LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn của tôi với đề tài “Ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân: Bằng chứng thực nghiệm tại một số
Trang 1***
ĐỖ THỊ THU HOÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG LÊN ĐẦU TƯ TƯ NHÂN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN KHU VỰC CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
ĐỖ THỊ THU HOÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG LÊN ĐẦU TƯ TƯ NHÂN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN KHU VỰC CHÂU Á
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH
TP HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn của
tôi với đề tài “Ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân: Bằng chứng thực
nghiệm tại một số quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á” là công trình của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Sử Đình Thành Các nội dung nghiên cứu
và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa được công bố dưới bất
kỳ hình thức nào trước đây Những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác và các số liệu được sử dụng trong luận văn của tôi đều được trích dẫn và chú thích nguồn gốc đầy đủ
TP Hồ Chí Minh, Ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thu Hoài
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6
2.1 Tổng quan lý thuyết: 6
2.1.1 Đầu tư công: 6
2.1.2 Đầu tư tư nhân: 7
2.1.3 Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân: 8
2.2 Các nghiên cứu trước đây: 10
2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân: 10
2.2.2 Mối quan hệ giữa đầu tư tư nhân và một số yếu tố vĩ mô khác: 15
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN KHU VỰC CHÂU Á TRONG GIAI ĐOẠN NĂM 1990-2013 21
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
4.1 Phương pháp nghiên cứu: 32
4.2 Dữ liệu: 36
Trang 54.2.1 Bảng thống kê mô tả: 37
4.2.2 Mối quan hệ giữa tổng đầu tư công và tổng đầu tư tư nhân tính theo phần trăm GDP: 37
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
5.1 Kết quả kiểm định tính dừng: 41
5.2 Kết quả ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình: 42
5.3 Kết quả kiểm định đồng liên kết: 43
5.4 Kết quả ước lượng tính năng động dài hạn và ngắn hạn theo mô hình hiệu chỉnh sai số PMG: 43
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
MNEs Các công ty đa quốc gia
TNC Tập đoàn đa quốc gia
UNCTAD Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
WB Ngân hàng thế giới
WIR Báo cáo đầu tư thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 37
Bảng 5.1: Kết quả kiểm định tính dừng 41
Bảng 5.2: Kết quả ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 42
Bảng 5.3 : Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng Kao (1999) 43
Bảng 5.4: Tính năng động dài hạn và ngắn hạn theo mô hình hiệu chỉnh sai số PMG 43
Bảng 5.5: Kết quả hồi quy mô hình ngắn hạn của các quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á 46
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân 19Hình 3.1: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Bahrain trong giai đoạn năm 1990-2013 21Hình 3.2: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Bangladesh trong giai đoạn năm 1990-2013 22Hình 3.3: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Trung Quốc trong giai đoạn năm 1990-2013 23Hình 3.4: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Ấn Độ trong giai đoạn năm 1990-
2013 24Hình 3.5: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Indonesia trong giai đoạn năm 1990-2013 25Hình 3.6: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Jordan trong giai đoạn năm 1990-
2013 26Hình 3.7: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Malaysia trong giai đoạn năm 1990-2013 27Hình 3.8: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Oman trong giai đoạn năm 1990-
2013 28Hình 3.9: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Philippines trong giai đoạn năm 1990-2013 29Hình 3.10: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Thái Lan trong giai đoạn năm 1990-2013 30Hình 4.1: Tổng đầu tư công và tổng đầu tư tư nhân tính theo phần trăm GDP của 10 quốc gia nghiên cứu 38
Trang 9TÓM TẮT
Bài nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân, thông qua việc tìm kiếm các bằng chứng về sự tồn tại của hiệu ứng thúc đẩy hoặc hiệu ứng lấn át của đầu tư công lên đầu tư tư nhân ở 10 quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á, trong giai đoạn năm 1990-2013 Sử dụng phương pháp ước lượng PMG (Pooled Mean Group), các kết quả nghiên cứu cho thấy sự tồn tại của hiệu ứng lấn
át trong ngắn hạn và hiệu ứng thúc đẩy trong dài hạn Ngoài ra, nghiên cứu còn tìm thấy bằng chứng về tác động tiêu cực của lãi suất thực và chênh lệch khỏi vị trí cân bằng dài hạn giữa khối lượng đầu tư công và khối lượng đầu tư tư nhân trong ngắn hạn lên đầu tư tư nhân
Trang 10
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Đầu tư luôn là nhân tố quan trọng giúp phát triển nền kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, với nguồn lực còn yếu kém thì việc thúc đẩy đầu tư luôn là một bài toán khó Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008, hoạt động đầu tư tại các nước đang phát triển và mới nổi giảm mạnh (giảm 10% trong năm 2010) Sau đó, hoạt động đầu tư có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn giảm 3,5% trong năm 2016 Trong ba năm qua, hoạt động đầu tư của khu vực nhà nước và tư nhân vẫn chưa bằng 50% tốc độ tăng trưởng trung bình thời kỳ trước khủng hoảng Ngoài ra, những yếu kém trong hoạt động đầu tư ngày càng mở rộng Trong năm 2016, hoạt động đầu tư tại các nước đang phát triển và mới nổi thấp hơn tốc độ tăng trưởng dài hạn trên 60%, phần lớn các nước ghi nhận xu hướng trì trệ,
rõ nét nhất là năm 2009, khi kinh tế toàn cầu bị suy thoái trầm trọng (Hoàng Thế Thỏa, 2017) Theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế về triển vọng phát triển thiên niên kỷ đăng trên tạp chí “Tài chính & Phát triển” của Quỹ Tiền tệ quốc
tế (IMF) nhận định xu hướng suy giảm đầu tư sau thời kỳ khủng hoảng có thể gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu Bên cạnh đó tích lũy tư bản có
xu hướng giảm, tăng trưởng đầu tư yếu ớt liên quan đến yếu tố năng suất tổng thể Việc tăng trưởng kinh tế không thể tiếp tục dựa vào việc tăng vốn và lao động, mà phải dựa trên những thay đổi về công nghệ và hiệu quả Do đó nguồn vốn đầu tư vào các lĩnh vực này là vô cùng quan trọng
Trái ngược với nhận định này, theo Báo cáo Viễn cảnh Kinh tế toàn cầu của Ngân hàng Thế giới (WB), tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ tăng nhẹ và đạt mức 2,7% trong năm 2017 Tuy nhiên báo cáo cũng cho rằng viễn cảnh này có thể không xảy ra, do định hướng chính sách chưa rõ ràng tại các nền kinh tế lớn dẫn đến thời kỳ đầu tư thấp tại các nền kinh tế thu nhập thấp, trung bình và cao Phân tích các nguyên nhân, WB cho rằng, tình trạng này diễn ra một phần do nhiều nước thực hiện điều chỉnh cắt giảm đầu tư so với thời kỳ trước khủng hoảng kinh tế; bên cạnh đó là do một số yếu tố tiêu cực tại thị trường mới nổi và các nước đang phát
Trang 11triển như giá dầu thấp (đối với các nước xuất khẩu dầu), đầu tư nước ngoài chậm lại (đối với các nước nhập hàng hoá, nguyên vật liệu), tình trạng nợ tư nhân và rủi ro chính trị Trước thực trạng này, cả WB và các chuyên gia nghiên cứu về triển vọng phát triển thiên niên kỷ đều nhận định rằng đầu tư công có thể thúc đẩy đầu tư tư nhân
Từ các quan điểm về lý thuyết trước đây và những nhận định của các chuyên gia về mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân, chúng ta có thể thấy đầu tư công đóng vai trò rất quan trọng trong việc tác động vào đầu tư tư nhân, từ đó giúp phát triển nền kinh tế ở các quốc gia Nhất là đối với các nước đang phát triển, với
cơ sở hạ tầng còn yếu kém thì đầu tư công thực sự là một vấn đề cần chú trọng Vì tại các nước này nhu cầu đầu tư công rất cao song nguồn vốn ngân sách là hạn chế, bên cạnh đó tình trạng đầu tư tràn lan và thiếu hiệu quả thường xuyên xảy ra Chính
vì vậy việc tăng cường đầu tư công có thực sự thúc đẩy nền kinh tế nói chung và thúc đẩy đầu tư tư nhân nói riêng luôn là câu hỏi được các nhà hoạch định chính sách và chính phủ các quốc gia đang phát triển quan tâm
Hiện nay, Châu Á là châu lục lớn nhất thế giới về diện tích và dân số, đa dạng
về tôn giáo, văn hóa, sắc tộc và là một trong những nơi có tốc độ tăng trưởng kinh
tế lớn nhất trên thế giới Năm 2010, GDP của khu vực Châu Á đứng thứ 3 trong 6 châu lục, sau châu Âu và Bắc Mỹ; đến năm 2016, GDP của Châu Á đã vươn lên đứng đầu các châu lục Bên cạnh đó Châu Á cũng là nơi tập hợp các quốc gia có sức ảnh hưởng lớn như Singapore - nền kinh tế mở, năng động nhất thế giới; Ấn Độ - nền kinh tế tăng trưởng nhanh thứ hai thế giới, là điểm đến quan trọng của các công
ty toàn cầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, sinh học, y dược và dịch vụ và Trung Quốc - quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, với nhiều thập niên tăng trưởng ngoạn mục Cùng với Nhật Bản, Trung Quốc đã trở thành một trong những quốc gia phát triển kinh tế được nói đến nhiều nhất ở Châu Á Đặc biệt, Châu Á cũng là nơi có nhiều các quốc gia đang phát triển, thu nhập thấp và có nhu cầu đầu
tư cao Mặc dù dòng vốn đầu tư thất thường, nhưng các thị trường tài chính Châu Á
tỏ ra khá bền vững, phản ánh những yếu tố nền tảng trên thế giới và trong khu vực
Trang 12Các nước Châu Á cũng trải qua đợt suy giảm dòng vốn sau sự kiện Brexit và sau kết quả bầu cử tổng thống tại Mỹ Các yếu tố bất định có thể gây tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, nếu tình hình tài chính toàn cầu khó khăn và nền kinh tế trở nên bất ổn, dòng vốn tại khu vực Châu Á có thể biến động mạnh, tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, khả năng chuyển hướng sang chính sách bảo hộ thương mại tại một số nước cũng gây rủi ro cho các nước trong khu vực Do các nước trong khu vực đã hội nhập sâu vào thị trường thế giới, do đó thương mại toàn cầu suy giảm sẽ gây tổn thương cho các nước Châu Á (Hoàng Thế Thỏa, 2017) Trong giai đoạn trung hạn, các nước Châu Á phải đối mặt với khó khăn, đó là tình trạng già hóa dân số và xu hướng năng suất tăng chậm lại Đây là thách thức rất lớn, trong bối cảnh số người thu nhập thấp gia tăng nhanh chóng tại nhiều nơi trong khu vực
Đứng trước những thách thức trong vấn đề dòng vốn đầu tư nói riêng và nhiệm vụ kích thích tăng trưởng kinh tế nói chung, Châu Á là lựa chọn hợp lý trong việc xem xét ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân thông qua việc xem xét liệu đầu tư công ở các nước đang phát triển tại khu vực Châu Á trong mẫu nghiên cứu có thúc đẩy đầu tư tư nhân hay không? Đó cũng là lý do thúc đẩy tôi thực hiện
bài nghiên cứu “ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG LÊN ĐẦU TƯ TƯ
NHÂN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN KHU VỰC CHÂU Á”
Trong khi các nghiên cứu trước đây xem xét tác động của đầu tư công lên đầu
tư tư nhân thường tiếp cận chủ yếu dựa trên các số liệu về tổng vốn đầu tư công và tổng vốn đầu tư tư nhân của các quốc gia Bài nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân thông qua việc sử dụng cách tiếp cận dữ liệu theo cả hai hướng là tổng lượng vốn và khối lượng (stock) vốn có trong nền kinh tế các quốc gia đang phát triển ở khu vực Châu Á, bằng cách đưa chênh lệch khỏi vị trí cân bằng trong mối quan hệ dài hạn giữa khối lượng đầu tư công và khối lượng đầu
tư tư nhân vào xem xét trong phương trình hồi quy Ngoài ra, việc sử dụng mô hình PMG (Pooled Mean Group) – mô hình khắc phục được những hạn chế của phương
Trang 13pháp GMM (General Method of Moments) cũng là một điểm mới về phương pháp ước lượng tác động trong nghiên cứu về chủ đề này, áp dụng cho bộ dữ liệu bảng gồm 10 quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á để tìm ra những bằng chứng về vai trò của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân trong bối cảnh nền kinh tế Châu Á đang ngày càng phát triển mạnh, nhưng phải đương đầu với những thách thức liên quan đến vấn đề năng suất, mà đầu tư công đang là nhân tố được các chuyên gia nhận định sẽ giữ vai trò quan trọng trong việc cải thiện vấn đề này Kết quả bài nghiên cứu có thể củng cố thêm những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân tại các quốc gia đang phát triển Đồng thời giúp chúng ta có những nhận định đúng về hiệu quả của đầu tư công trong vai trò thúc đẩy đầu tư tư nhân tại các quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á Từ đó đưa ra những gợi ý về chính sách cho chính phủ của các nước đang phát triển khu vực Châu Á về việc tăng cường hay cắt giảm đầu tư công trong giai đoạn sắp tới là thích hợp
Cấu trúc bài nghiên cứu như sau: Chương 1 Giới thiệu, Chương 2 Tổng quan
lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, Chương 3 Thực trạng đầu tư tại một số quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á, Chương 4 Phương pháp nghiên cứu, Chương 5 Kết quả nghiên cứu và Chương 6 Kết luận
Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân luôn là một trong những đề tài nghiên cứu được quan tâm trong lĩnh vực kinh tế nói chung và tài chính công nói riêng Các lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này thông qua nhiều cách tiếp cận là vô cùng đa dạng; do đó trước khi đi vào chi tiết nghiên cứu, bài nghiên cứu tiến hành tóm tắt sơ lược một số lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của đầu tư công nói riêng và các nhân tố khác nói chung đến đầu
tư tư nhân
Trang 14CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY
“Quan điểm thứ nhất cho rằng, đầu tư công là toàn bộ nội dung liên quan đến đầu tư sử dụng vốn nhà nước, bao gồm hoạt động đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư sử dụng vốn nhà nước không nhằm mục đích thu lợi nhuận vào các chương trình, dự án phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội (gọi tắt là nhóm 1); các hoạt động đầu tư, kinh doanh
sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt là quản lý các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước (gọi tắt là nhóm 2)
Quan điểm thứ hai khẳng định, đầu tư công chỉ bao gồm các hoạt động đầu tư bằng vốn nhà nước cho các dự án, chương trình không vì mục tiêu thu lợi nhuận, tức là giới hạn trong phạm vi các hoạt động đầu tư thuộc nhóm 1.” (trích bài “Luật Đầu tư công: Một khái niệm, hai quan điểm” của Luật gia Vũ Xuân Tiền)
Việc tồn tại hai quan điểm trên là do sự khác nhau tùy theo góc nhìn của từng đối tượng Chẳng hạn, nếu xét theo nguồn vốn đầu tư thì bất kỳ khoản đầu tư nào, đầu tư vào đâu với mục đích gì đều là đầu tư công nếu nguồn vốn đầu tư là của nhà nước, tức là của chung, không của riêng cá nhân hoặc pháp nhân nào Tuy nhiên nếu xét theo mục đích đầu tư thì đầu tư công lại được hiểu là chỉ bao gồm đầu tư vào những chương trình, dự án phục vụ cộng đồng, không vì mục đích thu lợi nhuận
Dù cách hiểu khác nhau, song điểm chung nhất là hoạt động đầu tư công có sự tham gia của nguồn vốn nhà nước (từ ngân sách nhà nước, do nhà nước vay, nhà
Trang 15nước bảo lãnh khoản vay ) Sau đây là một số những định nghĩa chính thống về đầu tư công, mặc dù có khác nhau về cách diễn đạt nhưng nhìn chung đều xoay quanh hai quan điểm nêu trên
Theo giáo trình Kinh tế đầu tư, Đầu tư công là việc sử dụng vốn Nhà nước (bao gồm cả vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước và vốn của các doanh nghiệp nhà nước) để đầu tư vào các chương trình, dự án không vì mục tiêu lợi nhuận và (hoặc) không có khả năng hoàn vốn trực tiếp
Theo Điều 4 Luật đầu tư công: Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
2.1.1.2 Nguồn vốn đầu tư công:
Nguồn vốn đầu tư công bao gồm:
Vốn ngân sách nhà nước: nguồn thu từ các khoản thuế, phí, lệ phí…
Nguồn vốn tín dụng nhà nước: nhà nước vay vốn từ người dân trong nước hoặc thị trường tín dụng quốc tế
Nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước
2.1.2 Đầu tư tư nhân:
2.1.2.1 Khái niệm:
Đầu tư tư nhân là hình thức cá nhân hay một doanh nghiệp sở hữu tư nhân sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thu được lợi ích về kinh tế
Đầu tư tư nhân là hàng hóa cuối cùng mà các công ty kinh doanh giữ lại và thêm vào tài sản tạo ra thu nhập của quốc gia Thứ nhất là đầu tư hàng tồn kho bao gồm tất cả các thay đổi trong kho nguyên vật liệu, phụ tùng, hàng thành phẩm kinh doanh; và thứ hai là đầu tư cố định, bao gồm tất cả các mặt hàng cuối cùng được mua bởi doanh nghiệp mà không nhằm bán lại (Mlambo và Oshikoya, 2001)
Trang 162.1.2.2 Nguồn vốn đầu tư tư nhân:
Các nguồn vốn của đầu tư tư nhân bao gồm:
Vốn chủ sở hữu: gồm vốn tự có (vốn điều lệ ban đầu của doanh nghiệp) và lợi nhuận giữ lại trong quá trình sản xuất kinh doanh
Vốn vay: có hai cách để tiếp cận nguồn vốn này
- Vay ngân hàng: là hình thức mà các doanh nghiệp thường sử dụng khi thiếu vốn, thông qua việc thỏa thuận với các ngân hàng về hạn mức vay tương ứng với các điều kiện ngân hàng đưa ra mà doanh nghiệp có thể đáp ứng
- Vay từ đại chúng: qua phát hành chứng khoán
2.1.3 Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân:
Từ quan điểm lý thuyết, tác động của đầu tư công lên đầu tư tư nhân có thể diễn ra theo hai hướng: một là hiệu ứng thúc đẩy (crowding-in effect), hai là hiệu ứng chèn lấn hay hiệu ứng lấn át (crowding-out effect)
Hiệu ứng thúc đẩy (crowding-in effect) xảy ra khi đầu tư công có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy đầu tư tư nhân Trường phái tân cổ điển cho rằng đầu
tư công vào cơ sở hạ tầng, cải thiện chất lượng và nâng cao nguồn nhân lực có thể cải thiện môi trường đầu tư, làm tăng năng suất cho khu vực tư nhân Ví dụ đầu tư công vào các lĩnh vực năng lượng, viễn thông và các ngành công nghiệp khác có thể thúc đẩy các hoạt động đầu tư tư nhân (theo Pereira và Andraz, 2013)
Trái ngược với hiệu ứng thúc đẩy, hiệu ứng lấn át (crowding-out effect) cũng
có khả năng xảy ra khi mà đầu tư công gây cản trở hay lấn át đầu tư tư nhân Nếu khu vực công và khu vực tư nhân cạnh tranh với nhau thì chi phí cho đầu tư tư nhân
có thể tăng lên Hay việc tăng đầu tư công được tài trợ có thể hàm ý rằng gánh nặng thuế hoặc nhu cầu về vốn của chính phủ sẽ tăng cao dẫn đến làm tăng lãi suất, gây khó khăn cho hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân Hiệu ứng lấn át cũng có thể xảy ra trong thời kỳ chính phủ luôn dành những ưu đãi trong các dự án hay ngành nghề mà tư nhân có khả năng tham gia cho các doanh nghiệp nhà nước, dẫn đến khu
Trang 17vực tư nhân không thể tham gia hay không có năng lực cạnh tranh Tất cả những điều này đều khiến cho hoạt động đầu tư tư nhân bị hạn chế hay bị lấn át do các hoạt động đầu tư công
Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân còn có thể giải thích dựa theo
sự cân bằng dài hạn giữa vốn tư nhân và vốn công Xét hàm sản xuất Douglas:
Cobb-𝒀𝒕 = 𝑨𝒕𝑳𝒕𝜶𝑲𝒕𝜷𝑮𝒕𝜸 (2.1)
Trong đó:
Y là sản lượng đầu ra; A là tiến bộ khoa học kỹ thuật; L là tổng lao động; K là vốn tư nhân; G là vốn công; t là thời gian Các tham số 𝛼, 𝛽, 𝛾 là các tham số thể hiện độ co dãn theo hàm sản xuất Trong khi đó 𝛾𝑌/𝐺 là sản lượng đầu ra biên của vốn đầu tư công và 𝛽𝑌/𝐾 là sản lượng đầu ra biên của vốn đầu tư tư nhân Trong thị trường vốn hoàn hảo, sản lượng biên bằng với lãi suất thực trong khu vực tư nhân (đặt là rp) và lãi suất thực khu vực công (rg)
lệ cố định, 𝑟𝑝 = 𝜆𝑟𝑔 ta có:
𝑲𝒕 = 𝜷
𝝀𝜸𝑮𝒕 (2.3) Phương trình (2.3) cho thấy mối quan hệ dài hạn (hay tồn tại đồng liên kết) giữa vốn đầu tư công và vốn đầu tư tư nhân Nếu sản lượng biên của hai khu vực bằng nhau thì tham số đồng liên kết sẽ phản ánh tỷ lệ độ co dãn của hàm sản xuất Tuy nhiên nếu đầu tư công là biến ngoại sinh do nó thường được quyết định bởi ngân sách của chính phủ thì đầu tư tư nhân sẽ phản ứng với sự chênh lệch trong
Trang 18khối lượng vốn giữa hai khu vực trong dài hạn Chính vì vậy mà sự cân bằng dài hạn giữa khối lượng vốn hai khu vực có khả năng giải thích dòng đầu tư tư nhân, ngoài các yếu tố như hoạt động của nền kinh tế và chi phí sử dụng vốn
Bên cạnh những lập luận về mặt lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân cũng là một chủ đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu kinh tế và các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia quan tâm Sau đây là một số tóm tắt về các nghiên cứu thực nghiệm của chủ đề này
2.2 Các nghiên cứu trước đây:
2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân:
Về mặt lý thuyết, ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân xoay quanh hai lập luận về hiệu ứng thúc đẩy (crowding-in effect) và hiệu ứng lấn át (crowding-out effect) Trong nhiều năm qua, những nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến hai hiệu ứng này trong mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân đã được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế thực hiện bằng nhiều phương pháp và mẫu dữ liệu khác nhau, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhiều bằng chứng ủng hộ sự tồn tại của cả hai hiệu ứng trên
2.2.1.1 Các bằng chứng thực nghiệm về hiệu ứng thúc đẩy (crowding-in effect)
Aschauer (1989) đã thực hiện bài nghiên cứu “Does Public capital crowd out Private capital?” nghiên cứu tác động của chi tiêu vốn công lên đầu tư tư nhân và tỷ suất sinh lợi của khu vực tư nhân bằng cách sử dụng mô hình tân cổ điển, thu thập
dữ liệu của Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ năm 1953 đến năm 1986 Aschauer lập luận khi xem xét một cách sơ bộ việc tích lũy vốn công cao hơn sẽ làm tăng tỷ
lệ đầu tư của quốc gia vượt quá mức và gây ra một sự chèn ép lên đầu tư tư nhân Tuy nhiên, ở một mức độ sâu hơn, vốn công đầu tư vào cơ sở hạ tầng có thể bổ sung cho vốn tư nhân vào lĩnh vực sản xuất, phân phối hàng hoá và dịch vụ tư nhân
Do đó, đầu tư công có thể được coi là tăng đầu tư tư nhân vì trước hết nó làm tăng khả năng sinh lợi của khối lượng vốn tư nhân, dẫn đến sự tích tụ vốn tư nhân cao
Trang 19hơn và tăng trưởng GDP Kết quả thực nghiệm cho thấy mặc dù cả hai hiệu ứng này đều có thể xuất hiện nhưng hiệu quả thuần của việc tăng chi đầu tư công có thể sẽ tăng đầu tư tư nhân, tức hiệu ứng thúc đẩy (crowding-in effect) chiếm ưu thế
Argimón và cộng sự (1997) trong bài nghiên cứu “Evidence of Public spending crowding-out from a panel of OECD countries” sử dụng bộ dữ liệu 14 quốc gia khu vực OECD đã báo cáo những ảnh hưởng đáng kể của hiệu ứng thúc đẩy của đầu tư công lên đầu tư tư nhân đối với các nước OECD do ảnh hưởng tích cực của cơ sở hạ tầng đến năng suất Ngoài ra, chi tiêu chính phủ chèn lấn đầu tư tư nhân Do đó, việc giảm thiểu thâm hụt thông qua cắt giảm đầu tư công có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đầu tư tư nhân và triển vọng tăng trưởng
Christophe Kamps (2004) thực hiện bài nghiên cứu “The Dynamic Effects of Public Capital: VAR Evidence for 22 OECD Countries” ước lượng các ảnh hưởng động của vốn công bằng cách sử dụng phương pháp vector tự hồi quy (VAR) cho một mẫu gồm 22 quốc gia OECD, trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến năm
2001 Trong bài nghiên cứu, tất cả các biến được coi là biến nội sinh, và cho phép xem xét tác động phản hồi của biến đầu ra đối với ba biến đầu vào Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với phần lớn các quốc gia trong mẫu, vốn công và vốn tư nhân là những khoản bổ sung trong dài hạn
Lutfi Erden và Randall G Holcombe (2005) thực hiện nghiên cứu “The effects
of Public investment on Private investment in Developing economies”, sử dụng mô hình đầu tư gia tốc linh hoạt (flexible accelerator investment model) cho bộ dữ liệu
19 quốc gia đang phát triển trong khoảng thời gian từ năm 1980 đến năm 1997 Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu tư công bổ sung cho đầu tư tư nhân, và trung bình việc tăng 10% trong đầu tư công có liên quan đến sự gia tăng 2% trong đầu tư tư nhân Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đầu tư tư nhân bị hạn chế bởi sự sẵn có của tín dụng ngân hàng ở các nền kinh tế đang phát triển
Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân cũng được rất quan tâm ở Việt Nam, điển hình là bài nghiên cứu của Sử Đình Thành (2011) với chủ đề “Đầu
Trang 20tư công chèn lấn hay thúc đẩy đầu tư khu vực tư nhân ở Việt Nam?”, sử dụng mô hình tự hồi quy vector cấu trúc SVAR cho bộ dữ liệu thu thập từ năm 1990 đến năm
2010 tìm thấy bằng chứng cho thấy đầu tư công thúc đẩy đầu tư tư nhân trong giai đoạn nghiên cứu tại Việt Nam
Bài nghiên cứu “Does public capital crowd-out or crowd-in Private capital in India?” của Tarlok Singh (2012) xem xét ảnh hưởng dài hạn của vốn công lên nguồn vốn tư nhân và kiểm định sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả Granger giữa vốn công và vốn tư nhân ở Ấn Độ Cả hai phương trình và hệ số ước lượng của mô hình đều nhất quán cho thấy tác động thúc đẩy trong dài hạn của vốn công Mô hình hiệu chỉnh sai số và mô hình over-parameterized level-VAR được sử dụng đều nhất quán cho thấy tính nhân quả của Granger theo hướng hợp nhất giữa vốn công và vốn tư nhân Sự tồn tại của hiệu ứng thúc đẩy của vốn công có ý nghĩa thống kê đóng vai trò quan trọng đối với việc xây dựng các chiến lược tăng trưởng và phát triển dài hạn tại Ấn Độ
Afonso và Aubyn (2008) thực hiện bài nghiên cứu “Macroeconomic rates of return of Public and Private investment: crowding-in and crowding-out effects” đánh giá hiệu quả kinh tế vĩ mô của đầu tư nhà nước và tư nhân thông qua phân tích VAR cho bộ dữ liệu bảng bao gồm 14 quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu, cùng với Canada, Nhật Bản và Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến năm 2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu tư công có thể vừa thúc đẩy vừa lấn át đầu tư tư nhân; cụ thể hiệu ứng lấn át xuất hiện trong 5 trường hợp; hiệu ứng thúc đẩy chiếm
ưu thế trong 8 trường hợp (Áo, Đức, Đan Mạch, Phần Lan, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Thụy Điển) Sự thay đổi nhân quả dường như là hướng tổng quát hơn Trên thực tế sự gia tăng đầu tư tư nhân làm tăng GDP và tăng doanh thu thuế phục vụ cho đầu tư công
2.2.1.2 Các bằng chứng thực nghiệm về hiệu ứng lấn át (crowding-out effect)
Trong bài nghiên cứu chủ đề “Interactions between Public and Private investment: Evidence from Developing countries” của Erdal Atukeren (2004)
Trang 21nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân ở các nước đang phát triển bằng cách sử dụng phân tích đồng liên kết và kiểm định nhân quả Granger đối với mẫu 25 quốc gia đang phát triển bao gồm 12 nước Mỹ Latinh, 8 nước Châu Á và 5 nước Châu Phi Các dữ liệu đầu tư được thể hiện ở dạng phần trăm GDP và được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến năm 2000 Kết quả nghiên cứu xác định 11 quốc gia có đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân, 8 quốc gia có đầu tư công thúc đẩy đầu tư tư nhân và 6 quốc gia không tìm thấy các bằng chứng về sự tồn tại của cả hiệu ứng thúc đẩy và chèn lấn Bên cạnh đó bài nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phân tích probit và các chỉ số thành phần của “chỉ số
tự do kinh tế” (“Economic Freedom Index”) để tìm ra những đặc điểm chung của các quốc gia có các khoản đầu tư công được tìm thấy là chèn lấn đầu tư tư nhân Mô hình cho thấy 10 trong số 11 trường hợp có tác động chèn lấn và 13 trong số 14 trường hợp không có tác động này
Bên cạnh những bằng chứng về hiệu ứng thúc đầy trong bài nghiên cứu của Christophe Kamps (2004), nghiên cứu cũng tìm ra mối quan hệ ngắn hạn giữa vốn công và vốn tư nhân trong mẫu các nước được phân biệt thành hai nhóm: (i) nhóm thứ nhất bao gồm các quốc gia có vốn công và vốn tư nhân là những tài sản thay thế trong ngắn hạn và (ii) nhóm thứ hai có vốn công và vốn tư nhân là những khoản bổ sung trong ngắn hạn
Lutfi Erden và Randall G Holcombe (2005) thực hiện nghiên cứu trên bộ dữ liệu bảng 19 quốc gia đang phát triển và 12 nước phát triển Trái ngược với các nền kinh tế đang phát triển, các kết quả cho thấy đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân ở các nền kinh tế phát triển Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy đầu tư tư nhân ở các nền kinh tế phát triển bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác với đầu tư tư nhân ở các nền kinh tế đang phát triển
Afonso và Aubyn (2008) thực hiện bài nghiên cứu “Macroeconomic rates of return of Public and Private investment: crowding-in and crowding-out effects” đã tìm ra sự chiếm ưu thế của các bằng chứng về hiệu ứng thúc đẩy, tuy nhiên nghiên
Trang 22cứu cũng tìm thấy bằng chứng của hiệu ứng lấn át xuất hiện trong 5 trường hợp bao gồm: Bỉ, Ailen, Canada, Anh và Hà Lan
Gần đây, Christian Dreger, Hans-Eggert Reimers (2016) thực hiện nghiên cứu
đề tài “Does Public investment stimulate Private investment? Evidence for the Euro area” xem xét mối quan hệ dài hạn giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân trong khu vực đồng Euro sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số dạng bảng (panel error – correction model) cho bộ dữ liệu bảng các nước khu vực đồng Euro bao gồm Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Ireland, Áo, Phần Lan, Hà Lan, Bỉ và Luxembourg trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại bằng chứng về việc dòng đầu tư tư nhân sẽ được thúc đẩy bởi GDP trong dài hạn, ngược lại sự gia tăng trong lãi suất thực sẽ gây ra sự suy giảm trong hoạt động đầu tư tư nhân Bên cạnh đó việc khối lượng vốn tư nhân tăng so với vốn công sẽ làm cho đầu tư tư nhân giảm sau đó
Từ các nghiên cứu trên, có thể thấy bằng chứng về hiệu ứng thúc đẩy
(crowding-in effect) giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân chiếm ưu thế trong nhiều
nghiên cứu thực nghiệm và được tìm thấy chủ yếu trong dài hạn ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở các quốc gia thuộc khu vực OECD (Argimón và cộng
sự (1997); Christophe Kamps (2004)) Các kết quả nghiên cứu cho thấy sự tồn tại của hiệu ứng thúc đẩy ở các quốc gia phần lớn đến từ đầu tư công theo hướng phát triển cơ sở hạ tầng, từ đó giúp tăng năng suất và hỗ trợ đầu tư tư nhân
Bên cạnh các bằng chứng của hiệu ứng thúc đẩy, hiệu ứng lấn át
(crowding-out effect) cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu thực nghiệm, đặc biệt là ở các
quốc gia phát triển (Lutfi Erden và Randall G Holcombe (2005); Afonso và Aubyn (2008)) và cả các quốc gia đang phát triển (Erdal Atukeren (2004)) Các kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tham gia của chính phủ vào nền kinh tế càng cao, sự mở cửa thương mại càng thấp, càng có nhiều hạn chế đối với việc sử dụng ngoại tệ, môi trường vĩ mô và môi trường tiền tệ càng ổn định thì càng có nhiều khả năng các khoản đầu tư công sẽ có tác động chèn lấn đầu tư tư nhân
Trang 23Ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân luôn là chủ đề được quan tâm của các nhà nghiên cứu kinh tế về cả phương diện lý thuyết và thực nghiệm từ xưa đến nay Có rất nhiều nghiên cứu về chủ đề này được thực hiện bằng nhiều phương pháp, áp dụng cho cả dữ liệu của một nước hay cho một nhóm nước, tuy nhiên các kết quả thu được là không giống nhau giữa các quốc gia riêng biệt hay các nhóm quốc gia Nhìn chung, các bằng chứng thực nghiệm đều chỉ ra sự tồn tại của cả hai hiệu ứng chèn lấn và thúc đẩy của đầu tư công lên đầu tư tư nhân
Tuy nhiên, ngoài đầu tư công, đầu tư tư nhân còn chịu tác động của nhiều nhân tố vĩ mô khác đã được chứng thực qua các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm Sau đây là một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa đầu tư tư nhân và một số yếu tố vĩ mô khác
2.2.2 Mối quan hệ giữa đầu tư tư nhân và một số yếu tố vĩ mô khác:
Bên cạnh những thảo luận và nghiên cứu thực nghiệm sôi nổi về tác động của đầu tư công lên đầu tư tư nhân, đề tài về các nhân tố tác động lên đầu tư tư nhân cũng rất được quan tâm
Có rất nhiều nghiên cứu về đầu tư tư nhân cho các trường hợp của cả hai nền kinh tế phát triển và đang phát triển Blejer và Khan (1984) nghiên cứu hàm đầu tư
ở các nước đang phát triển sử dụng dữ liệu tổng hợp của 24 quốc gia trong giai đoạn năm 1971-1979 Họ nhận thấy tình trạng sẵn có về tín dụng và các khoản đầu tư công cơ sở hạ tầng có liên quan tích cực đến đầu tư tư nhân Ngoài ra, các hiện tượng chèn lấn đang diễn ra trong trường hợp đầu tư phi cơ sở hạ tầng
Sark (1993) thực hiện nghiên cứu “Determinants of Private Investment in Pakistan”, sử dụng bộ dữ liệu Pakistan từ năm 1974 đến năm 1992 để điều tra những nhân tố quyết định tác động vào đầu tư tư nhân tại Pakistan Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa đầu tư tư nhân và tăng trưởng GDP Báo cáo của họ phân chia đầu tư công thành đầu tư cơ sở hạ tầng và không thuộc cơ sở
hạ tầng và nhận thấy rằng đầu tư phi cơ sở hạ tầng tương quan âm với đầu tư tư nhân
Trang 24Serven và Solimano (1993) cho rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư
tư nhân ở các nước đang phát triển Trong số đó có tăng trưởng GDP, tỷ giá hối đoái thực, đầu tư công, lãi suất thực, nợ công và sự không chắc chắn là những yếu
tố chính ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân Họ cho rằng các chính sách tiền tệ và tín dụng nghiêm ngặt được thông qua trong các gói bình ổn ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân bằng cách tăng chi phí thực tế của tín dụng cũng như lãi suất Các gói này làm tăng chi phí cơ hội của thu nhập được giữ lại và tăng chi phí sử dụng vốn do đó giảm đầu tư
Trong bài nghiên cứu “Macroeconomic Determinants of Domestic Private Investment in Africa: An Empirical Analysis", Oshikoya (1994) sử dụng mô hình hàm đầu tư tư nhân cho các quốc gia châu Phi có thu nhập trung bình và thu nhập thấp trong giai đoạn năm 1971 đến năm 1988 Ông nhận thấy rằng tăng trưởng sản lượng thực, tỷ giá hối đoái thực, tín dụng sẵn có và đầu tư cơ sở hạ tầng của chính phủ có liên quan tích cực đến đầu tư tư nhân trong nước ở các nước Châu Phi Lạm phát và nợ nước ngoài làm tăng tính không chắc chắn về kinh tế, do đó có ý nghĩa tiêu cực đến đầu tư tư nhân
Ronge và Kimuyu (1997) đã tiến hành nghiên cứu về Kenya trong bài nghiên cứu “Private Investments in Kenya: Trends, Composition and Determinants”, sử dụng dữ liệu giai đoạn năm 1986 - 1996 Các tác giả sử dụng mô hình gia tốc linh hoạt (Flexible accelerator model), sửa đổi nó để xem xét những khó khăn tài nguyên
mà các nhà đầu tư tư nhân phải đối mặt ở các nền kinh tế đang phát triển Những phát hiện của họ cho thấy sự sẵn có của tín dụng, dự trữ ngoại hối và đầu tư công có tác động tích cực đến đầu tư tư nhân ở Kenya Nợ công và tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân Nghiên cứu của họ cũng phát hiện ra rằng lãi suất thực ảnh hưởng không đáng kể đến đầu tư tư nhân ở Kenya do sự hiện diện của áp chế tài chính trong thời gian được xem xét
Nghiên cứu “Impact of Fiscal Policy on Private Investment in Kenya” của Kiptui (2005) cho thấy tăng trưởng kinh tế là yếu tố quyết định quan trọng nhất cho
Trang 25đầu tư tư nhân Bài nghiên cứu cũng chỉ ra sự cởi mở của nền kinh tế như là yếu tố quyết định cho hoạt động đầu tư mà các công ty phải tự thực hiện để đối phó với sự cạnh tranh ngày càng tăng của các công ty nước ngoài Kiptui đã giới thiệu một biến giả để đại diện cho sự tự do hóa trong những năm 1990 và cho thấy những ảnh hưởng tiêu cực của sự tự do hoá đối với đầu tư tư nhân Nghiên cứu cho thấy rằng tăng nhập khẩu ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư cũng như sự mất giá của đồng nội tệ, đồng thời lưu ý về mối quan hệ tiêu cực tồn tại giữa đầu tư tư nhân và lạm phát Cũng với bộ dữ liệu này, Muraga (2006) thực hiện nghiên cứu “Determinants
of Demand for Private Investment in Kenya, 1970-2003” sử dụng một biến thể của
mô hình gia tốc linh hoạt tân cổ điển (the neoclassical flexible accelerator model) Đầu tư tư nhân được xác định theo hàm của lãi suất, tỷ giá hối đoái, thu nhập từ vốn, thu nhập bình quân, chỉ số giá tiêu dùng, tổng chiều dài đường nhựa và các biến giả biểu hiện sự tự do hóa Các yếu tố dường như thúc đẩy đầu tư tư nhân theo nghiên cứu này là lãi suất, thu nhập bình quân đầu người và lạm phát Đặc biệt nghiên cứu cho thấy cơ sở hạ tầng và tỷ giá làm suy yếu đầu tư tư nhân, tuy nhiên các hệ số hồi quy của các biến này không có ý nghĩa thống kê
Trong bài nghiên cứu “The Determinants of Private Investment In Ghana: An ARDL Approach”, Frimpog và Marbuah (2010) đã tiến hành xem xét tình hình đầu
tư ở Ghana bằng cách sử dụng các kỹ thuật kinh tế lượng chuỗi thời gian trong mô hình ARDL Các yếu tố tiềm ẩn ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân là đầu tư công, lạm phát, lãi suất thực, độ mở nền kinh tế, tỷ giá hối đoái thực và luật hiến pháp Trong
đó sản lượng và nợ nước ngoài dài hạn là yếu tố bổ sung quan trọng, trong khi đầu
tư công không có vai trò đáng kể Trong số tất cả các yếu tố tác động đến đầu tư tư nhân có ý nghĩa thống kê, chỉ có nợ nước ngoài và độ mở có tác động tiêu cực
Al Khatib, Altaleb và Alokar (2012) thực hiện nghiên cứu “Economical Determinants of Domestic Investment” phân tích các yếu tố quyết định về kinh tế trong đầu tư trong nước giai đoạn năm 1980 - 2010 tại Jordan, xem xét cả biến động ngắn hạn và dài hạn của quá trình đầu tư Theo kết quả, việc mở rộng xuất
Trang 26khẩu hàng hoá và dịch vụ là yếu tố quyết định quan trọng cho đầu tư trong nước Ước lượng dài hạn cho thấy việc cải thiện trung gian tài chính thúc đẩy đầu tư trong nước bằng sự đóng góp của các tổ chức này để đáp ứng các nhu cầu về tài chính và sau đó giảm chi phí đi vay Kết quả thực nghiệm cho thấy dòng vốn FDI có ảnh hưởng thúc đẩy đối với đầu tư trong nước, và có mối quan hệ bổ sung giữa FDI và đầu tư trong nước
Gần đây nhất là nghiên cứu của D S Kodithuwakku và cộng sự (2016) thực hiện nghiên cứu “Study on the factors affecting Private investments in Sri Lanka” nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân trong nền kinh tế của Sri Lanka Nghiên cứu dựa trên số liệu thứ cấp trong giai đoạn năm 1975-2015, sử dụng mô hình OLS Kết quả từ mô hình hồi quy và hệ số tương quan của nghiên cứu cho thấy tăng trưởng GDP thực, tỷ giá hối đoái thực, lạm phát, thâm hụt ngân sách, ngoại thương, đầu tư trực tiếp nước ngoài và yếu tố tự do hóa có tác động tích cực lên đầu tư tư nhân Trong tất cả các biến độc lập, đầu tư trực tiếp nước ngoài là yếu tố ảnh hưởng nhất đến đầu tư tư nhân tại Sri Lanka trong khi yếu tố tự do hóa là yếu tố ít ảnh hưởng nhất Mối quan hệ giữa yếu tố tự do hoá và đầu tư tư nhân cho thấy tầm quan trọng của việc xuất khẩu và nhập khẩu trong việc xác định các khoản đầu tư tư nhân ở Sri Lanka Do đó, nghiên cứu nhấn mạnh rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỷ giá thực và thương mại nước ngoài đóng vai trò quan trọng như là yếu tố quyết định đầu tư tư nhân
Nhìn chung, các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân nói riêng và mối quan hệ giữa đầu tư tư nhân và các nhân tố vĩ mô khác thường xây dựng mô hình tổng quát dựa vào các lý thuyết như: lý thuyết tân
cổ điển, lý thuyết gia tốc (Accelerator theory), lý thuyết về tính thanh khoản Tuy nhiên các mô hình lý thuyết này được phân tích trong bối cảnh các nền kinh tế phát triển, trong khi đó việc áp dụng các lý thuyết này tại các nước đang phát triển bị giới hạn bởi phần lớn do không có dữ liệu.Vì vậy các nghiên cứu về tác động của đầu tư công lên đầu tư tư nhân hay các yếu tố quyết định đầu tư tư nhân ở các nước đang phát triển đã chuyển từ các lý thuyết truyền thống và tập trung nhiều hơn vào
Trang 27vai trò của sự phát triển của khu vực tài chính (Khatib, Altaleb & Alokor, 2012) Trong đó các nhân tố thường được đưa vào mô hình để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân tại các quốc gia đang phát triển và có ý nghĩa bao gồm: đầu tư công, GDP thực hoặc tăng trưởng GDP thực, lãi suất, độ mở của nền kinh tế,
sự tự do hóa, tỷ giá hối đoái, sự sẵn có của tín dụng…
Hình 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân
Bên cạnh những đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế đến đầu tư tư nhân trong việc tìm ra nhiều nhân tố cụ thể có tác động đến đầu tư tư nhân ở các trường hợp mẫu cụ thể, từ đó đưa ra các gợi ý chính sách trong việc thúc đẩy đầu tư tư nhân Các nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân nói chung và ảnh hưởng của đầu tư công đến đầu tư tư nhân nói riêng thường sử dụng các phương pháp ước lượng như phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS, phương pháp nhân quả Granger, phương pháp ARDL, phương pháp vector tự hồi quy VAR hay các biến thể của VAR để ước lượng mối quan hệ giữa đầu tư tư nhân và các nhân tố kinh tế cụ thể (đầu tư công, lãi suất, độ mở nền kinh tế, GDP…) mà chưa có
sự quan tâm sâu về sự phù hợp của đặc điểm dữ liệu thu thập với mô hình ước lượng sử dụng Nhiều nghiên cứu thực nghiệm có tính kết luận tổng quát trong dài
Đầu tư
tư nhân
Đầu tư công
GDP
Lãi suất
Tỷ giá hối đoái
Sự ổn định vĩ
mô trong nước
Độ mở nền kinh
tế
Tín dụng khu vực
tư nhân
Sự ổn định vĩ
mô bên ngoài
Trang 28hạn, nhưng chưa có sự kết luận cụ thể trong từng trường hợp quốc gia cụ thể dẫn đến các hàm ý chính sách từ các kết quả nghiên cứu có thể phù hợp với quốc gia này nhưng lại không phù hợp với quốc gia khác trong mẫu
Ngoài ra, đối với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về ảnh hưởng của đầu
tư công lên đầu tư tư nhân, các biến kiểm soát được lựa chọn đưa vào mô hình đa phần dựa trên các lý thuyết như lý thuyết tân cổ điển hay dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trước mà chưa có sự xem xét sự phù hợp của các biến kiểm soát so với tình hình cụ thể của các quốc gia nghiên cứu trong mẫu
Sơ lược về các nghiên cứu liên quan đến đầu tư tư nhân tại một số quốc gia đang phát triển, chúng ta có thể thấy đầu tư tư nhân thực sự là một vấn đề luôn được quan tâm về mặt học thuật đối với các nhà nghiên cứu kinh tế Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân ở các quốc gia đang phát triển được tiến hành không đơn thuần là do sự đa dạng của chủ đề này về mặt lý thuyết và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm mà còn bởi tầm quan trọng của đầu
tư tư nhân trong thực tiễn Hoạt động đầu tư tư nhân ngày càng phát triển mạnh cả
về khối lượng lẫn hình thức đầu tư, dẫn đến sự ảnh hưởng của đầu tư tư nhân đến các nhân tố khác trong nền kinh tế vĩ mô, quan trọng nhất phải kể đến là tăng trưởng kinh tế của quốc gia là vô cùng phức tạp và đa dạng, đặc biệt là ở Châu Á – khu vực thu hút đầu tư nhiều nhất hiện nay Do đó, trước khi tiến hành những ước lượng về mặt thực nghiệm, chúng ta cùng nhìn lại tổng quan về thực trạng đầu tư tại một số quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á để có cái nhìn cụ thể về tình hình đầu tư thực tế tại đây
Trang 29CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN KHU VỰC CHÂU Á TRONG GIAI
ĐOẠN NĂM 1990 - 2013
Châu Á hiện đang là khu vực thu hút đầu tư nhiều nhất trên thế giới Hoạt
động đầu tư ở các quốc gia tại khu vực này diễn ra sôi nổi về cả khối lượng và hình
thức đầu tư Các nước đang phát triển chủ yếu là các nhà xuất khẩu các sản phẩm thô, các nhà nhập khẩu chính về các mặt hàng trung gian và linh kiện chế tạo Họ phải đối mặt với nợ quốc gia cao, áp chế tài chính, can thiệp chính trị và bất ổn kinh
tế vĩ mô Do đó, những biến động trong đầu tư tư nhân thường diễn ra thường xuyên
và phức tạp
Hình 3.1: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Bahrain trong giai đoạn năm
1990-2013 (Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF)
Trong giai đoạn năm 1990 – 1996, đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Bahrain
có chênh lệch không lớn và di chuyển ngược chiều nhau; cụ thể là đầu tư tư nhân có
xu hướng tăng từ 1,27 USD tỷ lên 2,03 tỷ USD; trong khi đầu tư công có xu hướng giảm nhẹ từ 1,22 tỷ USD xuống 0,52 tỷ USD Giai đoạn năm 1997-1999 ghi nhận một sự biến động cùng chiều trong mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân
Trang 30Sau năm 2002, đầu tư tư nhân tại Bahrain bắt đầu có sự tăng trưởng, cách biệt lớn với đầu tư công; đỉnh điểm là năm 2008 khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra thì đầu tư tư nhân tại Bahrain đạt đỉnh với mức đầu tư 9,07 tỷ USD; trong khi đó đầu tư công chỉ đạt 1,94 tỷ USD Sau năm 2008, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, đầu tư ở hai khu vực này bắt đầu giảm Nhìn chung, trong giai đoạn năm 1990-2013; đầu tư tư nhân ở Bahrain có xu hướng tăng, trong khi đầu tư công biến động theo xu hướng không rõ ràng nhưng giá trị biến động là rất nhỏ
Trong giai đoạn năm 1990-1998, đầu tư công và đầu tư tư nhân ở Bangladesh
có sự chênh lệch không nhiều và di chuyển cùng chiều, tuy nhiên sau giai đoạn này
sự chênh lệch giữa hai dòng vốn này là khá lớn Nhìn chung, đầu tư công và đầu tư
tư nhân có xu hướng tăng trong giai đoạn năm 1990-2013 và đạt đỉnh điểm là năm
2013 với tổng vốn đầu tư tư nhân khoảng 47,1 tỷ USD; đầu tư công khoảng 20,53 tỷ USD
Hình 3.2: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Bangladesh trong giai đoạn
năm 1990-2013 (Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF)
Trang 31Hình 3.3: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Trung Quốc trong giai đoạn
năm 1990-2013 (Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF)
Trong khu vực Châu Á, Trung Quốc là một trong những quốc gia hàng đầu thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài và có tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân lớn nhất Trung Quốc cũng là một trường hợp đặc biệt khi mà trong thời gian lấy mẫu từ năm 1990 đến năm 2013, đa số các quốc gia đang phát triển khu vực Châu
Á đều có xu hướng tổng đầu tư tư nhân lớn hơn đầu tư công rất nhiều, tuy nhiên tại Trung Quốc giai đoạn năm 1990-2008 lại có lượng đầu tư công lớn hơn đầu tư tư nhân và cả hai khu vực đều có xu hướng tăng trưởng khá ổn định Đặc biệt là đầu tư công luôn giữ vị thế cao với 269,31 tỷ USD trong năm 1990 lên 1084,15 tỷ USD trong năm 2003; trong khi tổng đầu tư tư nhân khởi điểm với 37,54 tỷ USD năm
1990 và phải đến năm 2006 mức đầu tư tư nhân mới vượt trên 1000 tỷ (cụ thể là
1047, 72 tỷ USD) Một đặc điểm khác của Trung Quốc so với các quốc gia còn lại
đó là đa số các quốc gia đều có xu hướng giảm đầu tư ở cả hai khu vực công và tư
do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008; tuy nhiên sau năm 2008 Trung Quốc vẫn ghi nhận một xu hướng tăng và sau đó đầu tư tư nhân thậm chí
Trang 32vượt lên trên đầu tư công ở Trung Quốc Cụ thể năm 2013; tổng đầu tư công ở Trung Quốc là 2389,41 tỷ USD và đầu tư tư nhân là 2833,81 tỷ USD
Trong giai đoạn năm 1990-2013, đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Ấn Độ đều
có mức tăng trưởng ổn định, di chuyển cùng chiều Tuy nhiên đầu tư nhân có mức tăng hay biến động nhiều hơn; từ 119,69 tỷ USD năm 1990 lên 933,36 tỷ USD; trong khi đầu tư công từ 83,57 tỷ USD lên 282,64 tỷ USD Ấn Độ cũng là một trong
số quốc gia có sự tăng trưởng tư nhân sau năm 2008, bất chấp ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và là quốc gia có lượng đầu tư lớn trong khu vực các nước đang phát triển khu vực Châu Á
Hình 3.4: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Ấn Độ trong giai đoạn năm
Trang 33Hình 3.5: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Indonesia trong giai đoạn
năm 1990-2013 (Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF)
Đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Indonesia lại có những đặc điểm khác so với các quốc gia trong mẫu, đó là sự cách biệt rõ ràng trong đầu tư tại hai khu vực này;
cụ thể trong năm 1990 đầu tư công tại Indonesia chỉ đạt mức 12,66 tỷ USD; trong khi đầu tư tư nhân là 66,33 tỷ USD và khoảng cách này được duy trì đều đặn đến năm 2006 Sau năm 2006, khoảng cách này tăng lên đáng kể và đạt đỉnh vào năm
2013 với mức đầu tư công là 27,87 tỷ USD và đầu tư tư nhân là 219,11 tỷ USD Nhìn chung, trong giai đoạn năm 1990-2013, đầu tư công tại Indonesia không có nhiều biến động, mặt khác đầu tư tư nhân tại quốc gia này ghi nhận một sự tăng trưởng lớn
Trang 34Hình 3.6: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Jordan trong giai đoạn năm
1990-2013 (Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF)
Jordan là một trong những quốc gia có lượng đầu tư công và đầu tư tư nhân thấp trong mẫu nghiên cứu Tuy nhiên đầu tư trong cả hai khu vực đều có xu hướng biến động thất thường, nhạy cảm với các biến động quốc tế Ví dụ, đầu tư tư nhân tại Jordan trong giai đoạn năm 2003-2008 có sự tăng trưởng lớn từ 2,78 lên 6,94 tỷ USD; tuy nhiên sau năm 2008 lượng đầu tư này lập tức giảm còn 3,9 tỷ USD năm
2009 và hồi phục trở lại sau đó Trong khi đó lượng đầu tư công tại quốc gia này lại không có nhiều sự biến động lớn trong cả giai đoạn năm 1990-2013
Trang 35Hình 3.7: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Malaysia trong giai đoạn
năm 1990-2013 (Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF)
Tương tự với Jordan, Malaysia cũng là một quốc gia nhạy cảm với các biến động kinh tế của khu vực Quá trình phát triển đầu tư công và đầu tư tư nhân ở quốc gia này được chia làm hai giai đoạn khá rõ ràng, giai đoạn năm 1990-1997 ghi nhận
sự tăng trưởng của đầu tư tư nhân từ 23,31 lên 70,01 tỷ USD; tuy nhiên sau năm
1997 do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997, đầu tư tư nhân của Malaysia giảm hơn 50% so với năm 1997; còn 31,35 tỷ USD vào năm
1998 Sau năm 1999 đến năm 2013 đầu tư tư nhân có xu hướng biến động thất thường nhưng nhìn chung có xu hướng hồi phục trở lại và đạt đỉnh vào năm 2013 là 78,05 tỷ USD Riêng đầu tư công ở Malaysia khá ổn định và có xu hướng di chuyển cùng chiều với đầu tư tư nhân trừ giai đoạn năm 2002-2003, đầu tư tư nhân tại Malaysia giảm trong khi đầu tư công tăng
Trong giai đoạn năm 1990-2013, đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Oman có
xu hướng di chuyển cùng chiều với nhau Tuy nhiên giai đoạn từ năm 1990 đến
Trang 36năm 2008, chênh lệch đầu tư giữa hai khu vực là rất nhỏ, sau năm 2008 đầu tư công tại Oman tăng trưởng mạnh và cách xa đầu tư tư nhân Trong năm 2009, đầu tư tư nhân ở Oman giảm từ 16,42 (năm 2008) tỷ USD xuống 13,83 tỷ USD; ngược lại đầu tư công lại tăng từ 13,83 tỷ USD (năm 2008) lên 20,96 tỷ USD và vẫn có xu hướng tăng sau đó
Hình 3.8: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Oman trong giai đoạn năm
Trang 37Hình 3.9: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Philippines trong giai đoạn
năm 1990-2013 (Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF)
Đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Philippines có mẫu hình tương tự với Indonesia trong giai đoạn năm 1990-2013, cả hai quốc gia đều ghi nhận một sự cách biệt khá lớn giữa tổng đầu tư công và đầu tư nhân Nhìn chung đầu tư công và đầu
tư tư nhân tại Philippines di chuyển cùng chiều với nhau
Thái Lan cũng là quốc gia có đầu tư tư nhân có sự biến động mạnh so với đầu
tư công Giai đoạn năm 1990-1996 Thái Lan có sự tăng trưởng trong đầu tư tư nhân, sau năm 1996 đầu tư tư nhân đột ngột giảm mạnh từ 129,83 tỷ USD xuống 88,33 tỷ USD và tiếp tục giảm sau đó cho đến năm 2000 Sau năm 2000 dòng đầu tư tư nhân bắt đầu hồi phục cho đến năm 2008 dòng đầu tư tư nhân tại Thái Lan giảm nhẹ do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính Đầu tư công tại Thái Lan không biến động nhiều trong giai đoạn năm 1990-2013 và đạt đỉnh vào năm 1997 (46,35 tỷ USD)
Trang 38Hình 3.10: Tổng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Thái Lan trong giai đoạn
năm 1990-2013 (Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF)
Nhìn chung, đa số các quốc gia nghiên cứu có chênh lệch giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân khá lớn trong vòng 10 năm trở lại; chủ yếu là tổng đầu tư tư nhân lớn hơn đầu tư công, trừ trường hợp của Trung Quốc và Oman là hai quốc gia có lượng đầu tư công lớn hơn đầu tư tư nhân trong hầu hết thời gian nghiên cứu Trong khi đầu tư công ở các quốc gia có mức độ tăng trưởng nhỏ, khá ổn định (trừ Trung Quốc và Oman) thì đầu tư tư nhân ở hầu hết quốc gia đều có xu hướng biến động mạnh và nhạy cảm với các biến động trong khu vực và quốc tế Ví dụ, Malaysia và Thái Lan là hai quốc gia có sự giảm mạnh trong đầu tư tư nhân trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997; Bahrain và Jordan lại giảm đầu tư tư nhân trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế tài chính 2008 Các quốc gia đang phát triển khác, có lượng đầu tư lớn như Trung Quốc, Ấn Độ lại không chịu ảnh hưởng nhiều
từ khủng hoảng năm 2008 mà ngược lại cho thấy một xu hướng tăng trong đầu tư trong giai đoạn này Điều này có được phần lớn là do các biện pháp chính sách
Trang 39trong khu vực là thúc đẩy đầu tư nước ngoài, các biện pháp xúc tiến bao gồm tự do hoá và dỡ bỏ quy định đầu tư (ví dụ như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Irac, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc), tinh giản hoặc đơn giản hóa các quy trình hành chính (ví dụ như Ấn Độ), cung cấp các ưu đãi (ví dụ như Trung Quốc) Một số quốc gia đã nới lỏng điều kiện cho dòng vốn FDI ra nước ngoài thông qua việc đơn giản hoá các quy định về ngoại hối (ví dụ như Trung Quốc, Sri Lanka và Thái Lan) Hầu hết các mẫu hình đầu tư ở các quốc gia nghiên cứu đều cho thấy một xu hướng chung nhất là sự di chuyển cùng chiều giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân trong giai đoạn đầu nghiên cứu, tuy nhiên do sự biến động thất thường, chúng ta vẫn thấy được sự di chuyển ngược chiều nhau của hai khu vực này trong nhiều giai đoạn nhỏ, đặc biệt là trong giai đoạn cuối thời kỳ nghiên cứu, từ sau năm 2008
Nhìn lại chặng đường phát triển của dòng vốn tại khu vực Châu Á, chúng ta có thể thấy rằng Châu Á vẫn luôn là khu vực thu hút đầu tư nhất trong khu vực các nền kinh tế đang phát triển, tuy nhiên tương lai về sự tăng mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư chung, đặc biệt là đầu tư tư nhân là không chắc chắn do các quốc gia đang phát triển trong khu vực này phải đối mặt với các bất ổn đang tồn tại về cả kinh tế lẫn chính trị, cùng với những thách thức về tăng năng suất trong thời gian gần đây Chính vì vậy việc xác định xem nhân tố quan trọng nào có thể thúc đẩy đầu tư tư nhân tại khu vực này là vô cùng quan trọng
Trang 40CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp nghiên cứu:
Để tìm ra ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân, bài nghiên cứu đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Đầu tư công có tác động lấn át hay thúc đẩy lên đầu tư tư nhân trong ngắn hạn và dài hạn?”, cho trường hợp bộ dữ liệu bảng bao gồm 10 quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á Việc sử dụng dữ liệu bảng mang đến các ưu điểm: thứ nhất, dữ liệu bảng là sự kết hợp giữa dữ liệu chéo và dữ liệu thời gian chính vì vậy nó đem lại bộ dữ liệu nhiều thông tin hơn, đa dạng hơn, ít cộng tuyến hơn giữa các biến số, có nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả hơn Thứ hai, dữ liệu bảng xem xét đến tính dị biệt của đối tượng trong nghiên cứu; thông qua nghiên cứu các quan sát trong không gian lặp, dữ liệu bảng thích hợp để nghiên cứu tính động của
sự thay đổi và những ảnh hưởng mà không thể quan sát trong chuỗi dữ liệu chéo hoặc dữ liệu theo thời gian Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu, nghiên cứu được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng các kiểm định tính dừng bao gồm: kiểm định Levin, Lin, Chu; kiểm định Im–Pesaran–Shin, kiểm định Fisher – ADF, kiểm định Fisher –
PP và kiểm định Breitung để kiểm định cho giả thiết:
H 0 : Chuỗi dữ liệu đang xem xét không dừng
H 1 : Chuỗi dữ liệu đang xem xét dừng
Các chuỗi dữ liệu được kết luận là dừng nếu có từ 50% số kiểm định được thực hiện cho kết quả bác bỏ giả thiết H0: Chuỗi dữ liệu đang xem xét không dừng
Bước 2: Kiểm định hệ số tương quan của các biến trong mô hình
Bước 3: Kiểm định đồng liên kết giữa các biến nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng kiểm định đồng liên kết Kao (dựa trên Engle – Granger) để kiểm định giả thiết: