1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp môn niệm phật tam muội trong kinh hoa nghiêm ( Luận văn thạc sĩ)

79 306 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 358,21 KB
File đính kèm Luận văn Full.rar (499 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp môn niệm phật tam muội trong kinh hoa nghiêm ( Luận văn thạc sĩ)Pháp môn niệm phật tam muội trong kinh hoa nghiêm ( Luận văn thạc sĩ)Pháp môn niệm phật tam muội trong kinh hoa nghiêm ( Luận văn thạc sĩ)Pháp môn niệm phật tam muội trong kinh hoa nghiêm ( Luận văn thạc sĩ)Pháp môn niệm phật tam muội trong kinh hoa nghiêm ( Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ TRỌNG BẢO

PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI

TRONG KINH HOA NGHIÊM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ TRỌNG BẢO

PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI

TRONG KINH HOA NGHIÊM

Ngành: Triết học

Mã số: 60220301

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN NGUYÊN VIỆT

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Pháp môn niệm Phật tam muội trong kinh Hoa

Nghiêm” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của

PGS.TS Trần Nguyên Việt Các số liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực, rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Đỗ Trọng Bảo

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI VÀ KINH HOA NGHIÊM 7

1.1 PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI 7

1.2 KINH HOA NGHIÊM VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA NÓ 17

Chương 2 BỐN PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI CƠ BẢN TRONG KINH HOA NGHIÊM 38

2.1 NIỆM PHẬT PHÁP THÂN 39

2.2 NIỆM PHẬT CÔNG ĐỨC 44

2.3 NIỆM PHẬT DANH TỰ 53

2.4 NIỆM PHẬT ADIĐÀ 62

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong kinh Niết bàn có đoạn Thích Ca Mâu Ni nói về tính cần thiết của

giải thoát với các đệ tử của mình như sau:

“Tự mình làm ngọn đuốc, tự mình làm phước lành, xem chân lý chính là ngọn đuốc và phước lành đó Bất luận là trong giờ khắc này hay là sau khi ta mất đi, các đệ tử nhất định phải tự bảo vệ và tự soi sáng cho mình, đồng thời phải dùng chân lý để bảo vệ và soi sáng cho mình” [2, tr.26] Đây là di huấn hết sức quan trọng và cũng là tiền đề để Phật giáo tồn tại và phát triển, trở thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới Cũng như mọi tôn giáo khác, Phật giáo lấy giải thoát con người khỏi nỗi khổ truyền kiếp làm mục đích tối thượng

Tuy nhiên, làm thế nào để đạt được giải thoát, được đến với cõi Niết bàn hay Tịnh độ đã trở thành nguyên nhân của sự xuất hiện các phương pháp tu hành khác nhau trong Phật giáo Ngay cách hiểu về Niết bàn và tiêu chí đạt tới cảnh giới đó cũng không thống nhất khi chúng ta tìm hiểu nó trong các bộ

kinh của Phật giáo như Tạp A Hàm kinh, Đại Niết bàn kinh, Niệm Phật tam

muội kinh, v.v Duy chỉ có điều được thừa nhận chung về cảnh giới Niết bàn

chính là cảnh giới tâm linh, không phải là cảnh giới vật chất, vì thế nó không

có địa danh xác định Tiểu thừa Phật giáo cho rằng, đến với Niết bàn là đến với bến bờ bên kia (đáo bỉ ngạn), với chúng ta, chừng nào còn ở bờ bên này (thử ngạn) thì vẫn còn lẩn quẩn trong vòng luân hồi Ngược lại, Đại thừa Phật giáo cho rằng, Niết bàn tức là luân hồi xét từ góc độ nào đó, tức là có Niết bàn

ở thế giới bên này chứ không phải chỉ có ở thế giới bên kia như Tiểu thừa xác nhận Nói cách khác, cái vô minh, cái nhìn thấy được là luân hồi, còn cái nhận biết được, giác ngộ (tri nhận) được là Niết bàn Tiểu thừa Phật giáo coi việc đạt mục tiêu Niết bàn chỉ sau khi 1.đoạn trừ được nghi hoặc, đoạn trừ tham,

Trang 6

2

sân si và 2.sau khi chết mới có sự hoàn thành của trí tuệ Bát Nhã Trong khi

đó, Đại thừa Phật giáo cho răng, “thành phần của „thể tụ hợp‟ không ngừng hoán dị, cho nên sinh mệnh của cá thể chỉ có „sự tăng trưởng của nhất niệm‟… cho nên giả như tin rằng, „cá thể‟ không có sinh mệnh, chính là cách nhìn nhận „ngũ uẩn giai không‟… Cái gọi là Niết bàn chỉ là do cảm giác tỉnh táo của mộng mị, do từ trong sự trầm kha của tâm thức sống lại, Niết bàn chính là giác ngộ” [2, tr.317-318]

Qua đó cho thấy, ý nghĩa tên gọi của “Đại thừa Phật giáo” là cỗ xe lớn chở được nhiều người đến với Niết bàn hay Tịnh Độ chính là ở chỗ phái này đưa ra lý luận giải thoát cho con người ngay trong cõi Sa-bà và Ta-bà vừa bằng tự giác, vừa bằng giác tha Điều cốt yếu là hành giả trong quá trình tu tập phải nhất tâm, phải hướng tới pháp môn niệm Phật tam muội để tri nhận Pháp thân, Báo thân và Hóa thân thì sẽ đạt tới giác ngộ, thậm chí đạt tới giác ngộ rất nhanh (đốn ngộ)

Giác ngộ hay giải thoát là mục đích tối thượng của Phật giáo nói chung,

Phật giáo Đại thừa nói riêng Điều này được Kinh Hoa Nghiêm luận giải và

chỉ ra các phương pháp rất cụ thể để hành giả thực hành tu niệm cho đúng để đạt hiệu quả Mặt khác, tu niệm trong đời sống tôn giáo còn góp phần củng cố niềm tin vào đạo lý chân chính, điều đó có ý nghĩa không chỉ đối với các phật

tử xuất gia, mà đặc biệt đối với các cư sĩ tại gia không bị rơi vào tình trạng dao động, bị lôi cuốn bởi các tà đạo đang có xu hướng biến thái và xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta Pháp môn niệm Phật tam muội nói chung, niệm

Phật tam muội trong kinh Hoa Nghiêm giúp người tu hành giữ vững niềm tin

tôn giáo vào Phật giáo, một tôn giáo đã gắn bó với dân tộc hàng ngàn năm và hiện tại đang góp phần quan trọng vào việc xây dựng đất nước theo tinh thần

“Đạo Pháp, Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội”

Trang 7

3

Vì vậy, với ý nghĩa và tầm quan trọng của pháp môn niệm Phật tam muội, cùng với việc bản thân học viên là nhà tu hành, cho nên mạnh dạn chọn

“Pháp môn niệm Phật tam muội trong kinh Hoa Nghiêm” làm đề tài nghiên

cứu cho luận văn cao học của mình với mong muốn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của Phật giáo Đại thừa vừa uyên bác về mặt triết học, vừa vi diệu về, mặt phương pháp tu hành trong bộ kinh này

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Từ các cuộc kết tập kinh điển của Phật giáo đã hình thành nên bộ kinh điển đồ sộ được gọi là Tam tạng kinh (tripitaka) Trong quá trình phát triển của Phật giáo trải qua hàng thế kỷ, số lượng kinh điển ngày càng tăng và điều

đó kéo theo một loạt các công trình nghiên cứu về Phật giáo với số lượng không thể thống kê hết được Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng tôi xác định số các công trình cần thiết để tham khảo và sơ bộ phân định các tài liệu

đó theo các hướng sau đây:

1 Hướng nghiên cứu các nội dung cơ bản của Phật giáo Đại thừa

Trong phạm vi luận văn này chúng tôi không thể kể hết được các công trình nghiên cứu về Phật giáo Đại thừa Song liên quan đến đề tài có thể chỉ ra một số công trình như sau:

Sách Đại thừa khởi tín luận [12] do Bồ tát Mã Minh soạn Cuốn sách

được phật tử Chân Hiền Tâm dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt với mục đích

dò tìm dấu vết nghìn năm cũ của các bậc Bồ tát Cuốn sách nói về lý duyên khởi của Như Lai tạng Hiện nay các sách trước thuật về khởi tín luận được chia thành sách được chia thành 18 loại với số lượng 89 quyển

Cuốn Lược sử Phật giáo Ấn Độ [10] do Hòa thượng Thích Thanh Kiểm

biên khảo năm 1963 trình bày khái quát lịch sử Phật giáo Ấn Độ Sách do Thành hội Phật giáo TP HCM xuất bản năm 1989 gồm 4 thiên, 19 chương Thiên thứ ba nói về Phật giáo Đại thừa kể từ cuối thế kỷ II đến cuối thế kỷ

Trang 8

4

VII với sự hưng long và phát triển của Đại thừa Phật giáo qua các thời đại ngài Long Thọ, Đề Bà

Cuốn Ấn Độ Phật giáo sử luận [31] do tác giả Viên Trí biên soạn, Nxb

Phương Đông, TP HCM, 2009 trình bày lịch sử Phật giáo Ấn Độ từ đức Phật đến thời kỳ Bộ phái

Cuốn Bước đầu học Phật [30] do HT Thích Thanh Từ biên soạn, Nxb

Tôn giáo 2002 với mục đích dẫn dắt những người mới bắt đầu học Phật hiểu Phật giáo một cách đúng đắn để trở thành phật tử chân chính Theo tác giả, bản chất của Phật giáo đã là chân lý, là sự thật, chúng ta đừng làm méo mó khiến kẻ bàng quan hiểu lầm Phật giáo

Bộ sách Nguyên thủy, Tiểu thừa, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận [7]

của Kimura Taiken do HT Thích Quảng Độ dịch, Nxb Tôn giáo, Hà Nội,

2012 Đây là bộ sách bàn về tư tưởng của Phật giáo được nhiều người quan tâm với cách trình bày khúc triết, dễ hiểu về Phật giáo, đặc biệt là cuốn thứ ba

về Phật giáo Đại thừa với lý luận giải thoát hết sức tinh tế và vi diệu

2 Hướng nghiên cứu Pháp môn niệm Phật tam muội

Hướng nghiên cứu này cũng có nhiều sách bàn về lý luận giải thoát thông qua các hình thức tu niệm, cụ thể:

Cuốn Đường về Cực Lạc [25] của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Thành

hội Phật giáo TP HCM ấn hành năm 1995 Theo tác giả, cuốn sách là sự “gom góp những chỗ, những nơi dạy về Pháp môn Tịnh Độ của Phật Bồ Tát và Cổ đức, trong các Kinh các luận chính thức… Đường về Cực Lạc là con đường Pháp dẫn ta và tất cả chúng sinh từ xứ ác trược Ta Bà về đến thế giới Thanh tịnh Cực Lạc, cũng chính là Pháp môn Tịnh độ nói bằng một cách khác đấy thôi”

Tiếp đến là cuốn Niệm Phật thập yếu [22] do Hòa thượng Thích Thiền

Tâm dịch, Nxb TP HCM ấn hành năm 1999 Cuốn sách được coi là kim chỉ

Trang 9

5

nam cho những hành giả tu Tịnh Độ Trọn bộ gồm 10 chương tương ứng với

10 yêu cầu thiết yếu nhất cho quá trình tu niệm của hành giả tới sự giác ngộ

Bộ sách Đại trí độ luận [3] của Bồ Tát Long Thọ gồm 5 tập giải thích về

các khái niệm của pháp môn tu niệm Phật, đặc biệt là vai trò và năng lực của trí để đạt tới giải thoát Bộ sách do HT Thích Thiện Siêu dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành năm 1997

Cuốn Giải thoát luận Phật giáo [26] của TS Nguyễn Thị Toan, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 cho rằng, quan niệm về giải thoát xuyên suốt giáo lý của đạo Phật, tạo thành nét đặc sắc của tôn giáo – triết hoc này Nghiên cưu quan niệm về giải thoát trong Phật giáo sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn sự đa dạng của các cách thức, các con đường giải phóng con người trong các học thuyết xã hội

Cuốn Khai sáng tuệ giác giáo nghĩa tinh yếu cơ bản của Đạo Phật [2]

của tác giả David Neil do Hoàng Ngọc Cương và Nguyễn Thị Xuân Hiền dịch, Nxb Đồng Nai ấn hành 2011 Cuốn sách trình bày khái quát giáo lý cơ bản của Phật giáo, nghiệp lực và Niết bàn tịch tĩnh, giúp độc giả hiểu rõ những khái niệm cơ bản của phương pháp tu niệm Phật

3 Hướng nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm và pháp môn niệm Phật tam muội trong kinh Hoa Nghiêm

Từ 4 tập của bộ kinh Hoa Nghiêm do Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch, Nxb TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 1999 đã xuất hiện nhiều công trình lược giải, đại cương, giáo trình về kinh này Cụ thể:

Cuốn Đại cương Kinh Hoa Nghiêm t.1 [28] do Thích Hằng Trường biên soạn, Nxb tôn giáo Hà Nội, 2004; cuốn Giáo trình Kinh Hoa Nghiêm, do TT

Thích Trí Hải biên soạn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2016; Hòa Thượng Thích Trí

Quảng với Lược giải Kinh Hoa Nghiêm, v.v giúp độc giả hiểu biết rõ hơn về

nguồn gốc, cấu trúc và những nội dung cơ bản của Kinh Hoa Nghiêm

Ngoài ra còn có các công trình khác liên quan đến hướng nghiên cứu này được đăng tải trên các tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Nghiên cứu Phật học, v.v

Trang 10

6

3 Mục đích và nhiệm vụ

3.1 Mục đích: làm rõ nội dung của Pháp môn niệm Phật tam muội

trong kinh Hoa Nghiêm

3.2 Nhiệm vụ: để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn cần tiến

- trình bày bốn pháp môn niệm Phật tam muội trong kinh Hoa Nghiêm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Pháp môn niệm Phật tam

muội

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn là Pháp môn niệm Phật tam muội

trong kinh Hoa Nghiêm

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: luận văn nghiên cứu Pháp môn niệm Phật tam muội

dựa trên cơ sở lý luận của lịch sử triết học, tôn giáo học

5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn: là các phương pháp được

ứng dụng trong nghiên cứu lịch sử triết học như phân tích, tổng hợp, sự thống nhất giữa logic và lịch sử cụ thể, phương pháp so sánh, đối chiếu, v.v

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những độc giả nghiên cứu lịch sử triết học, tôn giáo học, triết học tôn giáo và đặc biệt là những người quan tâm đến phương pháp tu niệm Phật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án

có kết cấu gồm 3 chương 9 tiết

Trang 11

7

Chương 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ PHÁP MÔN

NIỆM PHẬT TAM MUỘI VÀ KINH HOA NGHIÊM

1.1 PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI

1.1.1 Quan niệm của Phật giáo Đại thừa về Tịnh Độ

Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn của thế giới và có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài: thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, thời kỳ phân chia phái bộ thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, tiếp đến là sự phân chia thành Tiểu thừa và Đại thừa Theo biểu tượng giản đơn thì quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo được ví như cây, gốc của nó là Phật giáo nguyên thủy, thân của nó là Tiểu thừa và phần ngọn là Đại thừa Đại thừa (Mahayana)

là cỗ xe lớn không chỉ giản đơn được dùng làm phương tiện vận tải, mà còn được dùng để chỉ giáo pháp khiến người tu được mở mang Nhất thiết trí

Trong Phẩm Thí dụ, Kinh Pháp Hoa viết rằng: “Nếu có chúng sinh nào theo

đức Phật Thế tôn, nghe pháp tín thụ siêng tu tinh tiến, cầu Nhất thiết trí, Phật trí, Vô sư trí, cầu Tri kiến, Lực, Vô sở úy của Như lai, xót thương làm cho vô lượng chúng sinh được an lạc, làm lợi ihcs cho Trời, Người, độ thoát hết thảy thì đó gọi là MaHaTat” Như vậy, Đại thừa hiểu một cách giản đơn, trong sự đối lập với Tiểu thừa, là cỗ xe lớn chở được nhiều người đến đích giải thoát Khái niệm Đại thừa còn được dùng để chỉ giáo pháp (Đại thừa giáo), tức pháp môn tu hành viên mãn lục độ để thành Phật; dưới tên gọi Đại thừa tông dùng

để chỉ tông phái, theo đó những tông cầu chứng ngộ thành La Hán thì gọi là Tiểu thừa tông, những tông cầu thành Phật (Bồ Tát) gọi là Đại thừa tông Trong lời giới thiệu bộ sách của Kimura Taiken “Nguyên Thủy, Tiểu Thừa, Đại Thừa Phật giáo tư tưởng luận”, dịch giả Hòa thượng Thích Quảng

Độ viết rằng: “Phật pháp chỉ có một vị, đó là vị giải thoát Nhưng phương

Trang 12

8

pháp để đạt đến giải thoát thì có rất nhiều, và phương pháp nào – dù là Đại Thừa hay Tiểu Thừa cũng đều nhằm đạt đến mục đích nhất vị kể trên” [7, tr.8] Khác với các phái Tiểu Thừa, đặc trưng căn bản nhất của đạo Bồ Tát là

sự nghiệp giải thoát cho bản thân và cho người khác (tự lợi, lợi tha) Đúng như nhận định của Kimura Taiken: “…nếu tự mình muốn đạt đến lý tưởng giới thì tất phải đưa người khác cũng đạt như mình; và đưa người khác đạt đến lý tưởng giới tức là chính mình đạt đến vậy Đương nhiên, nói một cách thực tế, trước phải tự cứu mình rồi sau mới cứu người được, đó là lẽ thường, thế nhưng đứng về mặt thệ nguyện mà nói, thì thay vì, vì mình, trước hết phải

vì người: đó là tâm từ bi và hạnh từ bi của Bồ Tát” [7, tr.451] Điều này làm

chúng ta liên tưởng đến tư tưởng trung thứ được trình bày trong cuốn Luận

ngữ của Khổng Tử (551-479 TCN), cho rằng “điều mình muốn thành đạt thì

cũng nên giúp người khác thành đạt” Tuy nhiên, quan điểm của Khổng Tử chỉ dùng lại ở chỗ “nên giúp người khác thành đạt” mà chưa nói rõ được bằng cách nào, mức độ nào, trong khi đó đạo Bồ Tát cho rằng, mỗi cá nhân trên con đường hoàn thiện bản thân, nếu chỉ hoàn thành cái nhỏ nhoi của riêng mình mà không hoàn thành cho kẻ khác thì sự hoàn thành đó chưa thể gọi là trọn vẹn Vì vậy, một tiêu ngữ rất nổi tiếng của đạo Bồ Tát xuất phát từ điều kiện tiên quyết để thực hiện lý tưởng giải thoát mang tính tối hậu là phải cùng với tất cả chúng sinh cùng tiến tới giải thoát khỏi mọi phiền muộn, khổ đau,

đó là: “Thượng cầu Bồ Đề, hạ hóa chúng sinh” (Trên cầu đạo giác ngộ, dưới hóa độ chúng sinh)

Theo Kimura Taiken, “Đạo Bồ Tát nếu muốn thực hiện lý tưởng tối cao, tất phải cùng với chúng sinh cùng tiến, cho nên ở đây tất nhiên cần phải nói đến Tịnh Độ, hoặc Phật Độ, tức là lý tưởng đó đã trở thành xã hội hóa” [7, tr.452] Vậy Tịnh Độ là gì?

Trang 13

Luậ n vậ n đậ y đu ở file:Luậ n vậ n Full

Ngày đăng: 18/06/2018, 11:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w