1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Thương mại Việt Nam hiện nay

84 295 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay .... Giải pháp nâng c

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

NGHĨA VỤ BẢO HÀNH CỦA BÊN BÁN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

NGHĨA VỤ BẢO HÀNH CỦA BÊN BÁN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS TS TRẦN ĐÌNH HẢO

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng

dẫn khoa học của GS.TS.Trần Đình Hảo Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong

đề tài này chưa được công bố dưới hình thức nào Các số liệu, bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có trích dẫn và nguồn gốc rõ ràng

HỌC VIÊN

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ BẢO HÀNH CỦA BÊN BÁN HÀNG HÓA 7

1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa 7 1.2 Khái quát pháp luật về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa 15

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NGHĨA VỤ BẢO HÀNH CỦA BÊN BÁN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA HIỆN NAY 23

2.1 Các nghĩa vụ của Bên Bán giai đoạn sau khi bán hàng hóa 23 2.2 Thực trạng thực hiện nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa 52 2.3 Thực trạng giải quyết tranh chấp nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa 57

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ NGHĨA VỤ BẢO HÀNH CỦA BÊN BÁN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 65

3.1 Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay 65 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Thương mại Việt Nam 66 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Thương mại Việt Nam 68

KẾT LUẬN 76

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giao dịch mua bán hàng hóa là giao dịch phổ biến trong đời sống kinh tế

xã hội Đối tượng của giao dịch mua bán hàng hóa rất đa dạng và nhu cầu bảo hành đối với chất lượng hàng hóa cũng tương ứng Nghĩa vụ bảo hành hàng hóa trong hợp đồng có thể gắn với bên bán, bên trung gian thương mại hoặc bên sản xuất Phạm vi nghĩa vụ của các chủ thể này cũng rất khác nhau về nội dung nghĩa vụ, về thời hạn nghĩa vụ và thời gian và phương thức thực hiện nghĩa vụ

Trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, Bên Mua rất quan tâm đến vấn đề bảo hành đối với hàng hóa của Bên Bán Việc đảm bảo nghĩa vụ bảo hành đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ tạo nên hiệu quả trong các giao dịch mua bán, thúc đẩy thị trường cung cầu và nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó, bảo đảm nghĩa vụ bảo hành chính là bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng, của Bên Mua – bên thiếu thông tin trong giao dịch về chất lượng và giá trị hàng hóa Chính vì lẽ đó, nghĩa vụ bảo hành không chỉ do các bên thỏa thuận mà còn do pháp luật quy định, tuy nhiên trong quá trình thực hiện có nhiều vấn đề gặp vướng mắc

Đó cũng là lý do mà người viết lựa chọn đề tài “Nghĩa vụ bảo hành của

Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Thương mại Việt Nam hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu vấn đề về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo những khía cạnh khác nhau:

Lê Thị Tuyết Hà (2016), “Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng

thương mại ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học

xã hội Việt Nam Tác giả đã Nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệmpháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam,

Trang 6

cụ thể nghiên cứu về mối quan hệ giữa Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan, những nội dung chồng chéo, mâu thuẫn, bất cập của quy định trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại, đánh giá thực trạng quy định về trách nhiệm hợp đồng Từ đó, tác giả đưa ra định hướng sửa đổi, bổ sung những quy định của các văn bản pháp luật về trách nhiệm hợp đồng thương mại của ViệtNam Hơn nữa, tác giả cũng phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng thương mại thông qua các bản án được cơ quan

có thẩm quyền giải quyết tại Việt Nam.Bên cạnh đó, tác giả còn đánh giá sự phù hợp giữa quy định trong các văn bản quyphạm pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật [10]

Mai Thị Thanh Tâm (2009), “Nghĩa vụ của người kinh doanh hàng hóa,

dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Luận văn thạc sĩ Luật học,

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận

về nghĩa vụ của người kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ của người kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Đưa ra một số định hướng và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ của người kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng [26]

Khúc Thị Kiều Trang (2014), “Những quy định về miễn trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc

sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về vấn đề miễn trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng, các quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm bồi thương do

vi phạm hợp đồng, cũng như thực tiễn thực hiện trong những năm vừa qua Luận văn nghiên cứu tập trung chủ yếu trong phạm vi những quy định của Bộ luật dân

sự Việt Nam 2005 và Luật Thương mại 2005 Đặc biệt, luận văn tập trung chủ yếu ở việc nghiên cứu những quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề hợp

Trang 7

đồng nói chung và miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng về những vấn

đề liên quan đến hợp đồng thương mại được quy định trong Bộ luật dân sự và luật thương mại 2005 [30]

Đinh Ngọc Thương (2016), “Hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh

doanh thương mại vô hiệu theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học,

Trường Đại học Luật, Đại học Huế Nghiên cứu các cơ sở lý luận, phân tích đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng pháp luật, từ

đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu [29]

Trần Tuyết Minh (2014), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa

có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn

thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng [15]

Cao Thị Lê Thương (2016), “Bảo đảm dự thầu trong đấu thầu mua sắm

hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học

viện Khoa học xã hội Việt Nam Luận văn đã nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn

đề lý luận về bảo đảm dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa; Nghiên cứu chuẩn mực pháp lý quốc tế về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong khuôn khổ của WTO và TPP; Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam hiện nay; Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam hiện nay; Nghiên cứu, đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở nước ta trong thời gian tới [28]

Trang 8

Các công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng thương mại nói chung, nghĩa vụ bảo hành đối với hàng hóa trong họp đồng mua bán hàng hóa nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay các công trình nghiên cứu trên đều chưa tập trung đánh giá thực tiễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo hành đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng ở nước ta

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa Đồng thời, bình luận và đánh giá thực tiễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa, để từ đó có cơ sở xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật thương mại hiện hành về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán trong thực hiện nghĩa vụ bảo hành hàng hóa nói riêng thống nhất trong luật pháp quốc gia và phù hợp với thông lệ quốc tế

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Thứ nhất, tìm hiểu và phân tích khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua

bán hàng hóa, từ đó làm rõ các vấn đề lý luận và các nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Khái niệm nghĩa vụ bảo hành và nghĩa vụ của các bên

trong thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

Thứ hai, luận văn sẽ nêu và phân tích các nội dung cơ bản của về nghĩa vụ

bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa thông qua các văn bản luật, đồng thời nghiên cứu các quy định riêng dành cho các hợp đồng có vốn của nhà nước Phân tích thực tiễn thực thi các quy định về nghĩa vụ bảo hành ở một số vụ án và

Trang 9

đưa ra các tồn tại hạn chế hiện nay trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo hành của

Bên Bán đối với hàng hóa

Cuối cùng, kiến nghị một vài giải pháp để xây dựng và hoàn thiện pháp

luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa nói

riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn là phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp luận học so sánh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận

và thực tiễn về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu

đề tài “Nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua

Trang 10

bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay” tương đối là mới

Đề tài sẽ hệ thống hóa, làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận khái niệm, đặc điểm, nội dung, nguyên tắc của việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, nghĩa vụ bảo hành và nguyên tắc giao dịch bảo hành, qua đó góp phần làm luận cứ khoa học cho quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong vấn đề này

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa

và pháp luật về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán hàng hóa

Chương 2: Thực trạng thực hiện nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với

hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Thương mại Việt Nam hiện nay

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ

bảo hành của bên bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật Thương mại Việt Nam

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ BẢO HÀNH CỦA BÊN

BÁN HÀNG HÓA 1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1.1 Khái niệm

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó Bên Bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho Bên Mua và nhận thanh toán; Bên Mua có nghĩa vụ thanh toán cho Bên Bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng,

nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán Luật Thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa trong luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa

Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hoá Hợp đồng mua bán hàng hoá có bản chất chung của hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán Bản chất của hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại dựa trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng mua bán tài sản (Điều 430) Từ đó cho thấy hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản Một hợp đồng mua bán có thể là thỏa thuận về việc mua bán hàng hoá ở hiện tại hoặc mua bán hàng hoá sẽ có ở 1 thời điểm nào đó trong tương lai Bất cứ khi nào, một người mua hàng hoá bằng tiền hoặc phương thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu hàng hoá thì khi đó hình thành nên quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá [20]

Trang 12

Căn cứ vào các yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hoá được chia thành hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước và hợp đồng mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài (hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế)

Theo Điều 385, Bộ luật dân sự năm 2015 về Khái niệm hợp đồng thi: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự [24]

Theo Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015, trong hợp đồng mua bán, sự thỏa thuận của các bên sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự của Bên Bán và Bên Mua: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán [25]

Do đó, đối với Bên Bán thì việc bán hàng hóa và nhận tiền vừa là quyền

và vừa là nghĩa vụ; đối với Bên Mua thì việc nhận hàng hóa và trả tiền cũng vừa

là quyền vừa là nghĩa vụ Hợp đồng mua bán hàng hóa là một trong các loại hợp đồng dân sự có tính thông dụng và phổ biến nhất Hợp đồng là một căn cứ phát sinh một quan hệ nghĩa vụ dân sự, nội dung của hợp đồng xác định rõ nghĩa vụ của các bên Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, Bên Bán có nghĩa vụ cơ bản là chuyển giao hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho Bên Mua và Bên Mua có nghĩa vụ trả tiền cho Bên Bán Dấu hiệu quan trọng của hợp đồng mua bán là chuyển quyền sở hữu hàng hóa đồng thời hàng hóa được chuyển giao Hợp đồng mua bán hàng hóa quy định trong Bộ luật Dân sự này được áp dụng đối với mọi hàng hóa được phép mua bán trong quan hệ dân sự, có thể là bất động sản hoặc động sản, hàng hóa hoặc quyền hàng hóa… Những quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa trong Bộ luật Dân sự này mang tính nguyên tắc chung, luật chuyên ngành có thể dự trên nguyên tắc chung này để xây dựng quy định riêng

Việc có xác định dịch vụ là một loại hàng hóa hay phân tích ra khỏi hàng hóa cần được quan tâm nhiều hơn, khi điều 513, Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy

Trang 13

định rõ về khái niệm hợp đồng dịch vụ: Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch

vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ [25]

Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng

cụ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa Điểm phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồng mua bán hàng hóa khác là: đối tượng hàng hóa và mục đích sinh lời

Căn cứ vào yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hóa được chia thành hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài (hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế) Về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nó không được định nghĩa trong Luật Thương mại 2005, nhưng qua quy định tại Điều 683 Bộ luật Dân sự 2015 về quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, có thể suy ra rằng một hợp đồng được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi có một trong các yếu tố sau:

- Căn cứ vào yếu tố chủ thể, hợp đồng được giao kết bởi các bên không cùng quốc tịch

- Căn cứ vào yếu tố đối tượng, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồn tại ở nước ngoài

- Căn cứ vào nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, hợp đồng được giao kết ở nước ngoài (nước mà các bên chủ thể giao kết hợp đồng không mang quốc tịch)

và có thể được thực hiện ở nước mình hay nước thứ ba

Điều cần chú ý ở hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các bên tham gia giao kết hợp đồng sẽ rất dễ gặp phải các rủi ro đặc thù như xung đột pháp luật,

do quá trình vận chuyển, thanh toán, thực thi cam kết hợp đồng Vì vậy, các bên cần thỏa thuận và soạn thảo ra một bản hợp đồng chi tiết Khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại quy định rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập

Trang 14

thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương [19] [24]

1.1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa

Có thể xem xét hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán hàng hóa trong dân sự theo nguyên lí của mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung Nhiều vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa được điểu chỉnh bởi pháp luật không có sự khác biệt với các hợp đồng mua bán hàng hóa trong dân sự, như: giao kết hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu… Bên cạnh đó, để phù hợp với bản chất thương mại của hợp đồng mua bán hàng hóa, một số vấn đề như chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa… được quy định trong pháp luật thương mại có tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luậttruyền thống về hợp đồng mua bán hàng hóa Với tư cách là hình thức pháp lí của quan hệ mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa

Thứ nhất, về chủ thể Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập chủ yếu

giữa các thương nhân Theo quy định của Luật Thương mạinăm 2005 thì

“thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” (Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại) Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp nhằm mục đích hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh sẽ được coi là thương nhân Thương nhân là chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa có thể làthương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài (trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế) [19]

Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thươngnhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa Khác với bên là thương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có

Trang 15

đủ năng lực hành vi đểtham gia giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật

Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa Đối tượng của

hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 thì hàng hóa bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sảnhình thành trong tương lai, và cả hàng hóa gắn liền với đất đai Tuy nhiên khái niệm nàyvẫn còn hạn chế, chúng ta dễ dàng nhận thấy hàng hóa chỉ bao gồm các loại hàng hóa hữu hình, các loại hàng hóa vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ… chưa được thừa nhận là hàng hóa [19]

Trong khi đó, Điều 431 Bộ Luật dân sự 2015 quy định đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là hàng hóa, giấy tờ có giá hoặc các quyền hàng hóa Tiền cũng là một trong các loại hàng hóa được quy định tại Điều 105 của

Bộ luật Dân sự này nhưng không phải là đối tượng của hợp đồng mua bán, bởi vì

nó là một loại công cụ có chức năng định giá các loại hàng hóa khác, nên nó thường xuyên xuất hiện trong các hợp đồng mua bán với vai trò là công cụ thanh toán [24]

Theo quy định tại Điều 431 Bộ luật Dân sự này và các quy định khác có liên quan, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải thỏa mãn các điều kiện sau:

Một là, phải là hàng hóa được phép giao dịch [20];

Hai là, phải được xác định cụ thể Nếu là hàng hóa thì phải xác định rõ

thông qua số lượng, đặc điểm… Nếu là quyền hàng hóa thì phải có giấy tờ hoặc các bằng chứng khác chứng minh thuộc quyền sở hữu của Bên Bán

Ba là, không phải là hàng hóa đang bị tranh chấp về quyền sở hữu

Bốn là, không phải là hàng hóa đang bị kê biên để thi hành án;

Năm là, không phải là hàng hóa đang được dùng để bảo đảm thực hiện

nghĩa vụ dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác

Trang 16

Sáu là, nếu đối tượng của hợp đồng mua bán là hàng hóa hạn chế giao dịch

thì việc mua bán phải tuân theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa đó

Bản chất của hợp đồng mua bán là chuyển quyền sở hữu hàng hóa, cho nên hàng hóa bản phải thuộc quyền sở hữu của Bên Bán hoặc Bên Bán có quyền bán như được ủy quyền bán hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá hàng hóa…

Trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật đất đai năm 2003 quy định người có quyền sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp… thậm chí thừa nhận trên thực tế sàn giao dịch về quyền sử dụng đất Và đối tượng là yếu tố đặc thù để phân biệt hợp đồng mua bán hàng hóa với các hợp đồng thương mại khác [18]

Thứ ba, hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa Hình thức của hợp

đồng mua bán hàng hóa là cách thức thể hiện ý chí thỏa thuận giữa các bêntham gia quan hệ hợp đồng Nó có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằngvăn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong những trường hợpnhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng mua bán hàng hóa dưới hình thức vănbản Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định: “hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằngvăn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa màpháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó” [19]

Riêng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Các hình thức có giá trị pháp lý tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận vàlưu giữ bằng phương tiện điện tử) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

Những quy định của Luật Thương mại Việt Nam 2005 phù hợp với pháp luật quốc tế về mua bán hàng hóa, đã tạo điều kiện cho sự hội nhập khi các chủ

Trang 17

thể có quan hệ hợp đồngthương mại quốc tế Có thể nói hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại 2005 là phù hợp với Công ước Viên

1980 bởi Điều 11 Công ước Viên 1980 quy định “Không yêu cầu hợp đồng mua bán phải được ký hoặc phải được xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ mọi yêu cầu nào đó về mặt hình thức Có thể dùng bất kỳ phương tiện nào, kể cả lời khai nhân chứng để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng đó” [34]

Như vậy, Luật Thương mại 2005 đã vượt ra và khắc phục được hạn chế về hình thức hợpđồng do các văn bản pháp luật trước đó quy định như pháp luật Hợp đồng kinh tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên với nhau, dưới góc độ pháp lý việc tuân thủ hình thức của hợp đồng sẽ là bắt buộc một khi pháp luật có sự ghi nhận về vấn đề đó với mục đích hạn chế các rủi ro cho các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng

Thứ tư, mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa Ở nước ta, quá trình

chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh các quan hệ thương mại nhằm mục đích lợi nhuận và do vậy một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh các hoạt động mang tính chất kinh doanh thương mại đó Nền kinh tế thị trường có những giao dịch thương mại giữa các thương nhân, điều đó đòi hỏi cần phải có quy định pháp lý phù hợp Chính từ những yêu cầu của xã hội, Luật Thương mại 2005 ra đời để thỏa mãn quá trình công nghiệp hóa của đất nước Trong các hành vi thương mại được quy định trong Luật Thương mại thì hành vi mua bán hàng hóa được xem là quan trọng hơn cả bởi nó có vai trò lớn trong đời sống kinh tế xã hội và nó cũng chi phối những hành vi thương mại khác Khi đó các cá nhân, tổ chức, phải xác lập các mối quan hệ với nhau, các mối quan hệ được thể hiện thông qua sự trao đổi, thỏa thuận làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên trong phạm vi các mối quan hệ về dân sự, kinh tế, lao động thì sự trao đổi, thỏa thuận được coi là “Giao dịch” Dưới góc độ pháp lý thì giao dịchnói trên luôn được thể hiện bằng hình

Trang 18

thức “Hợp đồng” Hay nói một cách khác “hợp đồng” là một hình thức pháp lý của “giao dịch” Căn cứ vào mục đích của việc ký kết hợp đồng có hay không có lợi nhuận mà có thể giúp phân biệt được hợp đồngdân sự và hợp đồng kinh doanh - thương mại Theo đó, mục đích giao dịch của hợpđồng kinh doanh - thương mại nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng thì yếu tố quantrọng chính là mục đích lợi nhuận Đối với hai bên chủ thể là thương nhân với nhauthì mục đích là lợi nhuận Ví dụ Công ty A mua nguyên liệu của cá nhân B kinh doanh nguyên liệu về để sản xuất, vậy thì cả Công ty A, cá nhân B đều có mục đích lợi nhuận khi giao dịch Trong hợp đồng mua bán hàng hóa ngoài chủ thể là thương nhân thì còn có các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân, trong trường hợp này mục đích củaviệc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa là dành cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hay phục vụ hoạt động của các cơ quan tổ chức

1.1.2 Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập quyền và nghĩa vụ của họ trong việc mua bán Do đó, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa trước hết là những điều khoản do các bên thỏa thuận Các bên

có quyền quyết định nội dung của hợp đồng Bởi vì quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng phát sinh chủ yếu từ những điều khoản mà các bên thỏa thuận đó Vì vậy mà các bên thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng càng rõ ràng bao nhiêu thì càng thuận lợi trong việc thực hiện hợp đồng bấy nhiêu

Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều khoản mà các bên thỏa thuận với nhau Pháp luật chỉ quy định nội dung chủ yếu của hợp đồng hoặc các điều khoản mang tính khuyến nghị để định hướng cho các bên trong việc thỏa thuận

Nội dung của hợp đồng trước hết là những điều khoản mà các bên phải thỏa thuận được với nhau Điều 398, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chỉ quy

Trang 19

định các bên “có thể thỏa thuận” mà không đòi hỏi phải thỏa thuận những nội dung chủ yếu nào Mặc dù nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể xác định được dựa trên những quy định mang tính “khuyến nghị”, “định hướng” của pháp luật, thói quen và tập quán thương mại, nhưng trong điều kiện nhận thức của nhà kinh doanh còn nhiều hạn chế, thì điều này tiềm ẩn những nguy cơ pháp lý, những tranh chấp trong hoạt động mua bán hàng hóa Đặc biệt

là trong điều kiện nước ta hiện nay Trên cơ sở các quy định của Bộ luật Dân sự

và Luật Thương mại, xuất phát từ tính chất của quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại, có thể thấy những điều khoản quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng [24]

Mặc dù nội dung của hợp đồng do các bên thỏa thuận, nhưng trong mọi quan hệ hợp đồng nói chung và trong quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng, các bên không chỉ chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản mà các bên thỏa thuận mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy định của pháp luật Ví dụ, các bên không thỏa thuận trong hợp đồng về điều khoản bồi thường thiệt hại cho nhau khi một bên vi phạm hợp đồng, nhưng bên vi phạm hợp đồng vẫn phải có nghĩa vụ bồi thường nếu việc vi phạm đó gây thiệt hại cho bên đối tác (quy định tại Điều 299

và 302 Luật Thương mại 2005) Như vậy, cấu trúc của hợp đồng mua bán hàng hóa không chỉ là các điều khoản do các bên thỏa thuận mà còn có thể bao gồm cả những điều khoản do các bên không thỏa thuận nhưng theo quy định của pháp luật các bên có nghĩa vụ phải thực hiện [19]

1.2 Khái quát pháp luật về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.1 Khái niệm và căn cứ phát sinh nghĩa vụ bảo hành

1.2.1.1 Khái niệm

Theo Điều 274, Bộ Luật dân sự năm 2015 về Nghĩa vụ thì: Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ)

Trang 20

phải chuyển giao hàng hóa, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền) [24]

Trong luật La-tinh, nghĩa vụ được hình dung như một mối liên hệ pháp lý

mà theo đó, một người, người có quyền, có thể đòi hỏi ở một người khác, người

có nghĩa vụ, chuyển giao một quyền, làm một việc hoặc không làm một việc Dựa vào quan niệm đó mà luật phân biệt hai nhóm nghĩa vụ: làm hoặc không làm một việc; và chuyển giao một quyền Cũng dựa vào quan niệm đó mà luật phân biệt nghĩa vụ, như là một quyền đối nhân, với quyền đối hàng hóa: quyền đối nhân được thực hiện chống lại một người; trong khi quyền đối hàng hóa (ví dụ: quyền sở hữu) được thực hiện trực tiếp trên một hàng hóa mà không cần thông qua vai trò của một người khác Quan hệ nghĩa vụ gồm ba yếu tố: chủ thể

có (người có quyền), chủ thể nợ (người có nghĩa vụ) và đối tượng của nghĩa vụ (nội dung sự đáp ứng của chủ thể nợ đối với chủ thể có)

Luật Việt Nam cũng thừa nhận rằng quan hệ nghĩa vụ gồm có ba yếu tố như trên Nhưng đối tượng của nghĩa vụ trong luật Việt Nam, không như trong luật phương Tây, chỉ có thể là làm hoặc không làm một việc Với cách quan niệm đó, thì nghĩa vụ chuyển giao một quyền trong luật Việt Nam được coi như nghĩa vụ làm một việc Thực ra, nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc, trong quan niệm phương Tây, là loại nghĩa vụ mà trong trường hợp người có nghĩa vụ không tự giác thực hiện, chỉ có thể được cưỡng chế thực hiện bằng cách phạt vạ; nếu đã phạt vạ mà người có nghĩa vụ vẫn không thực hiện, thì mọi nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc đều được quy về nghĩa vụ trả một số tiền; và nếu nghĩa

vụ làm một việc không phải là nghĩa vụ trả tiền, thì nghĩa vụ trả tiền được áp đặt gọi là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ thay thế Trong khi đó, nghĩa

vụ chuyển một quyền, nếu không được tự giác thực hiện, thì có thể được cưỡng chế thực hiện đến cùng nhờ có vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật Trong

Trang 21

điều kiện ấy, sự phân biệt giữa nghĩa vụ làm một việc với nghĩa vụ chuyển một quyền tỏ ra hợp lý

Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất khái niệm nghĩa vụ bảo hành như sau: Nghĩa

vụ bảo hành là nghĩa vụ của Bên Bán hàng hóa thể hiện trách nhiệm bảo đảm đối với hàng hóa bán cho Bên Mua trong một thời hạn (gọi là thời hạn bảo hành) theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Tùy thuộc sự thỏa thuận của các bên, trong thời hạn bảo hành, nếu Bên Mua phát hiện khuyết tật của hàng hóa mua bán, thì có quyền yêu cầu Bên Bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm giá, đổi hàng hóa có khuyết tật lấy hàng hóa khác hoặc trả lại hàng hóa là lấy lại tiền

Trên thực tế, không phải lúc nào hàng hóa mà người tiêu dùng mua cũng

có chất lượng như các bên đã giao kết mà có thể phát sinh những khiếm khuyết ảnh hưởng đến tính năng, công dụng, mục đích sử dụng của người tiêu dùng Do

đó đặt ra vấn đề trách nhiệm trong việc bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh để quyền lợi của người tiêu dùng được đảm bảo

Trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc sửa chữa, thay thế hoặc hoàn trả hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đối với người tiêu dùng trong trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đó được các bên thỏa thuận bảo hành hoặc bắt buộc bảo hành theo quy định của pháp luật Đặc điểm của loại trách nhiệm này đó là:

- Cơ sở phát sinh trách nhiệm bảo hành là do thỏa thuận của các bên hoặc

do pháp luật quy định bắt buộc bảo hành trong những trường hợp nhất định

- Trách nhiệm bảo hành thông thường chỉ áp dụng đối với hàng hóa, linh kiện, phụ kiện (hàng hóa hữu hình)

- Trách nhiệm bảo hành được xác lập trong một thời hạn nhất định

1.2.1.2 Căn cứ phát sinh nghĩa vụ bảo hành

Theo Điều 275, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh nghĩa vụ bao gồm các trường hợp: Từ hợp đồng; Từ hành vi pháp lý đơn

Trang 22

phương; Từ việc thực hiện công việc không có ủy quyền; Từ việc chiếm hữu, sử dụng hàng hóa hoặc được lợi về hàng hóa không có căn cứ pháp luật; Từ việc gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; Từ các căn cứ khác do pháp luật quy định [24]

Hợp đồng mua bán hàng hóa là căn cứ phổ biến làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự Tuy nghiên, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa còn tuỳ thuộc vào tính chất của mỗi hợp đồng, theo đó nghĩa vụ dân sự được xác định là nghĩa vụ liên đới, nghĩa vụ chính hay nghĩa vụ phụ, nghĩa vụ bổ sung Căn cứ thoả thuận của các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ của các bên

Hành vi pháp lý đơn phương là hành vi của cá nhân thể hiện ý chí tự do,

tự nguyện, tự định đoạt của bản thân nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Khi một người thực hiện một hành vi pháp ký đơn phương thì có thể làm phát sinh nghĩa vụ của người đó với người khác hoặc phát sinh nghĩa vụ của người khác với người thứ ba Ở phiếu bảo hành, chính sách bảo hành, điểu kiện bảo hành của Bên Bán

Nghĩa vụ dân sự không những phát sinh trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hóa và hành vi pháp lý đơn phương (căn cứ phát sinh theo ý chí), nó còn phát sinh từ những căn cứ khác do pháp luật quy định (căn cứ phát sinh ngoài ý chí) Đó là những căn cứ pháp lý do pháp luật quy định điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ về hàng hóa giữa các chủ thể trông quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực dân

sự Những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ do pháp luật quy định cũng được xem

là những căn cứ phổ biến thường phổ biến trong đời sống xã hội

1.2.2 Quan hệ pháp luật về nghĩa vụ bảo hành hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa và nguyên tắc của giao dịch có bảo hành

1.2.2.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật về nghĩa vụ bảo hành hàng hóa

Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức đáp ứng được những điều kiện do Nhà nước quy định đối với mỗi loại quan hệ pháp luật và tham gia

Trang 23

vào quan hệ pháp luật đó Mỗi ngành luật có một phạm vi chủ thể khác nhau nên phạm vi chủ thể của các quan hệ pháp luật cũng khác nhau

Theo quy định pháp luật về thương mại và hợp đồng mua bán hàng hóa hiện hành, chủ thể quan hệ pháp luật về nghĩa vụ bảo hành gồm có: bên bán, bên trung gian thương mại hoặc bên sản xuất

Phạm vi nghĩa vụ của các chủ thể này cũng rất khác nhau về nội dung nghĩa vụ, về thời hạn nghĩa vụ và thời gian và phương thức thực hiện nghĩa vụ

1.2.2.2 Khách thể của quan hệ pháp luật về nghĩa vụ bảo hành hàng hóa

Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích hàng hóa chất, tinh thần

và những lợi ích xã hội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức hoặc cá nhân mà vì chúng các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, nghĩa là vì chúng mà họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể của mình

Khách thể quan hệ pháp luật về nghĩa vụ bảo hành hàng hóa là những lợi ích hàng hóa vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức, cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật

về bảo hành hàng hóa khi thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa có bảo hành, từ đó họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể trong quan hệ pháp luật

về nghĩa vụ bảo hành hàng hóa

1.2.2.3 Nội dung pháp luật về nghĩa vụ bảo hành của bên bán đối với hàng hóa

Bên cạnh nghĩa vụ quan trọng nhất là bàn giao hàng hóa, bên bán còn có một nghĩa vụ khác, đó là bảo hành hàng hóa, tức là trong một thời hạn nhất định, bên bán phải chịu trách nhiệm về hàng hóa sau khi đã giao hàng hóa cho bên mua Pháp luật quy định trong trường hợp hàng hóa có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận Thời hạn bảo hành có thể do các bên tự xác định, cũng có thể được pháp luật quy định Trong trường hợp pháp luật đã quy định thì thời hạn đó mang tính bắt buộc

và các bên chỉ được phép thỏa thuận để thay đổi tăng thêm thời hạn đó mà thôi Trong thời hạn bảo hành nếu bên mua phát hiện có khuyết tật của hàng hóa thì

Trang 24

có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, mọi phí tổn về việc sửa chữa do bên bán chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Nếu bên bán không sửa chữa được hoặc không sửa chữa xong trong thời hạn hai bên thỏa thuận thì bên mua có quyền yêu cầu đổi hàng khác, giảm giá, hoặc trả lại hàng và lấy lại tiền Luật Thương mại năm 2005 không quy định cụ thể những vấn đề về bảo hành hàng hóa, nếu các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2015

từ Điều 446 đến 449

1.2.2.4 Nguyên tắc giao dịch bảo hành hàng hóa

Bảo hành là việc khắc phục những lỗi hỏng hóc, sự cố kỹ thuật xảy ra do lỗi của nhà sản xuất trong thời hạn bảo hành thiết bị hoặc phần mềm Nguyên tắc giao dịch bảo hành dựa vào Nguyên tắc cơ bản của giao dịch dân sự:

Theo Điều 3, Bộ luật Dân sự 2015 về Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì: Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân

và hàng hóa; Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng; Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực; Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền

và lợi ích hợp pháp của người khác; Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự [24]

Có thể thấy rằng nguyên tắc giao dịch dân sự nói chung và giao dịch bảo hành nói riêng tập trung vào 2 nội dung:

Thứ nhất, nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp

luật, đạo đức xã hội

Trang 25

Thứ hai, nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực

và ngay thẳng Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợp đồng không ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình; đồng thời thể hiện bản chất của quan hệ pháp luật dân sự

Thứ ba, trong giao dịch hàng hóa có bảo hành, Bên Bán phải thực hiện

đầy đủ nghĩa vụ bảo hành hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa và cung cấp cho người mua giấy tiếp nhận bảo hành, trong đó ghi rõ thời gian thực hiện nghĩa vụ bảo hành Thời gian thực hiện bảo hành không tính vào thời hạn bảo hành hàng hóa Trường người mua hàng hóa thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới thì thời hạn bảo hành hàng hóa đó được tính từ thời điểm thay thế hoặc đổi hàng hóa mới;

Thứ tư, thực hiện đúng đối tượng của hợp đồng trong giao dịch hàng hóa

có bảo hành Nguyên tắc này đòi hỏi các bên thực hiện đúng điều khoản đối tượng là hànghóa của hợp đồng Không được thay đổi hàng hóa mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng bằng một hàng hóa khác nếu không được sự đồng ý của bên kia Có thực hiện đúng điều khoản này, các bên mới đạt được mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Nếuhàng hóa không được giao đúng như đã thỏa thuận, thì có thể làm đảo lộn kế hoạchkinh doanh buôn bán của cả

hai bên

Thứ năm, nguyên tắc thực hiện giao dịch bảo hành không vi phạm pháp

luật, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Đây là

nguyên tắc rất quan trọng khi tham gia vào hợp đồng nói chung vàhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế góp phần vào việc lưu thông hàng hóa quốctế, phát triển sản xuất và đi xa hơn làm ổn định các chính sách kinh tế xã hội ở cácquốc gia Vì vậy, trật tự kỷ cương trong các quan hê ̣hợp đồng là yếu tố cần thiết.Trong khuôn khổ quy định của pháp luật ở các nước, các doanh nghiệp có quyền tham gia ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; điều này một mặt nói lên sự thừa nhận của các

Trang 26

quốc gia về quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng trước pháp luật, mặt khác pháp luật đòi hỏi các doanh nghiệp tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không được vi phạm những điều cấm của pháp luật, đồng thời cũng không được

xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người khác

Kết luận Chương 1

Chương 1 của luận văn tập trung nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, nội dung và nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Trên cơ sở đó, nội dung chương phân tích trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên trong thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Đây là nội dung quan trọng, giúp tác giả nghiên cứu lý luận về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối tương quan với các nghĩa vụ khác của Bên Bán nhằm có cái nhìn thống nhất, tổng thể về các quy định liên quan đến nghĩa vụ bảo hành Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu những quy định về giao dịch bảo hành

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NGHĨA VỤ BẢO HÀNH CỦA BÊN BÁN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

HIỆN NAY 2.1 Các nghĩa vụ của Bên Bán giai đoạn sau khi bán hàng hóa

Trong hợp đồng mua bán hàng hóa có sự thỏa thuận làm phát sinh các nghĩa vụ của Bên Bán và Bên Mua Các nghĩa vụ của Bên Bán được xếp thành hai nhóm tương ứng với hai giai đoạn thực hiện hợp đồng:

- Giai đoạn bán: Bên Bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu, nghĩa vụ sở hữu, nghĩa vụ giao hàng hóa và nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách

sử dụng

- Giai đoạn sau khi bán: Bên Bán có nghĩa vụ đảm bảo sự an toàn của Bên Mua trong việc sử dụng hàng hóa, nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu của Bên Mua đối với hàng hóa mua, nghĩa vụ đảm bảo chất lượng của hàng hóa mua bán và

nghĩa vụ bảo hành

Đối với các nghĩa vụ của Bên Bán với Bên Mua giai đoạn sau khi bán, dưới đây ta đi sâu phân tích, bình luận nghĩa vụ đảm bảo chất lượng của hàng hóa để tìm hiểu rõ về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán

2.1.1 Nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của hàng hóa bán

Theo Điều 432 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, thì trong hợp đồng mua bán hàng hóa, điều khoản về chất lượng của hàng hóa mua bán không phải là điều khoản cơ bản của hợp đồng Trên thực tế, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận về điều khoản chất lượng [24]

Nếu chất lượng đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì phải theo các tiêu chuẩn đã được công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, các tiêu chuẩn chất lượng đã được công bố hoặc quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền về chất lượng của hàng hóa mua bán chỉ xác định chất lượng tối thiểu phải đạt được Nghĩa là, các

Trang 28

bên vẫn có thể thỏa thuận chất lượng của hàng hóa mua bán ở một giới hạn cao hơn các tiêu chuẩn hoặc quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã công

bố

Trường hợp các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ về chất lượng hàng hóa mua bán thì chất lượng hàng hóa mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của hàng hóa đã công bố (đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thể hiện trên bao bì sản phẩm…) hoặc được xác định theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Nhà nước quy định tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa) hoặc chất lượng hàng hóa mua bán không thấp hơn tiêu chuẩn ngành nghề đặt ra (mỗi hiệp hội ngành nghề có tiêu chuẩn riêng về hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ … yêu cầu các thành viên phải tuân theo)

Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của hàng hóa đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng hàng hóa mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng

Điều khoản về chất lượng của hàng hóa trong hợp đồng các bên có thể thỏa thuận hoặc không thỏa thuận trong nội dung của hợp đồng Trường hợp không thỏa thuận thì chất lượng của hàng hóa trong hợp đồng mua bán được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố, theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề Tuy nhiên, trên thực tế có những hàng hóa không có quy định về tiêu chuẩn hoặc không có phương thức xác định chất lượng thì sẽ căn cứ vào chất lượng thông thường của hàng hóa, mục đích giao kết hợp đồng

Nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của hàng hóa bán, trong chừng mực nào đó,

có thể được coi là sự kéo dài của nghĩa vụ giao hàng hóa; Bên Bán không những phải giao đúng chất lượng như đã thỏa thuận mà còn phải đảm bảo việc duy trì chất lượng đó Trong không ít trường hợp, hàng hóa mua bán ở trong tình trạng tuyệt hảo ở thời điểm giao và trong thời kỳ đầu sau khi mua bán; thế nhưng rồi

Trang 29

một vài khuyết tật của hàng hóa, không bộc lộ lúc mua bán, xuất hiện trong quá trình hàng hóa được sử dụng khiến cho hàng hóa không còn giá trị sử dụng hoặc

bị giảm sút giá trị sử dụng

Các tranh chấp liên quan đến chất lượng của hàng hóa mua bán càng lúc càng phổ biến theo sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa Một mặt, sự gia tăng mức độ phức tạp của công nghệ chế tạo khiến cho việc kiểm tra chất lượng của hàng hóa lúc mua bán chỉ có tác dụng rất hạn chế trong việc phát hiện các khuyết tật của hàng hóa liên quan; mặt khác, sự nâng cao trình độ chuyên nghiệp của Bên Bán hàng khiến cho sự chênh lệch về trình độ hiểu biết về hàng hóa mua bán, giữa Bên Bán và Bên Mua càng lúc càng rộng và do vậy, Bên Mua càng lệ thuộc vào Bên Bán trong quá trình tìm hiểu các đặc điểm của hàng hóa mua bán

Các quy định về nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của hàng hóa mua bán còn tương đối đơn giản trong pháp luật hiện hành Bộ Luật dân sự chỉ dành Điều 445

để nói về nghĩa vụ này như sau: Chất lượng của hàng hóa mua bán thể hiện thông qua các giá trị sử dụng của hàng hóa và các đặc tính của hàng hóa (hàng hóa đã sử dụng hay chưa, mới hay cũ, còn hoàn chỉnh hay bị khuyết tật, .) Chất lượng của hàng hóa do các bên thỏa thuận khi giao kết hợp đồng Nếu các bên không có thỏa thuận thì chất lượng của hàng hóa được xác định theo chất lượng của hàng hóa cùng loại trên thị trường tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng Khi chuyển giao hàng hóa, Bên Bán phải đảm bảo chất lượng của hàng hóa theo đúng thỏa thuận

Nếu sau khi mua mà Bên Mua phát hiện hàng hóa có khuyết tật, làm mất hoặc giảm sút giá trị của hàng hóa thì Bên Mua có nghĩa vụ thông báo cho Bên Bán ngay khi phát hiện Khi nhận được thông báo, Bên Bán phải ngay lập tức khắc phục những khuyết tật của hàng hóa, nếu không khắc phục được thì phải đổi hàng hóa khác cho Bên Mua, giảm giá bán và bồi thường thiệt hại nếu có, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Trang 30

Thông thường chất lượng, trọng lượng hàng hóa được mô tả trong nhãn hiệu hàng hóa, trên bao bì sản phẩm Trường hợp hàng hóa không có nhãn hoặc không có bao bì, nếu Bên Mua đã lựa chọn một loại hoàng hóa nhất định thì Bên Bán phải bảo đảm hàng hóa bán phù hợp với sự lựa chọn của Bên Mua

Bên Bán không phải chịu trách nhiệm về khuyết tật của hàng hóa bán trong các trường hợp: (i) Khuyết tật mà Bên Mua đã biết hoặc phải biết khi mua; (ii) Hàng hóabán đấu giá, hàng hóa bán ở cửa hàng đồ cũ; (iii) Bên Mua có lỗi gây ra khuyết tật của hàng hóa

2.1.1.1 Điều kiện đảm bảo

Đối với hàng hóa mua bán có khuyết tật, luật hiện hành không trực tiếp định nghĩa thuật ngữ “khuyết tật”, mà chỉ làm sáng tỏ ý nghĩa của thuật ngữ bằng mô tả hậu quả của hiện tượng: gọi là có khuyết tật một hàng hóa có khiếm khuyết kỹ thuật dẫn đến việc mất hoặc giảm sút giá trị sử dụng Việc xác định khuyết tật dựa chủ yếu vào công dụng của hàng hóa Có những hàng hóa mà công dụng có thể được xác định có thể được xác định một cách đơn giản: máy chụp ảnh; máy radio cassette; nhưng cũng có những hàng hóa có công dụng đa dạng: máy nổ, có thể chạy được máy bơm nước hoặc máy phát điện, sắt tròn có thể được dùng làm cốt trụ bên tông hoặc khung cửa sổ, Trong trường hợp thứ hai, việc xác định khuyết tật của hàng hóa còn dựa vào tiêu chí theo đó, công dụng của hàng hóa do Bên Mua xác định phù hợp với đặc tính của hàng hóa được khai thác một cách hoàn hảo Ta nói rằng quan niệm về khuyết tật của hàng hóa mua bán chủ yếu mang tính chức năng [19] [24]

Đối với khuyết tật tồn tại từ trước khi rủi ro về hàng hóa được chuyển cho Bên Mua, thực ra pháp luật không xác định thời điểm bắt đầu sự tồn tại của các khuyết tật làm phát sinh nghĩa vụ bảo đảm Song, một cách hợp lý, nếu khuyết tật hình thành sau khi rủi ro về hàng hóa được chuyển cho Bên Mua, thì người này phải chịu hậu quả của khuyết tật đó, như hậu quả của bất kỳ rủi ro nào khác

Trang 31

Thông thường rủi ro được chuyển cùng với quyền sở hữu Cá biệt, trong trường hợp bán với điều kiện bảo lưu quyền sở hữu của Bên Bán trong một thời hạn, thì Bên Mua chịu rủi ro kể từ ngày nhận hàng hóa, dù quyền sở hữu chỉ được chuyển sau khi tiền mua hàng hóa được trả đủ Chính vì có ngoại lệ đó mà

ta không thể dùng thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa để giới hạn phạm vi trách nhiệm của Bên Bán đối với các khuyết tật của hàng hóa mua bán

Trong Bộ luật Dân sự Pháp, nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của hàng hóa mua bán chỉ phát sinh trong trường hợp phát hiện những khuyết tật tồn tại từ trước khi hàng hóa được giao cho Bên Mua, dù quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán, trên nguyên tắc, được chuyển ngay từ thời điểm giao kết hợp đồng mua bán

Đối với khuyết tật mà Bên Mua không biết và không thể biết, theo Bộ Luật Dân sự Điều 445 khoản 3 điểm a, Bên Bán không chịu trách nhiệm về những khuyết tật mà Bên Mua đã biết hoặc phải biết khi mua Quy tắc này suy cho cùng, là hệ quả của sự kết nối, tổng hợp của các quy định liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ bảo đảm chất lượng và việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa: nếu biết hoặc phải biết rằng hàng hóa có khuyết tật, thì Bên Mua đã có thể sử dụng quyền từ chối nhận hàng hóa hoặc chỉ nhận với điều kiện Bên Bán phải sửa chữa những khuyết tật ấy [24]

Vấn đề là: thế nào là những khuyết tật mà Bên Mua đã biết hoặc phải biết khi mua? Cả trong luật và thực tiễn áp dụng pháp luật đều chưa xây dựng được các tiêu chí cụ thể để xác định các khuyết tật loại này Dẫu sao, trong logic của

sự việc, khả năng nhận biết khuyết tật của hàng hóa mua bán rõ ràng lệ thuộc phần lớn vào năng lực chuyên môn của Bên Mua Đối với một Bên Mua không

có trình độ chuyên môn, gọi nôm na là “tay ngang”, các khuyết tật kỹ thuật của hàng hóa nói chung là không được biết và không thể được biết Tất nhiên, khi xem hàng, Bên Mua phải tiến hành những thao tác kiểm tra thông thường, phù hợp với khả năng của mình, để phát hiện những khuyết tật mà bất kỳ người nào

Trang 32

có trình độ chuyên môn tương đương đều có thể nhận biết được; tuy nhiên, Bên Mua không bị buộc phải hàng hóa lộn với những tài liệu kỹ thuật phức tạp để tìm kiếm các thông tin cần thiết cho việc tìm hiểu đặc điểm của hàng hóa Hơn nữa, Bên Mua không có chuyên môn, nếu muốn, thì Bên Mua không có bổn phận phải nhờ chuyên gia giúp mình đánh giá chất lượng hàng hóa trước khi mua Những khuyết tật mà Bên Bán chủ động báo cho Bên Mua biết, trong khuôn khổ việc thực hiện nghĩa vụ thông tin, chắc chắn là những khuyết tật mà Bên Mua phải biết

Việc loại trừ nghĩa vụ bảo đảm được quy định tại Bộ Luật Dân sự Điều 445 khoản 3, theo đó Bên Bán không chịu trách nhiệm về khuyết tật của hàng hóa trong trường hợp sau đây: a) Khuyết tật mà Bên Mua đã biết hoặc phải biết khi mua;b) Hàng hóa bán đấu giá, hàng hóa bán ở cửa hàng đồ cũ; c) Bên Mua có lỗi gây ra khuyết tật của hàng hóa Việc loại trừ nghĩa vụ bảo đảm trong trường hợp thứ ba hầu như không làm nảy sinh vấn đề tranh cãi; trái lại, trong hai trường hợp đầu, Bên Mua không hẳn không có quyền yêu cầu bảo đảm chất lượng đối với hàng hóa bán [24]

Mặc dù biết hàng hóa có khuyết tật, Bên Mua không đủ năng lực chuyên môn để lường được một cách chính xác hoặc gần như chính xác tầm quan trọng cũng như các hậu quả của khuyết tật đó: ví dụ một máy tính có những hỏng hóc thoạt trông tưởng như dễ khắc phục, nhưng thực ra việc khắc phục lại dựa trên những yêu cầu kỹ thuật vượt quá khả năng chuyên môn của một kỹ thuật viên tại nơi sử dụng máy

Bên Mua hàng hóa bán đấu giá không thể yêu cầu Bên Bán bảo đảm chất lượng của hàng hóa bán, nếu: 1- Việc giữa Bên Bán và Bên Mua không có thỏa thuận đặc biệt Tuy nhiên, trong giả thiết thứ hai vừa nêu, Bên Bán vẫn có thể cho ghi rõ trong tập điều kiện đấu giá về việc sẵn sàng xác lập nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của của hàng hóa bán đấu giá với bất kỳ người nào trúng đấu giá Mặt khác, Bên Mua trong cả hai gỉa thiết vẫn có quyền yêu cầu Bên Bán của Bên Bán

Trang 33

thực hiện nghĩa vụ bảo đảm chất lượng: Bên Bán mua một chiếc xe ô tô mới; vài tháng sau Bên Bán bị tuyên bố phá sản; xe được bán đấu giá; người trúng đấu giá phải có quyền yêu cầu bảo đảm chất lượng của hàng hóa mua được đối với Bên đã bán xe cho Bên bị phá sản Ta nói rằng Bên Mua trong trường hợp này tiếp nhận quyền yêu cầu bảo đảm chất lượng từ Bên bị phá sản như một hàng hóa phụ theo nghĩa pháp lý gắn liền với hàng hóa mua bán

Hàng hóa phụ theo nghĩa pháp lý là hàng hóa phụ có tính pháp lý, quyền yêu cầu gắn liền với hàng hóa được chuyển giao mỗi khi hàng hóa được chuyển giao Bởi vậy, cả Bên Mua lại theo hợp đồng, người được tặng cho, người trao đổi, người thừa kế cũng có quyền yêu cầu đối với Bên Bán của Bên Bán (người tặng cho, người trao đổi, người chết)

Từ quy định Bộ luật dân sự Điều 445 khoản 3, ta kết luận rằng nghĩa vụ bảo đảm chất lượng được xây dựng để áp dụng cho việc mua bán tất cả các loại hàng hóa, trừ những hàng hóa được luật loại ra bằng các quy tắc rành mạch Đặc biệt, luật không phân biệt đối tượng mua bán được bảo đảm chất lượng là hàng hóa còn mới hay hàng hóa đã được dùng; hàng hóa đã được dùng phải nằm trong cửa hàng đồ cũ không cần được bảo đảm chất lượng, vậy nghĩa là hàng hóa đã được dùng và được mua bán giữa người đang sử dụng và người cần mua để sử dụng vẫn chịu sự chi phối của chế độ bảo đảm do luật định, nếu không có thỏa thuận khác Cần nói rõ điều này, bởi trên thực tế, Bên Mua hàng hóa đang sử dụng thường không có nhiều cơ may thuyết phục được cơ quan xét xử bảo vệ quyền lợi của mình một khi phát hiện khuyết tật làm mất hoặc làm giảm giá trị của hàng hóa mua Cá biệt, có những hàng hóa đang sử dụng được tu sửa, phục hồi và, để “khuyến mãi”, Bên Bán (thường là người chuyên nghiệp) đề nghị một điều khoản về bảo đảm chất lượng hàng hóa bán trong một thời hạn: đó là nghĩa

vụ bảo hành và là chuyện hoàn toàn khác [24]

2.1.1.2 Thực hiện nghĩa vụ bảo đảm

Trang 34

Bộ luật dân sự Điều 445 khoản 1 quy định rằng một khi phát hiện khuyết tật của hàng hóa mua bán, thì Bên Mua phải báo ngay cho Bên Bán, trước khi yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo đảm

Trong tập quán giao dịch, Bên Mua thường báo cho Bên Bán về những khuyết tật được phát hiện ở hàng hóa ngay khi nào có thể liên lạc được với Bên Bán Cần nhấn mạnh Bên Mua phải báo ngay, kể từ thời điểm phát hiện khuyết tật của hàng hóa, chứ không phải từ thời điểm chuyển rủi ro về hàng hóa từ Bên Bán sang Bên Mua Khuyết tật tiềm ẩn thường có thể chỉ bộc lộ và được phát hiện sau một thời gian sử dụng hàng hóa

Khi thông báo cho Bên Bán, Bên Mua đồng thời cũng đặt ra các yêu cầu của mình: sửa chữa, thay thế, giảm giá…; Bên Mua cũng có thể chỉ thông báo và

để cho Bên Bán đề nghị giải pháp thích hợp Trong mọi trường hợp, Bên Mua có các quyền của một người yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo đảm chất lượng, được pháp luật thừa nhận và người này có thể sử dụng các quyền ấy chừng nào thời hiệu hưởng quyền chưa kết thúc Tuy nhiên, có vẻ như pháp luật muốn rằng trước hết Bên Mua và Bên Bán nên tự giải quyết các bất đồng; chỉ khi nào không xong thì mới đưa vụ việc ra Tòa án hoặc Trọng tài kinh tế (nếu có thỏa thuận trong hợp đồng)

2.1.1.3 Hiệu lực của việc bảo đảm

Theo Bộ luật dân sự Điều 445 khoản 1, nếu sau khi mua mà Bên Mua phát hiện khuyết tật làm mất giá trị sử dụng hoăc giảm sút giá trị sử dụng của hàng hóa, thì có quyền yêu cầu Bên Bán sửa chữa, đổi hàng hóa có khuyết tật, giảm giá và bồi thường thiệt hại, nếu không có thỏa thuận khác Vấn đề hiệu lực của việc bảo đảm trong trường hợp có thỏa thuận khác sẽ được xem xét sau Trước hết ta lưu ý: theo chế độ bảo đảm chung do luật quy định, Bên Mua không có quyền hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp hàng hóa mua có khuyết tật mà chỉ có quyền lựa chọn các giải pháp được liệt kê tại Điều 445 khoản 1 đã dẫn ở trên [24]

Trang 35

Trong Bộ Luật dân sự Pháp, Điều 1644, Bên Mua một hàng hóa có những khuyết tật ẩn dấu, khiến cho hàng hóa không thể sử dụng bình thường, có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng [18]

Về thay thế, việc thay thế hàng hóa có khuyết tật chỉ có thể được thực hiện

trong trường hợp có hàng hóa khác tương tự để thay thế Điều đó có nghĩa rằng: (i) Đối tượng của hàng hóa mua bán liên quan là hàng hóa cùng loại; (ii) Bên Bán là người chuyên nghiệp (Về mặt lý thuyết, có thể hình dung trường hợp Bên Bánhàng hóa cùng loại là người không chuyên nghiệp) Tuy nhiên, việc một người không chuyên nghiệp có nhiều hàng hóa cùng loại để bán là một vấn đề rất không bình thường và không có nghĩa tích cực đối với việc xây dựng một môi trường lưu thông lành mạnh

Có thể nói thêm rằng hàng hóa mua bán, trên nguyên tắc, là hàng hóa mới Các hàng hóa đang được sử dụng khó có thể coi là có cùng chất lượng (nghĩa là

có độ giảm sút chất lượng như nhau so với hàng hóa mới còn nằm trong bao bì được niêm phong) và do đó, khó có thể được coi là hàng hóa cùng loại theo nghĩa pháp lý Dẫu sao, trong thực tiễn cũng có trường hợp các bên đạt được thỏa thuận đổi một hàng hóa có khuyết tật lấy một hàng hóa cũ khác cùng chủng loại theo nghĩa thông dụng thay thế được cho nhau trong khuôn khổ thực hiện nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của hàng hóa mua bán Song, không nên quên rằng Bên Bán, theo giả thiết, là người chuyên nghiệp; bởi vậy, hàng hóa có khuyết tật trong giả thiết là hàng hóa bán ở cửa hàng đồ cũ (của Bên Bán) Thế mà, theo luật, Bên Bán đồ cũ bày trong cửa hàng của mình không có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của hàng hóa bán Bởi vậy, biện pháp thay thế vừa nêu chỉ đươc dự liệu trong trường hợp nghĩa vụ bảo đảm chất lượng được xác lập trên cơ sở có thỏa thuận rành mạch giữa các bên

Cần lưu ý rằng nếu các bên không đạt được thỏa thuận cần thiết về cách thực hiện nghĩa vụ bảo đảm để rồi sự việc phải được đưa ra trước Tòa án (hoặc Trọng tài nếu có thỏa thuận trong hợp đồng) và cuối cùng, thẩm phán lựa chọn

Trang 36

giải pháp thay thế hàng hóa có khuyết tật bằng một hàng hóa khác, thì nên tính đến sự suy giảm giá trị có thể có của hàng hóa bị khuyết tật, do việc được Bên Mua mua sử dụng trong một thời gian Không có quyền sở hữu đối với hàng hóa

có khuyết tật (do hàng hóa cuối cùng được trả lại cho Bên Bán), Bên Mua phải chịu trách nhiệm về sự suy giảm giá trị của hàng hóa trong quá trình sử dụng Trong điều kiện đó, khi quyết định buộc Bên Bán giao cho Bên Mua một hàng hóa thay thế, nên đồng thời buộc Bên Mua phải bồi hoàn cho Bên Bán một số tiền tương ứng với mức độ giảm sút giá trị của hàng hóa có khuyết tật

Cuối cùng, có thể hiểu việc đổi hàng hóa có khuyết tật lấy hàng hóa khác, trong chừng mực nào đó, như là các diễn đạt ngắn gọn một giao dịch: hủy bỏ hợp đồng mua bán có đối tượng là hàng hóa khuyết tật, rồi giao kết và thực hiện một hợp đồng mua bán mới có đối tượng là hàng hóa thay thế Bên Bán có nghĩa

vụ bảo đảm chất lượng của hàng hóa thay thế do hiệu lực của hợp đồng mua bán mới đó

Về sửa chữa hoặc giảm giá, có thể được áp dụng mà không phân biệt đối

tượng mua bán là hàng hóa cùng loại hay hàng hóa đặc định, hàng hóa cũ hay hàng hóa mới Nếu hàng hóa được sửa chữa, chi phí sửa chữa do Bên Bán chịu Nếu hàng hóa được giảm giá bán, Bên Mua nhận được một số tiền và giữ lại hàng hóa có khuyết tật

Về bồi thường thiệt hại, Bên Mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

mỗi khi hàng hóa có khuyết tật làm mất giá trị sử dụng hoặc giảm giá trị sử dụng, bất kể việc xử lý hậu quả của khuyết tật được thực hiện dưới hình thức nào – sửa chữa, thay thế, giảm giá Giải pháp này có vẻ hơi khắt khe đối với Bên Bán không chuyên nghiệp ví dụ như: bán một chiếc tivi cũ đang sử dụng mà không

có thỏa thuận đặc biệt với Bên Mua, Bên Bán không biết rằng tivi có những khuyết tật tiềm ẩn; ít lâu sau, khuyết tật bộc lộ và Bên Mua yêu cầu Bên Bán bồi thường thiệt hại Trong thực tiễn giao dịch, có thể gặp nhiều Bên Mua yêu cầu Bên Bán không chuyên nghiệp trong giả thiết sửa chữa hàng hóa mua bán,

Trang 37

nhưng rất hiếm thấy Bên Mua vừa yêu cầu sửa chữa vừa yêu cầu bồi thường thiệt hại, nhất là trong điều kiện Bên Bán (không chuyên nghiệp) hoàn toàn ngay tình

Chế định bồi thường thiệt hại, suy cho cùng, gắn liền với yếu tố lỗi (cố ý hoặc vô ý): một người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho một người khác, chỉ vì có lỗi trong việc gây ra thiệt hại cho người sau này Trong hợp đồng mua bán, Bên Bán chỉ có thể coi là có lỗi, khi hàng hóa bộc lộ khuyết tật và dẫn đến gây thiệt hại cho Bên Mua, trong trường hợp chính Bên Bán đã biết hoặc buộc phải biết sự tồn tại (dù ở dạng tiềm tàng) của khuyết tật ấy mà không thông báo cho Bên Mua Nói cách khác, một các hợp lý, Bên Bán chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Bên Mua do hàng hóa mua bán có khuyết tật, trong trường hợp không ngay tình Bên Bán chuyên nghiệp có thể luôn được suy đoán

là không ngay tình khi bán một hàng hóa có khuyết tật, bởi do có trình độ chuyên môn, người này buộc phải biết rõ chất lượng kỹ thuật của hàng hóa mua bán (giải pháp này được chấp nhận trong nhiều luật của quốc gia phát triển) Trái lại, không thể áp đặt sự suy đoán này đối với Bên Bán không chuyên nghiệp, bởi

có rất nhiều Bên Bán không chuyên nghiệp hoàn toàn không hơn gì Bên Mua (nếu không muốn nói là kém hơn) về khả năng đánh giá chất lượng của hàng hóa mua bán Có lẽ nên có thêm các quy định giới hạn phạm vi áp dụng chế định bồi thường thiệt hại thiết lập tại Bộ Luật Dân sự Điều 445 khoản 1 [24]

Về bảo đảm lại, giả thiết được hình dung như sau: A bán hàng hóa cho B; B

bán hàng hóa cho C Phát hiện hàng hóa có khuyết tật, C yêu cầu B thực hiện nghĩa vụ bảo đảm Một cách hợp lý, B trong giả thuyết có quyền yêu cầu A bảo đảm lại cho mình, nhưng có hai điều kiện: (i) Khuyết tật tồn tại trước ngày hàng hóa được A bán cho B; (ii) B không biết và không thể biết sự tồn tại của khuyết tật đó

Việc xác lập nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của hàng hóa mua bán được phân tích trên đây có vẻ mang tính chất của luật bổ khuyết chứ không phải luật

Trang 38

mệnh lệnh; nếu các bên không có thỏa thuận gì đặc biệt, thì nghĩa vụ bảo đảm đương nhiên được nhiên được xác lập một khi hợp đồng mua bán được giao kết; nhưng nếu các bên có thỏa thuận sửa đổi, hạn chế hoặc thậm chí loại bỏ chế bằng những điều khoản rõ ràng trong hợp đồng, thì sự thỏa thuận ấy có giá trị Các thỏa thuận loại này thường được ghi nhận trong các hợp đồng mua bán nhà

ở mà cả Bên Bán và Bên Mua đều không phải là những người kinh doanh bất động sản chuyên nghiệp Cần nhấn mạnh rằng sự thỏa thuận ấy có giá trị ngay cả trong trường hợp Bên Bán là người có hiểu biết chuyên môn về hàng hóa mua bán còn Bên Mua chỉ là một người tiêu dùng bình thường Rất may là hiện nay, trong hầu hết các vụ mua bán giữa Bên Bán chuyên nghiệp và Bên Mua, Bên Bán thường không thể thuyết phục được Bên Mua chấp nhận mua với điều kiện không có bảo đảm, nhất trong trường hợp hàng hóa mua bán là hàng hóa hoàn toàn mới, được sản xuất trong nước hoặc được nhập khẩu hợp pháp

Vấn đề là, Bên Mua cũng không có thói quen nhờ đến Tòa án mỗi khi gặp rắc rối liên quan đến chất lượng hàng hóa mua Có lẽ, đó chủ yếu là vì trong đa

số trường hợp Bên Mua không thể chứng minh được rằng khuyết tật của hàng hóa đã tồn tại từ trước khi hàng hóa được bán nhưng chỉ được phát hiện trong lúc hàng hóa được sử dụng, cũng như không thể tôn trọng điều kiện “thông báo ngay cho Bên Bán” sau khi phát hiện khuyết tật Trong thực tiễn, Bên Mua phải hàng hóa kém chất lượng của người bán chuyên nghiệp thường nhờ đến Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để yêu cầu Bên Bán thực hiện nghĩa vụ đảm bảo, trong trường hợp người sau này không tự giác thực hiện nghĩa vụ đó Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng lại thường chỉ can thiệp bằng cách đối thoại trực tiếp với Bên Bán hoặc dựa vào báo chí và công luận để gây sức ép đối với Bên Bán, chứ cũng chưa quen với việc giải quyết vấn đề bằng con đường tư pháp

Trong luật các nước có nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, thì nghĩa vụ bảo đảm chất lượng hàng hóa bán do luật quy định không thể loại bỏ hoặc hạn chế theo thỏa thuận giữa hai bên trong trường hợp Bên Bán là người chuyên

Trang 39

nghiệp trong hoạt động mua bán đối với hàng hóa liên quan: luật luôn suy đoán rằng Bên Bán chuyên nghiệp biết hoặc buộc phải biết tất cả các đặc điểm chủ yếu của hàng hóa do mình bán, bao gồm các khuyết tật có thể có của hàng hóa; bởi vậy, giao kết việc loại bỏ hoặc hạn chế nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của hàng hóa bán, Bên Bán luôn bị coi là đã giao kết với thái độ không ngay tình

Bên Bán có thể tự giải thoát bằng cách thông báo cho Bên Mua về tình trạng có khuyết tật của hàng hóa: Bên Bán không chịu trách nhiệm về những hàng hóa mà Bên Mua đã biết Tuy nhiên, vấn đề là có những khuyết tật mà Bên Bán không thể thông báo do thực sự không biết, nhưng luật buộc phải biết

2.1.2 Thực trạng các quy định của pháp luật về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa

2.1.2.1 Quy định về nghĩa vụ bảo hành đối với hàng hóa nói chung

- Trong Luật Thương mại năm 2005

Theo quy định tại Điều 49 quy định về nghĩa vụ bảo hành hàng hóa như sau:

“1 Trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì Bên Bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận

2 Bên Bán phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép

3 Bên Bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thoả thuận khác.” [19]

- Trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Việc bảo hành hàng hóa sau khi mua hàng của Bên Bán được quy định từ Điều 446 đến Điều 449, theo đó Bên Bán có nghĩa vụ bảo hành đối với hàng hóa mua bán trong một thời hạn, gọi là thời hạn bảo hành, nếu việc bảo hành do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Thời hạn bảo hành được tính kể từ thời điểm Bên Mua có nghĩa vụ phải nhận hàng hóa [24]

Trang 40

Theo Điều 446 Bộ luật Dân sự 2015, nghĩa vụ bảo hành là một trong các nghĩa vụ đi kèm để bảo đảm chất lượng của hàng hóa mua bán Thông thưòng, nghĩa vụ bảo hành cũng như thời hạn bảo hành là do Bên Bán đưa ra nhằm quảng cáo cho sản phẩm cũng như vấn đề bảo đảm giá trị sử dụng hàng hóa của mình Đối với những trường hợp này, khi giao kết hợp đồng, Bên Bán đã đưa ra sẵn các quy định về điều kiện bảo hành, những lợi ích mà Bên Mua được hưởng

từ việc bảo hành, cũng như thời gian bảo hành đối với hàng hóa mua bán Bên Mua chỉ có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận những nội dung này mà không thể thay đổi các nội dung đó Nhưng đây vẫn được coi là các bên đã thỏa thuận

về việc bảo hành hàng hóa mua bán, nếu Bên Mua chấp nhận các nội dung này [24]

Trong một số trường hợp, việc bảo hành hàng hóa mua bán là do pháp luật quy định mà không do các bên thỏa thuận Đây là quy định áp dụng đối với các loại hàng hóa mà chất lượng của nó có thể gây ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của Bên Mua Do đó, Bên Bán phải tuân thủ các quy định về thời hạn bảo hành và các vấn đề khác mà pháp luật có quy định Ví dụ, bảo hành nhà

ở trong hợp đồng mua bán nhà ở do Luật nhà ở quy định

Theo quy định chung về hợp đồng song vụ, thì Bên Mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa khi Bên Bán giao hàng hóa, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, cho nên thời gian bảo hành được tính từ thời điểm Bên Mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa đến hết thời hạn bảo hành

Bên cạnh đó, các văn bản khác cũng có quy định về nghĩa vụ bảo hành của Bên Bán như:

Điều 21, Luật Bảo vệ người tiêu dùng đã quy định chi tiết về nghĩa vụ bảo hành của bên bán đối với hàng hóa, linh kiện…

Hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành theo thỏa thuận của các bên hoặc bắt buộc bảo hành theo quy định của pháp luật Trường hợp hàng hóa, linh

Ngày đăng: 18/06/2018, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06 tháng 05 năm 2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết lập hồ sơ mời thầu xây lắp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06 tháng 05 năm 2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết lập hồ sơ mời thầu xây lắp
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2015
2. Ngô Huy Cương (2009), Tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2009
8. Đỗ Văn Đại (2011), Luật hợp đồng Việt Nam, Bản án và bình luận bản án tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam, Bản án và bình luận bản án tập 1
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
10. Lê Thị Tuyết Hà (2016), “Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hà
Năm: 2016
11. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình Luật Hợp đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hợp đồng
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
13. Nguyễn Ngọc Lâm (2010), Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế nhận dạng tranh chấp, biện pháp ngăn ngừa và phương pháp giải quyết, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế nhận dạng tranh chấp, biện pháp ngăn ngừa và phương pháp giải quyết
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
14. Nguyễn Văn Luyện và cộng sự (2009), Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Văn Luyện và cộng sự
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
15. Trần Tuyết Minh (2014), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam”
Tác giả: Trần Tuyết Minh
Năm: 2014
16. New York (1974), Công ước New York 17. Nga (1994), Bộ luật Dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước New York" 17. Nga (1994)
Tác giả: New York (1974), Công ước New York 17. Nga
Năm: 1994
26. Mai Thị Thanh Tâm (2009), “Nghĩa vụ của người kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghĩa vụ của người kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”
Tác giả: Mai Thị Thanh Tâm
Năm: 2009
28. Cao Thị Lê Thương (2016), “Bảo đảm dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo đảm dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Cao Thị Lê Thương
Năm: 2016
30. Khúc Thị Kiều Trang (2014), “Những quy định về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khúc Thị Kiều Trang (2014), "“Những quy định về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam”
Tác giả: Khúc Thị Kiều Trang
Năm: 2014
31. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật thương mại tập 2, Nxb công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật thương mại tập 2
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb công an nhân dân
Năm: 2006
32. Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại
Tác giả: Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2012
33. UNIDROIT (2004), Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế 2004
Tác giả: UNIDROIT
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
3. Ngô Huy Cương (2010), Bàn về khái niệm và các điều kiện của chấp nhận giao kết hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2005, Tạp chí dân chủ và pháp luật số tháng 1/2010 Khác
4. Chính phủ (2006), Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện Khác
5. Chính phủ (2006), Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý, mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa nước ngoài Khác
6. Chính phủ (2010), Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp Khác
7. Chính phủ (2015), Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22 tháng 04 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về hợp đồng xây dựng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w