1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật việt nam hiện nay

71 232 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 515,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ quan điểm coi mối quan hệ giữa người tiêu dùng và tổ chức cá nhân kinh doanh là mối quan hệ dân sự thông thường, cho nên việc khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

VÕ THỊ THƯƠNG

KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU

DÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số : 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN TRỌNG ĐIỆP

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả luận văn

VÕ THỊ THƯƠNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm, điều kiện khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 6 1.2 Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 21

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHỞI KIỆN

VỤ ÁN DÂN SỰ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 25

2.1 Thủ tục và hệ quả pháp lý khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ người tiêu dùng 25 2.2 Thực trạng thực hiện khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 31

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 54

3.1 Phương hướng 54 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay 56

KẾT LUẬN 63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 4

THADS Thi hành án dân sự

VINASTAS Hội tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt

Nam

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

1 Bảng 2.1 Đánh giá tiêu chí sử dụng các phương thức

2 Bảng 2.2 Thống kê số lượng TCXH tham gia công tác

3 Bảng 2.3 Thống kê số lượng vụ việc khiếu nại được

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc thừa nhận hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế thị trường hiện nay

đã làm thay đổi căn bản những vấn đề về nhận thức và phương pháp điều tiết của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng BVQLNTD cũng

đã thực sự trở thành một lĩnh vực pháp luật độc lập, có vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhất là khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành vào năm 2010 Nhiều vụ việc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của một hoặc một vài người tiêu dùng cụ thể

mà còn ảnh hưởng đến đông đảo người tiêu dùng và toàn xã hội cũng như ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế Người tiêu dùng Việt Nam đang phải sống trong một môi trường không an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm nghiêm trọng Thực trạng công tác bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam cho thấy, các vụ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng có xu hướng ngày càng gia tăng

cả về số lượng và mức độ Chính vì vậy, việc cơ quan quản lý nhà nước can thiệp để giải quyết những trường hợp này không chỉ là để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng mà còn nhằm bảo đảm trật tự, sự ổn định trong hoạt động quản lý nhà nước

Xuất phát từ quan điểm coi mối quan hệ giữa người tiêu dùng và tổ chức

cá nhân kinh doanh là mối quan hệ dân sự thông thường, cho nên việc khởi kiện

vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về bản chất phải được giải quyết theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự thông qua hệ thống tòa án Chính vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tạo điều kiện cho người tiêu dùng bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chính bản thân mình

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là một vấn đề không mới Tuy nhiên, cho đến nay các công trình nghiên cứu đề tài

về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống Các công trình khoa học về lĩnh vực này chuyên sâu

có nhưng không nhiều, chủ yếu tập trung vào các khía cạnh tổng quát, phạm vi

nghiên cứu rộng, có thể kể tới như: Đề tài “Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam” của Viện Khoa

học pháp lý – Bộ Tư pháp thực hiện tháng 11/2013, do TS Nguyễn Thị Vân

Anh làm chủ nhiệm; đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của NTD trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, đề tài nghiên cứu

cấp bộ của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp do ThS Định Thị

Mai Phương làm chủ nhiệm năm 2008; luận án “Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay”, TS Nguyễn Trọng Điệp

(2014), luận án tiến sĩ luật học Học viện Khoa học xã hội

Nhiều công trình nghiên cứu được công bố dưới hình thức các bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành luật hoặc tham luận trong các Hội thảo quốc gia và quốc tế Quan trọng nhất có thể nhận thấy quan điểm

rõ ràng của các học giả trong một bài viết như: Nguyễn Trọng Điệp (2014) Tố tụng trong giải quyết tranh chấp tiêu dùng: “Ba năm vẫn nằm trên giấy”, Tạp

chí thuế Nhà nước, Tổng Cục thuế - Bộ Tài chính, số 10 (472) 6/03/2014;

Nguyễn Trọng Điệp, Tố tụng rút gọn trong giải quyết tranh chấp tiêu dùng, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, tập 31, số 2 (2015), tr.41; Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, PGS.TS Nguyễn Như

Phát đăng tải trên website của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương; Bài

viết “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông tin của người tiêu dùng”, TS Nguyễn Văn Cương, đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8(304) năm 2013; Bảo vệ người tiêu dùng khi có tranh chấp - Cần biện pháp đặc biệt, TS

Trang 8

Nguyễn Ngọc Điện; Bài viết “Hòa giải - Một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế”, ThS Dương Quỳnh Hoa, Viện Nhà nước và Pháp luật; Luận

án tiến sĩ Luật học đề tài “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với các quan hệ thương mại trong giai đoạn hiện nay ở nước ta”, TS Dương Quỳnh Hoa; Nguyễn Thị Vân Anh (2010), “Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ người quyền lợi người tiêu dùng”, Tạp chí Luật

học, (11), tr 3-11

Ngoài ra phải kể đến một số các bài viết như: Đặc điểm của quan hệ tiêu dùng và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nguyễn Thị Thư, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2012, Viện Nhà nước và Pháp luật; Pháp luật và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, Đặng Vũ Huân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về pháp luật và tiêu dùng tháng 1 năm 2005; Luật Bảo vệ người tiêu dùng có nên quy định tổ chức là người tiêu dùng, Lê Hồng Hạnh, Trần Thị

Quang Hồng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20/2010, Văn phòng quốc hội

Để có một cái nhìn dễ dàng về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần thiết phải tạo nên một cơ sở lý luận rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu giúp cho người khởi kiện là các cá nhân hay các tổ chức có thể nắm bắt được các trình

tự, thủ tục khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Cho nên tôi chọn đề tài “Khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sĩ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận chung về khởi kiện vụ án dân

sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả khởi kiện vụ án dân sự nhằm tăng năng lực bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng trên thị trường

Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Lý luận về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trang 9

+ Phân tích, đánh giá thực trạng khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay

+ Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận về

khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt

Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu khởi kiện vụ án dân sự bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay, nhằm phân tích thực trạng và đánh giá thực hiện pháp luật hiện hành từ đó đề ra một số giải pháp nâng cao năng lực khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Luận văn tập trung nghiên cứu trong các vụ án đã được xét xử về khởi

kiện dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Tòa án

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu có hiệu quả những vấn đề do đề tài đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác – Lê Nin Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận văn, để đưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm tính khách quan, chân thực Từ phương pháp chung đó, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, đó phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống, thống kê, so sánh Để thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu, luận án kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp trong suốt quá trình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận văn Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu của từng chương, mục trong luận văn, tác giả vận dụng, chú trọng các phương pháp khác nhau cho phù hợp

Trang 10

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận của luận văn

Luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận trong khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay, đồng thời kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận góp phần làm nguồn tư liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu

Luận văn đánh giá được những thành công và hạn chế trong khởi kiện vụ

án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Từ đó đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Theo các vấn đề lý luận tác giả đã nghiên cứu và phân tích hoạt động khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp người tiêu dùng nói riêng và các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung có thêm cơ

sở khoa học để từ đó thực hiện tốt việc khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương chính như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Chương 3:Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khởi kiện vụ

án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ BẢO VỆ

QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1 Khái niệm, đặc điểm, điều kiện khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Khái niệm vụ án dân sự: Vụ án dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện

nay đó là các tranh chấp nảy sinh từ các quan hệ hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại, đất đai, nhà ở và các quan hệ dân sinh trong đời sống xã hội Việc các chủ thể của những quan hệ đó có tranh chấp và được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước giải quyết được gọi là các vụ án dân sự Có thể hiểu một cách đơn giản, vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì cá nhân, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án

có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Khái niệm vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: “Vụ án dân sự về bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng là vụ án mà bên khởi kiện là người tiêu dùng hoặc tổ chức xã hội

tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của Luật này” [14]

Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Các tranh chấp

dân sự được coi là vụ án dân sự khi có chủ thể trong quan hệ tranh chấp đó đưa vấn đề tranh chấp ra trước tòa án để được giải quyết đó gọi là “khởi kiện” Khởi kiện theo quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) bao gồm khởi kiện của người khởi kiện (khởi kiện của nguyên đơn), khởi kiện của bị đơn (trong trường hợp có yêu cầu phản tố) và khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong trường hợp có yêu cầu độc lập) Vậy, khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là việc người tiêu dùng hoặc tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật yêu cầu

Tòa án giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng

Trang 12

1.1.2 Đặc điểm khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Để hiểu được đặc điểm khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ta đi làm rõ các đặc điểm chủ yếu liên quan đến bản chất của chủ thể, quan

hệ pháp luật

- Đặc điểm của chủ thể trong khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD

Chủ thể trong khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD bao hàm hai đối tượng

là người khởi kiện (sau đây gọi chung là “Người tiêu dùng”) và người bị khởi kiện (gọi chung là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ)

Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng nắm trong tay quyền lực to lớn Thị trường chủ yếu do NTD điều tiết Là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, quyết định tiêu dùng của NTD ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trên thị trường NTD quyết định hàng hoá, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân sẽ kinh doanh Mức độ tiêu dùng của NTD chính là thước đo cho

sự tồn tại của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.[10]

Ở Việt Nam, khái niệm người tiêu dùng chỉ thực sự được biết đến và quan tâm khi nền kinh tế thị trường hình thành Khái niệm người tiêu dùng được định nghĩa trong Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 27/4/1999 thì

"Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức" (Điều 1) Luật Bảo vệ quyền

lợi NTD 2010 ra đời thay thế Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 có nhiều quy định mới so với Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD, tuy nhiên, nội hàm khái

niệm NTD vẫn không thay đổi “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”

[14] Như vậy, cơ sở để xác lập tư cách NTD theo pháp luật Việt Nam bao gồm:

(1) Về tư cách chủ thể thì người tiêu dùng có thể là cá nhân, gia đình hoặc

tổ chức (cá nhân, pháp nhân)

(2) Sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân,

Trang 13

gia đình, tổ chức Tuy nhiên, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 không

hề đưa ra bất kỳ khái niệm nào về hàng hóa, dịch vụ, mặc dù đây là khái niệm

cơ bản và rất quan trọng để xác định phạm vi điều chỉnh của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD

(3) Quan hệ tiêu dùng được xác lập thông qua hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ hoặc phát sinh trên cơ sở sử dụng hàng hóa, dịch vụ

Khi là một tập hợp đông đảo, NTD có vị thế quan trọng như vậy, nhưng thực chất trong mối quan hệ với người kinh doanh hàng hoá, dịch vụ với từng NTD đơn lẻ, NTD luôn đứng ở vị trí thế yếu, quyền lợi của họ dễ bị người kinh doanh hàng hoá, dịch vụ xâm phạm Điều đó thể hiện ở các khía cạnh sau đây: + Yếu thế trong việc tiếp cận, xử lý và hiểu các thông tin về hàng hoá, dịch vụ

+ Yếu thế về năng lực tài chính

+ Yếu thế trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng

+ Yếu thế về khả năng gánh chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm + Yếu thế về khả năng tiếp cận pháp luật

Thứ nhất, yếu thế trong việc tiếp cận, xử lý và hiểu các thông tin về hàng

hóa, dịch vụ:

Việc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tự nguyện cung cấp thông tin, minh bạch khả năng và hoạt động của mình là sự duy ý chí Họ chỉ thực hiện điều đó khi nhà nước có sự can thiệp trong đó can thiệp hữu hiệu nhất

là bằng công cụ pháp luật Nhưng thực tế không thể trông chờ toàn bộ vào nhà nước mà nhà nước làm việc đó do sức ép của xã hội dân sự và đôi khi nhờ xã hội dân sự nhà nước có được thông tin NTD nhận thông tin đã qua “bộ lọc” của Chính phủ và nhiều người cảm thấy yên tâm và tuyệt đối tin tưởng vào “bộ lọc” này Tuy nhiên không ít người tự sàng lọc lấy thông tin vì họ muốn dùng khả năng đánh giá của mình hơn là những “bộ lọc” đó Xã hội dân sự dưới dạng các

Trang 14

tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phong trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư… sẽ đem đến sự đa dạng về thông tin cho các đối tượng có nhu cầu khác nhau Qua đó sẽ thiết lập thế quân bình trong thông tin khi mà nhà nước không muốn hoặc không thể cung cấp thông tin cho xã hội Mặt khác đây cũng là nguồn thông tin hữu ích cho nhà nước làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách

và pháp luật của nhà nước

Chỉ khi không còn hạn chế về thông tin, thì NTD mới có đầy đủ quyền lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp với mục đích của mình, đồng thời một thị trường cạnh tranh lành mạnh mới được hình thành Thực tế cho thấy sự hạn chế

về thông tin là lí do phát sinh các khuyết tật của thị trường như: lừa đảo, trái với các quy luật thị trường, méo mó thị trường, cạnh tranh không lành mạnh… và đương nhiên NTD là đối tượng chịu hậu quả đầu tiên và nặng nề nhất Trước tình trạng hạn chế về thông tin giữa các chủ thể của thị trường thì nhà nước với công cụ pháp luật sẽ thực hiện vai trò điều tiết xã hội, lành mạnh hóa thị trường thông qua những quy định về quyền nghĩa vụ thông tin của các bên, các quy định phạt vi phạm nghĩa vụ thông tin… Trong khi đó, vai trò thông tin bổ trợ của xã hội dân sự sẽ góp phần khỏa lấp những khoảng trống về thông tin mà nhà nước không đảm đương được Thông tin về thị trường từ xã hội dân sự cũng là những thông tin mà người ta có thể kiểm chứng một cách cụ thể nhất

Thứ hai, yếu thế về năng lực tài chính:

Thực tiễn giải quyết tranh chấp phản ánh NTD có quyền lợi bị xâm phạm luôn phải đứng trước việc lựa chọn theo đuổi việc khiếu nại, đòi bồi thường thậm chí khởi kiện với rủi ro rất lớn về tài chính (từ khi bắt đầu tới khi giải quyết vụ việc, không cần biết kết quả) hoặc từ bỏ lợi ích liên quan do hạn chế về tài chính

Thứ ba, yếu thế trong việc đàm phán:

Người tiêu dùng bị xâm phạm về lợi ích bởi hàng hóa mua tiêu dùng, năng

Trang 15

lực hạn chế về tài chính, thông tin và tâm lý sẽ khiến cho NTD rơi vào trạng thái hoang mang, dễ dàng thỏa hiệp khi đàm phán với chủ thể thương nhân Điều này thực tế được tổ chức, cá nhân cung ứng hàng hóa tận dụng khá triệt để để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan tới hàng hóa, dịch vụ khuyết tật Ban đầu

có thể coi các tranh chấp này được giải quyết một cách đúng đắn, nhanh gọn và đạt được sự thỏa mãn về lợi ích giữa các bên nhưng thực tế NTD bị đặt vào tình huống không có lựa chọn thương lượng quyền lợi và lợi ích không được bảo toàn ngay ở giai đoạn đàm phán lợi ích

Thứ tư, yếu thế về khả năng gánh chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm:

Cũng giống như hạn chế về thông tin và năng lực đàm phán, yếu thế về khả năng chấp nhận rủi ro của NTD đơn lẻ là rõ ràng nếu không có một năng lực tài chính đủ mạnh, một tổ chức đại diện đủ uy tín để đứng ra bảo vệ quyền lợi Khả năng chấp nhận rủi ro thấp sẽ tạo nên sự “lép vế” của NTD trong giai đoạn thương lượng, hòa giải ban đầu từ đó hình thành tâm lý “kẻ yếu” chấp thuận ở vị thế thấp Khả năng chịu rủi ro thấp có thể coi vừa là tiền đề cũng vừa là hệ quả yếu thế của NTD trước tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ khi có tranh chấp tiêu dùng phát sinh cần được giải quyết

Thứ năm, hạn chế về khả năng tiếp cận pháp luật:

Thực tế Việt Nam hay các nước đang phát triển khác, hạn chế về khả năng tiếp cận các công cụ pháp lý đủ mạnh, đủ tin cậy trong quá trình giải quyết tranh chấp của công dân đơn lẻ là điều có thể khẳng định Một phần nguyên nhân khác nằm ở năng lực hệ thống pháp luật chưa cho phép (hoặc không đủ) để NTD dễ dàng tiếp cận dù bất cứ điều kiện, hoàn cảnh xã hội và năng lực tài chính khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm

Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam định nghĩa trên cơ sở đặc thù quản

lý hoạt động thương mại, cụ thể: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá

Trang 16

trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: Thương nhân theo quy định của Luật thương mại và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh [14] Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ là

chủ thể hết sức quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi NTD Quyền lợi của NTD được bảo đảm chủ yếu trong quan hệ nghĩa vụ với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đối với NTD, vì thế là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật bảo vệ NTD Điều đó thể hiện qua các đặc điểm cụ thể như sau: Thứ nhất, có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng, số lượng và sự an toàn của hàng hóa, dịch vụ Nhà làm luật thiết kế trách nhiệm này cho tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng quyền được an toàn của NTD,

sự an nguy của NTD phụ thuộc rất lớn vào thái độ của chủ thể thực hiện nghĩa

vụ Bên cạnh việc tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm trước khi đưa ra thị trường, hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu và hàng hóa lưu thông trên thị trường thì họ còn phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm

do mình sản xuất, kinh doanh hoàn lại hoặc đổi hàng mới, nhận lại hàng có khuyết tật bị NTD trả lại; ngưng sản xuất, thông báo biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa gây mất an toàn hoặc không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; thu hồi, xử lý hàng hóa không bảo đảm chất lượng; trả chi phí, lệ phí phục vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa theo yêu cầu của cơ quan nhà nước; thực hiện việc cân, đong, đo đếm chính xác

Thứ hai, có nghĩa vụ bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng hóa, dịch vụ Bảo hành là biện pháp khắc phục hậu quả do sai sót về kỹ thuật của hàng hóa trong quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển Như vậy, nếu xem bảo hành là việc khắc phục những sai sót về mặt kỹ thuật, bảo đảm cho hàng hóa đúng chất lượng, đủ những đặc tính như đã công bố, cam kết, đảm bảo giá trị sử dụng

Trang 17

trong một khoảng thời gian nhất định hay còn gọi là tuổi thọ, thì trách nhiệm bảo hành là nghĩa vụ tuyệt đối mà không cần có sự thỏa thuận hay quy định của pháp luật liên quan Chính vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho NTD trong việc sử dụng hàng hóa thì bảo hành là nghĩa vụ bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, phụ thuộc vào từng loại hàng hóa khác nhau, có đặc tính kỹ thuật khác nhau mà thời gian, phạm vi, trách nhiệm bảo hành là khác nhau

Bên cạnh nghĩa vụ bảo hành là nghĩa vụ hướng dẫn sử dụng hàng hóa cũng có thể xem đây là một trong những hành vi của nghĩa vụ thông tin Việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đúng thao tác, kỹ thuật, hợp lý của hàng hóa trước hết

sẽ giúp tăng tuổi thọ, khai thác hết công năng, công dụng của sản phẩm và đặc biệt hơn là bảo vệ sự an toàn cho sức khỏe, tính mạng của NTD, những người xung quanh và góp phần bảo vệ môi trường lành mạnh

Thứ ba, nghĩa vụ bảo đảm an toàn cho NTD Nghĩa vụ này được đặt ra buộc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải có trách nhiệm không những với chất lượng sản phẩm, hàng hóa, mà còn có trách nhiệm với sự an nguy của NTD Để thực hiện trách nhiệm này, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải: “Hướng dẫn đầy đủ về các thông tin an toàn sản phẩm cho NTD; phải chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn sản phẩm; đối với hàng hóa, dịch vụ khi sử dụng có thể đe dọa gây ảnh hưởng về sức khỏe, tính mạng, tài sản và môi trường, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải cảnh báo trước cho NTD về những nguy cơ đó; giải thích rõ ràng và hướng dẫn cách sử dụng hàng hóa cùng nhiều biện pháp phòng tránh các tác hại

có thể xảy ra” Trong trường hợp để xảy ra thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản cho NTD khi sử dụng đúng các hướng dẫn về hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp, tổ chức cá nhân kinh doanh phải tiến hành ngay mọi biện pháp nhằm ngăn chặn, thu hồi sản phẩm và

Trang 18

bồi thường thiệt hại cho NTD

Thứ tư, ưu thế về thông tin Thông tin của xã hội dân sự cũng tác động ngược cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Các nhà buôn có lẽ quan tâm nhiều đến nhu cầu, mong muốn và các động thái của thị trường từ chính khách hàng, hiệp hội người tiêu dùng hơn là các thông tin chính thống của nhà nước để điều chỉnh hoạt động của mình Thực tế cho thấy, trong các quan

hệ mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ với tổ chức, cá nhân kinh doanh NTD luôn ở thế thụ động, hạn chế về thông tin và năng lực kiểm chứng chất lượng, giá trị thật của hàng hóa và dịch vụ được cung cấp trong khi bên bán, bên cung ứng dịch vụ luôn ở thế chủ động về nguồn hàng, kiểm soát được chất lượng, thông tin sản phẩm trước khi tới tay người tiêu dùng Vì vậy, nghĩa vụ thông tin

đầy đủ, chính xác, trung thực của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ là một nghĩa vụ hợp lý và hết sức quan trọng để bảo đảm cho NTD thực hiện quyền được thông tin của mình Bởi chính vì tính cần thiết của nghĩa vụ này, mà hầu hết các lĩnh vực pháp luật liên quan đều bắt buộc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, trung thực; thể hiện các thông tin trung thực về chất lượng, số lượng, giá

cả, cách sử dụng hàng hóa trên bao bì, nhãn hàng hay các tài liệu kèm theo hàng hóa; cảnh báo về khả năng gây mất an toàn của sản phẩm và cách phòng ngừa cho NTD; thông báo yêu cầu về vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hóa; sửa chữa

Thứ năm, ưu thế về đàm phán, giao kết hợp đồng Điều kiện giao dịch chung được hiểu là tất cả những điều khoản, điều kiện hợp đồng, quy tắc bán hàng được soạn trước bởi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ và được sử dụng trong khi ký kết hợp đồng với nhiều khách hàng khác nhau[26] Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề khác nhau đều sử dụng hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong các giao

Trang 19

dịch với NTD, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước độc quyền trong các lĩnh vực như điện, nước, bưu chính, viễn thông Các công ty nước ngoài, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, vận tải Tuy các điều kiện giao dịch chung này góp phần làm thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro hoặc bất công cho NTD Lợi dụng thế mạnh của mình về thông tin, khả năng hiểu biết pháp luật, tiềm lực kinh tế hay vị trí thống lĩnh, độc quyền, nên các điều kiện thương mại chung do các doanh nghiệp này đưa ra thường có rất nhiều điều khoản, quy định chèn ép, không công bằng, bất lợi cho NTD, từ ngữ dùng trong các điều kiện thương mại chung này rất trừu tượng, khó hiểu, thậm chí còn xa lạ với người có trình độ, chuyên môn, và NTD cũng không có khả năng để từ chối việc chấp nhận những điều kiện thương mại chung này

- Quan hệ pháp luật vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:

Thứ nhất, về bản chất, quan hệ pháp luật vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi NTD (sau đây gọi chung là quan hệ tiêu dùng) là quan hệ dân sự được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự, không phải quan hệ thương mại thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Thương mại cho dù quan hệ này có chủ thể là tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (thương nhân) và mục đích tham gia vào các quan hệ tiêu dùng là để thỏa mãn các nhu cầu về lợi ích vật chất (quan hệ tài sản) trong

đó có mục đích lợi nhuận của thương nhân Quan hệ pháp luật tiêu dùng là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội (trao đổi hàng hóa, dịch vụ) giữa người bán

và người mua đối với hàng hóa, giữa bên cung ứng dịch vụ và bên thụ hưởng dịch vụ… Quan hệ pháp luật tiêu dùng hình thành trên cơ sở các quy phạm pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ với những mục đích cụ thể, được áp dụng khi phát sinh sự kiện pháp lý Quy phạm pháp luật về BVQLNTD được coi là trọng tâm trong nội dung quan hệ pháp luật tiêu dùng, các quy phạm pháp luật chuyên ngành khác có ý nghĩa bổ trợ trong từng mối quan hệ tương ứng

Trang 20

Tuy nhiên, điểm khác biệt so với các quan hệ pháp luật dân sự thông thường, cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải giải quyết được đặc thù cơ bản của quan hệ pháp luật tiêu dùng về mặt thể chế là: khắc phục tình trạng bất cân xứng giữa NTD và cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Đây là nguyên tắc và cũng là nhiệm vụ cơ bản của pháp luật BVQLNTD

Trên cơ sở đó, để khắc phục được tình trạng bất cân xứng của NTD và cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, đòi hỏi về mặt thể chế phải xác định đầy đủ: quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức xã hội cũng như bản thân NTD dùng trong việc bảo vệ quyền của người tiêu dùng; cơ chế giải quyết khiếu nại, khởi kiện và tố cáo của NTD Trong quá trình đó, hoạt động bảo vệ NTD cần dự liệu các vấn đề được đặt trong trạng thái

“động” bởi tác động của quá trình hội nhập cũng như sự phát triển nhanh chóng

của khoa học – kỹ thuật

Thứ hai, khác với nhiều lĩnh vực pháp luật khác, việc BVQLNTD diễn ra

ở hầu hết các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội Do đó, một văn bản pháp luật không thể điều chỉnh tất cả các lĩnh vực, mà phải sử dụng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của hầu hết các nước trên thế giới đều cho thấy điều này Như tại Nhật Bản, ngoài Luật BVQLNTD còn có gần 30 Luật chuyên ngành khác liên quan đến hoạt động bảo

vệ người tiêu dùng như Luật hợp đồng tiêu dùng, Luật Giao dịch thương mại đặc định, Luật Vệ sinh thực phẩm, Luật Chú thích sản phẩm, Luật Khuyến khích các tổ chức phi lợi nhuận, Luật Bảo vệ thông tin cá nhân, Luật Bình ổn giá, Luật bán hàng trả góp… Thực tiễn hoạt động lập pháp và lập quy liên quan đến hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay cũng diễn ra tương

tự Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này hiện nay có thể liệt kê

Trang 21

bên cạnh Luật BVQLNTD mới được ban hành phải kể tới như: Bộ luật Dân sự,

Bộ luật Hình sự, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Khám, chữa bệnh, Luật Cạnh tranh, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật An toàn thực phẩm, Luật Viễn thông, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Quảng cáo, Pháp lệnh Đo lường, Pháp lệnh Giá Đấy là chưa kể tới số lượng các văn bản quy phạm hướng dẫn Luật cũng như các quy định hướng dẫn cụ thể của từng địa phương về vấn đề này Với tính chất rộng lớn của lĩnh vực pháp luật này, việc pháp điển hóa và thống nhất các văn bản điều chỉnh trong một văn bản duy nhất là không thể Một sản phẩm từ khâu sản xuất tới tay NTD phải đảm bảo tuân thủ quy định tại văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp quan hệ tiêu dùng là Luật BVQLNTD, còn phải phù hợp các quy định về quy chuẩn, tiêu chuẩn sản xuất (Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật), chất lượng hàng hóa (Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa), an toàn vệ sinh thực phẩm (Luật An toàn

vệ sinh thực phẩm), quảng cáo (Luật Quảng cáo), cạnh tranh (Luật Cạnh tranh), giao dịch dân sự (Bộ luật Dân sự)…

Điểm khác biệt cơ bản nhất trong phương pháp điều chỉnh giữa Luật gốc về quyền lợi người tiêu dùng và các Luật bổ trợ là nội dung điều chỉnh của các quy định bổ trợ được xây dựng theo hướng can thiệp vào quy trình sản phẩm từ khi sản xuất để đạt được mục đích bảo vệ người tiêu dùng, còn luật gốc sẽ cung cấp những công cụ pháp lý đặc biệt và ưu tiên hơn cho người tiêu dùng để bảo vệ quyền lợi của mình

Qua đó cho thấy, do tính chất bao trùm và rộng lớn của các quy định pháp luật về BVQLNTD của Việt Nam, tính chất tương hỗ giữa luật chuyên ngành và luật gốc trong hoạt động điều chỉnh từng khía cạnh của quan hệ tiêu dùng là đặc biệt cần thiết Trong chừng mực nào đó, tính tương hỗ này có thể là nguyên nhân của sự chồng chéo giữa các quy định về cùng một vấn đề (thực trạng này không hiếm trong thực tiễn lập pháp của Việt Nam), nhưng vẫn là cần thiết

Trang 22

trong bối cảnh chưa thể pháp điển hóa lĩnh vực pháp luật này

Thứ ba, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong mối quan hệ tiêu dùng hay trong các tranh chấp tiêu dùng, đòi hỏi không chỉ bao gồm vấn đề giữa NTD

và doanh nghiệp mà còn có sự tham gia, phối của các tổ chức xã hội và cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vì vậy, về mặt thiết chế đòi hỏi luôn luôn có sự hoàn thiện và nâng cao hoạt động bảo vệ người tiêu dùng của bộ máy cơ quan bảo vệ người tiêu dùng Công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần được xã hội hóa, triển khai toàn diện trên nhiều mặt để trở thành trách nhiệm của toàn xã hội Đặc biệt là công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm quyền lợi người tiêu dùng của các cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đây là một chế định rất quan trọng trong việc bảo đảm hiệu quả và hiệu lực điều chỉnh pháp luật BVQLNTD

Thứ tư, cơ chế pháp luật BVQLNTD còn xác lập những ngoại lệ so với những nguyên tắc tố tụng truyền thống nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng tiếp cận công lý, giành lại công bằng, bảo vệ quyền lợi của mình Đó chính là những ngoại lệ về miễn tạm ứng án phí, xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc giảm nghĩa vụ chứng minh cho NTD Chẳng hạn như khởi kiện tập thể (class action ở Hoa kỳ, Sammelklage ở Đức) hoặc đảo nghĩa vụ chứng minh (Beweislastumkehr – Đức) [13]

1.1.3 Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thứ nhất, về chủ thể khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:

Khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD, chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện và có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Theo điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 người khởi kiện phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, đất đai, nhà ở (sau đây gọi tắt là dân sự) Về nguyên tắc, quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự chỉ có

Trang 23

được khi chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung: quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, đất đai, nhà ở (viết tắt là quan

hệ dân sự) Chủ thể không có quyền, lợi ích dân sự, không có quyền khởi kiện trừ một số trường hợp ngoại lệ theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, mặc dù người khởi kiện có quyền, lợi ích dân sự nhưng quyền, lợi ích đó không hoặc chưa bị xâm phạm thì cũng chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự Bên cạnh

đó, để bảo vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của NTD, pháp luật quy định quyền khởi kiện của TCXH tham gia BVQLNTD Quyền khởi kiện vụ án dân sự bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng được chia ra cho hai nhóm cụ thể:

Nhóm thứ nhất là khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình, được quy định tại Điều 186 BLTTDS năm 2015, theo đó khi cá nhân, cơ quan, tổ chức nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện để bảo vệ

Nhóm thứ hai, là khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, được quy định tại khoản 3, Điều 187 BLTTDS năm 2015

“Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.”

Tóm lại, đối với quyền khởi kiện thì điều cơ bản nhất người khởi kiện cần biết đó là khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể tự mình hoặc thông qua người khác để khởi kiện

Năng lực hành vi tố tụng dân sự: Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự [4] Về năng lực hành vi tham gia tố tụng thì có thể chia thành hai nhóm:

Trang 24

Đối với tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD: Người đại diện theo pháp luật là người có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng, người đại diện theo pháp luật

có thể ủy quyền cho người khác có đủ điều kiện để tham gia tố tụng

Đối với cá nhân là NTD: Tùy vào độ tuổi và thể chất thì pháp luật chia ra các trường hợp sau: Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người có đầy đủ năng lực lực hành vi tố tụng dân sự trừ những người bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc trường hợp khác do pháp luật quy định; Người dưới 15 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự, thì việc bảo vệ quyền, nghĩa

vụ tố tụng dân sự của họ tại Tòa án do người đại diện theo pháp luật thực hiện; Người từ đủ 15 tuổi - chưa đủ 18 tuổi, nếu đã tham gia hợp đồng lao động hoặc thực hiện các giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì có thể tự mình tham gia tố tụng và có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Những quan hệ khác thì việc bảo vệ quyền, nghĩa vụ của họ do người đại diện theo pháp luật thực hiện

Thứ hai, vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình Việc xác định thẩm quyền là một điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hoạt động bình thường và hợp lý của bộ máy nhà nước Đồng thời, việc phân định thẩm quyền giữa các Tòa án cũng góp phần cho các Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ và NTD dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện Thẩm quyền của Tòa án được xác định một cách chính xác sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Để

vụ án dân sự BVQLNTD được thụ lý, đơn khởi kiện phải gửi đến đúng Tòa án

có thẩm quyền giải quyết Cụ thể: Vụ án dân sự BVQLNTD chủ thể khởi kiện thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại Điều 26, BLTTDS

Trang 25

năm 2015; Vụ việc được khởi kiện phải đúng với cấp Tòa án có thẩm quyền quy định tại các Điều 35, BLTTDS năm 2015; Vụ án được khởi kiện đúng thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại Điều 39 BLTTDS năm 2015; Trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án theo quy định tại Điều

40 BLTTDS năm 2015 thì yêu cầu đương sự cam kết không khởi kiện tại các Tòa án khác Nếu do thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết thì phải kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận; Đối với những việc pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi các cơ quan hữu quan đã giải quyết mà họ không đồng ý với việc giải quyết của

cơ quan đó Khi xác định thẩm quyền, Tòa án cũng phải xác định đó là loại tranh chấp để vào sổ thụ lý loại án đúng với quy định Việc xác định này có ý nghĩa rất lớn khi xác định các quy phạm pháp luật nội dung để áp dụng Là tranh chấp giữa NTD và doanh nghiệp thì sẽ áp dụng các quy định trong Luật BVQLNTD,

Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại

Thứ ba, vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện:

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà các chủ thể có quyền khởi kiện được quyền yêu cầu tòa án giải quyết các tranh chấp ở đây là giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ để bảo vệ quyền, lợi ích bị xâm phạm Hết thời hạn đó thì chủ thể khởi kiện mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Quy định thời hiệu khởi kiện góp phần quan trọng vào việc ổn định các quan hệ kinh tế - xã hội, hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện Trên thực tế có nhiều nguyên nhân khách quan mà việc khởi kiện không được thực hiện trong thời hạn quy định Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, pháp luật quy định không tính vào thời hiệu khởi kiện khoảng thời gian xảy ra

sự kiện bất khả kháng; trở ngại khách quan; người có quyền khởi kiện chưa thành niên, bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

mà chưa có người đại diện; người đại diện của họ bị chết mà chưa có người thay

Trang 26

thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện (Điều 186 BLTTDS năm 2015)

Thứ tư, sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật:

Khi khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD thì người khởi kiện cần phải xác định vụ án đó đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hay chưa, bởi lẽ, nếu cùng một quan hệ pháp luật tranh chấp, cùng chủ thể tham gia thì Tòa án sẽ không thụ lý những vụ án đã được giải quyết Nếu sự việc

đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không được khởi kiện lại đối với vụ án đó nữa Khi có quyết định đình chỉ giải quyết

vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại

vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước

về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 193 BLTTDS năm 2015) thì đương sự có quyền khởi kiện lại Tòa án chỉ được thụ lý giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật Điều kiện này nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định, sự ổn định của các quan hệ xã hội, một việc đã được giải quyết thì không giải quyết lại nữa để tránh tình trạng chồng chéo cũng một sự việc mà nhiều cơ quan giải quyết và tránh việc cố tình kéo dài việc khiếu kiện của đương sự

1.2 Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Khi quyền lợi của NTD bị vi phạm, theo quy định của pháp luật về BVQLNTD thì NTD hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền khởi kiện để bảo

Trang 27

vệ quyền lợi Cơ chế để NTD khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD khá đầy đủ và

đa dạng Vì vậy, khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD có những ý nghĩa nhất định như sau:

- Bảo đảm sự cân bằng trong giao dịch dân sự giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh

Người tiêu dùng luôn là bên yếu thế trong quan hệ tiêu dùng điển hình là sự thiếu thông tin, đặc biệt là các thông tin và kiến thức liên quan đến đặc tính kỹ thuật của sản phẩm Bên cạnh đó, NTD thông thường ít có cơ hội đàm phán, thương lượng trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh Do đó, khởi kiện

vụ án BVQLNTD sẽ góp phần đảm bảo sự cân bằng trong các quan hệ này, qua

đó góp phần ổn định trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích chung của xã hội

- Xã hội hóa công tác bảo vệ người tiêu dùng

Theo định hướng này, nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong xã hội tham gia cùng Nhà nước trong công tác bảo vệ người tiêu dùng Bên cạnh

đó, khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD hướng tới sử dụng chính sức mạnh của thị trường để loại bỏ các doanh nghiệp có hành vi xâm phạm quyền lợi NTD Từ

đó, ngoài việc bảo vệ được lợi ích của người tiêu dùng còn hướng tới bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn chân chính

- Bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân kinh doanh

Từ lâu quyền con người đã trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại, các quyền con người không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội hay chế độ chính trị Việc thừa nhận các quyền con người được xác định trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp lý Thực tế cho thấy, quyền con người không chỉ bao gồm các giá trị trừu tượng, mang tính khẩu hiệu như nhân đạo, khoan dung, tự do, bình đẳng, bác ái mà còn bao gồm các giá trị rất thực tiễn,

Trang 28

gần gũi với cuộc sống như quyền được duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng, quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền được đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe và quyền của NTD là một trong những quyền đó Bởi lẽ, một điều rất đơn giản, NTD trước hết là con người, mà con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển toàn diện và lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hạnh phúc và lành mạnh; NTD có quyền được hưởng các sản phẩm an toàn, phù hợp với khả năng và nhu cầu của mình Có một thực tế

mà chúng ta có thể dễ dàng nhận ra là chưa khi nào vấn đề NTD lại được đặt ra cấp thiết như hiện nay Việc thừa nhận nền kinh tế thị trường, hội nhập với thế giới bên ngoài đang làm thay đổi căn bản những vấn đề về nhận thức và phương pháp điều tiết của Nhà nước trong việc bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam Từ vai trò của NTD buộc phải chấp nhận sản phẩm trong cơ chế kinh tế cũ, NTD Việt Nam đã trở thành người chấp nhận giá Không hiếm các trường hợp các doanh nghiệp đã sử dụng thị trường Việt Nam làm nơi giải quyết hàng kém chất lượng, hàng tồn kho, hàng có chỉ dẫn gây nhầm lẫn hoặc trực tiếp tiến hành các biện pháp khuyến mại, quảng cáo gây nhầm lẫn cho NTD Việt Nam – nhóm người tiêu dùng chưa có nhiều cơ hội được giáo dục và đào tạo về tiêu dùng trong kỷ nguyên toàn cầu hóa

Khởi kiện vụ án dân sự được thể hiện trong BLTTDS là sự thể hiện rõ nhất việc thừa nhận quyền khởi kiện dân sự của công dân, qua đó thể hiện quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo quyền cơ bản của con người, đồng thời góp phần quan trọng trong việc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng dân sự Vì vậy, với tư cách là con người nên NTD cần phải được bảo vệ bằng pháp luật và việc hoàn thiện pháp luật khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD cũng phải dựa trên nhu cầu về quyền con người, lấy quyền con người làm gốc rễ, phải đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của quyền con người, đặc biệt là trong xã hội dân chủ hiện nay Hay nói cách khác, vấn đề nhân quyền

là cơ sở xã hội cho việc xác lập quyền được khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ

Trang 29

quyền của NTD, đồng thời hướng tới việc nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD nhưng vẫn đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể này

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nhìn nhận tổng thể các vấn đề lí luận liên quan tới khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có thể thấy, quan hệ pháp luật tiêu dùng là một phạm trù pháp lý rộng, bao quát nhiều đối tượng chủ thể, có nội dung điều chỉnh phong phú Luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như: Làm rõ khái niệm, đặc điểm, điều kiện khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; từ đó rút ra được

ý nghĩa của việc khởi kiện

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thủ tục và hệ quả pháp lý khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Để tổ chức, cá nhân BVQLNTD nắm được trình tự cũng như thủ tục khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD ra tòa án có thẩm quyền, theo pháp luật hiện hành khi nhận được đơn khởi kiện của người khởi kiện thì Tòa án có trách nhiệm tiếp nhận đơn và thực hiện các thủ tục cần thiết cụ thể:

Người tiêu dùng muốn tiến hành khởi kiện đối tượng đã gây thiệt hại cho mình thì phải làm đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 164 BLTTDS Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện phải gửi cho Toà án các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp [4] Chẳng hạn, người tiêu dùng phải nộp các loại chứng cứ chứng minh mình đã mua hàng của doanh nghiệp bị kiện, các loại chứng cứ chứng minh mình bị thiệt hại, các loại chứng cứ chứng minh doanh nghiệp bị kiện đã có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Người khởi kiện có thể gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng cách nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua đường bưu điện Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Toà án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi [4] Toà

án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

1 Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

Trang 31

2 Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

3 Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Trường hợp Toà án thụ lý vụ kiện, các thủ tục sau đó sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

2.1.1 Thụ lý vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hệ quả pháp lý

- Thụ lý vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Căn cứ pháp lý tại Điều 195, 196 BLTTDS 2015

Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy

vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án

về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí

và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí Trường hợp này, đối với NTD, tổ chức BVQLNTD khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng không phải nộp tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí tòa án [14] thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo

- Hậu quả pháp lý khi thụ lý vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho cá nhân là người tiêu dùng và tổ chức xã hội BVQLNTD có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án

Trang 32

Đối với vụ án do NTD khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể

từ ngày thụ lý vụ án

Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;

b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án;

c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện;

d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết;

đ) Vụ án được thụ lý theo thủ tục thông thường hay thủ tục rút gọn;

e) Danh mục tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện; g) Thời hạn bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có);

h) Hậu quả pháp lý của việc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện

Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp

2.1.2 Trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hậu quả pháp lý

- Trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Căn cứ pháp lý: Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 04/2017/NQ- HĐTP hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án Điều

192 BLTTDS 2015 quy định về các trường hợp thẩm phán trả lại đơn khởi kiện bao gồm:

Trang 33

Thứ nhất, người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Theo BLTTDS năm 2015 những người được quy định tại Điều 186 và Điều 187 là những người có quyền khởi kiện vụ án dân

sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự được quy định tại Điều 69, BLTTDS năm

2015 Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là những trường hợp được

hướng dẫn cụ thể tại điều 2, nghị quyết số 04/2017/NQ- HĐTP, gồm có:“Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2015; Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp; Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước

Ví dụ: Tổ chức A (không phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010) cho rằng Công ty B bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng như đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết dẫn đến việc chị C (người tiêu dùng) mua sử dụng bị thiệt hại nên Tổ chức A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty

B bồi thường thiệt hại cho chị C Trường hợp này, Tổ chức A không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 3 Điều

187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Trang 34

Thứ hai, chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó; Cụ thể, xác định chưa có đủ điều kiện được hướng dẫn

thực hiện tại điều 3 nghị quyết 04/2017/NQ- HĐTP như sau: “Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân

sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.”

Ví dụ, Ông H đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện nhà cung cấp hàng hóa B

vì cho rằng hàng hóa của bên B không đảm bảo chất lượng, tuy nhiên ông H chưa từng sử dụng hàng hóa đấy và hàng hóa đấy chưa gây ảnh hưởng gì đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của ông H Vì vậy, trong trường hợp này, ông H hay tổ chức xã hội chưa đủ điều kiện để khởi kiện nhà cung cấp sản phẩm hàng hóa B

Thứ ba, sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu khởi kiện vụ án BVQLNTD mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại

Thứ tư, vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình Cụ thể, vụ án BVQLNTD khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (thẩm quyền theo vụ việc); Vụ án phải được khởi kiện đúng cấp Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo Điều 35, Điều 36, Bộ luật tố

Trang 35

tụng dân sự năm 2015 (thẩm quyền theo cấp); Và phải đúng thẩm quyền theo lãnh thổ (Điều 39); Ngoài ra, nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án giải quyết (Điều 40) Đối với những tranh chấp trong vụ án dân sự mà pháp luật có quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án ra tòa án khi cơ quan hữu quan đã giải quyết mà họ không đồng

ý với việc giải quyết của cơ quan đó

Thứ năm, người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở

mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

Cuối cùng, người khởi kiện rút đơn khởi kiện

- Hậu quả pháp lý của việc trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thứ nhất, công việc của thẩm phán: Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ

lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được

Ngày đăng: 19/06/2018, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Vân Anh (2010), “Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ người quyền lợi người tiêu dùng”, Tạp chí Luật học, (11), tr. 3-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ người quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2010
7. Nguyễn Việt Cường (2005),“Người tham gia tố tụng”, tạp chí TAND, số 8, tr. 14-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người tham gia tố tụng
Tác giả: Nguyễn Việt Cường
Năm: 2005
8. Nguyễn Văn Cương, Bản tóm tắt Luận án Tiến sĩ Luật “Soạn thảo Luật BVQLNTD ở Việt Nam: Một phân tích từ lý thuyết tiếp nhận pháp luật nước ngoài” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tóm tắt Luận án Tiến sĩ Luật “Soạn thảo Luật BVQLNTD ở Việt Nam: Một phân tích từ lý thuyết tiếp nhận pháp luật nước ngoài”
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
9. Nguyễn Triều Dương (2004), “Về đương sự trong tố tụng dân sự”, tạp chí luật học, đặc san góp ý dự thảo BLTTDS, tr. 26-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đương sự trong tố tụng dân sự
Tác giả: Nguyễn Triều Dương
Năm: 2004
10.Nguyễn Trọng Điệp (2014), “Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Điệp
Năm: 2014
11. Nguyễn Trọng Điệp (2014) Tố tụng trong giải quyết tranh chấp tiêu dùng: “Ba năm vẫn nằm trên giấy”, Tạp chí thuế Nhà nước, Tổng Cục thuế - Bộ Tài chính, số 10 (472) 6/03/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố tụng trong giải quyết tranh chấp tiêu dùng: “Ba năm vẫn nằm trên giấy”
Tác giả: Nguyễn Trọng Điệp
Nhà XB: Tạp chí thuế Nhà nước
Năm: 2014
13. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2015), Nxb CAND, tr.25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2015
22. Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 99/2011/NĐ-CP
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2011
25. Nguyễn Như Phát (2010), “Một số vấn đề lý luận xung quanh luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, ( Số 02), tr.28-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận xung quanh luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Nguyễn Như Phát
Năm: 2010
26. Nguyễn Như Phát (2003), Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ước, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ước
Tác giả: Nguyễn Như Phát
Năm: 2003
27. Lương Văn Tuấn (2010), “Bảo vệ người tiêu dùng nhìn từ góc nhìn của luật sư”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, ( Số 03), tr. 2- 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người tiêu dùng nhìn từ góc nhìn của luật sư
Tác giả: Lương Văn Tuấn
Nhà XB: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Năm: 2010
39. Bryan A. Garner (editor), (2004), Black's Law, West Group Sách, tạp chí
Tiêu đề: Black's Law
Tác giả: Bryan A. Garner
Nhà XB: West Group
Năm: 2004
28. TS Trần Anh Tuấn (2009), Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.29. https://baomoi.com Link
5. Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Thương mại (2006), Sổ tay công tác bảo vệ người tiêu dùng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
6. Cục Quản lý cạnh tranh và Dự án MUTRAP III (2008), Báo cáo Khảo sát Thực trạng xâm phạm quyền lợi Người tiêu dùng và thực tiễn bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Trọng Điệp (2015), Tố tụng rút gọn trong giải quyết tranh chấp tiêu dùng, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, tập 31, số 2 tr.41 Khác
16. Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Philipines năm 1992 Khác
20. Nghị định số 69/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 Khác
21. Nghị định số 55/2008/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2008 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng 1999 Khác
23. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w