A. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Đánh giá về thực trạng cơ quan tư pháp, tại Nghị quyết số 49NQTW ngày 02062005 Bộ Chính trị nêu rõ “Tổ chức bộ máy, chức năng nhiêm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý. Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp. Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu”. Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết nêu trên Nhà nước ta đã có những phương hướng và những biện pháp cụ thể, nhằm khắc phục những mặt còn hạn chế trong cơ cấu tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp. Tư pháp là cơ quan giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc chuyển tải quyền lực nhà nước, trực tiếp đưa luật vào đời sống nhân dân. Thông qua việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc cụ thể. Trong các cơ quan tư pháp Tòa án nhân dân giữ vị trí trung tâm, tất cả các cơ quan khác như: Điều tra, truy tố, bổ trợ tư pháp... Đều phục vụ cho hoạt động xét xử của tòa án. Tòa án còn là nơi biểu hiện tập trung tính dân chủ và công khai trong hoạt động bảo vệ pháp luật. Bởi vậy, xuất phát từ tính thực tiễn của vấn đề và vai trò đặc biệt quan trọng của Tòa án nhân dân nên tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu . Ở đây tôi chỉ đi sâu nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện, mà cụ thể là “cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên”. Để qua đó thấy được những mặt phù hợp trong chiến lược đổi mới về hệ thống cơ quan tư pháp mà Nhà nước đề ra trong: Nghị quyết số 49NQTW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến 2020, đồng thời nhận thấy những mặt chưa phù hợp của Tòa án nhân dân cấp địa phương nói chung và Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên nói riêng. Qua đó, đưa ra những phương hướng giải quyết nhằm khắc phục những yêu cầu nêu trên.
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đánh giá về thực trạng cơ quan tư pháp, tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02-06-2005 Bộ Chính trị nêu rõ “Tổ chức bộ máy, chức năng nhiêm vụ, cơ chế hoạt độngcủa các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp cònthiếu, trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu,thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghềnghiệp Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử Cơ
sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu”.Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết nêu trên Nhà nước ta đã có những phươnghướng và những biện pháp cụ thể, nhằm khắc phục những mặt còn hạn chế trong
cơ cấu tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp
Tư pháp là cơ quan giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc chuyển tải quyền lựcnhà nước, trực tiếp đưa luật vào đời sống nhân dân Thông qua việc áp dụng phápluật để giải quyết các vụ việc cụ thể Trong các cơ quan tư pháp Tòa án nhân dângiữ vị trí trung tâm, tất cả các cơ quan khác như: Điều tra, truy tố, bổ trợ tư pháp Đều phục vụ cho hoạt động xét xử của tòa án Tòa án còn là nơi biểu hiện tập trungtính dân chủ và công khai trong hoạt động bảo vệ pháp luật
Bởi vậy, xuất phát từ tính thực tiễn của vấn đề và vai trò đặc biệt quan trọng củaTòa án nhân dân nên tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu Ở đây tôi chỉ đi sâunghiên cứu về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện, mà cụthể là “cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên” Đểqua đó thấy được những mặt phù hợp trong chiến lược đổi mới về hệ thống cơquan tư pháp mà Nhà nước đề ra trong: Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị
Trang 2về chiến lược cải cách tư pháp đến 2020, đồng thời nhận thấy những mặt chưa phùhợp của Tòa án nhân dân cấp địa phương nói chung và Tòa án nhân dân huyệnThủy Nguyên nói riêng Qua đó, đưa ra những phương hướng giải quyết nhằmkhắc phục những yêu cầu nêu trên.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian gần đây, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động cuả các cơ quan
tư pháp không chỉ có Nhà nước quan tâm; mà còn được nhiều người chú ý Trong
đó có những bài viết tiêu biểu là bài “Nghiên cứu lập pháp số 6(143) tháng 3/2009,
Vũ Hà Thanh, Vụ Pháp luật và Cải Cách tư pháp, Văn phòng Trung ương Đảng”
và bài “ Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Phạm Quý Tị ngày15-10-2005” Đặc biệt, Nhà nước ta với “Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chínhtrị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” ,có vai trò quan trọng trong việckiện toàn cơ chế tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và Tòa
án nhân dân các cấp nói riêng Đề tài mà tôi nghiên cứu “ Đổi mới tổ chức và hoạtđộng của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên” là đề tài mới chưa có những bàiviết đi sâu về đề tài này
Tuy vậy, tôi vẫn muốn tìm hiểu và đi sâu vào nghiên cứu đề tài này Nhằm tạothêm hiểu biết cho bản thân và đóng góp một phần công sức nghiên cứu nhỏ bé củamình vào công cuộc đổi mới của đất nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhândân huyện Thủy Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 3Đề tài được giới hạn trong nhiệm kì của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên( 2008-2012) Đặc biệt, khi có Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy địnhmột cách đầy đủ rõ nét cơ cấu tổ chức, hoạt động và vai trò của Tòa án nhân dâncấp địa phương Tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài được đi đúnghướng và có trọng tâm.
Đồng thời việc giới hạn đề tài như trên, sẽ giúp tôi có điều kiện đi sâu vào nghiêncứu đề tài nhằm rút ra những nhận xét, đánh giá sát đáng về những đổi mới trong
cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân Đây chính là mục đích cuốicùng mà đề tài cần đạt đến
4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu về đề tài này phương pháp mà tôi lựa chọn gồm:
Phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác-Lênin và những quan điểm của Đảng và Nhànước trong quá trình đổi mới
Phương pháp cụ thể: phương pháp lôgic, phương pháp so sánh, phương pháp xácminh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp đánh giá.Dựa vào các nguồn tư liệu đã thu thập được, đặc biệt là tài liệu có liên quan đếnphạm vi của đề tài và việc áp dụng bài bản những phương pháp nghiên cứu nêutrên, nên công việc mà tôi thực hiện đề tài này, không phải là việc lắp ghép mộtcách máy móc, sao chép các nguồn tư liệu sẵn có mà là sự suy ngẫm, khái quáthoá, phát hiện và tìm hiểu thêm những nét riêng, đặc biệt, biến nó thành sản phẩmcủa riêng mình Những nguồn tài liệu cùng những phương pháp nghiên cứu nêutrên đó chính là cơ sở để tôi nghiên cứu đề tài này
5 Bố cục đề tài
Đề tài được chia gồm 4 phần:
Trang 4Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
Chương 2: Đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân huyện ThủyNguyên
Phần 3: Kết luận
Phần 4: Tài liệu tham khảo
B NỘI DUNG
Trang 5Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân.
1.Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân
1.1 Chức năng và nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
Chức năng của Tòa án nhân dân được quy định tại điều 127 Hiến pháp năm 1992
đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001: “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhândân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật quy định là những
cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ’’ Nhiệm vụ củaTòa án nhân dân được quy định tại (điều 1/ Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm2002) Vậy Tòa án nhân dân có những nhiệm vụ và chức năng cơ bản sau:
Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự bao gồm: những tranh chấp về dân sự;những tranh chấp về hôn nhân gia đình; những tranh chấp về kinh doanh, thươngmại, những tranh chấp về lao động, giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanhnghiệp, xem xét và kết luận cuộc đình công hợp pháp hay không hợp pháp vànhững vụ án về hành chính
Ngoài ra, Tòa án còn giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật:quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyếttranh chấp thương mại, ra quyết định thi hành án hình sự, hoãn hoặc tạm đình chỉchấp hành hình phạt tù, ra quyết định miễn chấp hành hình phạt hoặc giảm mứchình phạt đã tuyên, ra quyết định xóa án tích
Mỗi cơ quan Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ nhất định Đối với Tòa án cónhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa vàquyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tínhmạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Đặc biệt bằng hoạt độngcủa mình Tòa án còn góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấphành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những nguyên tắc của cuộc sống xã hội, ýthức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác
Trang 6Trong giai đoạn hiện nay nhằm tạo điều kiện cho hoạt động xét xử của Tòa ánnhân dân có hiệu quả, Nhà nước ta cần phải hoàn thiện các văn bản pháp luật, cóliên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân.
1.2 Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân là yêu cầu bức thiết nhằm nângcao hiệu quả hoạt động của Toà án Có thể nói, trong nhiều giai đoạn lịch sử củaNhà nước ta Toà án nhân dân đã trải qua những cuộc cải cách và đổi mới về tổchức cũng như phương thức hoạt động để đáp ứng nhiệm vụ ngày càng nặng nềcủa nền tư pháp, nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dântrong thời kỳ đổi mới thể hiện ngay từ các văn kiện ban hành sau Đại hội VII.Quan điểm này được thể hiện ở nhiều văn kiện, trong đó có các văn kiện tiêu biểunhư: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấphành Trung ương khoá VII, Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 8-11-1993 của Ban Bí thư
về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật”, Chỉthị số 34 - TC/TW ngày 18-3-1994 của Ban Bí thư về “Sự lãnh đạo của Đảng đốivới việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân, Thẩm phán Toà ánquân sự các cấp”, Chỉ thị số 53 - CT/TW của Bộ Chính trị ngày 21-3-2000 về “Một
số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000”.Kết quả phát triển và lớn mạnh của Toà án nhân dân ngày nay, thể hiện đậm nét sựvận dụng đường lối lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Toà ánnhân dân Nghiên cứu những chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức,hoạt động của Toà án nhân dân trong các văn kiện nêu trên, có thể nhận thấy,đường lối lãnh đạo của Đảng đối với Toà án nhân dân trong thời kỳ đổi mới làhoàn toàn nhất quán, có sự kế thừa và phát triển từng bước Đảng luôn quan tâmchỉ đạo nhằm kiện toàn đội ngũ cán bộ Toà án nhân dân Đó là cho ý kiến về tổchức của Toà án nhân dân, giới thiệu những cán bộ có năng lực, trình độ chuyênmôn cao và phẩm chất chính trị vững vàng cho ngành Toà án, phát hiện và xử lý
kỷ luật nghiêm minh đối với những cán bộ, Đảng viên có sai phạm công tác trong
Trang 7ngành Toà án Đồng thời, Đảng lãnh đạo thực hiện chức năng xét xử theo quy địnhcủa pháp luật Thông qua việc thường xuyên nghe báo cáo tổng hợp tình hình côngtác của Toà án nhân dân, Đảng có cơ sở để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phù hợpvới hoạt động xét xử của Toà án Đảng luôn xác định cải cách Toà án nhân dân làthể hiện tập trung của cải cách tư pháp Trong đó, Đảng nhấn mạnh việc sắp xếp lại
hệ thống Toà án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền của Toà án nhân dân cấphuyện
Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân không chỉ tác động đếnngành Toà án mà còn liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư phápkhác, như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung cácvăn bản pháp luật hiện hành và có thể phải sửa đổi cả Hiến pháp, vì vậy cần phải
có bước đi thích hợp nhằm đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động của cả hệ thốngcác cơ quan nhà nước Điều rất đáng lưu ý, là để tăng cường sự lãnh đạo của Đảngđối với việc cải cách tư pháp, ngày 02-01-2002, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết
số 08-NQ/TW “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời giantới” Nghị quyết số 08 - NQ/TW đã đề cập một cách toàn diện vấn đề cải cách tưpháp, trong đó đưa ra cả những quan điểm chung và chủ trương, giải pháp cụ thểđối với từng cơ quan tư pháp Đối với Toà án, Nghị quyết 08-NQ/TW nhấn mạnh:Cần phân định thẩm quyền của các Toà án các cấp theo hướng Toà án nhân dân tốicao làm nhiệm vụ tổng kết xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và giám đốc xemxét các quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật Toà án nhân dân cấp tỉnh,thành phố chủ yếu thực hiện công tác xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân cấphuyện, quận, thị xã xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động.Đối với nước ta, bộ máy Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyềnlực có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước, trong việcthực hiên ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp Trong vấn đề đổi mới tổ chức vàhoạt động của bộ máy Nhà nước chính là đổi mới trong cơ cấu và hoạt động của ba
cơ quan ấy Vì vậy, ta thấy vai trò của cơ quan tư pháp là vô cùng quan trọng.Thực hiện quyền tư pháp mà cụ thể là quyền xét xử một trong những chức năngchủ yếu được giao cho Tòa án nhân dân Do vậy trong quá trình đổi mới bộ máyNhà nước thì Tòa án luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Nếu “lực” được thể hiệnđầy đủ đúng đắn qua hoạt động lập pháp, nhưng hệ thống truyền “lực” qua hoạtđộng tư pháp không tốt thì bộ máy Nhà nước sẽ kém hiệu lực, kém hiệu quả
Trang 8Sau khi Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được triển khai trên thực tế đượcgần 4 năm, ngày 2-6-2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW “Vềchiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Nghị quyết đề ra phương hướng: “Tổchức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học, hiện đại
về cơ cầu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc, trong đó xác định Toà án có
vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm, xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bổtrợ tư pháp” Nghị quyết xác định nhiệm vụ của Tòa án các cấp như sau: “Tổ chức
hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính,gồm: Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chínhcấp huyện, Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử
sơ thẩm một số vụ án, Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụxét xử phúc thẩm, Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét
xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốcthẩm, tái thẩm” Tuy nhiên, Nghị quyết cũng nhấn mạnh: “Việc thành lập Toà ánchuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp Toà án, từng khu vực.Đổi mới tổ chức Toà án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn, với đội ngũ Thẩmphán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành” Trong các cơ quan tư pháp, Tòa án giữ vị trí trung tâm Tất cả các cơ quan tư phápkhác như: điều tra, truy tố, bổ trợ tư pháp đều phục vụ cho hoạt động xét xử củaTòa án nhân dân Khẳng định ấy đúng theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TWngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”
đã khẳng định “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế đình bổ trợ tư pháp hợp lý,khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc, trong
đó xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”, trong hệthống Toà án nhân dân các cấp đã thành lập thêm một Toà chuyên trách để kịp thờigiải quyết các loại tranh chấp mới phát sinh, đã bỏ thẩm quyền xét xử sơ thẩm vàchung thẩm, chú ý đến chất lượng tranh tụng tại phiên toà Đặc biệt Tòa án nhândân có vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Không chỉ vậy Tòa án nhân dân còn là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệcông lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và phápchế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loai tội phạm
Trang 9Những quan điểm và phương hướng nêu trên về cải cách tổ chức và hoạt động củaToà án có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định hiệu quả hoạt động cải cách tưpháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, dodân, vì dân ở nước ta hiện nay Với vị trí và vai trò quan trọng nêu trên thì Tòa án
có ảnh hưởng rất lớn trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhànước, nó có đóng góp tích cực trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước
2 Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện
2.1 Tổ chức của Tòa án nhân dân cấp huyện
Trong cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, bên cạnh Tòa án nhândân tối cao còn có Tòa án nhân dân cấp địa phương Trong đó Tòa án nhân dânhuyện thuộc chế định của Tòa án nhân dân cấp địa phương; theo Luật tổ chức Tòa
án nhân dân năm 2002, tại điều 32 quy định về cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dâncấp huyện như sau:
“ 1 Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chánh án, mộthoặc hai Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư kí Tòa án
Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có bộ máy giúp việc
2 Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền sơthẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng”
Vậy theo tinh thần trên ta thấy tổ chức Tòa án nhân dân cấp huyện bao gồm: chánh
án một hoặc hai phó chánh án, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư kí, và có bổ sungthành phần giúp việc
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 vàLuật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 (tại khoản 4, điều 40) thì chánh án, phóchánh án các Tòa án nhân dân địa phương do chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổnhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với thường trực hội đồng nhândân địa phương
Về chế độ Thẩm phán, là lực lượng chủ yếu của Tòa án nhân dân địa phương nóiriêng và Tòa án các cấp nói chung Vì vậy, thẩm phán phải hội tụ được nhiều tiêu
Trang 10chuẩn cần thiết quy định tại (khoản 1/ điều 5, điều 20, Pháp lệnh Thẩm phản vàHội thẩm Tòa án nhân dân 2002), thẩm phán phải trung thành với Tổ quốc và Hiếnpháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trung thành với lý tưởng xã hộichủ nghĩa Vì công tác xét xử của Tòa án cũng là một công tác chính trị, phục vụnhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân vànhân dân lao động Đăc biệt, Nhà nước ta đang tiến hàng cải cách ngành tư pháptheo hướng thâm phán độc lập trong xét xử và chỉ tuân theo luật Nếu thẩm phánxét xử sai, thì chiu trách nhiệm trước pháp luật đó là hướng đi đúng đắn và tíchcực Đồng thời thẩm phán phải thông qua Hội đồng tuyển chọn thẩm phán do Chủtịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm chủ tịch hội đồng Hộiđồng này có trách nhiệm tuyển chọn cả Thẩm phán cấp tỉnh và Thẩm phán cấphuyện trong phạm vi tỉnh mình trước khi trình Chánh án toà án tối cao ký quyếtđịnh bổ nhiệm Nhiệm kỳ của Thẩm phán được quy định là năm năm, sau nămnăm, Thẩm phán được xem xét để tái bổ nhiệm.
Theo quy định tại Điều 41, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 thì Hội thẩmnhân dân được Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra theo nhiệm kỳ của Hội đồngnhân dân, và phải đáp ứng các điều kiện quy định (tại khoản 2/điều 5, điều 37,Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân 2002) Hội thẩm nhân dânhuyện làm nhiệm vụ, theo sự phân công của Chánh án Tòa án nhân dân huyện đó.Thư kí có số đông trong tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân các cấp nóichung và Tòa án nhân dân cấp huyện nói riêng, thư kí được bổ nhiệm theo quyđịnh của pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp
vụ tốt, bằng cấp là Cử nhân Luật, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cao
2.2 Hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện
Trong vấn đề hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện do Chánh án lãnh đạo vàchịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân được quy định tạiĐiều 135 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) “ Chánh ánTòa án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước hội đồngnhân dân”, thể hiện nguyên tắc hoạt động của Toà án phải chịu sự giám sát củanhân dân, thông qua cơ quan đại diện cho họ là Hội đồng nhân dân các cấp Hiệnnay, Toà án được tổ chức theo các đơn vị hành chính, tương ứng với các cấp chínhquyền từ cấp huyện trở lên đều có một Toà án nhân dân Các Toà án nhân dân ở
Trang 11mỗi cấp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cấp đó.Chánh án Tòa án nhân dân huyện, có nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức công tác xét
xử và các công tác khác theo quy định của pháp luật, và có trách nhiệm báo cáocông tác với Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp lãnh đạo và báo cáo với hội đồngnhân cùng cấp
Hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm những vụ ánhình sự mà Bộ luật hình sự quy định khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống, trừnhững tội sau:các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm đến an ninh chủ quyền quốcgia, các tội quy định trong Bộ luật hình sự tại các điều: 89, 90, 91, 92, 93,101(khoản 3), 102, 179, 231, 232 Tòa án nhân dân huyện còn có thẩm quyền vàhoạt động xét xử sơ thẩm những vụ án dân sự, vụ án hôn nhân và gia đình, vụ ánkinh tế, vụ án lao động, vụ án hành chính theo quy định của pháp luật Trừ một sốviệc phức tạp hoặc có liên quan đến yếu tố nước ngoài, các tranh chấp về sở hữucông nghiệp những vấn đề nêu trên chính là hoạt động chủ yếu của Toà án nhândân huyện
Chương 2: Đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân huyện ThủyNguyên
1 Khái quát về vị trí địa lý và điều kiện kinh tế xã hội huyện Thủy Nguyên
Thuỷ Nguyên là một huyện thuộc thành phố Hải Phòng, nằm bên dòng sông BạchĐằng lịch sử Phía Bắc, Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Nam giáphuyện An Dương và nội thành Hải Phòng; phía Đông Nam là cửa biển Nam Triệu.Địa hình Thuỷ Nguyên khá đa dạng, dốc từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam, vừa
có núi đất, núi đá vôi, vừa có đồng bằng và hệ thống sông hồ dày đặc Đây chính lànhững điều kiện tự nhiên thuận lợi để huyện Thuỷ Nguyên phát triển một nền kinh
tế đa dạng về ngành nghề, bao gồm: cả nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp, thuỷ sản và du lịch
Vị trí địa lý: Nằm ở cửa ngõ phía Bắc thành phố Hải Phòng Diện tích tự nhiên là:
242 km2, Dân số: 29 vạn người Đơn vị hành chính gồm: 2 thị trấn: Thị trấn NúiĐèo, Thị trấn Minh Đức và 34 xã, trong đó có 6 xã miền núi