LÊ THỊ HÀ ANH NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN LUẬN VĂN THẠC SĨ KI
Trang 1LÊ THỊ HÀ ANH
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, năm 2017
Trang 2LÊ THỊ HÀ ANH
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Tp Hồ Chí Minh, năm 2017
Trang 3tố địa phương trong mối quan hệ giữa vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2017
Tác giả
Lê Thị Hà Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề: 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 5
1.3 Phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 6
1.5 Ý nghĩa thực tiễn: 8
1.6 Kết cấu của luận án: 8
Tóm tắt chương 1 10
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 11
2.1 Các khái niệm 11
2.1.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI: 11
2.1.2 Về tăng trưởng kinh tế: 12
2.1.3 Về thể chế 13
2.1.4 Về môi trường kinh tế vĩ mô 14
2.2 Các lý thuyết về vai trò của vốn đầu tư lên tăng trưởng kinh tế 15
2.2.1 Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar 16
2.2.2 Mô hình tăng trưởng Solow 19
2.2.3 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh 24
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư 27
2.3.1 Giáo dục 27
2.3.2 Mức độ hội nhập tài chính 28
Trang 52.3.5 Chất lượng cơ sở hạ tầng 31
2.3.6 Quá trình đô thị hóa 32
2.3.7 Môi trường kinh tế vĩ mô 33
2.3.8 Môi trường thể chế 34
Tóm tắt chương 2 36
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 38
3.1 Mô hình 38
3.1.1 Các biến trong mô hình 38
3.1.2 Mô hình nghiên cứu 42
3.2 Dữ liệu 44
3.3 Phương pháp nghiên cứu 47
Tóm tắt chương 3 51
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
4.1 Mô tả biến và hồi quy tương quan giữa các biến 52
4.2 Hồi quy dữ liệu cho toàn bộ mẫu 55
4.3 Hồi qui dữ liệu cho hai nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp – trung bình thấp và nhóm có thu nhập trung bình cao 59
Tóm tắt chương 4 63
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC HÀM Ý VỀ CHÍNH SÁCH 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6GDP Tổng sản phẩm quốc nội
UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát Triển Liên Hiệp Quốc
Trang 7Bảng 3.2: Kỳ vọng về dấu của các biến lựa chọn
Bảng 3.3: Bảng phân nhóm các quốc gia được chọn mẫu
Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến toàn bộ 44 nước giai đoạn 1993 - 2016
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến
Bảng 4.3: Biến phụ thuộc: Tăng trưởng GDP đầu người
Kết quả hồi qui cho toàn bộ mẫu 44 quốc gia đang phát triển giai đoạn
1993-2016
Bảng 4.4: Biến phụ thuộc: Tăng trưởng GDP đầu người
Mẫu 22 quốc gia có thu nhập thấp - trung bình thấp giai đoạn 1993-2016 Bảng 4.5: Biến phụ thuộc: Tăng trưởng GDP đầu người
Mẫu 22 quốc gia có thu nhập trung bình cao giai đoạn 1993-2016
Trang 8tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế Bài nghiên cứu này góp phần thảo luận
về khả năng thụ hưởng lợi ích từ FDI dưới tác động của các nhân tố hấp thụ (absorptive capacities) của các quốc gia nhận đầu tư Tuy nhiên tính không đồng nhất trong các nhân tố điều kiện của nước sở tại chính là nguồn gốc của sự khác biệt trong các kết luận của nghiên cứu thực nghiệm (theo lập luận của Lipsey và Sjoholm, 2005) Bài nghiên cứu này sẽ góp phần vào cuộc tranh luận trên bằng cách cung cấp một cái nhìn sâu hơn về các yếu tố điều kiện địa phương có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu được thực hiện trên một mẫu gồm 44 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn
1993 – 2016 và sử dụng mô hình GMM nhằm khắc phục những hạn chế khi phân tích dữ liệu bảng Những kết quả trong bài nghiên cứu đạt được cho thấy tác động của FDI lên tăng trưởng phụ thuộc vào chính sách thể chế, mức độ ổn định kinh tế
vĩ mô Ngoài ra, các nhân tố khác gồm vốn đầu tư trong nước và chất lượng cơ sở
hạ tầng … cũng có tác động trực tiếp lên tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, khi chia mẫu thành hai nhóm nước có thu nhập thấp - trung bình thấp (tức là nhóm có thu nhập thấp và trung bình thấp) và nhóm nước có thu nhập trung bình cao Kết quả cho thấy các biến này có tương tác với FDI, khẳng định ảnh hưởng gián tiếp của chúng đến mối quan hệ FDI và tăng tưởng Chính vì vậy, chính phủ của các quốc gia nhận đầu tư (host country) cần cải thiện môi trường đầu tư, ổn định kinh tế vĩ
mô mới là cốt lõi của một chính sách đúng đắn, cần đưa ra những chính sách phối hợp một cách hài hòa bao gồm một môi trường chính sách - kinh tế thích hợp để hiệu ứng lan tỏa có thể diễn ra, các chính sách thu hút dòng vốn nước ngoài và thúc đẩy phát triển công nghệ - động lực tối hậu để đạt được tăng trưởng kinh tế
Trang 9CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề:
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, các dòng vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), được xem là một nguồn vốn quan trọng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế và là một trong những nhân tố chính trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của các quốc gia đang phát triển Mối quan
hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế đã, đang và sẽ là một trong những vấn
đề quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia
Theo Báo cáo Đầu tư thế giới năm 2016 (WIR) công bố ngày 22/6/2016 của Văn phòng Tồ chức Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), dòng vốn đầu tư trực tiểp nước ngoài (FDI) trên toàn cầu đang trên đà tăng trưởng Điển hình là trong năm 2015, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu tăng vọt 38% đạt 1,76 nghìn tỷ USD, mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu trong năm 2008-2009 Các nước đang phát triển cho thấy dòng vốn FDI của họ đạt mức cao mới là 765 tỷ USD, chiếm 9% cao hơn năm 2014 Châu Á đang phát triển, với dòng vốn FDI vượt quá nửa nghìn tỷ đô la, vẫn là khu vực nhận FDI lớn nhất trên thế giới Các nước đang phát triển tiếp tục chiếm một nửa trong số 10 nước dẫn đầu kinh tế đối với dòng vốn FDI Dòng vốn FDI ghi nhận được cho thấy sự tăng trưởng ở tất cả các nhóm nước: các nền kinh tế phát triển, đang phát triển và đang chuyển đổi
Theo UNCTAD, năm 2016 Mỹ hiện là nước thu hút FDI lớn nhất thế giới Mặc
dù FDI vào Mỹ đã giảm dần từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính nhưng tổng số vốn FDI vào Mỹ là 391tỷ USD (so với năm 2015 là 348 tỷ USD) và nước Anh đã vượt lên đứng thứ 2 thế giới trong năm 2016 là 254 tỷ USD (trong lúc đó năm 2015 chỉ là 33 tỷ USD) gấp 2 lần Trung Quốc (trong năm 2016 là 133 tỷ USD và 136 tỷ USD trong năm 2015)
Trang 10China Hong Kong, China
Netherlands Singapore British Virgin Islands
Brazil Australia Cayman Islands
20 nước thu hút FDI lớn nhất thế giới năm 2016
2016 (tỷ USD)
Trang 11Theo UNCTAD, FDI vào các nước đang phát triển từng là xu hướng chính suốt hơn 10 năm qua Năm 2000 FDI vào các nước đang phát triển chỉ chiếm khoảng 19% tổng FDI trên toàn thế giới nhưng tới năm 2016 tỷ lệ này lên tới hơn 34% FDI toàn cầu
FDI toàn cầu giai đoạn 2014 – 2016 (tỷ USD)
Nguồn: WIR2017
Từ thực tế trên cho thấy chính xu hướng phát triển của các dòng vốn quốc tế này đã làm gia tăng cuộc tranh luận về những yếu tố chính thu hút chúng và những lợi ích mà chúng dự kiến sẽ đem lại cho sự phát triển của nền kinh tế, cũng như niềm tin của nhiều quốc gia rằng FDI là một yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của họ Một câu hỏi quan trọng được đặt ra là có phải chính các nhân tố góp phần gia tăng lực hút FDI cũng góp phần làm gia tăng lợi ích của nó; từ đó tạo thành một vòng xoáy tác động lên tăng trưởng Về lý thuyết, vốn FDI dường như đem lại nhiều lợi ích hơn so với các dòng vốn khác bởi vì, ngoài việc làm gia tăng tổng vốn của một quốc gia, FDI còn có tác động ngoại vi tích cực là làm tăng năng suất của nền kinh tế thông qua việc chuyển giao công nghệ cũng như kinh nghiệm
và kĩ năng quản lý (De Mello, 1997) Cũng như lập luận của Kose và cộng sự (2006): " nó không chỉ đơn thuần là dòng vốn, mà cùng những gì đi cùng với nó,
sẽ mang lại lợi ích của toàn cầu hóa tài chính cho các nước đang phát triển" Thêm nữa, cũng có ý kiến cho rằng vốn FDI có xu hướng ổn định hơn các loại vốn đầu tư
Châu Mỹ La Tinh & Caribeen 226 220 240 537 528 564
Châu Đại Dương 24 24 26 9 10 11
Các nền kinh tế chuyển đổi 624 588 730 382 337 389
Trang 12khác, đồng nghĩa với việc quốc gia tiếp nhận sẽ ít bị tổn thương hơn trước rủi ro dòng vốn đầu tư đột ngột ngừng lại
Tuy nhiên về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của FDI trong tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn đầu tư Ở một số nghiên cứu, vốn FDI đã được chứng minh là vừa có những tác động có lợi cũng như bất lợi đến tăng trưởng kinh tế, trong khi đó, một vài nghiên cứu khác lại cho rằng FDI không ảnh hưởng đến tăng trưởng Những nghiên cứu ở mức độ doanh nghiệp thường cho rằng FDI không làm cải thiện tăng trưởng kinh tế (Görg & Greenaway, 2004) Ngược lại, nhiều nghiên cứu vĩ mô lại cho rằng FDI đóng một vai trò tích cực đối với hiệu suất hoạt động của nền kinh tế, mặc dù có một số nghiên cứu ngoại lệ như Akinlo (2004); Herzer, Klasen & Nowak-Lehmann (2008); Carkovic & Levine (2005) đã chỉ ra rằng các dòng vốn nước ngoài không thực sự có ảnh hưởng đáng kể lên tăng trưởng kinh tế
Những kết quả không thống nhất và còn bỏ ngỏ này khiến nhiều nhà nghiên cứu thận trọng hơn khi đưa ra kết luận tổng quát về tác động của vốn FDI và mối quan
hệ giữa FDI và tăng trưởng, cụ thể là phải xem xét đến sự tồn tại của các yếu tố bên ngoài liên quan đến FDI Và đây cũng chính là ý tưởng cho nghiên cứu với đề tài
“Vai trò của các nhân tố địa phương trong mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển”
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Thực tế là kết luận của nghiên cứu đối với các nước khác nhau thường không giống nhau vì nền kinh tế các quốc gia đang phát triển vốn không đồng nhất với nhau do đó các thị trường tiếp nhận vốn đầu tư có thể khác nhau ở nhiều nhân tố Những nhân tố này bao gồm các vấn đề về chính sách, cấu trúc của nền kinh tế và những đặc trưng khác nhau cho từng quốc gia nhận đầu tư hay còn được gọi chung thuật ngữ là “khả năng hấp thụ” hay “nhân tố địa phương” Những nhân tố này dường như là điều kiện tiên quyết để các nước sở tại thu hút nguồn vốn FDI và hưởng lợi ích từ FDI mang lại Bài nghiên cứu này sẽ kiểm tra xem các nhân tố địa phương (như chất lượng cơ sở hạ tầng, tốc độ đô thị hóa, mức thu nhập, môi trường thể chế, sự ổn định kinh tế vĩ mô…) khác nhau thì có tác động như thế nào lên mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế đối với các quốc gia đang phát triển Như đã trình bày ở trên, tất cả những yếu tố này không chỉ đóng một vai trò quan trọng như lực hút chính của dòng vốn nước ngoài mà chúng cũng góp phần làm tăng tốc
độ tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu nhằm mục đích điều tra xem chúng có phải là những yếu tố chính tạo ra lợi ích phát sinh từ dòng vốn FDI hay không
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu nêu trên, bài nghiên cứu có thể trả lời cho các vấn đề sau:
1/ Thứ nhất, FDI tăng có tác động làm tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển hay không?
2/Thứ hai, các nhân tố địa phương tác động thế nào đến mối quan hệ FDI và tăng trưởng kinh tế?
3/ Thứ ba, đối với các quốc gia đang phát triển, đâu mới là động lực thật sự tạo nên tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn: FDI hay là những tiến bộ trong chính sách và cấu trúc nền kinh tế hay là cả hai?
4/ Những chính sách cần hoàn thiện và phát triển nhằm tăng cường khả năng hấp thụ và thu hút nguồn vốn FDI trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14Để đạt được khoảng thời gian dài cho phân tích, chúng tôi chọn giai đoạn từ năm 1993-2016 và nhóm các quốc gia đang phát triển được chọn trong bài nghiên cứu là những quốc gia tiếp nhận nhiều FDI nhất trong giai đoạn phân tích Các quốc gia này có điểm chung thâm hụt tương đối nhỏ, tỉ lệ tiết kiệm cao, tự do hóa thị trường tài chính, tăng trưởng tương đối cao và đã thực thi những chính sách với trọng tâm là thu hút vốn FDI xuyên suốt hai thập kỷ qua Hơn nữa, mặc dù phần lớn các quốc gia này đã có những bước tiến trong việc bình ổn kinh tế vĩ mô và chất lượng thể chế, nhưng thành quả tăng trưởng kinh tế thu được lại không giống nhau Điều này khiến chúng đặc biệt thích hợp với mục tiêu nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi nêu trên, nghiên cứu sử dụng các lý thuyết nghiên cứu trước đây để xem xét những ảnh hưởng kỳ vọng của FDI và các nhân tố điều kiện lên tăng trưởng kinh tế Sau đó, nghiên cứu đi vào thu thập một số nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này, cách thức, phạm vi và kết quả tìm được của các nghiên cứu
đó Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành so sánh và chọn phương pháp định lượng các biến phù hợp trong khả năng thu thập số liệu thực tế, cơ sở dữ liệu của các quốc gia đang phát triển Các biến được sử dụng bao gồm biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng GDP thực và biến độc lập gồm tốc độ gia tăng dân số, FDI và gross fixed capital (đại diện cho tổng vốn trong nền kinh tế) cùng các nhân tố khả năng hấp thụ (absorptive capacities) Các nhân tố mà chúng tôi xét đến bao gồm chất lượng thể chế, độ bất ổn kinh tế vĩ mô, mức thu nhập quốc gia, chất lượng cơ sở hạ tầng, tốc
độ đô thị hóa Chúng tôi còn thêm vào các nhân tử tương tác giữa FDI và độ bất ổn kinh tế vĩ mô, chất lượng thể chế Hệ số của các nhân tử tương tác này sẽ giúp ta kết luận về vai trò của nhân tố khả năng hấp thụ lên tác động của FDI lên tăng trưởng Sau khi đã có các biến, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả dữ liệu, phân tích định tính, rút ra cái nhìn tổng quan về mẫu nghiên cứu, mối tương quan giữa các biến giải thích và biến phụ thuộc củng như mối tương quan giữa các biến giải thích với nhau So sánh dấu kỳ vọng với lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm
Trang 15trước đó Cuối cùng, sử dụng phân tích hồi quy mô hình dữ liệu bảng để xử lý và phân tích số liệu nhằm trả lời cho bốn câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra Nhóm 44 quốc gia được chia làm 2 mẫu là nhóm quốc gia có thu nhập thấp - trung bình thấp và nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao và cùng tiến hành hồi quy, kiểm định kết quả Thông qua kết quả: tiến hành so sánh với dấu kỳ vọng trong khung lý thuyết đã trình bày cũng như các nghiên cứu thực nghiệm ở trên để rút ra kết luận, hạn chế của nghiên cứu cùng những gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16mô, thu nhập quốc gia và thể chế chính trị trong việc gia tăng khả năng hấp thụ vốn FDI vào các quốc gia Từ nhận thức đó; việc chuẩn bị tiền đề về các nhân tố điều kiện trước khi thu hút FDI cũng như các ưu tiên trong chính sách FDI được chú trọng hơn nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói nêng Bên cạnh đó, bằng chứng thu được trong nghiên cứu giúp chứng minh rằng sự khác biệt về nhiều khía cạnh giữa các quốc gia nhận đầu tư (vốn bị những nghiên cứu trước đây xem như đồng nhất) chính là nguyên nhân khiến những nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho ra kết quả mâu thuẫn nhau
1.6 Kết cấu của luận án:
Bố cục đề tài bao gồm 05 chương:
- Chương 1: giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu cũng như lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp
- Chương 2: trình bày tổng quan lý thuyết, xem xét những cách biệt giữa lý thuyết về lợi ích của dòng vốn FDI và các bẳng chứng thực nghiệm mâu thuẫn với vấn đề này Đồng thời, chương này cũng trình bày những nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, các nhân tố tác động đến mối quan hệ đó
- Chương 3: mô tả dữ liệu, các biến được sử dụng và các phương pháp tính toán được sử dụng trong phân tích thực nghiệm
- Chương 4: trình bày các kết quả chính
Trang 17- Chương 5: nhấn mạnh những kết luận quan trọng từ đề tài nghiên cứu, đồng thời nêu lên những hạn chế và gợi ý đề tài nghiên cứu mở rộng chuyên sâu hơn
Trang 18Tóm tắt chương 1
Chương 1 trình bày những nét sơ lược về nghiên cứu Nhận thấy tầm quan trọng
và những tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng, nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá mối quan hệ này dưới tác động của các nhân tố địa phương Mục đích của bài viết là nhằm trả lời câu hỏi liệu môi trường kinh tế vĩ mô, thu nhập quốc gia và thể chế ở các nước tiếp nhận FDI có thể giải thích cho sự khác biệt về tác động của FDI giữa các quốc gia đang phát triển hay không Do vậy, nghiên cứu
sử dụng mẫu là 44 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1993-2016 Mặt khác, vì cho rằng các các nhân tố kích thích tăng trưởng cũng có thể tạo ra nhiều vốn FDI hơn nên nghiên cứu lựa chọn giải quyết vấn đề nội sinh và quan hệ nhân quả thông qua việc sử dụng mô hình ước lượng GMM cho dữ liệu bảng Nghiên cứu cũng sử dụng một loạt các phương pháp kinh tế lượng để kiểm tra tính vững của các ước tính Ước tinh dữ liệu bảng được sử dụng so sánh các kết quả từ phân tích xuyên quốc gia Cuối cùng, toàn bộ mẫu được chia thành ba nhóm đối với các nước thu nhập thấp, trung bình thấp và thu nhập trung bình cao để điều tra xem liệu các nền kinh tế với trình độ phát triển khác nhau sẽ có được mức độ lan truyền từ FDI như thế nào
Trang 19CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.1 Các khái niệm
2.1.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI:
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì FDI được định nghĩa là hình thức đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn
bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp ở một quốc gia khác Quyền sở hữu này tối thiểu phải bằng 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp
Theo định nghĩa của Tổ chức thương mại Thế giới thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là khoản đầu tư của một công ty hoặc cá nhân ở một nước có lợi ích kinh doanh ở một nước khác dưới hình thức thành lập hoạt động kinh doanh hoặc mua lại tài sản kinh doanh ở nước khác, như quyền sở hữu hoặc kiểm soát lợi ích công ty nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân biệt với các khoản đầu
tư vào danh mục đầu tư, trong đó nhà đầu tư chỉ mua cổ phiếu của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài Đặc điểm chính của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nó là một khoản đầu tư tạo ra việc kiểm soát có hiệu quả, hoặc ít nhất là ảnh hưởng đáng kể đến việc ra quyết định của một doanh nghiệp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện ở các nền kinh tế mở, trái với các nền kinh tế được điều tiết chặt chẽ, cung cấp lực lượng lao động lành nghề
và triển vọng tăng trưởng trung bình cho nhà đầu tư Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đòi hỏi nhiều hơn là đầu tư vốn Nó cũng có thể bao gồm cung cấp quản lý hoặc công nghệ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được thực hiện bằng nhiều cách, bao gồm việc mở công ty con hoặc công ty liên kết ở nước ngoài, mua lại quyền kiểm soát tại một công ty nước ngoài hiện tại, hoặc bằng cách sáp nhập hoặc liên doanh với một công ty nước ngoài
Ngưỡng cho một đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra lợi ích chi phối, theo hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế ( OECD ), là cổ phần sở hữu tối
Trang 20thiểu 10% trong một công ty nước ngoài, thường đại diện cho nhà đầu tư mua lại 10% trở lên cổ phần phổ thông hoặc cổ phần có quyền biểu quyết của công ty nước ngoài Tuy nhiên, định nghĩa này rất linh hoạt, vì có những trường hợp mà quyền kiểm soát hiệu quả trong một công ty có thể được thiết lập với ít hơn 10% cổ phần
có quyền biểu quyết của công ty
Các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được phân loại là ngang, dọc hoặc tập đoàn Đầu tư trực tiếp theo chiều ngang đề cập đến nhà đầu tư thành lập cùng loại hình hoạt động kinh doanh ở nước ngoài khi hoạt động ở nước mình, ví
dụ một nhà cung cấp điện thoại di động có trụ sở tại Hoa Kỳ mở cửa hàng ở Trung Quốc Đầu tư theo chiều dọc là hoạt động kinh doanh chính của các nhà đầu tư được thành lập hoặc mua lại ở nước ngoài, chẳng hạn như khi một công ty sản xuất mua cổ phần tại một công ty nước ngoài cung cấp phụ tùng hoặc nguyên vật liệu cần thiết cho công ty sản xuất Để làm cho sản phẩm của mình Một loại hình đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là một trong những nơi mà một công ty hoặc một cá nhân đầu tư nước ngoài vào một doanh nghiệp không liên quan đến hoạt động kinh doanh hiện có ở nước sở tại Do loại hình đầu tư này liên quan đến việc nhập vào một ngành mà nhà đầu tư không có kinh nghiệm trước đây nên thường có hình thức liên doanh với một công ty nước ngoài đã hoạt động trong ngành
2.1.2 Về tăng trưởng kinh tế:
Theo định nghĩa của Simon Kuznet (1996) thì tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người”, theo Douglass C North và Robert Paul Thomas (1973) thì “tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số”
Các nhà kinh tế học đã sử dụng hai chỉ tiêu tăng sản phẩm quốc dân (GNP) và tăng sản lượng quốc nội (GDP) để đo lường tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế Tuy nhiên, trong hầu hết các bài nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế đều
sử dụng chỉ tiêu GDP làm đối tượng nghiên cứu
Trang 21Tổng sản lượng quốc nội (GDP) được định nghĩa là giá trị thị trường của tất cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Đây là giá trị cho biết mức độ lao động sản xuất hiệu quả của một quốc gia, nó là chỉ số đo lường sức mạnh kinh
tế của một đất nước
2.1.3 Về thể chế
Thể chế là một khái niệm phức tạp và được xem xét dưới những góc độ khác nhau Định nghĩa kinh điển nhất được đưa ra bởi nhà kinh tế học người Đức - Adolph Wagner cho rằng: "Thể chế là các khế ước, các hợp đồng và luật lệ thành văn đang cai quản đời sống và con người" Douglass C North, người được giải Nobel với công trình nghiên cứu “Kinh tế và Thể chế” năm 1993, cho rằng “Thể chế là những giới hạn được vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của con người hình thành nên mối quan hệ qua lại của con người” Đầu thế kỷ XX, ở phương Tây xuất hiện một khuynh hướng chính trị mới - khuynh hướng chủ nghĩa thể chế - quan niệm thể chế là bất kỳ liên hiệp bền vững nào của con người nhằm đạt được mục đích nhất định nào đó
Quan niệm này tương đối giống với cách hiểu của Ngân hàng thế giới về thể chế, cho rằng thể chế bao hàm ba nội dung quan trọng nhất, đó là luật chơi, cơ chế thực thi và tổ chức Vậy nên thể chế là tập hợp các quy tắc điều chỉnh xã hội và là kết quả của những thỏa thuận xã hội Thể chế mang tính bản chất và là một đối tượng có tính sở hữu rõ ràng: nó thể hiện một cách sâu sắc khuynh hướng chính trị
mà đảng cầm quyền đã lựa chọn
Thảo luận chính sách gần đây của FETP (“Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng” Bài thảo luận chính sách tại Chương trình Lãnh đạo Quản lý Cao cấp (VELP) tại trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy tháng 8/2013) cho rằng thể chế yếu kém chính là nguyên nhân sâu xa đã dẫn tới nhừng bất ổn của nền kinh tế và nguy cơ suy thoái kinh tế hiện nay Các nguy cơ về kinh tế, chính trị và
xã hội ngày nay đều có thể lý giải được bởi những cuộc cải cách thể chế bị trì hoãn
Trang 22hoặc chưa được tiến hành triệt để trong quá khứ Để phục hồi tăng trưởng, cần tận dụng những cơ hội cải cách thể chế trong các năm tới để tiếp tục trao quyền kinh tế
và chính trị mạnh mẽ hơn cho người dân
2.1.4 Về môi trường kinh tế vĩ mô
Kinh tế vĩ mô là hệ thống kinh tế của cả một quốc gia, với các chỉ tiêu đo lường
“sức khỏe” của nền kinh tế như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, thất nghiệp, lạm phát,
Kinh tế học vĩ mô là một bộ phận của khoa học kinh tế nghiên cứu sự vận động
và những mối liên hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân của một đất nước, nghĩa là nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia trước các vấn đề kinh tế cơ bản bao gồm: thất nghiệp, lạm phát, tăng trưởng, xuất nhập khẩu, sự phân phối nguồn lực và thu nhập giữa các thành viên trong nền kinh tế Mục tiêu của kinh tế vĩ mô cơ bản là đạt được sự ổn định trong ngắn hạn, tăng trưởng nhanh trong dài hạn, phân phối của cải một cách công bằng Sự ổn định
là kết quả của việc giải quyết những vấn đề kinh tế cấp bách như lạm phát, thất nghiệp Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi giải quyết các vấn đề dài hạn hơn liên quan đến
sự phát triển kinh tế Phân phối công bằng là vấn đề nền kinh tế phải giải quyết thường xuyên để đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng
Trang 232.2 Các lý thuyết về vai trò của vốn đầu tư lên tăng trưởng kinh tế
Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trưởng và phát triển ở mọi quốc gia Một điều hiển nhiên rằng, để một quốc gia có thể tăng trưởng và phát triển, một lượng vốn cần thiết phải được tích lũy nhằm tạo ra các yếu tố cơ bản cho quá trình sản xuất Riêng đối với các nước đang phát triển, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và
ổn định, cần phải có một khối lượng vốn rất lớn Ngoài nguồn vốn đầu tư trong nước là nguồn cơ bản đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắc chắn và lâu bền thì việc tăng cường huy động các nguồn vốn nước ngoài để bổ sung có ý nghĩa rất quan trọng Vốn nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng trong những bước đi ban đầu tạo ra “cú hích” cho sự phát triển Điều này được thể nghiệm trên các vai trò cơ bản sau:
Một là: Bổ sung nguồn vốn cho đầu tư khi mà tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn thấp Đối với các nước kém phát triển, nguồn vốn trong nước huy động được chỉ đáp ứng hơn 50% tổng số vốn yêu cầu Vì thế gần 50% số vốn còn lại phải được huy động từ bên ngoài Đó là lý do chúng ta phải tích cực thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài
Hai là: Đảm bảo trình độ công nghệ cao phù hợp với xu thế phát triển chung trên toàn thế giới Điều này giúp đẩy nhanh sự phát triển của các dịch vụ cung cấp có chất lượng và cho phép sản xuất các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế - là cơ
sở tạo nên sự bứt phá trong khả năng cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế
Ba là: Con đường ngắn nhất đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, cũng như bảo đảm các nghĩa vụ vay và trả nợ nhờ vào việc tăng cường được năng lực xuất khẩu
Bốn là: Có vai trò tích cực trong việc góp phần giải quyết việc làm và quan trọng hơn cả là đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ
Vì vậy, vai trò của vốn đầu tư lên tăng trưởng kinh tế đã và đang được đề cập ở rất nhiều lý thuyết, mô hình kinh tế cũng như trong các nghiên cứu thực nghiệm Ở phần này, chúng tôi sẽ trình bày các lý thuyết kinh tế mà trong đó, vai trò của vốn
Trang 24đầu tư được nêu rõ và củng cố như là một nhân tố quan trọng đối với tăng trưởng Các lý thuyết này bao gồm mô hình tăng trưởng của Harrod và Domar, mô hình tăng trưởng của Solow và lý thuyết tăng trưởng nội sinh1
2.2.1 Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar
Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 của thế kỷ XX với sự nghiên cứu một cách độc lập, hai nhà kinh tế học của học viện MIT (Hoa Kỳ) là Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan
hệ giữa sự tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp ở các nước phát triển Mô hình này cũng đề xuất những quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các nhu cầu về vốn tư bản, đặc biệt là vai trò của vốn đầu tư đổi với sự phát triển kinh tế của một quốc gia
Ngoài ra, mô hình Harrod-Domar còn được sử dụng rộng rãi ở các nước đang
phát triển nhằm xác định mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các nhu cầu về vốn
Một cách cơ bản và tổng quát nhất, từ trước tới nay, những mô hình tăng trưởng kinh tế và sản lượng kinh tế đều dựa vào một số phương trình liên hệ giữa tiết kiệm, đầu tư, và tăng trưởng dân số với qui mô lực lượng lao động và trữ lượng vốn (hay
còn gọi là tư bản) và tiếp đến là với tổng sản lượng của một hàng hoá duy nhất Những mô hình này thoạt đầu tập trung vào mức đầu tư, lao động, năng suất, và sản lượng Sau đó việc xem xét sự thay đổi các biến này sẽ trở nên đơn giản Các mô
hình tăng trưởng tiêu chuẩn đều có trọng tâm là một hay một chuỗi hàm sản xuất
Ở cấp độ kinh tế vi mô hay từng doanh nghiệp riêng lẻ, các hàm sản xuất này liên
hệ số người lao động và máy móc với qui mô sản lượng của doanh nghiệp Ở cấp độ quốc gia hay toàn bộ nền kinh tế, hàm sản xuất mô tả mối quan hệ giữa qui mô lực lượng lao động của một quốc gia và giá trị trữ lượng vốn với mức tổng sản lượng
1 “Kinh tế học của sự phát triển – 6 th ed - Chương 4: Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế” – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Trang 25nội địa của đất nước đó (tổng sản lượng) Mối quan hệ trong toàn nền kinh tế này
được gọi là hàm tổng sản luợng
Nếu ta coi Y tượng trưng cho tổng sản lượng (và do đó cũng là tổng thu nhập),
K là trữ lượng vốn (hoặc tư bản), và L là cung lao động; hàm tổng sản lượng có thể
được biểu thị một cách tổng quát nhất như sau:
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu và lý thuyết của mình, Harrod và Domar đã
miêu tả hàm sản xuất có dạng như phương trình (2.1) nêu trên một cách cụ thể hơn,
đó là sản lượng được giả định là một hàm tuyến tính theo theo vốn (và chỉ theo vốn
mà thôi) Hàm sản xuất theo Harrod và Domar được biểu thị như sau:
Trong đó v là hằng số và tổng sản lượng Y được tính bằng tích giữa trữ lượng vốn (K) và hệ số 1/v Khi sắp xếp lại phương trình (2.2), ta sẽ có được hằng số v chính tỷ số Vốn – Sản lượng:
𝑣 = 𝐾/𝑌
Tỷ số Vốn – Sản lượng (v) là một thông số rất quan trong trọng mô hình Harrod–Domar, nó cung cấp cho chúng ta một chỉ báo về mức độ thâm dụng vốn của quá trình sản xuất Tỷ số này khác nhau giữa các quốc gia biểu thị sự khác biệt
về công nghệ mà các quốc gia này sử dụng để sản xuất cùng loại hàng hóa Ví dụ như Quốc gia A sử dụng máy gặt để thu hoạch lúa thay vì sử dụng người lao động dùng các công cụ bằng tay để thu hoạch Đồng thời, ở các quốc gia sản xuất một tỷ trọng lớn các sản phẩm thâm dụng vốn (nghĩa là sản phẩm sản xuất ra đòi hỏi một lượng tương đối các máy móc sản xuất), tỷ số Vốn – Sản lượng (v) sẽ cao hơn ở quốc gia sản xuất nhiều sản phẩm thâm dụng lao động (hàng thủ công, nông sản cơ bản…) Ngoài ra, sự khác nhau về tỷ số Vốn – Lao động giữa các quốc gia còn có thể giải thích từ sự khác biệt trong hiệu quả sử dụng vốn Một số đo y lớn có thể
Trang 26xuất phát từ việc sản xuất kém hiệu quả và lượng vốn sản xuất không được tận dụng một cách hữu hiệu hết mức
Các nhà kinh tế học thường tính tỷ số vốn tăng thêm trên sản luợng (ICOR)
để xác định tác động đối với sản lượng của lượng vốn tăng thêm Tỷ số vốn tăng thêm trên sản lượng giúp ta đo lường năng suất của mỗi lượng vốn được tăng thêm, trong khi tỷ số vốn (bình quân) trên sản lượng thể hiện mối quan hệ trung bình giữa tổng trữ lượng vốn và tổng sản lượng của một quốc gia Trong mô hình Harrod Domar, vì tỷ số Vốn – Sản lượng được giả định là không đổi, nên tỷ số vốn bình quân trên sản lượng bằng tỷ số vốn tăng thêm trên sản lượng, vì thế ICOR = v
Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều biết rằng, lượng vốn cần thiết cho tăng trưởng sản lượng hay tăng trưởng kinh tế được hình thành từ những nguồn nhất định, mà cụ thể nhất trong lý thuyết của Harrod – Domar chính là Tiết kiệm Hai tác giả đã đưa ra phương trình biểu thị mối liên kết giữa tăng trưởng, tiết kiệm và năng suất vốn như sau:
Quan điểm của hai tác giả qua phương trình (2.3) trên là: vốn đầu tư là yếu tố cơ
bản tạo ra tăng trưởng kinh tế, và tiết kiệm giúp hình thành nguồn vốn để thực hiện đầu tư Hơn nữa, hai yếu tố then chốt cho quá trình tăng trưởng đó là: tiết kiệm (s)
và năng suất vốn (v), điều này hình thành nên một thông điệp khá rõ ràng: Tiết kiệm nhiều hơn và thực hiện đầu tư một cách có hiệu quả hơn, thì nền kinh tế sẽ tăng trưởng
Một trong những ưu điểm của mô hình Harrod – Domar đó là nó tập trung cốt lõi vào tiết kiệm, vốn là một yếu tố quan trọng trong hầu hết các mô hình kinh tế Như đã đề cập ở trên, tiết kiệm giúp hình thành nguồn vốn cơ bản cần thiết cho các hoạt động đầu tư, từ đó tạo ra tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, việc hai tác giả quá chú trọng vào vai trò của tiết kiệm cũng tạo ra một vài nhược điểm chính cho mô hình này Cho dù tiết kiệm là điều kiện cần để một quốc gia tăng trưởng, nó không nhất thiết phải là điều kiện đủ để quốc gia này
Trang 27tăng trưởng trong dài hạn Đầu tư được tài trợ bằng tiết kiệm phải thật sự được đền đáp bằng thu nhập cao hơn trong tương lai, và hiển nhiên rằng, không phải nền kinh
tế nào cũng đạt được kết quả đó Những quyết định đầu tư kém cỏi, sự lạc hậu của chính sách hay thậm chí những biến động không lường trước được của giá cả các nhân tố sản xuất cũng có thể thay đổi tác động của đầu tư đối với tăng trưởng Chính vì vậy, tăng trưởng bền vững phụ thuộc vào đầu tư mới cũng như tính hiệu quả của việc đầu tư Đầu tư mới này có thể đến từ các nguồn bên ngoài quốc gia, hay còn gọi là đầu tư nước ngoài, có thể dưới dạng trực tiếp (Foreign Direct Investment – FDI) hay gián tiếp (Foreign Indirect Investment – FII)
Chính vì vậy, để một quốc gia đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn Nguồn vốn đầu tư cần thiết cho nền kinh tế không những phụ thuộc vào tiết kiệm, mà còn từ đầu tư mới Đầu tư mới này có thể đến từ hai nguồn: đầu tư trong nước và đầu tư từ bên ngoài quốc gia, hay còn gọi là đầu tư nước ngoài Trong đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) ngày càng trở nên là một thành tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển Thông qua FDI, không những nhiều hàng hoá vốn mới được tạo ra (tăng tài sản vốn vật chất của nền kinh tế) mà chi phí
để sản xuất ra chúng còn giảm đi (do sự cải thiện trong năng suất nhờ công nghệ mới), qua đó tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế
2.2.2 Mô hình tăng trưởng Solow
Sau Harrod và Domar, vào năm 1956, nhà kinh tế học của học viện MIT (Hoa Kỳ) là Robert Solow giới thiệu một mô hình tăng trưởng kinh tế mới, gọi là mô hình Solow (còn gọi là mô hình Tân cổ điển hoặc mô hình ngoại sinh) Mô hình Solow ra đời là một bước tiến khá dài kể từ mô hình của Harrod – Domar Giải
pháp của Solow là bỏ hàm sản xuất có hệ số cố định và thay thế nó bằng hàm sản
xuất tân cổ điển cho phép có tính linh hoạt hơn và có sự thay thế giữa các yếu tố
sản xuất Trong mô hình Solow, các tỷ số Vốn – Sản lượng và Vốn – Lao động không còn cố định nữa mà thay đổi tuỳ theo nguồn vốn và lao động tương đối trong
Trang 28nền kinh tế và quá trình sản xuất Cũng như mô hình Harrod – Domar, mô hình Solow được triển khai để phân tích các nền kinh tế công nghiệp, nhưng đã được sử dụng rộng rãi để tìm hiểu tăng trưởng kinh tế tại tất cả các quốc gia trên thế giới, kể
cả các quốc gia đang phát triển Mô hình Solow đã và đang có ảnh hưởng vô cùng
to lớn và vẫn là trọng tâm của phần lớn các lý thuyết tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển
Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển của Solow đi đến bốn kết luận chính: i) tốc độ
tích lũy vốn tác động mức thu nhập dài hạn; ii) tốc độ tích lũy vốn không ảnh huởng
đến tốc độ tăng trưởng; iii) tốc độ tăng trưởng được quyết định bởi tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động và thay đổi công nghệ, cả hai đều là ngoại sinh hay nằm ngoài mô hình; và iv) với tỉ lệ tiết kiệm và thay đổi công nghệ như nhau, các quốc gia có hệ số vốn trên sản lượng thấp hơn (đang phát triển) sẽ tăng trưởng nhanh hơn các quốc gia có hệ số vốn trên sản lượng cao hơn (quốc gia giàu); v) do dó phải có
sự hội tụ mức thu nhập trên mỗi lao động
Mô hình Solow được hiểu một cách dễ dàng nhất thông qua việc trình bày tất cả các biến số chính theo giá trị trên một người lao động (Ví dụ: sản lượng trên lao động hay vốn trên lao động) Để làm được điều này, chúng ta chia hai vế của hàm
sản xuất giản đơn như trong phương trình (2.1) cho L, phương trình mới sẽ có dạng:
𝑌𝐿
Nếu ta gọi y là sản lượng trên lao động (y: mẫu tự thường, không viết hoa), và k
là vốn trên lao động (với k=K/L), từ phương trình (2.4), ta thu được phương trình
thứ nhất trong mô hình của Solow, trong đó hàm sản xuất có thể viết đơn giản là:
Mô hình Solow cũng giả định rằng, hàm sản xuất có đặc điểm: tỷ suất suất sinh lợi giảm dần theo vốn Nói một cách dễ hiểu, việc gia tăng lượng vốn đầu tư (hay còn gọi là tư bản) trên một người lao động sẽ dẫn đến gia tăng sản lượng Nhưng khi gia tăng quá nhiều lượng vốn này, mức gia tăng sản lượng tính trên từng đơn vị
Trang 29tư bản sẽ giảm dần (sản lượng biên giảm dần) Giả định trên có thể được biểu diễn bằng đồ thị sau, với trục hoành biểu thị vốn trên lao động (k), và trục tung biểu thị sản lượng trên lao động (y)
Hình 1: Hàm sản xuất trong mô hình tăng trưởng của Solow
Phương trình thứ nhất của Solow cho ta biết vốn trên lao động là yếu tố cơ bản
để tăng trưởng kinh tế Tiếp đến, phương trình thứ hai tập trung vào các yếu tố xác định sự thay đổi của vốn trên lao động Phương trình này cho thấy rằng việc tích lũy vốn phụ thuộc vào tiết kiệm, tỷ lệ tăng trưởng lực lượng lao động, và khấu hao:
Đây là một phương trình rất quan trọng trong lý thuyết của Solow Phương trình này phát biểu rằng sự thay đổi vốn trên lao động (∆𝑘) được xác định bởi ba yếu tố:
∆𝑘 có quan hệ đồng biến với tiết kiệm trên lao động (sy) Vì s là tỷ lê tiết
kiệm và y là thu nhập (hay sản lượng) trên mỗi lao động, số hạng sy sẽ bằng tiết kiệm trên lao động Khi tiết kiệm trên lao động tăng lên, đầu tư trên lao động cũng tăng và sản lượng trên lao động (k) gia tăng
∆𝑘 có quan hệ nghịch biến với tăng trưởng dân số Điều này được biểu thị bằng giá trị nk Mỗi năm, do tăng trưởng dân số và tăng trưởng lực lượng lao
động, nên ta có nL người lao động mới Nếu không có đầu tư mới, sự gia tăng lực lượng lao động cũng đồng nghĩa với vốn trên lao động (k) sẽ giảm
Khấu hao làm hao mòn trữ lượng vốn Mỗi năm, giá trị vốn trên lao động
giảm một lượng bằng –dk, đơn giản là do khấu hao (hao mòn vốn)
ky=f(k)
y
Trang 30Do đó, tiết kiệm (và đầu tư) giúp bổ sung thêm vốn trên lao động, trong khi tăng trưởng lực lượng lao động và khấu hao làm giảm vốn trên lao động Khi tiết kiệm trên đầu người (sy) lớn hơn giá trị lượng vốn đầu tư mới cần thiết để bù đắp cho sự tăng trưởng lực lượng lao động và khấu hao, thì sự thay đổi vốn trên lao động (∆𝑘)
sẽ là một số dương, điều này có nghĩa là vốn trên lao động (k) sẽ tăng lên
Quá trình mà qua đó nền kinh tế gia tăng giá trị vốn trên lao động (k), được gọi
là phát triển vốn theo chiều sâu Những nền kinh tế mà trong đó người lao động
được tiếp cận với nhiều máy móc, máy vi tính, xe tải… và các thiết bị khác thì sẽ có
cơ sở vốn sâu hơn những nền kinh tế ít máy móc, máy vi tính… và những nền kinh
tế này có thể sản xuất nhiều sản lượng trên lao động hơn Tuy nhiên, trong một số nền kinh tế, giá trị tiết kiệm chỉ vừa đủ để cung cấp giá trị vốn như cũ cho sự gia tăng của lực lượng lao động mới và khấu hao Sự gia tăng trữ lượng vốn mà chỉ đủ
để duy trì sự mở rộng lực lượng lao động và khấu hao đươc gọi là phát triển vốn
theo chiều rộng (“chiều rộng” ở đây liên quan đến sự mở rộng của tổng giá trị vốn
và quy mô lực lượng lao động)
Một quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao dễ dàng phát triển cơ sở vốn theo chiều sâu
và nhanh chóng gia tăng giá trị vốn trên lao động, qua đó mang lại nền tảng cho sự phát triển sản lượng (hay phát triển kinh tế) trong dài hạn Lấy ví dụ ở Singapore, nước có tỷ lệ tiết kiệm bình quân hơn 40% trong nhiều năm, chẳng khó khăn gì để cung ứng vốn cho lực lượng lao động tăng trưởng và bù đắp khấu hao, đồng thời vẫn còn dư lại nhiều để cung ứng thêm vốn cho những người lao động hiện tại Ngược lại, Kenya, với tỉ lệ tiết kiệm khoảng 15% (và thấp hơn trong những năm gần đây), gần như chẳng còn lại bao nhiêu tiết kiệm để phát triển vốn theo chiều sâu sau khi cung ứng máy móc cho người lao động mới và bù đắp khấu hao Vì thế, vốn trên lao động không tăng trưởng nhanh, mà sản lượng (thu nhập) trên lao động cũng chẳng tăng trưởng mau lẹ Một phần do sự khác biệt quá lớn về tỷ lệ tiết kiệm, sản lượng trên đầu người ở Singapore tăng bình quân 6,3% một năm từ năm 1960 đến
2002, trong khi tăng trưởng của Kenya bình quân khoảng 1% một năm
Trang 31Cho tới thời điểm này, mô hình Solow là một công cụ hữu hiệu để phân tích mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng dân số, sản lượng cũng như tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, một kết luận chưa thỏa đáng của mô hình cơ bản đó là, một khi nền kinh tế đạt được mức thu nhập tiềm năng dài hạn (hay còn gọi là trạng thái dừng), tăng trưởng kinh tế chỉ đơn thuần tương ứng với tăng trưởng dân số, chứ không phải sự gia tăng bền vững trong thu nhập bình quân Điều này trái ngược với thực tiễn rằng, từ những năm 20 của thế kỷ 19, nhiều quốc gia trên thế giới, cụ thể
là Anh, Pháp, Mỹ có thể duy trì mức thu nhập mức tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao trong một thời gian dài Câu trả lời cho sự kiện này chính là vai trò
của thay đổi công nghệ Và Solow cho rằng công nghệ là biến ngoại sinh trong mô
hình của mình (chính vì vậy mô hình Solow còn gọi là mô hình tăng trưởng ngoại sinh) Để đưa vào mô hình yếu tố về thay đổi công nghệ, ta sẽ điều chỉnh đôi chút
mô hình sản xuất ban đầu và thêm vào một biến số mới, T, biểu thị tiến bộ công nghệ, như sau:
Theo cách xác lập hàm số này, công nghệ được đưa vào mô hình sao cho nó trực tiếp làm cho yếu tố lao động được tốt hơn (hay có thể nói là hiệu quả hơn) Loại
tiến bộ công nghệ này được gọi là nâng cao lao động Nói một cách dễ hiểu, khi
công nghệ được cải tiến, một người lao động bây giờ có thể sản xuất được nhiều sản lượng hơn, qua đó làm gia tăng tính hiệu quả và năng suất lao động T có thể gia tăng nhờ những phát minh mới trong khoa học, các quy trình sản xuất hiện đại hơn,
và sự gia tăng của nguồn vốn nhân lực (human capital), như sự cải thiện về giáo
dục, kỹ năng của lực lượng lao động
Bằng việc thay thế hàm sản xuất có hệ số cố định bằng hàm sản xuất tân cổ điển,
mô hình của Robert Solow tuy phức tạp hơn mô hình của Harrod – Domar, nhưng đem lại tính linh hoạt hơn cho các yếu tố sản xuất trong quá trình sản xuất Cũng như Harrod – Domar, mô hình Solow nhấn mạnh vai trò của việc tích lũy yếu tố sản xuất và tiết kiệm (và đầu tư) Tuy nhiên, bên cạnh vốn và lao động là hai yếu tố sản
Trang 32xuất cơ bản làm gia tăng sản lượng của nền kinh tế Các nghiên cứu thực nghiệm bổ sung cho mô hình Solow các nhân tố khác, vốn cũng quan trọng không kém, đến sự tăng trưởng trong dài hạn
Các bằng chứng thực nghiệm thu được cho thấy rằng các nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh đều có chung một số đặc điểm: ổn định kinh tế vĩ mô và chính trị, hệ thống y tế và giáo dục tốt hơn, nền thể chế tốt hơn, các chính sách hỗ trợ và thúc đẩy giao thương cũng như đầu tư nước ngoài Ngoài ra, yếu tố công nghệ cũng đóng vai trò then chốt trong quá trình tăng trưởng Việc tiếp thu công nghệ mới thông qua phát minh trong nước hay nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài có thể kích thích sự bùng nổ trong tăng trưởng kinh tế Khi đó, đối với các nhà hoạch định chính sách, một câu hỏi chủ chốt đó là làm cách nào để tiếp thu công nghệ một cách tốt nhất Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, việc tiếp thu công nghệ mới từ một quốc gia khác (đặc biệt là các quốc gia phát triển) là điều khả dĩ và mang lại hiệu quả cao, và trong đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một kênh quan trọng đem lại sự chuyển giao công nghệ này đến các quốc gia đang phát triển thông qua hiệu ứng “lan tỏa công nghệ” (technology spillovers) mà chúng tôi sẽ đề cập ở các phần
sau
2.2.3 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Kể từ khi ra đời vào năm 1956, mô hình Solow đã đặt một nền móng vững chắc cho các lý thuyết kinh tế được phát triển sau này Các nhà kinh tế học đã triển khai những mô hình tinh xảo và phức tạp hơn, vượt lên những giả định về tỷ lệ tiết kiệm,
tỷ lệ tăng trưởng cung lao động, trình độ và kỹ năng lao động, và sự thay đổi công nghệ một cách ngoại sinh; mà trong đó, một hay nhiều biến này được xác định ngay trong mô hình (nghĩa là một hay nhiều biến này trở thành biến nội sinh của mô hình)
Các mô hình cải tiến này khác với mô hình Solow ở chỗ giả định rằng nền kinh
tế của một quốc gia phụ thuộc vào suất sinh lợi tăng dần theo quy mô Việc gia
tăng gấp đôi lượng vốn, lao động và các yếu tố sản xuất khác sẽ dẫn đến tăng hơn
Trang 33gấp đôi sản lượng Khi điều này xảy ra, tác động của đầu tư đối với vốn nhân lực và vật lực sẽ mạnh hơn so với thể hiện qua mô hình Solow
Vậy làm thế nào việc tăng gấp đôi vốn và lao động có thể dẫn đến sự gia tăng hơn gấp đổi sản lượng? Ta hãy xem xét việc đầu tư vào nghiên cứu hay giáo dục, chẳng những ảnh hưởng tích cực lên doanh nghiệp hay cá nhân thực hiện đầu tư, mà còn có tác động “lây lan” (spillovers) tích cực đối với những thành phần khác trong
nền kinh tế Ảnh hưởng có lợi lên các thành phần khác này được gọi là yếu tố ngoại
tác tích cực, sẽ dẫn đến tác động lớn hơn của việc đầu tư đối với toàn bộ nền kinh
tế Ví dụ: lợi ích từ việc triển khai hệ thống dây chuyền sản xuất mới của Henry Ford không những to lớn đối với tập đoàn Ford Motor, mà còn có lợi ích lớn hơn cho cả nền kinh tế nhờ sự lan tỏa của kiến thức về kỹ thuật mới này sang các doanh nghiệp sản xuất ô tô khác và các doanh nghiệp này được hưởng lợi từ hệ thống mới của Ford Motor
Một ý nghĩa quan trọng khác đến từ những nghiên cứu sau này đó là, những nền kinh tế có suất sinh lợi tăng dần theo quy mô không nhất thiết sẽ đạt đến mức thu nhập ở trạng thái dừng (hay còn gọi là trạng thái ổn định) như trong mô hình Solow Khi các yếu tố ngoại tác nhờ đầu tư mới có tác động lớn, sinh lợi theo vốn sẽ không giảm dần, vì thế tăng trưởng sẽ không bị chậm lại, và nền kinh tế sẽ tiếp tục phát triển trong dài hạn chứ không dừng ở trạng thái ổn định Do đó, các mô hình này có thể giải thích cho sự kiện quan sát được là tăng trưởng bình quân trên đầu người vẫn tiếp tục xảy ra tại các quốc gia không dựa vào thay đổi công nghệ ngoại sinh
Chính bởi vì tăng trưởng có thể kéo dài mãi mãi trong các mô hình này mà không dựa vào giả định thay đổi công nghệ ngoại sinh, nên chúng thường đươc gọi
là mô hình tăng trưởng nội sinh
Đối với các quốc gia đang phát triển, các mô hình mới này củng cố một số thông điệp chính của hai mô hình Harrod – Domar và mô hình Solow Cũng như những
mô hình trước, các mô hình này cho thấy tầm quan trọng của sự tích lũy yếu tố sản xuất và gia tăng năng suất trong quá trình tăng trưởng Thật vậy, lợi ích tiềm tàng
Trang 34của hai nguồn tăng trưởng này thậm chí còn lớn hơn do các yếu tố ngoại tác tiềm năng Vì thế, giữa các mô hình này vẫn có những thông điệp chính, nhất quán với nhau về tiết kiệm, đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển, tăng cường tiếp thu công nghệ Bên cạnh đó, các hàm ý về mặt chính sách là rất quan trọng đối với các quốc gia, đặc biệt là quốc gia đang phát triển, trong việc thu hút lượng vốn đầu tư mới, cụ thể hơn là đầu tư nước ngoài, nhằm hình thành nguồn vốn tích lũy cần thiết cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
Bằng các nghiên cứu thực nghiệm, các nhà kinh tế học sau này đã tìm ra được một mối quan hệ nội sinh giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI), một mặt vừa tác động trực tiếp làm tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, mặt khác lượng vốn FDI cũng bị ảnh hưởng bởi sự phát triển kinh tế của quốc gia đó Đồng thời, vai trò của các nhân
tố địa phương đặc trưng cho từng quốc gia cũng được xem xét và kết luận rằng có ảnh hưởng tích cực và đáng kể lên mối quan hệ tăng trưởng kinh tế - vốn FDI
Trang 352.3 Các nhân tố ảnh hưởng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư
Như đã trình bày ở phần trên, các nghiên cứu về vai trò của FDI lên tăng trưởng
sử dụng các tiếp cận vĩ mô thường cho kết quả không nhất quán Để giải quyết vấn
đề này, các nhà nghiên cứu đã đưa vào mô hình các nhân tố hấp thụ (hay còn gọi là nhân tố địa phương)
2.3.1 Giáo dục
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã nhấn mạnh vai trò của vốn con người (human capital) lên tăng trưởng kinh tế Vì vậy mà nhân tố giáo dục luôn được xem xét đến trong các nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, ở cả góc độ vi mô lẫn vĩ mô
Đối với các nghiên cứu từ góc độ vi mô, vấn đề được quan tâm là liệu nhân tố giáo dục có thúc đẩy hiệu ứng lan truyền (spillovers) xảy ra hay không Để tìm ra bằng chứng thực nghiệm cho câu hỏi nghiên cứu này, các tác giả thực hiện hồi quy
mô hình với biến phụ thuộc là một chỉ tiêu đại diện cho năng suất của các doanh nghiệp được chọn đại diện cho một quốc gia/ ngành, trong khi biến độc lập bao gồm các thành phần sau: Thứ nhất, một chỉ tiêu đại diện cho giáo dục, thứ hai một chỉ tiêu đo lường mức độ thâm nhập của FDI vào những doanh nghiệp tại quốc gia/ngành đang nghiên cứu (chẳng hạn như tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài), thứ ba, nhân tử tương tác (interaction term) giữa hai thành phần này và thứ
tư là tập hợp các nhân tố khác đặc trưng cho ngành/quốc gia (2Nghiên cứu của Blomstrom, Globerman, và Kokko (2001) là một đại diện tiêu biểu cho hướng tiếp cận này) Kết quả thu được từ các tác giả này cho thấy nhân tố giáo dục thật sự có vai trò thúc đẩy tăng trưởng thông qua cơ chế lan tỏa của FDI – điều này đã được kiểm chứng bởi những nghiên cứu khác có cùng cách tiếp cận sau này Tuy nhiên cần phải nói rõ rằng, các nghiên cứu theo cách tiếp cận vi mô này chỉ chứng minh được rằng hiệu ứng lan tỏa và vai trò của giáo dục với hiệu ứng này tồn tại ở một số ngành cụ thể, tại một số quốc gia cụ thể chứ không cho ta bằng chứng thực nghiệm
để có thể đi đến kết luận tổng quát rằng FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sở dĩ như
Trang 36vậy là bởi vì các nhân tố đặc trưng cho ngành/quốc gia (nhóm nhân tố thứ tư mà chúng tôi vừa đề cập ở trên) có vai trò rất quan trọng đến nỗi nếu loại bỏ chúng ra thì mô hình trở nên không vững
Khác với các nghiên cứu ở góc độ vi mô, những nghiên cứu với cách tiếp cận vĩ
mô sử dụng mô hình với biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng kinh tế và biến độc lập sẽ gồm một đại diện cho nhân tố giáo dục (tỷ lệ biết chữ, số năm đi học trung bình…) và tập hợp các biến khác mà chúng tôi sẽ đề cập sau, các tác giả còn đưa vào nhân tử tương tác (interaction term) giữa FDI và biến đại diện cho giáo dục để kiểm chứng giả thiết rằng trình độ của lực lượng lao động ảnh hưởng đến khả năng thụ hưởng lợi ích từ FDI Nhiều nghiên cứu, trong đó có Carkovic & Levine (2005)
và Blomstrom & Wolf (1994) là hai nghiên cứu tiêu biểu, đã không tìm thấy bằng chứng nào chứng minh cho vai trò của giáo dục Giải thích cho sự mâu thuẫn giữa thực nghiệm và lý thuyết này, Miao Wang (2011) lập luận rằng biến đại diện cho nhân tố giáo dục được chọn bởi các nghiên cứu trước đó không thể hiện được sự khác biệt về chất lượng giáo dục giữa các quốc gia Cụ thể, hàm lượng tri thức tích lũy được trong một năm đào tạo tại quốc gia này rõ ràng sẽ không bằng với một năm đào tạo tại quốc gia khác
2.3.2 Mức độ hội nhập tài chính
Nhận định cho rằng hội nhập tài chính có thể thúc đẩy tăng trưởng xuất phát từ một thực tế là từ những năm 1970, một nhóm các quốc gia đang phát triển (trong đó bao gồm Trung Quốc và Ấn Độ) đã đạt được thành quả tăng trưởng vượt trội so với các quốc gia đang phát triển khác, thậm chí vượt qua một số nước công nghiệp Khi
ta loại Trung Quốc và Ấn Độ thì số liệu cho thấy thành quả mà nhóm này đạt được
bị giảm sút, nhưng vẫn nhiều hơn đáng kể so với các nước đang phát triển khác Tuy nhiên các nghiên cứu thực nghiệm không tìm được bằng chứng nhất quán
về vai trò của hội nhập tài chính đối với thành quả tăng trưởng của nhóm này Khởi đầu là một số nghiên cứu đã tìm được mối tương quan dương giữa các thước đo độ
mở tài chính với tăng trưởng – tuy nhiên ý nghĩa thống kê lại không mạnh Điểm
Trang 37đáng chú ý là khi đưa vào mô hình các nhân tố khác thì mối tương quan này không còn ý nghĩa thống kê nữa
Một số nghiên cứu đã có cách tiếp cận khác, thay vì phân tích cả nhóm thì đi vào phân tích quá trình tăng trưởng của từng quốc gia Prasad, Rogoff, Wei, và Kose (2003) phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa tăng trưởng và độ mở tài chính tại những quốc gia tăng trưởng chậm nhất và những quốc gia tăng trưởng nhanh nhất trong thời kỳ 1980 – 2000 Họ kết luận rằng hội nhập tài chính không nhất thiết là điều kiện để tạo ra tăng trưởng Ấn Độ và Trung Quốc tăng trưởng nhanh là nhờ nới lỏng tài khoản vốn một cách có chọn lọc và giới hạn Mauritius và Botswana vẫn tăng trưởng nhanh dù tương đối khép kín trước dòng vốn FDI Thêm nữa, chỉ có hội nhập tài chính cũng không đủ để tạo ra tăng trưởng cao Chẳng hạn như Peru và Jordan, dù có độ mở tài chính cao nhưng nền kinh tễ vẫn trì trệ
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện với mục đích tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng và hội nhập tài chính nhưng đều không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm hoặc bằng chứng tìm được không vững Các kết quả không đủ để đưa ra kết
luận về vai trò của hội nhập tài chính là do thứ nhất, việc lựa chọn thước đo mức
độ hội nhập tài chính thường không thể hiện được mức độ hội nhập thực sự Edison, Klein, Ricci, và Sløk (2004) chỉ ra rằng các nghiên cứu sử dụng thước đo tốt (thể hiện được nhiều thông tin hơn) thì có xu hướng thu được bằng chứng cho một mối
quan hệ cùng chiều hơn là những nghiên cứu khác Thứ hai, các nghiên cứu đã
được thực hiện đến nay sử dụng mẫu có thành phần rất khác nhau Một số tập trung vào những nước phát triển Số khác chọn các quốc gia đang phát triển hoặc các quốc gia có thị trường tài chính mới nổi Số còn lại sử dụng cả ba Chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt lớn giữa các kết quả thu được Quinn (1997) tìm ra rằng nới lỏng tài khoản vốn sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng tại tất cả các nước Edwards (2001)
và Edison, Klein, Ricci, và Sløk (2004) lại cho thấy rằng hiệu ứng này rất hạn chế tại các quốc gia kém phát triển Mặt khác, Arteta, Eichengreen, và Wyplosz (2003) trong một nghiên cứu tương tự lại không tìm thấy bằng chứng ủng hộ cho phát hiện
của Edwards (2001) và Edison, Klein, Ricci, và Sløk (2004) Thứ ba là việc lựa
Trang 38chọn thời kỳ để nghiên cứu Một số chọn thời kỳ bắt đầu từ năm 1950 (Alesina, Grilli, và Milesi- Ferretti, 1994) trong khi số khác giới hạn trong thời kỳ từ những năm 1980 trở đi
Vì các lí do được trình bày trên mà vai trò của hội nhập tài chính với tăng trưởng và tác động của nó lên mối quan hệ FDI – tăng trưởng vẫn còn là câu hỏi còn bỏ ngỏ Nhưng dù thế nào, mức độ hội nhập tài chính vẫn là một nhân tố mà mọi nghiên cứu về đề tài này cần để tâm đến trong quá trình thực hiện
2.3.3 Trình độ phát triển của thị trường tài chính
Ở một khía cạnh khác, một vài tác giả thì cho rằng một thị trường tài chính phát triển là điều kiện tiên quyết để FDI có thể thúc đẩy tăng trưởng Lập luận này cho rằng: FDI chỉ có thể thúc đẩy tăng trưởng khi thị trường tài chính ở quốc gia nhận đầu tư phát triển một cách đầy đủ và có khả năng giúp chu chuyển dòng vốn đến các hoạt động đầu tư sản xuất có hiệu quả Hơn nữa, hiệu ứng lan tỏa về kiến thức (knowledge spillovers) chỉ xảy ra khi các doanh nghiệp trong nước có khả năng đầu
tư vào việc tiếp thu công nghệ nước ngoài, và điều này có thể bị hạn chế khi thị trường tài chính trong nước kém phát triển (xem nghiên cứu của Adams, 2009; Alfaro, Chanda, Kalemli-Ozcan, & Sayek, 2009; Hermes & Lensink, 2003) Cơ chế
cụ thể của hai lập luận trên như sau:
Đầu tiên, ta biết rằng hệ thống tài chính có vai trò phân bổ nguồn lực tài chính một cách hiệu quả vào các dự án đầu tư Vì vậy mà một hệ thống tài chính phát triển có thể đóng góp vào tăng trưởng kinh tế qua hai kênh chính như sau Một mặt, giúp thúc đẩy tiết kiệm, đồng nghĩa với việc tăng nguồn lực phân bổ cho các khoản đầu tư Mặt khác, một hệ thống tài chính tốt sẽ giúp việc theo dõi, phân bổ nguồn lực vào các dự án hiệu quả hơn bằng cách làm giảm chi phí thu thập thông tin Thứ hai, các khoản đầu tư liên quan đến nâng cấp hoặc sử dụng công nghệ mới thường rủi ro hơn các dự án khác Hệ thống tài chính nói chung và một số định chế tài chính nói riêng, có thể làm giảm rủi ro này, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp nội địa tiến hành nâng cấp, đầu tư vào công nghệ mới Như vậy các định chế tài chính có
Trang 39tác động tích cực đến tốc độ cải tiến công nghệ và thúc đẩy tăng trưởng Hiệu ứng lan tỏa của FDI hiển nhiên không nằm ngoài phạm vi của cơ chế này
Cuối cùng, mức độ phát triển của thị trường tài chính phần nào ảnh hưởng đến khả năng các doanh nghiệp FDI vay mượn để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng công nghệ tại quốc gia nhận đầu tư
2.3.4 Độ mở thương mại
Độ mở thương mại cũng có thể là điều kiện để FDI tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế (xem nghiên cứu của Alguacil, Cuadros, & Orts, 2002; Balasubramanyam, Salisu, & Sapsford, 1999; Cuadros, Orts, & Alguacil, 2004) Trong các nghiên cứu thực nghiệm, giá trị xuất khẩu thường được dùng làm chỉ báo cho độ mở về thương mại Theo lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh – vốn nhấn mạnh rằng xuất khẩu có thể thúc đẩy tăng trưởng dài hạn bằng cách đẩy nhanh tốc độ cải tiến công nghệ vì khu vực xuất khẩu có thể tạo ra tác động ngoại vi lên các khu vực phi xuất khẩu thông qua những phương thức quản lý và kỹ thuật sản xuất mới, tăng xuất khẩu có thể làm tăng năng suất thông qua tính kinh tế theo quy mô và xuất khẩu làm giảm các rào cản ngoại hối và tăng khả năng tiếp cận thị trường quốc tế
2.3.5 Chất lượng cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng được định nghĩa bao gồm giao thông vận tải, viễn thông, điện nước, trường học, y tế và vệ sinh môi trường, năng lượng và khí đốt, và các công trình khác, và có thể đo lường bằng nhiều chỉ số khác nhau Khi đầu tư vào một quốc gia có cơ sở hạ tầng và hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến, hệ thống ngân hàng hoàn thiện thì công ty đó có thể giảm được các chi phí đầu tư, giảm được thời gian thực hiện dự án, giảm chi phí các khâu trung chuyển Chất lượng cơ sở hạ tầng địa phương, đặc biệt là truyền thông và giao thông vận tải cũng là nhân tố bổ sung
có liên quan (xem nghiên cứu của Easterly, 2001; Li & Liu, 2004) Đã có những bằng chứng đáng kể cho rằng cơ sở hạ tầng và một nhân tố cốt lõi cho hoạt động kinh tế và là tầm quan trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài (nghiên cứu của Loree và Guisingerr (1995); Wheeler & Moody (1992); Kumar (1994); hoặc Moody
Trang 40và Srinivasan 1996) Kinoshita và Lu (2006) cho rằng tác động lan toả công nghệ thông qua FDI hiệu quả hơn khi nước sở tại trang bị đầy đủ về cơ sở hạ tầng Vì nó cải thiện môi trường đầu tư trong nước bằng cách hạ thấp chi phí đầu tư và nâng cao lợi nhuận
Về lý thuyết, cơ sở hạ tầng có thể tác động đến tổng sản lượng thông qua hai cách: thứ nhất, một cách trực tiếp, bởi vì các dịch vụ cơ sở hạ tầng đi vào sản xuất như một nhân tố đầu vào bổ sung, và thứ hai, bởi vì các dịch vụ cơ sở hạ tầng này làm gia tăng tổng năng suất bằng việc giảm chi phí giao dịch cũng như các chi phí khác, từ đó làm cho việc sử dụng các nhân tố đầu vào thông thường hiệu quả hơn
Cơ sở hạ tầng được thiết kế tốt cũng tạo điều kiện cho hiệu quả kinh tế theo quy
mô, giảm chi phí trong thương mại trao đổi hàng hóa, và do đó là một nhân tố cốt lõi cho sự chuyên môn hóa, cũng như tính hiệu quả trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Đây là một yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, vốn là chìa khóa cho sự gia tăng chất lượng cuộc sống
2.3.6 Quá trình đô thị hóa
Phát triển kinh tế liên quan đến sự biến đổi của một quốc gia từ một nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế dựa trên công nghiệp - dịch vụ Việc sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ trở nên hiệu quả hơn khi tập trung ở các khu công nghiệp ở các thành phố lớn, điều này thúc đẩy sự lan tỏa thông tin giữa các nhà sản xuất, đem lại một thị trường lao động hiệu quả hơn, tiết kiệm chi phí vận chuyển nguyên vật liệu
và trao đổi hàng hóa giữa các nhà sản xuất, đồng thời giảm chi phí bán hàng đến người sử dụng
Một mặt, các đặc trưng của đô thị hóa, tăng trưởng dân số trong các đô thị lớn thúc đẩy tăng trưởng tiêu dùng, mặt khác cũng mang lại những vấn đề về thất nghiệp lao động Do sự dịch chuyển trong cơ cấu dân số từ nông thôn sang thành thị, cũng như nhu cầu hằng ngày của người dân như: thức ăn, quần áo và nhu cầu di chuyển, tỷ lệ tiêu dùng trong nền kinh tế tăng nhanh hơn trước, và điều này góp phần làm tăng trưởng kinh tế