DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Phân loại hình thức hoạt động của kinh tế ngầm Bảng 3.1: Mô tả các biến và kỳ vọng dấu Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa c
Trang 1LƯƠNG THỊ THÚY HƯỜNG
ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ NGẦM ĐẾN NỢ CÔNG
VÀ LÃI SUẤT VAY NỢ CỦA CHÍNH PHỦ
TẠI CÁC QUỐC GIA CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
LƯƠNG THỊ THÚY HƯỜNG
ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ NGẦM ĐẾN NỢ CÔNG
VÀ LÃI SUẤT VAY NỢ CỦA CHÍNH PHỦ
TẠI CÁC QUỐC GIA CHÂU Á
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS BÙI THỊ MAI HOÀI
TP HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công và lãi
suất vay nợ của chính phủ tại các quốc gia Châu Á” là công trình nghiên cứu độc
lập của riêng tôi Các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Kết quả của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
TP Hồ Chí Minh tháng 10 năm 2017
Học viên
LƯƠNG THỊ THÚY HƯỜNG
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 4
1.6 Nội dung nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ 5
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6
2.1 Khung lý thuyết 6
2.2 Ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến quy mô nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ……… 10
2.3 Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến quy mô nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ 21
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Mô hình nghiên cứu 266
3.2 Mẫu nghiên cứu, dữ liệu và kỳ vọng dấu 266
3.3 Phương pháp nghiên cứu 31
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ PHÂN TÍCH CÁC KẾT QUẢ 35
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 35
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CC Control of Corruption: Kiểm soát tham nhũng
FEM Fix Effect Model: Mô hình tác động cố định
GDP Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội
GE Goverment Effectively: Hiệu quả của chính phủ
GMM General Method of Moments: Kĩ thuật hồi quy Mômen tổng quát
IF Inflation: Lạm phát
IMF International Moneytaty Fund: Qũy tiền tệ quốc tế
IR Interest Rate: Lãi suất vay nợ của chính phủ
OLS Ordinary least squares: Phương pháp bình phương nhỏ nhất
PD Public Debt: Nợ công
PS Political Statement: Ổn định chính trị
REM Random Effect Model: Mô hình tác động ngẫu nhiên
RL Rule of Law: Quy định của pháp luật
SE Shadow Economy: Nền kinh tế ngầm
WB World Bank: Ngân hàng Thế giới
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại hình thức hoạt động của kinh tế ngầm
Bảng 3.1: Mô tả các biến và kỳ vọng dấu
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả kiểm định nghiệm đơn vị Unit Root Test Bảng 4.4: Tác động của nền kinh tế ngầm đến nợ công
Bảng 4.5: Tác động của nền kinh tế ngầm đến lãi suất vay nợ của chính phủ Bảng 4.6: Kết quả kiểm định Hausman Test
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định Wald
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định Wooldridge
Bảng 4.9: Kết quả kiểm tra tính nội sinh của các biến trong mô hình
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy sử dụng phương pháp GMM
Trang 7TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Luận văn tiến hành nghiên cứu thực nghiệm nhằm phân tích ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công và lãi suất vay nợ chính phủ của 39 quốc gia khu vực Châu Á thời kỳ 2002-2013 Phương pháp bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS),
mô hình tác động cố định (Fixed Effect), mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effect) để đo lường ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ Phương pháp GMM được thực hiện để khắc phục các hạn chế của
mô hình Kết quả nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng cho thấy sự mở rộng quy mô của nền kinh tế ngầm dẫn đến gia tăng nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ Kết quả của bài nghiên cứu này tương tự kết quả của các nghiên cứu trước đây trên thế giới
Từ khóa: Nền kinh tế ngầm, nợ công, lãi suất vay nợ của chính phủ, các quốc gia châu Á
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU1.1 Lý do chọn đề tài
Nợ công là nguồn tài trợ quan trọng và không thể thiếu trong ngân sách mỗi quốc gia để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu và sử dụng vào các mục đích khác nhau của chính phủ Tuy nhiên nợ công cũng là con dao hai lưỡi, nếu quốc gia sử dụng
nợ công không hợp lý, không hiệu quả sẽ dẫn đến khủng hoảng nợ công và để lại những hậu quả nghiêm trọng Cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu bắt nguồn từ Hy Lạp năm 2010 là minh chứng cho thấy ngay cả các quốc gia trong liên minh đồng Euro hùng mạnh cũng bị cuộc khủng hoảng nợ công đánh sập Chính vì vậy, nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ công đã và đang là chủ đề thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà kinh tế, nhà hoạch định chính sách trên thế giới Tài liệu hiện có cho thấy các nhà nghiên cứu thường tập trung chủ yếu vào hai nhóm yếu tố tác động riêng biệt là yếu tố thể chế và yếu tố kinh tế vĩ mô Gần đây, với tình hình diễn biến khá phức tạp của nền kinh tế - xã hội, các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến các yếu tố mang tính tổng quát có ảnh hưởng đến nợ công, tiêu biểu là quy
mô nền kinh tế ngầm Kết quả từ các bài nghiên cứu cho thấy sự có mặt của nền kinh tế ngầm không những giảm số thu thuế, gây ra hạn hẹp tài chính của chính phủ, gia tăng nợ công mà còn làm gia tăng lãi suất vay nợ của chính phủ, ảnh hưởng đến mức độ ổn định tài chính và gia tăng nguy cơ vỡ nợ của một quốc gia Tuy nhiên với đặc thù là chủ đề khá mới nên các nghiên cứu thường chỉ tập trung vào một quốc gia cụ thể hoặc sử dụng mẫu nghiên cứu đại trà, các quốc gia được lựa chọn không đồng nhất, không có sự phân biệt phân biệt các quốc gia theo khu vực địa lý, các quốc gia đang chuyển đổi hay các quốc gia mới nổi… Điều này ảnh hưởng đến ý nghĩa thực tiễn khi dùng kết quả nghiên cứu làm cơ sở để đưa ra các hàm ý chính sách Những lý do nêu trên đã thôi thúc tác giả thực hiện bài nghiên
cứu “Ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ tại các quốc gia khu vực Châu Á”
Trang 91.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này tìm hiểu về ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công
và lãi suất vay nợ của chính phủ tại các quốc gia khu vực Châu Á
Kết quả bài nghiên cứu kỳ vọng góp phần cung cấp thêm các bằng chứng khoa học định lượng để các nhà làm chính sách có cái nhìn khách quan hơn về vấn
đề nền kinh tế ngầm, nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ nhằm đưa ra các chính sách vĩ mô phù hợp hơn
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả chú trọng giải quyết 2 câu hỏi
1.4 Phạm vi thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
lãi suất vay nợ của chính phủ tại các quốc gia khu vực Châu Á trong khoảng thời gian 2002-2013 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập ở 39 quốc gia bao gồm: Armenia, Azerbaijan, Bahrai, Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Trung Quốc, Cyprus, Georgia, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Israel, Nhật Bản, Jordan, Kazakhstan, Kuwait, Kyrgyzstan, Lào, Lebanon, Malaysia, Maldives, Mongolia, Nepal, Oman, Pakistan, Philippines, Qatar, Russia, Saudi Arabia, Singapore, Hàn Quốc, Sri Lanka, Tajikistan, Thái Lan, Đông Timor, Turkey, Việt Nam và Yemen
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp định lượng
Mô hình thực nghiệm xây dựng như sau:
𝑷𝑫𝒊𝒕 = 𝜷𝟎+ 𝜷𝟏𝑺𝑬𝒊,𝒕+ ∑ 𝜷𝒌𝑿𝒊,𝒕+ 𝝐𝒊,𝒕 (1.1)
𝑰𝑹𝒊𝒕 = 𝜷𝟎+ 𝜷𝟏𝑺𝑬𝒊,𝒕 + ∑ 𝜷𝒌𝑿𝒊,𝒕+ 𝝐𝒊,𝒕 (1.2)
Trang 10Trong đó 𝑷𝑫𝒊𝒕 là tỷ lệ nợ công/GDP ở nước i trong giai đoạn t, 𝑰𝑹𝒊𝒕 là lãi suất vay nợ của chính phủ nước i trong giai đoạn t 𝑺𝑬𝒊,𝒕 là quy mô nền kinh tế ngầm của nước i trong giai đoạn t, 𝑿𝒊𝒕 là một vector bao gồm tất cả các biến kiểm soát 𝝐𝒊,𝒕 là một sai số ngẫu nhiên để đo lường ảnh hưởng của biến bị bỏ sót
Bài nghiên cứu với biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ công/GDP và lãi suất vay nợ của chính phủ, biến độc lập chính mà bài nghiên cứu quan tâm là quy mô nền kinh
tế ngầm
Các biến kiểm soát được đưa vào mô hình bao gồm: tỷ lệ lạm phát, kiểm soát tham nhũng, độ ổn định chính trị, hiệu quả của chính phủ, hiệu quả của quy định pháp luật Các yếu tố này được xây dựng dựa trên nền tảng các lý thuyết nghiên cứu
và bằng chứng thực nghiệm trước đây
Các phương pháp đo lường bao gồm phương pháp bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS), sử dụng mô hình tác động cố định (Fixed Effect), mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effect) để đo lường ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ Phương pháp GMM được thực hiện để khắc phục các hạn chế của mô hình
Dữ liệu về nợ công, lãi suất vay nợ của chính phủ và dữ liệu biến kiểm soát
được thu thập từ Worldbank và bộ dữ liệu chỉ số quản trị toàn cầu“World
governance indicators project” cập nhật đến năm 2016 của Kaufmann và Kraay
Quy mô nền kinh tế ngầm sử dụng bộ dữ liệu bài nghiên cứu “Size and
development of the shadow economies of 157 Wordwide Countries: Updated and New Measures from 1999 to 2013” của Hassan Mai và Schneider Friedrich năm
Trang 11khu vực Châu Á Đặc biệt hơn, điểm mới của bài nghiên cứu tiên phong trong việc xem xét mối quan hệ này trong bối cảnh tác động của nền kinh tế ngầm tại các quốc gia khu vực Châu Á trong đó có Việt Nam Kết quả nghiên cứu kỳ vọng chỉ ra sự
mở rộng quy mô của nền kinh tế ngầm dẫn đến việc gia tăng nợ công, mức lãi suất vay nợ cao hơn Kết hợp kết quả bài nghiên cứu này với các giả thuyết được xây dựng trước đây, bài nghiên cứu còn có ý nghĩa mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà khoa học tìm hiểu sâu hơn về chủ đề này
Kết quả nghiên cứu này nâng cao nhận thức của các nhà làm chính sách về hai vấn đề mang tính thời sự là nền kinh tế ngầm và nợ công, góp phần làm nền tảng trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như trong công cuộc cải cách nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia khu vực Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng
1.6 Nội dung nghiên cứu
Bài nghiên cứu được chia làm 5 chương chính
Chương 1: Giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây tại các nước trên thế giới về ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công và lãi suất vay nợ
Chương 3: Dữ liệu, mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Nội dung và phân tích các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Chương 5: Kết luận, giải pháp, hạn chế và hướng phát triển của đề tài
Trang 12CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Khung lý thuyết
2.1.1 Nợ công
Hiện nay nợ công vẫn chưa có khái niệm thống nhất do tồn tại nhiều quan niệm khác nhau Phổ biến nhất, nợ công được xác định bao gồm nợ của khu vực chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh Tại Bungari, Rumani, Việt Nam, nợ của khu vực chính quyền địa phương cũng được tính vào nợ công Ở Thái Lan, nợ công còn bao gồm thêm nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận
Theo Luật Quản lý nợ công của Việt Nam năm 2009 quy định: Nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác
do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật
Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB) năm 2002 thì nợ công bao gồm những khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh Nếu chúng ta xem nợ của Chính phủ bao gồm nợ của Chính phủ Trung ương và nợ của chính quyền địa phương thì định nghĩa được đưa ra trong Luật quản lý nợ công của Việt Nam giống với định nghĩa của WB
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) năm 2010 định nghĩa nợ công là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công Trong đó nêu rõ khu vực công bao gồm khu vực Chính phủ và khu vực các tổ chức công Khu vực chính phủ bao gồm Chính phủ Trung ương, Chính quyền liên bang và Chính quyền địa phương Khu vực các tổ chức công bao
Trang 13gồm các tổ chức công tài chính (Ngân hàng Trung ương, các tổ chức nhà nước nhận tiền gửi và các tổ chức tài chính công khác)
Như vậy, theo định nghĩa của IMF, nợ chính phủ là nợ ở các cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương và khu vực các tổ chức công bao gồm các tổ chức công tài chính và các tổ chức công phi tài chính Tổ chức công tài chính là các
tổ chức nhận hỗ trợ từ Chính phủ và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, thực hiện các dịch vụ nhận tiền gửi và trả lãi thuộc khu vực công, cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, bảo hiểm hay quỹ lương hưu Tổ chức công phi tài chính bao gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước như điện lực, viễn thông, bệnh viện công và các trường đại học công lập
So với Luật quản lý nợ công của Việt Nam và Ngân hàng Thế giới, định nghĩa của IMF đầy đủ và chi tiết hơn Tuy có sự khác biệt giữa các cách định nghĩa này, nhưng nhìn chung các khoản nợ của khu vực các tổ chức công là các khoản nợ được chính phủ bảo lãnh trong trường hợp các tổ chức này vỡ nợ
Nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt ngân sách chính phủ và qui
mô nợ công thường bằng với qui mô thâm hụt ngân sách tích tụ qua các năm Nguyên nhân dẫn dến nợ công là do mất cân đối chi tiêu, chi nhiều hơn thu nên phải vay nợ để bù đắp chênh lệch thu chi Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, để bù đắp thâm hụt ngân sách, chính phủ thường không chọn chính sách phát hành tiền vì có nguy
cơ xảy ra lạm phát mà ưu tiên chính sách vay nợ trong và ngoài nước
Như vậy, để có ngân sách thanh toán các khoản vay và lãi khi đến hạn, chính phủ thường cân nhắc đến việc tăng thuế Xét cho cùng nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế hệ phải trả thuế cao) cho thế
hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế)
Đứng trên quan điểm nợ công là sự tăng thuế trong tương lai, tồn tại hai quan điểm cơ bản:
Trang 14Keynes đại diện quan điểm truyền thống về nợ công cho rằng việc vay nợ của chính phủ để phục vụ nhu cầu chi tiêu trong ngắn hạn vẫn khuyến khích thế hệ hiện tại tiêu dùng, giảm tỷ lệ thất nghiệp Tuy nhiên, vay nợ để lại gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai, về lâu dài sẽ giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích luỹ vốn
Trái ngược với quan điểm trên, theo quan điểm kinh tế học vĩ mô cổ điển (hình thành từ thập niên 1970), đứng đầu là Ricardo-Barro cho rằng việc dùng vay
nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách trong ngắn hạn không kích thích chi tiêu, vì tăng vay nợ chỉ làm dịch chuyển nghĩa vụ thuế từ hiện tại sang tương lai chứ không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân Việc cắt giảm thuế và vay nợ sẽ không gây ra những tác động thực sự đối với nền kinh tế
2.1.2 Nền kinh tế ngầm
Nền kinh tế ngầm luôn tồn tại song song với nền kinh tế chính thức, nó là một hiện tượng xảy ra ở hầu hết các thị trường trên thế giới Đối với các quốc gia phát triển thì khái niệm nền kinh tế ngầm đã khá quen thuộc nhưng nó lại là một hiện tượng được quan tâm gần đây ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường như Việt Nam
Theo Edgar L Feige (1986, 1989) khẳng định nền kinh tế ngầm bao gồm tất
cả các hoạt động kinh tế được tính toán (hoặc quan sát) chính thức vào tổng sản phẩm quốc gia (GNP) nhưng không được đăng ký Khác với Edgar L Feige, Smith (1994) khẳng định nền kinh tế ngầm không được đo lường chính thức và tính toán trong giá trị GDP quốc gia Nền kinh tế ngầm bao gồm toàn bộ các hoạt động xảy ra trên thị trường hàng hóa và dịch vụ, bất kể hợp pháp hay không
Tương tự định nghĩa của Smith (1994), Feige (1989), Dell’Anno và Schneider (2004) xem nền kinh tế ngầm là các hoạt động kinh tế và những khoản thu nhập tránh sự điều tiết của chính phủ và hệ thống thuế
Các hình thức hoạt động của nền kinh tế ngầm được thể hiện tại bảng 2.1
Trang 15Bảng 2.1: Phân loại hình thức hoạt động của kinh tế ngầm Hoạt động phi pháp Giao dịch bằng tiền Giao dịch không bằng tiền
Mua bán hàng hóa bị cướp, mua bán và sản xuất
ma túy, mại dâm, cờ bạc, buôn lậu và gian lận
+ Trao đổi: ma túy, hàng hóa bị cướp, buôn lậu
+ Trồng trọt hay sản xuất ma túy để sử dụng cá nhân
+ Trộm cắp để sử dụng cá nhân
Hoạt động hợp pháp Trốn thuế Tránh thuế Trốn thuế Tránh thuế
+ Thu nhập không được ghi nhận từ việc làm cá nhân
+ Thu nhập, lương và tài sản từ công việc không được ghi nhận lại liên quan đến hàng hóa và dịch vụ hợp pháp
+ Giảm giá để nhân viên mua sản phẩm của công ty
+ Các loại “phúc lợi được miễn thuế”
Trao đổi trực tiếp hàng hóa
và dịch vụ hợp pháp
Các công việc tự làm (không thuê mướn nhân công) và được sự trợ giúp của người thân, hàng xóm
Nguồn: Rolf Mirus và Roger S Smith (1997), trang 5
Trang 162.2 Ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến quy mô nợ công và lãi suất vay
nợ của chính phủ
2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô nợ công
Hiện nay có một số lượng lớn các nghiên cứu lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về tác động của nợ công đối với các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng kinh tế trưởng kinh tế (Cohen, 1997; Calvo, 1998; Pattillo và cộng sự, 2002), giá cả và
sự ổn định tài chính (Woodford, 1996), xác suất vỡ nợ quốc gia (Lonning, 1999), lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, xếp hạng tín dụng của các quốc gia (Afonso, 2002) Tuy nhiên, khi nhìn vào nguồn gốc vấn đề, chúng ta cần đặt ra câu hỏi những yếu tố nào có sức ảnh hưởng lớn nhất đến quy mô nợ công
Các tài liệu nghiên cứu hiện có về chủ đề này cho thấy có hai nhóm yếu tố chính ảnh hưởng lớn nhất đến nợ công là yếu tố thể chế (bao gồm tham nhũng, hệ thống thuế, ổn định chính trị…) và các yếu tố kinh tế vĩ mô (cú sốc tài chính, lạm phát, tăng trưởng)
Luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam (2005) định nghĩa tham nhũng là
“hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” Theo Báo cáo PAPI 2010, sự không thống nhất về khái niệm tham nhũng là do
Trang 17thực tiễn và chuẩn mực của các xã hội và văn hóa có nhiều khác biệt Ngay cả Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) cũng không đưa ra một định nghĩa chính xác về tham nhũng mà chỉ đưa ra một khung chuẩn mực để nói về các hình thức biểu hiện khác nhau của tham nhũng
Nhìn chung, các định nghĩa trên đều thống nhất rằng tham nhũng là “lạm dụng chức vụ hay quyền lực công hoặc tư vì mục đích tư lợi một cách trực tiếp hoặc gián tiếp”
Hành vi tham nhũng đã chuyển phần lợi nhuận công thành lợi nhuận tư, vì vậy hiện tượng tham nhũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tác động của đến vấn đề nợ công Nguyên nhân dẫn đến nợ công của một quốc gia xuất phát chính từ việc mất cân đối giữa nguồn thu và chi tiêu ngân sách
Để làm rõ mối quan hệ giữa tham nhũng và nợ công, tác giả trình bày vấn đề theo hai hướng tiếp cận: tác động của tham nhũng đến nguồn thu ngân sách và tác động của tham nhũng đến cơ cấu chi ngân sách
Tác động của tham nhũng đến nguồn thu ngân sách
Tham nhũng không phải là hiện tượng mới xuất hiện của xã hội, nó đã tồn tại từ rất lâu đời và ngày càng diễn biến phức tạp ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, tham nhũng gây tổn thất lớn cho nguồn thu của ngân sách nhà nước do thất thoát số thu thuế Do có sự tham nhũng hay thỏa thuận giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế, doanh nghiệp chỉ phải nộp khoản thuế ít hơn nhiều so với khoản thuế thực tế phải nộp Điều này đã làm thất thoát một lượng tiền rất lớn hàng năm Bên cạnh đó, tham nhũng gây ảnh hưởng lớn đến môi trường kinh doanh, làm giảm đáng kể năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, làm chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Các tài liệu hiện có đã đưa ra các bằng chứng chỉ ra rằng tham nhũng hủy hoại nền kinh tế thông qua việc giảm tỷ lệ tăng trưởng (Mauro, 1995; Mo, 2001; Tanzi và Davoodi, 2002), không khuyến khích đầu tư (Brunetti, Kisunko và Wedder, 1998; Campos, Lien và Pradhan, 1999; Mauro, 1996), giảm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 18(Abed và Davoodi, 2002; Wei, 2000) và giới hạn năng suất (Lambsdorff, 2003) Các
hệ quả trên tất yếu dẫn đến việc giảm đáng kể trong nguồn thu ngân sách
Mauro trong bài nghiên cứu “Corruption and Growth” năm 1995 sử dụng biến
kiểm soát là biến về thể chế như là tính ổn định chính trị và tính hiệu quả của pháp luật
để nghiên cứu tác động của tham nhũng đến tăng trưởng kinh tế Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đưa ra các bằng chứng cho thấy rằng tham nhũng làm giảm đầu tư và kìm hãm tăng trưởng kinh tế
Những bài nghiên cứu thực hiện ở cấp doanh nghiệp cũng chỉ ra rằng tham nhũng nhìn chung làm nản lòng các chủ doanh nghiệp, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất và tăng trưởng của doanh nghiệp Ví dụ Besley và McLaren (1993) cho rằng tham nhũng sẽ làm tăng chi phí giao dịch của các công ty; Gupta và cộng sự (1998) tìm thấy tham nhũng gây ra tình trạng mất cân đối trong phân phối tài sản và thu nhập ngày càng nghiêm trọng, Lim (2016) tìm ra độ mạnh của hối lộ và tham nhũng có tác động tiêu cực đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, trong khi Petrou (2014) tìm ra tham nhũng có ảnh hưởng tiêu cực lên tình hình tài chính của các tổ chức ngân hàng nước ngoài
Tác động của tham nhũng đến cơ cấu chi ngân sách.
Thực trạng nợ công cao ở các quốc gia không những xuất phát từ việc thiếu hụt nguồn thu ngân sách mà còn do hậu quả của việc chi tiêu công không hợp lý Có một thực tế thú vị là tất cả các nước đã rơi vào khủng hoảng hoặc bên bờ vực khủng hoảng
nợ công đều có quy mô chi tiêu công lớn và liên tục trong nhiều năm
Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu hứng thú với chủ đề mối quan hệ giữa tham nhũng và nợ công cũng phân tích dựa trên quan điểm chi tiêu công và đưa ra các bằng chứng thực nghiệm đáng tin cậy ủng hộ việc tham nhũng gia tăng dẫn đến việc bóp méo chi tiêu công, gia tăng chi tiêu công nhưng việc phân bổ chi tiêu công không hiệu quả, đạt dưới mức tối ưu
Dzhumashev thực hiện bài nghiên cứu “The two-way relationship between
government spending and corruption and its effect on economic growth” năm 2014
chứng minh rằng mức độ tham nhũng cao và chi tiêu công có tác động qua lại hai
Trang 19chiều Điều đó dẫn đến sự duy trì các khoản chi tiêu công lớn hơn, bài nghiên cứu còn chỉ ra tham nhũng làm tăng tác động tiêu cực của chi tiêu chính phủ đến giảm tăng trưởng Theo quan điểm của Kaufmann (2010) để tối đa hóa lợi ích các nhân, các quan chức chính phủ có thể nghiêng về các khoản đầu tư có vốn lớn so với dự án có chi phí
sử dụng nhiều lao động Nguyên nhân xuất phát từ việc các quan chức tham nhũng dễ dàng sử dụng các khoản hối lộ từ các dự án có vốn đầu tư cao hơn so với các dự án sử dụng nhiều lao động
Bằng chứng thực nghiệm cũng chỉ ra tham nhũng tăng cao không chỉ làm tăng quy mô của chi tiêu công, mà còn có thể thay đổi thành phần của chi tiêu công (Mauro,
1998, Tanzi & Davoodi, 2002, Wei & Zechauser, 1999) Wei và Zechauser (1999) sử dụng dữ liệu điều tra cấp độ công ty từ báo cáo về Chỉ số Năng suất Toàn cầu (GCR), minh bạch quốc tế (TI) và Kinh doanh (BI) cho thấy tham nhũng hạn chế sự phát triển kinh tế bằng cách tăng chi tiêu của chính phủ và giảm đầu tư trực tiếp trong và ngoài nước Họ nhận thấy rằng tham nhũng bổ sung thay đổi cấu thành của chi tiêu của chính phủ từ giáo dục, y tế sang cơ sở hạ tầng, đối với các dự án như xây dựng đường cao tốc nơi có tiềm năng lớn hơn cho tham nhũng
Tanzi và Davoodi (2002) tương tự kiểm định tác động của tham nhũng đối với
mô hình chi tiêu của chính phủ ở 68 quốc gia trong giai đoạn 1980- 1995, cho thấy: tham nhũng tăng quy mô đầu tư của chính phủ bằng việc tăng chi phí đầu tư cho khu vực tư nhân; dẫn đến chi tiêu cao hơn cho các dự án vốn của chính phủ, giảm các quỹ
có sẵn cho các chi tiêu khác và làm giảm chất lượng của cơ sở hạ tầng hiện có như đường xá, tòa nhà… trong khi tập trung thực hiện các dự án mới ở các lĩnh vực sinh lợi hơn
Mauro (1998) sử dụng các kỹ thuật OLS, ước lượng IV và một mẫu của 100 quốc gia để chỉ ra rằng tham nhũng thay đổi thành phần của chi tiêu của chính phủ bằng cách phân bổ chi phí từ giáo dục sang các lĩnh vực sinh lợi khác Mauro cũng tìm thấy một số bằng chứng tham nhũng dẫn tới sự sụt giảm trong chi tiêu cho y tế Các kết quả cho thấy rằng có mối liên quan nhân quả từ tham nhũng đến thành phần chi tiêu, trong đó, tham nhũng dẫn đến thành phần chi tiêu của chính phủ ít hơn mức tối
Trang 20ưu Gupta De Mello và cộng sự (2001) sử dụng dữ liệu bảng ước tính tham nhũng và chi tiêu quân sự cho 120 quốc gia trong giai đoạn 1985-98, kết luận tham nhũng liên quan đến phần chi tiêu quân sự cao hơn so với GDP, và tổng chi tiêu của chính phủ Những kết luận tương tự được đưa ra bởi Delavallade (2006) Sử dụng ước tính 3SLS trên 64 quốc gia trong giai đoạn 1996-2001, Delavallade (2006) kết luận rằng tham nhũng gắn liền với sự sụt giảm trong chi tiêu công dành cho giáo dục, y tế và bảo trợ
xã hội, và tăng chi tiêu cho các dịch vụ và trật tự công cộng, nhiên liệu, năng lượng,
văn hoá và quốc phòng
Hệ thống thuế
Một trong những lý thuyết sơ khai trong việc tác động của hệ thống thuế đến nợ công là mô hình giảm thuế của Barro (1979) Tác giả lập luận rằng việc thay đổi thuế suất ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn thu thuế, dẫn đến nợ công; việc điều hành cú sốc chi tiêu tạm thời của chính phủ có thể gây ra thâm hụt ngân sách
Kết quả chính của Barro (1979) chỉ ra sự tồn tại của một mối tương quan dương giữa những thay đổi không lường trước trong chi tiêu của chính phủ và thâm hụt ngân sách và mối tương quan dương giữa thuế suất và nợ công Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là Barro đã không xem xét việc tái phân bổ nguồn lực giữa các thế hệ như
là lý do để phát hành nợ công
Cải thiện nhược điểm của Barro (1979), Cukierman và Meltzer (1989) thực hiện nghiên cứu tập trung vào các hiệu ứng tái phân phối giữa các thế hệ của nợ công Các tác giả đưa ra sự tồn tại khoản thuế thừa kế trong hệ thống chính trị dân chủ, nếu
tỷ lệ phần nhà nước giữ lại phần thừa kế càng lớn, chính phủ có nhiều khả năng điều hành chính sách thâm hụt ngân sách lớn hơn Các tác giả đã tìm thấy khi tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng gia tăng, tuổi thọ dự kiến và mức chênh lệch thu nhập làm tăng thêm phần thừa kế chính phủ giữ lại, các yếu tố này làm cho ngân sách thâm hụt nhiều hơn
Cách tiếp cận khác đối với nợ công đã được phát triển bởi Edwards và Tabellini (1991) Các tác giả quan tâm rất lớn đến các biến cấu trúc giải thích mức độ hiệu quả của hệ thống thuế Theo quan điểm của họ, khi các yếu tố khác không đổi nếu nền kinh
Trang 21tế có hệ thống thuế không hiệu quả, thì không thể thu được số thu thuế lớn so với nền kinh tế có hệ thống thuế hiệu quả Các tác giả đưa ra lý giải thực tế, rằng hệ thống thuế không hiệu quả chịu chi phí thu thuế và quản lý cao hơn Các yếu tố đo lường về hiệu quả của hệ thống thuế ở một nước, có thể được chia thành hai loại: 1) các biến giải thích thành phần ngành của GDP; 2) giai đoạn kinh tế phát triển Kết quả cho thấy, lĩnh vực khó khăn nhất của nền kinh tế để nhận được doanh thu thuế là nông nghiệp,
số thu thuế cao nhất là ngành sản xuất Vì thế, nếu nền kinh tế có ngành sản xuất lớn,
nó hàm ý hệ thống thuế hiệu quả, dẫn đến thâm hụt ngân sách thấp hơn
Dennis A và Emmanuel O (2014) hồi quy dữ liệu từ năm 2002-2011 của Nigeria cho thấy tác động tích cực của hệ thống thuế đến nguồn thu của quốc gia Kết quả bài nghiên cứu chỉ ra một hệ thống thuế hiệu quả gia tăng nguồn thu thế và góp phần làm giảm nợ công
Các yếu tố khác
Lý thuyết kinh tế đã chỉ ra rất nhiều yếu tố chính trị tác động đến mức độ nợ công, tuy nhiên với đặc thù khó lấy dữ liệu định lượng nên các bài nghiên cứu còn khá hạn chế
Bắt đầu từ cuối năm 1980, sự bất ổn về chính trị, sự thay đổi thường xuyên của chính phủ, tự do chính trị và định hướng chính trị được phân tích như là các yếu tố giải thích mức độ thâm hụt ngân sách ở một số quốc gia Alesina và Tabellini, (1988) xem xét mô hình tích lũy nợ nước ngoài cho các quốc gia phát triển có 2 đảng phái chính phủ Kết quả cho thấy chính phủ cánh hữu ít có xu hướng áp đặt các hạn chế về các dòng vốn hơn các chính phủ cánh tả Bên cạnh đó, các tác giả đã kết luận rằng mức độ phân cực cao hơn trong việc hoạch định chính sách của hai đảng phái sẽ làm cho thâm hụt ngân sách, nợ công tích tụ cao hơn, hơn nữa việc không trả nợ có thể diễn ra sau khi thay đổi hệ thống chính trị Một số nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ quan điểm trên như Pettersson-Lidbom (2001), Pinho (2004), Breen và McMenamin (2013)
Dựa trên các bài nghiên cứu được thực hiện cho các quốc gia phát triển, Oatley (2010) thực hiện hồi quy dữ liệu bảng từ 78 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1976-1998 để nghiên cứu về tác động của chế độ chính trị đến mức độ nợ công Bài
Trang 22nghiên cứu chỉ rõ các nền dân chủ và chế độ chuyên chế có các mức chiết khấu chính trị khác nhau, nó ảnh hưởng đến các quyết định vay mượn và đầu tư của chính phủ Ở hầu hết các quốc gia chế độ chuyên chế thì mức độ nợ công cao hơn, lý giải được đưa
ra là các nhà lãnh đạo phải liên tục "mượn từ tương lai" bằng cách sử dụng nợ công để giữ vị thế cho mình - ví dụ bằng cách khen thưởng những người ủng hộ, thực hiện các cam kết khi tranh cử Điều này làm giảm đầu tư và làm tăng tiêu dùng so với các nền dân chủ
Sau này, Biglaiser and Staats (2012) tiếp tục ủng hộ quan điểm thể chế chính trị bằng việc đưa ra bằng chứng cho thấy chế độ dân chủ đạt được xếp hạng trái phiếu cao hơn chế độ chuyên quyền, nguyên nhân xuất phát từ chế độ dân chủ để có các tòa án mạnh mẽ, tuân thủ các quy định của pháp luật và bảo vệ quyền sở hữu người dân hơn
so với các chế độ độc tài Mức độ tích lũy nợ công của chế độ dân chủ cũng được đo lường ở mức thấp hơn chế độ độc tài Hơn nữa, các tác giả đã tìm ra rằng việc xếp hạng tín nhiệm trái phiếu chính phủ quan tâm đến ổn định chính quyền hơn là loại hình chế độ, kết quả này phù hợp với Archer, Biglaiser và DeRouen (2007)
Trong các nghiên cứu thực nghiệm khác, các khía cạnh chính trị như sự thay đổi chính sách thường xuyên, sự mất ổn định chính trị cũng được đưa vào xem xét Edwards và Tabellini (1991) là những người đầu tiên ủng hộ ảnh hưởng của sự mất ổn định chính trị đến quy mô thâm hụt ngân sách Theo quan điểm của họ, một quốc gia
có nền chính trị không ổn định, thì thâm hụt ngân sách sẽ lớn hơn Nền chính trị bất ổn
sẽ gia tăng việc thay đổi chính phủ và giảm khả năng tái cử của chính phủ đương nhiệm Các tác giả khẳng định chính phủ có thể muốn vay mượn vượt quá mức tối ưu
để có nguồn lực thực hiện các kế hoạch ổn định chính trị và đương nhiên các khoản nợ này sẽ để cho người kế nhiệm của mình thanh toán Bài nghiên cứu của Sturzenegger (2002) và Pettis, (2003) cũng cho thấy rằng những thay đổi chính sách thường xuyên của chính phủ có thể gây ra gia tăng thâm hụt của quốc gia và giảm lòng tin trong xã hội Điều đó thể hiện thông qua sự không chắc chắn của những người tham gia thị trường về khả năng trả nợ của quốc gia Điều này làm tăng lãi suất vay nợ và giá trị của tiền tệ giảm Kết quả là chi phí thanh toán nợ ngay lập tức có thể tăng lên gây ra
Trang 23thâm hụt tăng lên và lòng tin của xã hội giảm nhiều hơn Ngược lại, khi lòng tin của xã hội gia tăng, lãi suất vay nợ giảm dẫn đến giảm thâm hụt ngân sách Agca và Celasun (2012) và Henisz (2000) tìm thấy mối tương quan âm giữa chất lượng của thể chế và thâm hụt ngân sách Các tác giả đồng ý với quan điểm của Grilli và cộng sự (1991) cho rằng ổn định chính trị và chất lượng quản trị nhìn chung có ảnh hưởng tích cực đến chính sách tài khóa và giảm mức nợ công và lãi suất vay nợ
Các quy định của pháp luật cũng là nhân tố ảnh hưởng đến việc tích lũy nợ công Borensztein và cộng sự (2004) phát hiện cho thấy rằng các quy định của pháp luật có tương quan âm đáng kể với tỷ lệ nợ công trong nước đối với GDP Biglaiser và Staats (2012) cho rằng quốc gia có các quy định của pháp luật chặt chẽ, uy quyền tòa
án mạnh mẽ và độc lập, và bảo vệ quyền tài sản có thể giảm tỷ lên nợ công/GDP
Trong bài nghiên cứu “Explaining Variation in Public Debt” năm 2017 của
Andreas Eisl đã xem xét ảnh hưởng của các yếu tố chính trị đến việc tích lũy nợ công với dữ liệu 176 quốc gia trong giai đoạn 1996-2014 Các biến số đại diện cho yếu tố chính trị là độ ổn định chính trị, quy định luật pháp, kiểm soát tham nhũng, hiệu quả chính phủ, chất lượng quy định Tác giả sử dụng hồi quy tác động cố định (FE), mô hình ECM để đo lường và đánh giá ảnh hưởng thông qua hai khu vực công và khu vực
tư nhân, kết quả tổng hợp như sau:
+ Chính phủ có nền chính trị ổn định và các quy định pháp luật có hiệu quả cao thì ít nhu cầu vay mượn hơn do chi tiêu công ít hơn và hiệu quả hơn, môi trường đầu
tư an toàn hơn, thu hút được nguồn vốn đầu tư và gia tăng số thu thuế;
+ Khi tham nhũng được kiểm soát tốt, chính phủ hoạt động có hiệu quả cao thì mức chi tiêu công giảm, ngân sách quốc gia được sử dụng hiệu quả hơn, môi trường đầu tư an toàn hơn, thu hút được nguồn vốn đầu tư và gia tăng số thu thuế;
+ Chất lượng pháp lý tốt hơn sẽ gia tăng mức đầu tư vào trái phiếu chính phủ, môi trường đầu tư an toàn hơn, thu hút được nguồn vốn đầu tư và gia tăng số thu thuế
Như vậy, kết quả trong bài nghiên cứu của Eisl, A (2017) đã chỉ ra những ảnh hưởng đáng kể của chất lượng thể chế đến quy mô nợ công
2.2.1.2 Yếu tố kinh tế vĩ mô
Trang 24Ngoài các yếu tố về thể chế, các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng cũng được đưa vào đề xem xét ảnh hưởng của nó đến nợ công
Trong bài nghiên cứu khám phá vai trò của lạm phát trong việc giảm nợ công, Hall và Sargent (2010) cho thấy giảm lạm phát làm giảm khoảng 23 phần trăm nợ công từ năm 1946 đến năm 1974 Các tác giả chỉ ra rằng mức độ nợ công trung bình
đã giảm xuống khoảng ba năm vào cuối những năm 2000 kể từ bảy năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do đó làm giảm lợi ích của lạm phát trong việc giảm tỷ lệ nợ
Aizenman và Marion (2009) chỉ ra rằng tỷ lệ nợ công/GDP sẽ giảm đến khoảng
20 phần trăm trong 4 năm khi lạm phát được giữ ở mức 6 phần trăm Tuy nhiên, các tác giả cảnh báo rằng kết quả phụ thuộc vào các thông số mô hình, đặc biệt là tham số xác định chi phí lạm phát, và lạm phát khiêm tốn có thể dẫn đến những hậu quả không mong muốn trong tăng tốc lạm phát Các phát hiện cho thấy phản ứng của nợ đối với
cú sốc lạm phát tích cực, sử dụng các động lực được quan sát sau năm 1980, sẽ tạo ra
nợ cao hơn sau khoảng một năm, chủ yếu là do lãi suất cao hơn và tăng trưởng thấp hơn
Trong bài nghiên cứu “Public Debt Dynamics: The Effects of Austerity,
Inflation, and Growth Shocks” của Cherif R và Hasanov F năm 2012 sử dụng mô
hình VAR với dữ liệu hàng quý từ qúy 2 năm 1947 đến quý 3 năm 2011 để nghiên cứu tích hợp các cú sốc kinh tế vĩ mô: cú sốc tài chính, cú sốc lạm phát, cú sốc tăng trưởng ảnh hưởng đến nợ công của Hoa Kỳ Kết quả cho thấy sau một cú sốc về tài chính, tỷ
lệ nợ ban đầu giảm xuống và sau đó tăng trở lại khi cú sốc này suy yếu, cụ thể cú sốc tài chính tăng 1% tỷ lệ nợ/GDP giảm khoảng 4,5% trong khoảng 3 năm đầu Một cú sốc lạm phát 1 phần trăm có thể dẫn tới sự gia tăng tỷ lệ nợ trong vòng một vài quý đầu và sau đó tác động là giảm khoảng 0.5% tỷ lệ nợ/GDP Một cú sốc tăng trưởng rõ ràng giảm nợ một cách rõ ràng, tăng tỷ lệ tăng trưởng 1% phần trăm làm giảm tỷ lệ nợ khoảng 1,5 % tỷ lệ nợ/GDP trong 3 năm Ngoài ta, kết quả còn cho thấy trong một môi trường kinh tế yếu, khả năng xảy ra cú sốc cao hơn nhiều so với thời điểm bình thường
Trang 25Greiner (2007) đã đưa ra các bằng chứng nhận thấy tỷ lệ thặng dư của thu nhập quốc nội có mối tương quan dương với tỷ lệ nợ trong nước Tác giả cũng tuyên bố rằng mô hình tăng trưởng cân bằng bền vững sẽ tồn tại nếu chính phủ sử dụng một phần nhất định trong doanh thu thuế cho các dịch vụ nợ
2.2.2 Ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến quy mô nợ công và lãi suất vay
tế ngầm Khi đó, cùng với sự gia tăng quy mô nền kinh tế ngầm là số thu thuế giảm đi đáng kể và nợ công gia tăng
Dưới góc độ chi ngân sách, quốc gia có quy mô nền kinh tế ngầm lớn có thể gây sai lệch trong việc tính toán các chỉ số kinh tế được sử dụng để tham khảo khi xây dựng các chính sách tài chính, dẫn đến chi tiêu không hợp lý Việc tăng chi tiêu quá mức có thể xảy ra bởi vì sự tồn tại của nền kinh tế ngầm làm giảm số liệu tính toán GDP và làm tăng tỷ lệ thất nghiệp so với thực tế
Nền kinh tế ngầm có thể gia tăng nợ công của một quốc gia theo hai cách: giảm
số thu và chi tiêu quá mức Ngoài ra, nỗ lực giảm nợ của chính phủ thường dưới hình thức tăng thuế, nhằm tăng nguồn thu của chính phủ có thể phản tác dụng gây ra hiệu quả ngược lại, dẫn đến một vòng luẩn quẩn không dễ thoát Do đó, điều quan trọng là các nhà chức trách của một quốc gia phải xác định quy mô của nền kinh tế ngầm và
Trang 26xác định ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công, từ đó đưa ra các chính sách công phù hợp
Để xem xét ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến lãi suất vay nợ của chính phủ, xuất phát từ giả định khi đi vay khoản nợ mới, chính phủ cam kết mức chi tiêu công hoặc tăng số thu thuế trong tương lai để đảm bảo việc thanh toán các khoản nợ chính phủ hiện nay Chính phủ thường cam kết sử dụng can thiệp chính sách tài khóa dài hạn
để chứng minh năng lực và nhận mức lãi suất đi vay thấp hơn Tuy nhiên, hiệu quả tương lai của chính sách tài khóa mà chính phủ hứa hẹn có liên quan đến mức độ thực thi thuế và quy mô nền kinh tế ngầm hiện tại của xã hội Cụ thể, một quốc gia có quy
mô nền kinh tế ngầm nhỏ, việc thực thi thuế cao, chính phủ có thể dễ dàng cam kết tăng mức thuế tương lai hoặc giảm mua sắm của chính phủ trong tương lai để trả nợ công ngày nay Trong một nền kinh tế mà việc thực thi thuế còn hạn chế, khả năng vay mượn của chính phủ với cam kết tăng thuế trong tương lai sẽ bị hạn chế Giả sử nền kinh tế có hai lĩnh vực trong nền kinh tế là không chính thức và chính thức Các đại diện thuộc khu vực chính thức đóng thuế và có quyền xây dựng thể chế quốc gia Trong khi các đại diện khác trong khu vực kinh tế phi chính thức, không phải trả toàn
bộ số thuế như khu vực chính thức nên cũng chỉ có một sự tiếp cận hạn chế đối với các thể chế của nền kinh tế chính thức Các đại diện trên thế giới sẽ chọn nền kinh tế chính thức nếu lợi ích từ việc sống trong một môi trường với thể chế tốt lớn hơn các khoản thuế mà họ trả cho chính phủ Do đó, trong một nền kinh tế có mức độ tuân thủ thuế thấp thì một sự gia tăng thuế sẽ không dẫn đến tăng số thu thuế bởi vì tăng thuế sẽ kích thích một phần nhỏ các đại diện rời khỏi khu vực chính thức và chuyển sang khu vực kinh tế phi chính thức như trong bài nghiên cứu của Rauch (1991), Ihrig và Moe (2004), Amaral và Quintin (2006) Các khoản nợ của chính phủ có thể sẽ không được hoàn trả với mức tăng thuế trong tương lai nếu việc thực thi thuế tại quốc gia đó không hoàn hảo
Bên cạnh đó, một quốc gia có quy mô nền kinh tế ngầm lớn thì sự tăng thuế, hoặc sự sụt giảm trong mua sắm của chính phủ sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong quy mô của khu vực chính thức, trong khi sự gia tăng nợ của chính phủ sẽ dẫn đến sự mở rộng
Trang 27quy mô sản xuất của khu vực chính thức Lúc này, nợ công trở thành một nguồn tài chính tối ưu cho chính phủ để thực hiện các chiến lược phát triển Sự tồn tại của nền kinh tế ngầm làm giới hạn khả năng tài chính của chính phủ, gia tăng nợ công, và ảnh hưởng đến lãi suất vay nợ của chính phủ
2.3 Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến quy mô
nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ
Mặc dù có một khối lượng lớn các tài liệu xem xét ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến tốc độ tăng trưởng, mức phát triển của xã hội, chất lượng cuộc sống, mức độ thất nghiệp cũng như đo lường tác động của các nhân tố đến mức độ nợ công… tuy nhiên vấn đề đánh giá ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến quy mô nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ ít được quan tâm Bên cạnh đó, các bài nghiên cứu đa số chỉ được thực hiện cho một quốc gia riêng lẻ, việc kết hợp nghiên cứu một nhóm quốc gia, đặc biệt là các quốc gia theo khu vực rất hạn chế
Bài nghiên cứu đầu tiên được biết đến là “Shadow economy and public debt sustainability in Turkey” của Yereli A và cộng sự năm 2007 Bài nghiên cứu sử dụng
hồi quy dữ liệu chuỗi thời gian để kiểm tra mối quan hệ giữa nền kinh tế ngầm và nợ công ở Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1991-2004 Các tác giả đưa ra các kết quả chứng minh
sự gia tăng quy mô nền kinh tế ngầm làm giảm doanh thu thuế, gia tăng mức độ nợ công và làm giảm tính bền vững của nợ công
Sau đó, các nhà nghiên cứu bắt đầu xem xét mối quan hệ này trong một nhóm
quốc gia Trong bài nghiên cứu “Shadow economy, corruption and public debt in Spain” của Marcos và cộng sự năm 2014 xem xét mối tác động của nền kinh tế ngầm
và tham nhũng đến nợ công trong Cộng đồng Tự trị Tây Ban Nha giai đoạn
2000-2012 Tác giả sử dụng mô hình tác động cố định (FE) và tác động ngẫu nhiên (RE) để kiểm định hai giả thiết:
H1: Quy mô nền kinh tế ngầm tác động dương đến mức độ nợ công
H2: Tham nhũng tác động dương đến mức độ nợ công
Tương tự các nghiên cứu trước đây về tham nhũng, tác giả sử dụng bộ chỉ số nhận thức tham nhũng của chỉ số minh bạch thế giới, đối với dữ liệu về quy mô nền
Trang 28kinh tế ngầm, tác giả tự ước tính do không có bộ dữ liệu sẵn có cho Cộng đồng Tự trị Tây Ban Nha
Kết quả cho thấy quy mô của nền kinh tế ngầm có ảnh hưởng đáng kể và tích cực đến nợ công khu vực Tham nhũng cũng cho thấy một mối quan hệ trực tiếp và đáng kể với nợ công trong các Cộng đồng tự trị, mặc dù tác động của nó thấp hơn nền kinh tế ngầm
Elgin C và cộng sự năm 2013 đã thực hiện bài nghiên cứu “Public debt, sovereign default risk and shadow economy” với phạm vi nghiên cứu được mở rộng
hơn Các tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng để xem xét tác động của nền kinh tế ngầm đến nợ công, lãi suất vay nợ, độ ổn định tài chính quốc gia và xác suất vỡ nợ chính phủ thời kỳ 2002 -2010 cho 152 quốc gia
Quy mô nền kinh tế ngầm sử dụng bộ dữ liệu của Schneider và cộng sự năm
2010 Bài nghiên cứu sau khi đưa ra khái niệm về nền kinh tế ngầm, các nguyên nhân dẫn đến nền kinh tế ngầm và hậu quả của nó, các tác giả sử dụng nhiều phương pháp
để đo lường và chọn ra phương pháp tối ưu nhất là phương pháp Multiple Indicators Multiple Causes (MIMIC) Chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiết kiệm được tác giả sử dụng đại diện cho lãi suất vay nợ của chính phủ Độ ổn định tài chính quốc gia được đo lường bằng bộ chỉ số Financial Stress Index (FSI) của Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF) Xác suất vỡ nợ của chính phủ được tác giả tính toán bằng số lần vỡ nợ từ năm
1960 đến năm 2008 chia cho 49 (số năm trong thời kỳ 1960-2008), tính toán này cho
ra kết quả là dữ liệu chéo
Kết quả bài nghiên cứu cho thấy một nền kinh tế ngầm có quy mô càng lớn càng gia tăng nợ công, tăng lãi suất vay nợ của chính phủ, mất ổn định nền tài chính và rủi ro vỡ nợ cũng cao hơn
Tuy nhiên, hạn chế của các nghiên cứu là dữ liệu dừng lại ở năm 2010 nên kết quả nghiên cứu chưa bao quát được sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công của
Hy Lạp và đến các quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó việc sử dụng chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi đại diện cho lãi suất vay nợ của chính phủ và tính toán xác suất vỡ nợ của chính phủ còn tiềm ẩn nhiều sai sót, chưa phản ánh đúng thực trạng
Trang 29Đi theo hướng tiếp cận mới, bài nghiên cứu “Sovereign debt markets in light of the shadow economy” của Raphael và cộng sự năm 2016 xem xét tác động của nền
kinh tế ngầm đến thị trường nợ công của 64 quốc gia (bao gồm 24 quốc gia phát triển trong khối OECD và 40 quốc gia không nằm trong OECD) trong giai đoạn từ năm
2003 đến 2007 thông qua 3 giả thiết nghiên cứu:
H1: Mức độ rủi ro xếp hạng tín dụng quốc gia và lãi suất vay nợ của quốc gia tương quan dương với quy mô khu vực phi chính thức;
H2: Đối với các quốc gia phát triển, mức độ rủi ro xếp hạng tín dụng quốc gia
và lãi suất vay nợ của quốc gia tương quan âm với quy mô khu vực phi chính thức;
H3: Đối với các quốc gia đang phát triển, mức độ rủi ro xếp hạng tín dụng quốc gia và lãi suất vay nợ của quốc gia tương quan dương với quy mô khu vực phi chính thức
Tác giả sử dụng 3 chỉ số khác nhau đại diện cho rủi ro tín dụng quốc gia dựa trên đánh giá xếp hạng của ba trong số các cơ quan lớn nhất trên thế giới là Standard and Poor, Moody's và Fitch
Khác với bài nghiên cứu của Elgin C và Uras B, (2012), lãi suất vay nợ của quốc gia được đo lường bằng trung bình lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm, đối với các quốc gia không có dữ liệu này thì sử dụng chênh lệch lãi suất đáo hạn so với trái phiếu chính phủ Mỹ Quy mô nền kinh tế ngầm tác giả sử dụng các tính toán của Schneider, Buehn và Montenegro (2010)
Phương pháp đo lường được tác giả sử dụng là mô hình SEM cho thấy kết quả
là sự gia tăng quy mô nền kinh tế ngầm làm giảm xếp hạng tín dụng của quốc gia và gia tăng lãi suất vay nợ của chính phủ Ngoài ra, bài nghiên cứu còn chỉ ra không có sự khác biệt về tác động này đối với các quốc gia nằm trong OECD và ngoài OECD
Tuy nhiên, chính tác giả cũng nhận thấy nhược điểm bài nghiên cứu cần mở rộng thời gian nghiên cứu để xem xét ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bên cạnh đó dữ liệu lãi suất vay nợ thông qua cách đo lường của tác giả không mang tính thuyết phục cao
Trang 30Gần đây nhất, trong bài nghiên cứu “How Does Corruption Affect Public Debt?
An Empirical Analysis” của A Cooray và cộng sự năm 2017 xem xét mối quan hệ
giữa tham nhũng và nợ công trong nền kinh tế ngầm thời kỳ 1996-2012 cho 126 quốc gia Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là bình phương nhỏ nhất gộp (Pool -OLS), mô hình tác động cố định và hệ thống ước lượng GMM Arellano-Bond để kiểm soát hiện tượng nội sinh Dữ liệu cho nền kinh tế ngầm là từ nghiên cứu của Schneider và cộng sự (2010) Biến số tham nhũng trong bài sử dụng 2 phương pháp đo lường: Chỉ số nhận thức tham nhũng của chỉ số minh bạch thế giới và chỉ số kiểm soát tham nhũng theo bài nghiên cứu của Kaufmann và cộng sự
Bài nghiên cứu xác nhận rằng gia tăng tham nhũng và sự mở rộng của nền kinh
tế ngầm không những dẫn đến việc gia tăng nợ công mà còn làm tăng tác động của tham nhũng lên nợ công Kết quả cũng chỉ ra một nền kinh tế ngầm có quy mô càng lớn càng làm giảm số thu thuế, từ đó gia tăng ảnh hưởng của tham nhũng đối với nợ công, tình trạng nợ công sẽ càng trầm trọng Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này sử dụng mẫu nghiên cứu đại trà, các quốc gia được lựa chọn không đồng nhất, không có
sự phân biệt giữa các quốc gia có thu nhập cao và các quốc gia có thu nhập thấp hay phân biệt các quốc gia theo khu vực, các quốc gia đang chuyển đổi hay các quốc gia mới nổi Điều này ảnh hưởng đến ý nghĩa thực tiễn khi dùng kết quả nghiên cứu làm
cơ sở để đưa ra các hàm ý chính sách
Các bài nghiên cứu trước đây liên quan đến chủ đề nghiên cứu được tổng hợp như sau:
Trang 31Như đã đề cập ở trên, bài nghiên cứu này của tác giả có tính phân biệt với các nghiên cứu trước đây Đặc biệt hơn đây là bài nghiên cứu đầu tiên xem xét ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ tại các quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam trong thời kỳ 2002- 2013
Trang 32CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sử dụng hai mô hình hồi quy để làm rõ ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến quy mô nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ tại các quốc gia khu vực Châu Á, cụ thể như sau:
Mô hình 1: Đánh giá tác động của nền kinh tế ngầm đến quy mô nợ công
3.2 Mẫu nghiên cứu, dữ liệu và kỳ vọng dấu
3.2.1 Mẫu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 2002-2013 cho 39 quốc gia khu vực Châu Á Tác giả chọn khoảng thời gian nghiên cứu từ 2002-2013 để
có khoảng thời gian đủ dài cho việc tác động của cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp đến các quốc gia Châu Á
3.2.2 Dữ liệu, mô tả biến và kỳ vọng dấu
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả trình bày khái quát các biến sử dụng trong mô hình cũng như nguồn thu thập số liệu Các biến bao gồm 3 nhóm chính: biến phụ thuộc, biến độc lập, biến kiểm soát
Trang 33 Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc trong bài nghiên cứu này là mức độ nợ công đo lường bằng tỷ lệ
nợ công/GDP (PD) và lãi suất vay nợ của chính phủ (IR)
Tỷ lệ nợ công/GDP tác giả sử dụng bộ dữ liệu được tổng hợp và tính toán bởi Ngân hàng Thế giới (WorldBank) và Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF)
Đối với biến phụ thuộc là lãi suất vay nợ của chính phủ, bài nghiên cứu của Elgin C và Uras B, (2012) sử dụng chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiết kiệm trong nước không phản ảnh đúng bản chất các khoản vay của chính phủ Sau đó, Raphael và cộng sự năm 2016 đo lường lãi suất vay nợ của quốc gia bằng trung bình lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm, đối với các quốc gia không có dữ liệu này thì sử dụng chênh lệch lãi suất đáo hạn so với trái phiếu chính phủ Mỹ, cách đo lường này không mang tính tin cậy cao Khắc phục nhược điểm từ các bài nghiên cứu trước đây, tác giả sử dụng bộ dữ liệu lãi suất trung bình các khoản nợ mới được chính phủ công khai ký kết trong năm (average interest on new external public debt commitments) được tổng hợp và tính toán bởi Ngân hàng Thế giới (WorldBank)
Biến độc lập
Quy mô nền kinh tế ngầm (SE) được đo lường bằng tỷ lệ so với GDP Bài
nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu trong bài nghiên cứu “Size and development of the
shadow economies of 157 Wordwide Countries: Updated and New Measures from
1999 to 2013” của Hassan Mai và Schneider Friedrich năm 2016 Bài nghiên cứu sau
khi đưa ra khái niệm về nền kinh tế ngầm, các nguyên nhân dẫn đến nền kinh tế ngầm
và hậu quả của nó, các tác giả sử dụng nhiều phương pháp để đo lường và chọn ra phương pháp tối ưu nhất là phương pháp Multiple Indicators Multiple Causes (MIMIC) Phương pháp này xây dựng mô hình MIMIC là một kiểu mô hình công thức cấu trúc đặc biệt (SEM) và đã được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu về tâm lý và khoa học xã hội và dựa trên lý thuyết thống kê về các biến không quan sát được phát triển trong thập niên 1970 bởi Zellner và Joreskog và cộng sự Mô hình MIMIC là một cách tiếp cận dựa trên lý thuyết để xác nhận ảnh hưởng của tập hợp các biến nhân quả ngoại sinh đến quy mô nền kinh tế ngầm, và cũng là ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm
Trang 34đối với chỉ số kinh tế vĩ mô Những ưu điểm chính của phương pháp tiếp cận MIMIC
là nó cho phép mô hình hóa các hoạt động kinh tế ngầm như là một biến không quan sát được và nó xem xét nhiều yếu tố quyết định (causes) và nhiều tác động (indicators) Cách tiếp cận phân tích nhân tố được áp dụng để đo quy mô của nền kinh
tế ngầm như là một biến không quan sát theo thời gian
Biến kiểm soát
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra có hai nhóm yếu tố chính ảnh hưởng lớn nhất đến nợ công là yếu tố thể chế (bao gồm tham nhũng, hệ thống thuế, ổn định chính trị…) và các yếu tố kinh tế vĩ mô (cú sốc tài chính, lạm phát, tăng trưởng) Bài nghiên cứu với mục tiêu xem xét ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công và lãi suất vay
nợ của chính phủ nên biến độc lập chính mà bài nghiên cứu quan tâm là nền kinh tế ngầm Tuy nhiên, để tránh việc hồi quy quá mức và tăng độ tin cậy của mô hình, tác giả đưa vào mô hình các biến kiểm soát cũng có tác động đến nợ công
Các biến kiểm soát được đưa vào mô hình bao gồm: lạm phát, kiểm soát tham nhũng, độ ổn định chính trị, hiệu quả của chính phủ, hiệu quả của quy định pháp luật Các yếu tố này được xây dựng dựa trên nền tảng các lý thuyết nghiên cứu, bằng chứng thực nghiệm trước đây và được thu thập từ Worldbank và bộ dữ liệu chỉ số quản trị
toàn cầu“World governance indicators project” cập nhật đến năm 2016 của
Kaufmann và Kraay Cụ thể:
- Lạm phát (IF): là tỷ lệ phần trăm thay đổi hàng năm trong chỉ số giá tiêu dùng của từng nước Số liệu được tổng hợp bởi Ngân hàng thế giới (WB)
Các chỉ số kiểm soát tham nhũng, độ ổn định chính trị, hiệu quả của chính phủ
và hiệu quả của quy định pháp luật được thu thập từ bộ dữ liệu chỉ số quản trị toàn
cầu“World governance indicators project” cập nhật đến năm 2016 của Kaufmann và
Kraay Nguồn dữ liệu ước tính dao động từ -2.5 (hiệu quả thấp) đến 2.5 (hiệu quả cao), tuy nhiên để đơn giản hóa việc giải thích các kết quả thực nghiệm, các chỉ số này được tính toán đồng bộ đưa về mức dao động từ 0 (hiệu quả thấp) đến 5 (hiệu quả cao)
Trang 35- Kiểm soát tham nhũng (CC): chỉ số đo lường mức độ chính phủ dùng quyền
lực công thực hiện kiểm soát các biểu hiện tham nhũng và các hành động tinh vi để chuyển lợi ích công thành lợi ích cá nhân
- Độ ổn định chính trị (PS): đo lường độ ổn định thể chế bao gồm cả khả năng
xảy ra bạo lực có động cơ chính trị hoặc khủng bố
- Hiệu quả của chính phủ (GE): Phản ánh nhận thức về chất lượng dịch vụ
công, chất lượng dịch vụ dân sự và mức độ độc lập của nó trước áp lực chính trị, chất lượng xây dựng và thực hiện chính sách, và sự tín nhiệm của cam kết của chính phủ đối với các chính sách đó
- Hiệu quả của quy định pháp luật (RL): Phản ánh mức độ tin tưởng và tuân
thủ các quy tắc của xã hội và luật pháp, đặc biệt là chất lượng thực thi hợp đồng, quyền sở hữu, cảnh sát, tòa án, cũng như khả năng xảy ra tội phạm và bạo lực
Kỳ vọng dấu của các biến nêu trên được trình bày chi tiết như sau:
Bảng 3.1: Mô tả các biến và kỳ vọng dấu
Trang 363.2.3 Giả thuyết nghiên cứu
Giả sử nền kinh tế có hai lĩnh vực trong nền kinh tế là không chính thức và chính thức Các đại diện thuộc khu vực chính thức đóng thuế và có quyền xây dựng thể chế quốc gia Trong khi các đại diện khác trong khu vực kinh tế phi chính thức, không phải trả toàn bộ số thuế như khu vực chính thức nên cũng chỉ có một sự tiếp cận hạn chế đối với các thể chế của nền kinh tế chính thức Các đại diện trên thế giới sẽ chọn nền kinh tế chính thức nếu lợi ích từ việc sống trong một môi trường với thể chế tốt lớn hơn các khoản thuế mà họ trả cho chính phủ Sự tồn tại của nền kinh tế ngầm sẽ giảm số thu thuế của khu vực chính thức Chính phủ phải gia tăng vay nợ để phục vụ nhu cầu chi tiêu, đồng thời tăng thuế để có nguồn trả nợ Tuy nhiên, khi gia tăng thuế
sẽ xảy ra hiện tượng các đại diện dịch chuyển từ nền kinh tế chính thức sang nền kinh
tế ngầm để tránh thuế Khi đó lộ trình tăng thuế sẽ không mang lại hiệu quả, vòng luẩn quẩn lặp lại với sự gia tăng nợ công và quy mô nền kinh tế ngầm
Bên cạnh đó, khi tiếp cận các khoản vay chính phủ phải cam kết chính sách chi tiêu công hợp lý hoặc tăng số thu thuế trong tương lai để đảm bảo khả năng thanh toán Tuy nhiên, hiệu quả tương lai của chính sách tài khóa mà chính phủ hứa hẹn có liên quan đến quy mô nền kinh tế ngầm hiện tại của xã hội Cụ thể, các chủ nợ hay nhà đầu tư sẽ áp dụng mức lãi suất cho vay thấp hơn đối với quốc gia có quy mô nền kinh
tế ngầm nhỏ, việc thực thi thuế cao vì chính phủ có thể dễ dàng cam kết tăng mức thuế tương lai hoặc giảm mua sắm của chính phủ trong tương lai để trả nợ công Ngược lại, một quốc gia có quy mô nền kinh tế ngầm lớn, mức độ thực thi thuế kém thì việc chính phủ chứng minh khả năng trả nợ với cam kết tăng thuế trong tương lai sẽ bị hạn chế,
do đó các chủ nợ và nhà đầu tư đòi hỏi một lãi suất chi trả cao hơn
Chính vì vậy, sự tồn tại của nền kinh tế ngầm làm giới hạn khả năng tài chính của chính phủ, gia tăng nợ công, và ảnh hưởng đến lãi suất vay nợ của chính phủ Với các lập luận trên, các giả thuyết cốt lõi mà bài nghiên cứu kiểm định là:
Giả thuyết H1: Quy mô nền kinh tế ngầm càng lớn càng làm gia tăng quy mô
nợ công
Trang 37Giả thuyết H1: Quy mô nền kinh tế ngầm càng lớn càng làm gia tăng lãi suất
vay nợ của chính phủ
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp hồi quy
Bài nghiên cứu xác định ảnh hưởng của quy mô nền kinh tế ngầm đến nợ công
và lãi suất vay nợ với dữ liệu bảng của 39 quốc gia Châu Á thời kỳ 2002 – 2013 Các
mô hình hồi quy áp dụng là mô hình OLS gộp (pooled regression), mô hình tác động
cố định (fixed effect regression), mô hình tác động ngẫu nhiên (random effect regression)
Phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) sử dụng dữ liệu chéo gộp các quốc gia có thể xem tất cả các dữ liệu chỉ có một điểm thời gian duy nhất và được
sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu trước đây
Phương pháp OLS gộp không quan tâm đến bất kỳ sự khác biệt tồn tại giữa các quốc gia hay những tác động theo thời gian Bởi vì nền kinh tế ngầm thực chất là do nền tảng thể chế tạo ra nên có thể thể chế khác nhau giữa các quốc gia sẽ ảnh hưởng khác nhau đến quy mô nền kinh tế ngầm, việc xử lý dữ liệu của các quốc gia như nhau, không có sự khác biệt sẽ gây ra sự sai lệch, do giả định bỏ qua sự không đồng nhất giữa các quốc gia
Hầu hết, các nghiên cứu thực nghiệm gần đây thường sử dụng phương pháp dữ liệu bảng để kiểm soát và loại bỏ những đặc điểm tác động khác biệt của các quốc gia, không quan sát được Thực hiện nghiên cứu dữ liệu bảng đạt được những ưu điểm sau:
dữ liệu bảng xét đến đặc điểm các quốc gia theo thời gian, nên chắc chắn có tính không đồng nhất trong các quốc gia bằng cách bao gồm biến chuyên biệt theo quốc gia; kết hợp chuỗi thời gian của các quan sát chéo, dữ liệu bảng cho chúng ta “dữ liệu chứa nhiều thông tin hữu ích hơn, tính biến thiên nhiều hơn, ít hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến hơn, nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả cao hơn” Bên cạnh đó, dữ liệu bảng có thể giảm đến mức thấp nhất hiện tượng chệch có thể xảy ra nếu chúng ta gộp các quốc gia
Trang 38Mô hình tác động cố định (fixed effect regression) xem xét ảnh hưởng của các nhân tố cố định, có thể xét mô hình ảnh hưởng cố định theo quốc gia hoặc theo thời gian hoặc cố định cả hai nhân tố Nhược điểm của FEM là giảm bậc tự do của mô hình, đặc biệt khi số biến giả lớn Mô hình tác động ngẫu nhiên (random effect regression) cũng được sử dụng để xem xét đến sự khác biệt của các nước ảnh hưởng đến mô hình chung Sự khác biệt về điều kiện đặc thù của các nước này được chứa đựng trong phần sai số ngẫu nhiên
Sau đó, tác giả tiến hành lựa chọn mô hình thực sự phù hợp với đặc điểm dữ liệu mẫu nghiên cứu Mỗi mô hình đều có những ưu, nhược điểm riêng, việc lựa chọn
mô hình FEM hay REM phụ thuộc vào sự khác nhau về tung độ gốc của mô hình hồi quy đối với mỗi nước và sự khác biệt này có tương quan với biến độc lập trong mô hình hay không Vì vậy, để lựa chọn mô hình nào phù hợp và hiệu quả nhất trong hai
mô hình bài nghiên cứu đề cập, tác giả thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình
Để kiểm soát vấn đề nội sinh giữa các nhân tố biến độc lập và biến phụ tác giả
sử dụng phương pháp GMM, đề xuất trên dữ liệu bảng theo phương pháp của Arellano
và Bond (1991) Như chúng ta đã biết, với ưu điểmkhông quá phức tạp nhưng hiệu quả phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) được dùng rất phổ biến trong lĩnh vực kinh tế lượng Với một số giả thiết ban đầu, phương pháp này sẽ dễ dàng xác định các giá trị ước lượng hiệu quả, không chệch và vững Tuy nhiên, khi nghiên cứu về chuỗi dữ liệu thời gian, dữ liệu có thể vi phạm một hoặc một số giả định của OLS Khi
đó, các ước lượng thu được sẽ bị bóp méo, mất tính vững và sẽ là sai lầm nếu sử dụng chúng để phân tích Một trong những dạng vi phạm giả định phổ biến là hiện tượng nội sinh, một trường hợp khi hệ số ước lượng (hoặc biến) tương quan với phần dư
Trong trường hợp các biến độc lập tương quan với phần dư chúng ta khắc phục bằng việc ước lượng một phương trình có dùng các biến công cụ Ý tưởng của phương pháp hồi quy này là tìm một bộ biến, được gọi là biến công cụ, thỏa mãn cả hai điều kiện: (1) tương quan với các biến giải thích trong phương trình và (2) không tương quan với phần dư Những biến công cụ như vậy được dùng để loại bỏ sự tương quan