức của các chủ thể mới chỉ dừng lại ở chức năng, nhiệm vụ chuyên môn được quy định trong các văn bản pháp luật

về phòng ngừa tình hình tội phạm thông qua việc thực hiện các chính sách phòng ngừa tội phạm và thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, mà chưa có bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học hoặc một buổi hội thảo khoa học nào để tổng hợp và có cách nhìn đầy đủ và thống nhất về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm Như vậy, từ thực trạng trên thấy rằng các chủ thể chỉ mới chỉ nhận thức được phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung, mà chưa làm

rõ đặc trưng của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân,

TP Hồ Chí Minh Có một số trường hợp khi tác giả phỏng vấn các chủ thể về nhận thức cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm thì có chủ thể khẳng định cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm là sự phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền chứ không

có vai trò của nhân dân ở đó [Như nội dung phỏng vấn ở phần Phụ lục]

- Các chủ thể đã phần nào nhận thức được về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nghiên cứu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm Điều này thể hiện trong quan hệ phối hợp thực hiện các chính sách phòng, chống tội phạm và hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng ở quận Bình Tân thời gian qua Tuy nhiên, có thể thấy rằng, các chủ thể vẫn chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nghiên cứu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm Chẳng hạn như khi nghiên cứu các bản báo cáo tổng kết công tác hàng năm của Công an quận Bình Tân giai đoạn 2013-2017 thấy rằng, hầu hết trong các báo cáo chỉ kết luận chung chung về các biện pháp phòng ngừa đã thực hiện mà chưa nói rõ về cơ chế phối hợp giữa các chủ thể phòng ngừa

- Qua khảo sát thực tế tại quận Bình Tân cho thấy các chủ thể đã có thái độ, tinh thần tích cực trong tổ chức nghiên cứu nhằm xây dựng một cơ chế phối hợp trong phòng ngừa tình hình tội phạm hiệu quả Điều này thể hiện ở việc hoạch định các chính sách phòng chống tội phạm, việc xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm, các chủ thể cũng đã dựa trên cơ sở nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm để đề ra những kế hoạch phối hợp phòng ngừa Và trên cơ sở làm rõ được một số nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm các chủ thể đã có những biện pháp cụ thể để giải quyết những nguyên

Trang 40

nhân và điều kiện đó Tuy vậy, do thiếu một cách nhìn toàn diện nên cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân chưa đáp ứng được như mong muốn

- Ngoài ra, khi tác giả phỏng vấn một số người dân trên địa bàn quận về sự đánh giá của họ đối với công tác phòng ngừa tình hình tội phạm của các CQBVPL quận Bình Tân thì hầu hết trong số họ đều khẳng định rằng các CQBVPL quận chưa làm tốt công tác phòng ngừa tội phạm, vẫn để cho tội phạm xảy ra nhiều gây tâm lí rất bức xúc và giảm lòng tin của nhân dân đối với CQBVPL trên địa bàn quận [Như nội dung phỏng vấn ở phần Phụ lục]

Từ những phân tích trên đây có thể đánh giá rằng, các chủ thể trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân chưa có cách nhìn toàn diện về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm

2.3 Thực trạng về tổ chức và hoạt động của các chủ thể trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Trong những năm qua, cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân đã được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền quận, sự phối hợp triển khai của các ban ngành, đoàn thể của quận Kết quả cơ chế

phòng ngừa tình hình tội phạm thể hiện trên một số mặt hoạt động như sau:

2.3.1 Về công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện:

Quận ủy Bình Tân đã bám sát vào các Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước về công tác phòng chống tội phạm như: Chỉ thị số 48-CT/TW ngày

22/10/2010 của Bộ chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ trong tình hình mới”; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020"; Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ về “Tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và thành lập Ban chỉ đạo chương trình quốc gia phòng chống tội phạm”; Chỉ thị số 37/2004/CT-TTg ngày 08/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về

Ngày đăng: 19/06/2018, 14:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm