Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này được kỳ vọng sẽ hữu ích đối với nghề kiểm toán, nhà đầu tư, chủ nợ và người sử dụng khác về giá trị thông tin của báo cáo kiểm toán, do đó tác giả quyết địn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
BÙI THỊ NĂM
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA Ý KIẾN KIỂM TOÁN TỚI BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO
DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
BÙI THỊ NĂM
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA Ý KIẾN KIỂM TOÁN TỚI BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới biến động của giá cổ phiếu - Bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp HCM” là kết quả nghiên cứu độc lập của tôi, do
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
5.1 Về nội dung 3
5.2 Về không gian, thời gian 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Những đóng góp của đề tài 5
8 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 6
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 6
1.2 Các nghiên cứu liên tại Việt Nam 11
1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu 13
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 15
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 16
2.1 Cơ sở lý thuyết về kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán 16
Trang 52.1.1 Khái niệm, mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán 16
2.1.2 Các loại ý kiến kiểm toán báo cáo tài chính 17
2.2 Cơ sở lý thuyết về cổ phiếu và giá cổ phiếu 22
2.2.1 Cổ phiếu 22
2.2.2 Đặc điểm 23
2.2.2 Các loại cổ phiếu 23
2.2.3 Giá cổ phiếu thường 23
2.3 Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới sự biến động giá cổ phiếu 24
2.3.1 Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới sự biến động giá cổ phiếu 24
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới biến động giá cổ phiếu 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 30
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu 31
3.2 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 32
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 32
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 35
3.3 Phương pháp chọn mẫu 35
3.3.1 Lý do chọn mẫu 35
3.3.2 Quy trình chọn mẫu 36
3.4 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 37
3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
Trang 64.1 Kết quả nghiên cứu 43
4.1.1 Thống kê mô tả 43
4.1.2 Kết quả kiểm định phản ứng giá cổ phiểu 44
4.2 Thử nghiệm bổ sung 49
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 54
5.2.1 Kiến nghị đối với công ty niêm yết 54
5.2.2 Kiến nghị với các doanh nghiệp kiểm toán 55
5.2.3 Kiến nghị đối với nhà đầu tư 56
5.2.4 Kiến nghị đối với cơ quan ban hành chính sách, quản lý, hội nghề nghiệp 57
5.3 Kết luận về hạn chế của đề tài và đề xuất cho hướng nghiên cứu trong tương lai 57
5.3.1 Hạn chế của đề tài 57
5.3.2 Hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 59
PHẦN KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Số hiệu Tên
Bảng biểu
3.1 Chi tiết cơ sở kế thừa các biến
4.1 Mô tả mẫu
4.2 Giá trị AAR theo từng ngày và từng loại ý kiến
4.3 Kết quả t-test AAR cho số liệu tổng hợp của hai loại ý kiến kiểm toán 4.4 Kết quả t-test AAR cho ý kiến kiểm toán ngoại trừ
4.5 Kết quả t-test AAR cho ý kiến chấp chấp nhận toàn phần với đoạn vấn
đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính
4.6 Kiểm định Anova cho AAR
4.7 T-test cho CAAR cho tất cả các quan sát trong cửa sổ sự kiện
4.8 Kết quả t-test cho các CAAR cho từng cửa sổ sự kiện ngắn xung
quanh ngày sự kiện 4.9 Kết quả t-test cho các quan sát được kiểm toán bởi Big 4
Hình vẽ
3.1 Khung nghiên cứu của luận văn
3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
3.3 Thời gian nghiên cứu cửa sổ sự kiện
Biểu đồ
4.1 Thu nhập bất thường trung bình trong cửa sổ sự kiện
4.2 Thu nhập bất thường trung bình trong cửa sổ sự kiện với BCTC được
kiểm toán bởi Big 4
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, là kênh đầu tư thu hút nhiều cá nhân, tổ chức tham gia Nhà đầu tư chọn đầu tư vào chứng khoán vì một số lý do, cụ thể như: tỷ suất sinh lời mang lại có thể cao hơn rất nhiều kênh đầu tư hiện nay như gửi tiết kiệm, mua trái phiếu, vàng, nhà đất, đồng thời đây cũng là kênh đầu tư linh hoạt, không đòi hỏi cao về vốn đầu tư ban đầu cùng tính thanh khoản cao nhất chỉ sau tiền mặt
Khi đầu tư vào một loại chứng khoán cụ thể nào đó, lợi tức thu được của nhà đầu
tư đến từ cổ tức, đây chính là phần lãi chia cho mỗi cổ phần từ lợi nhuận và lợi tức
do chênh lệch giá Phần lớn các nhà đầu tư ngắn hạn sẽ quan tâm chủ yếu vào chênh lệch giá cổ phiếu để kiếm lời Tuy nhiên, giá cổ phiếu có xu hướng biến động liên tục và sự biến động của giá sẽ phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố gồm cả nhân tố kinh
tế, nhân tố phi kinh tế và nhân tố thị trường Để xác định chính xác giá cả và khả năng sinh lợi của cổ phiếu đòi hỏi các nhà đầu tư cần có kiến thức khá tốt về chứng khoán cũng như có kinh nghiệm trong đầu tư Trên các thị trường vốn phát triển hiện đại, các nhà đầu tư thường tham chiếu rất nhiều các chỉ số tài chính khác nhau
để đánh giá giá trị và khả năng sinh lợi của cổ phiếu cũng như các thông tin, xu hướng thị trường trước khi đưa ra các quyết định đầu tư hay chấp thuận giao dịch mua bán
BCTC đã được kiểm toán là một trong những thông tin mà các công ty niêm yết được yêu cầu cung cấp trên thị trường chứng khoán Đây là một trong những kênh cung cấp thông tin cho những nhà đầu tư Tác động mong đợi của báo cáo kiểm toán đối với các quyết định của người sử dụng là một trong những yếu tố quan trọng đứng sau nhu cầu về dịch vụ kiểm toán “Báo cáo thích hợp có nghĩa là nó phải tạo
sự khác biệt trong việc ra quyết định, nếu không, người sử dụng báo cáo sẽ không đọc và không xem xét nó trong quá trình ra quyết định Ảnh hưởng đến việc ra quyết định có nghĩa là báo cáo có nội dung thông tin ảnh hưởng đến quyết định đầu
Trang 10tư, quyết định cho vay nợ và giá cổ phiếu Nếu ảnh hưởng của báo cáo không được cảm nhận bởi người sử dụng thì giá trị của việc kiểm toán sẽ là một sự nghi ngờ”(Al-Thuneibat et al., 2008, p84)
Ở các nước phát triển, thông tin được cung cấp cho thị trường liên tục, do đó ý kiến kiểm toán có ảnh hưởng chỉ khi có ý kiến kiểm toán bất ngờ được đưa ra Tuy nhiên, với thị trường đang phát triển tồn tại một số điểm khác biệt như thông tin được công bố vào thời điểm BCTC (thay vì liên tục), và các trung gian thông tin có thể không được tinh vi như ở các thị trường phát triển Do đó, thị trường ít có khả năng dự đoán ý kiến kiểm toán và ý kiến kiểm toán được mong đợi sẽ mang đến một số giá trị thông tin những người sử dụng báo cáo (Robert Czernkowski et al., 2010) Đã có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán lên thị trường ở các nước trên thế giới, một số ở những nước có thị trường phát triển như Úc, Mỹ và một số ở các thị trường đang phát triển như Jordan, Iran Tuy nhiên, tại Việt Nam vấn đề này chưa được tìm hiểu Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này được kỳ vọng sẽ hữu ích đối với nghề kiểm toán, nhà đầu tư, chủ nợ và người sử dụng khác về giá trị
thông tin của báo cáo kiểm toán, do đó tác giả quyết định chọn đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới biến động của giá cổ phiếu – Bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp HCM”
làm đề tài cho luận văn cao học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Luận văn nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến KTV đến biến động giá cổ phiếu, từ đó đề xuất các định hướng và kiến nghị nhằm nâng cao giá trị của kênh thông tin này đến quá trình ra quyết định của nhà đầu tư
Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn đưa ra một số mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán ngoại trừ hoặc ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả
Trang 11năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính đến sự biến động của giá cổ phiếu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán ngoại trừ hoặc ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính đến quyết định của nhà đầu tư
3 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu đã đề ra, nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau đây:
(i) Phản ứng của thị trường như thế nào đối với các ý kiến kiểm toán ngoại trừ hoặc ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính thể hiện qua biến động giá cổ phiếu?
(ii) Ý kiến kiểm toán ngoại trừ hoặc ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn
đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính thực sự có giá trị trong quyết định thực hiện giao dịch của nhà đầu tư hay không?
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ảnh hưởng của ý kiến KTV đến biến động của giá cổ phiếu
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Về nội dung
Nghiên cứu tập trung xem xét thực trạng ý kiến kiểm toán ngoại trừ và ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoản Tp.HCM Từ đó kiểm định chiều hướng, mức ảnh hưởng của các loại ý kiến này với quyết định của nhà đầu tư, thể hiện thể hiện qua biến động giá cổ phiếu trong một khoảng thời gian ngắn từ trước, trong và sau khi báo
Trang 12cáo kiểm toán được đưa ra Qua đó, nghiên cứu xác định mức ý nghĩa của ý kiến kiểm toán để đưa ra các kiến nghị cần thiết
Mô hình dùng để kiểm định ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến biến động giá
cổ phiếu được kế thừa từ các nghiên cứu trước đây
5.2 Về không gian, thời gian
Phạm vi nghiên cứu là các công ty phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), trong khoảng thời gian 5 năm, từ
2012 đến 2016 và hiện tại vẫn còn giao dịch
6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu của đề tài, trả lời các câu hỏi đặt ra, nghiên cứu sử dụng chủ yếu bằng phương pháp định lượng Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp phân tích và tổng hợp: khái quát lý thuyết về các vấn đề nghiên
cứu và các nghiên cứu có liên quan, làm cơ sở để đề xuất các loại ý kiến kiểm toán
có khả năng tác động đến quyết định của nhà đầu tư
Phương pháp định lượng: Thực hiện bằng cách thu thập các ý kiến kiểm toán,
ngày ký báo cáo từ báo cáo kiểm toán của các công ty phi tài chính được niêm yết trên HOSE, giá cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường chứng khoán và chỉ số giá thị trường VN-Index trong khoảng thời gian 155 ngày trước ngày công bố, ngày công bố và 5 ngày sau khi công bố báo cáo kiểm toán Sau khi thu thập, số liệu sẽ được sắp xếp theo chuỗi thời gian và được xử lý bằng công cụ Excel để xác định thu nhập bất thường trong cửa sổ sự kiện, từ đó kiểm chứng mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán ngoại trừ hoặc ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính với biến động giá cổ phiểu của các công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoản Tp.HCM
Trang 13Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ các website gồm hsx.vn, vietstock.vn, cophieu68.vn, cafef.vn
7 Những đóng góp của đề tài
Về mặt lý thuyết: Nghiên cứu cung cấp thêm bằng chứng về ảnh hưởng của ý
kiến kiểm toán tới biến động giá cổ phiếu tại một nước có thị trường chứng khoán đang phát triển là Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Cung cấp một kết quả nghiên cứu có tính khoa học về ảnh
hưởng của ý kiến kiểm toán với quyết định của nhà đầu tư thông qua phân tích biến động giá cổ phiếu Đây là cơ sở để các bên liên quan có thể xem xét trong việc đưa
ra các giải pháp nhằm nâng cao ý nghĩa của kênh thông tin này
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần tài liệu tham khảo, Luận văn dự kiến được kết cấu 5 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Ý kiến của KTV trên báo cáo kiểm toán là vấn đề thú vị cho nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, kết luận đưa ra bởi các nghiên cứu đã được thực hiện hiện có những mâu thuẫn, chưa thống nhất Theo Giuseppe Ianniello and Giuseppe Galloppo (2015), hầu hết các nghiên cứu về phương diện này được phân loại thành hai hướng gồm:
- “Experimental studies”- các nghiên cứu thực nghiệm: Các nghiên cứu kiểm
tra phản ứng của người ra quyết định (giám đốc tín dụng, nhà phân tích tài chính) với thay đổi trong các loại ý kiến kiểm toán; và
- “Market-based studies”- các nghiên cứu dựa vào thị trường: Các nghiên cứu
sử dụng dữ liệu lưu trữ để cố gắng thu thập phản ứng của thị trường cổ phiếu xung quanh thời điểm công bố thông tin báo cáo kiểm toán
Với hướng nghiên cứu thứ nhất – nhóm nghiên cứu thực nghiệm: Theo Bessell et
al (2003), phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm kết luận rằng những người sử dụng báo cáo kiểm toán đã không có thêm sự tin tưởng với báo cáo ý kiến ngoại trừ Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác cung cấp bằng chứng rằng các báo cáo kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần thích hợp với quá trình ra quyết định của những người sử dụng BCTC Một số nghiên cứu thuộc nhóm này gồm:
Robertson (1988) thực hiện nghiên cứu nhằm điều tra liệu thuật ngữ báo cáo kiểm toán ý kiến ngoại trừ có ảnh hưởng đến phản ứng của các nhà phân tích tài chính với báo cáo kiểm toán không Tác giả đã sử dụng phương pháp thực nghiệm bằng cách gửi một bộ BCTC từ một công ty giải định, được kèm theo một báo cáo kiểm toán với một loại ý kiến không phải chấp nhận đến một mẫu ngẫu nhiên gồm
1000 thành viên của Liên đoàn phân tích tài chính Mỹ Các chuyên gia tài chính được hỏi rằng liệu họ có cảm thấy báo cáo kiểm toán đã làm tăng sự tin tưởng của
họ đối với các BCTC hay không, liệu họ có dựa vào thông tin này để ra các quyết định đầu tư; và họ có cảm thấy các thông tin này đáp ứng nhu cầu của họ khi phân
Trang 15tích Nghiên cứu đã thu được 176 phản hồi Kết quả từ phản hồi này cho thấy rằng các nhà phân tích không đưa ra bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào giữa các loại ý kiến của báo cáo kiểm toán Tuy nhiên, báo cáo kiểm toán ý kiến ngoại trừ đạt được xếp hạng cao nhất về sự tin cậy, phù hợp và hài lòng và ý kiến này dễ hiểu hơn các loại khác
Gul (1990) đã sử dụng cách tiếp cận thực nghiệm để điều tra về sự ảnh hưởng của cả ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần và ý kiến ngoại trừ với giá cổ phiếu được ước đoán tại Úc Những người tham gia là nhân viên ngân hàng, gồm 34 đối tượng, trong độ tuổi từ 29-45 tuổi, có kinh nghiệm từ 5 đến 24 năm trong các vị trí khác nhau liên quan đến kế toán ở ngân hàng Những người này được gửi một bộ thông tin giả định giống nhau, mỗi bộ thông tin đi cùng với hoặc ý kiến chấp nhận toàn phần hoặc ý kiến ngoại trừ Bên tham gia đã được yêu cầu ước tính giá cổ phiếu của công ty giả định Tác giả sử dụng kỹ thuật kiểm định ANOVA Kết quả cho thấy rằng ý kiến kiểm toán ngoại trừ có ảnh hưởng tiêu cực đến biến động giá
cổ phiếu
Được được thực hiện tại Úc, Bessell et al (2003) cũng dùng phương pháp thực nghiệm để điều tra về nội dung thông tin của giả định hoạt động liên tục trong báo cáo kiểm toán không phải báo cáo chấp nhận toàn phần Đối tượng tham gia khảo sát là các thành viên của Học viện tài chính ngân hàng Úc Họ gửi các báo cáo kiểm toán với các loại ý kiến khác nhau kèm theo bảng câu hỏi tới một mẫu 500 thành viên của tổ chức Các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng “ vấn đề nhấn mạnh” và
“báo cáo ngoại trừ” có nội dung thông tin nếu công ty đang không gặp khó khăn về tài chính Tuy nhiên, kết quả cho thấy rằng nếu công ty đang trong tình trạng khủng hoảng tài chính, ý kiến không phải chấp nhận toàn phần được đưa ra không tăng nhiều về nhận thức rủi ro hoặc ảnh hưởng tới việc ra quyết định
Lin et al., (2003) đã điều tra phản hồi của người dùng với ý kiến ngoại trừ ở Trung Quốc bằng phương pháp thực nghiệm Nhóm nghiên cứu sử dụng loại báo cáo kiểm toán như một biến trong thử nghiệm và đã tìm thấy các phản ứng hổn hợp
Trang 16từ những người tham gia đối về ảnh hưởng của báo cáo kiểm toán ý kiến ngoại trừ lên sự hiểu biết của người sử dụng và việc sử dụng các BCTC Nhìn chung, những người sử dụng ở Trung Quốc, cụ thể người cho vay nhận thấy ý kiến ngoại trừ có một số tác động tiêu cực đến độ tin tưởng của các BCTC Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể được tìm thấy đối với các nhà đầu tư và các quyết định cho vay
nợ liên quan đến việc sử dụng báo cáo kiểm toán ngoại trừ hay ý kiến chấp nhận toàn phần Kết quả của nghiên cứu cho rằng, báo cáo kiểm toán ngoại trừ theo kiểu
Mỹ đã khá hạn chế “nội dung thông tin” cho người sử dụng trong môi trường hiện tại của Trung Quốc và cần phải cải thiện hơn nữa các chuẩn mực và thực hành kiểm toán ở Trung Quốc
Czernkowski et al., (2010) cũng thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán với biến động giá cổ phiếu tại Trung Quốc, tuy nhiên nghiên cứu thực hiện trong bối cảnh có sự đưa ra một số thay đổi về quy định quan trọng Dữ liệu nghiên cứu là báo cáo kiểm toán năm của các công ty cổ phiếu A-Share được niêm yết trên sàn chứng khoán Thượng Hải (SSE), từ năm 1999 đến 2003 Ngược lại với các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này đã không tìm thấy ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần có giá trị thông tin đáng kể với các nhà đầu tư Trung Quốc, dù những thay đổi về quy định Tuy nhiên, khi phân chia mẫu theo năm, có bằng chứng yếu về phản ứng của giá cổ phiếu với ý kiến không phải chấp nhận toàn phần vào năm 2003
Với hướng nghiên cứu thứ hai – nghiên cứu dựa vào thị trường, một số nghiên cứu đã được thực hiện và cũng cho những kết quả chưa thống nhất Có thể kể đến những nghiên cứu sau:
Baskin (1972), sử dụng mô hình nghiên cứu thị trường để điều tra ảnh hưởng của loại “ý kiến kiểm toán ngoại trừ sự nhất quán” đến quyết định của nhà đầu tư tại
Mỹ Mẫu là 135 công ty được xác định có sự thay đổi kỹ thuật kế toán trong giai đoạn 1965-1968 và 135 công ty kiểm tra thêm để đối chiếu trong cùng giai đoạn
Trang 17Kết quả đã đưa đến kết luận rằng có một ít ảnh hưởng và loại báo cáo kiểm toán ngoại trừ sự nhất quán không có nội dung thông tin cho nhà đầu tư
Firth (1978), cũng dùng phương pháp tương tự Baskin (1972) để điều tra những ảnh hưởng có thể của báo cáo kiểm toán ngoại trừ lên giá cổ phiếu vào ngày báo cáo kiểm toán được đưa ra và ảnh hưởng của báo cáo này đối với các quyết định đầu tư tại Mỹ Nghiên cứu điều tra với một mẫu gồm 247 công ty có báo cáo kiểm toán với ý kiến ngoại trừ được lựa chọn Không giống như nghiên cứu trước của Baskin (1972), kết quả nghiên cứu này lại chỉ ra rằng giá cổ phiếu có phản ứng với ý kiến kiểm toán ngoại trừ, điều này có nghĩa loại ý kiến ngoại trừ có ý hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Ngoài ra, tác giả của lưu ý thêm rằng các nhà đầu tư phản ứng khác nhau với ý kiến kiểm toán ngoại trừ
Ameen et al., (1994) nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán ngoại trừ với các công ty trên thị trường OTC ở Mỹ Các tác giả hướng đến đối tượng là các công
ty nhỏ, không được niêm yết trên sàn NYSE và ASE với giả định ban đầu rằng với các công ty lớn, các nhà đầu tư có được nhiều thông tin thì không có nguồn thông tin nào trở nên thực sự nổi bật, được sử dụng chính trong ra quyết định Do đó, nhóm nghiên cứu kiểm tra ở các công ty nhỏ hơn với kỳ vọng nhóm này có thể bị ảnh hưởng bởi ý kiến kiểm toán nhiều hơn Nghiên cứu sử dụng phương pháp cửa
sổ sự kiện để điều tra ảnh hưởng Mẫu được sử dụng gồm 177 báo cáo ý kiến ngoại trừ được phát hành trong giai đoạn từ 1974-1988 Kết quả nghiên cứu cho thấy có phản ứng tiêu cực của thị trường trong giai đoạn trước ngày công bố ý kiến ngoại trừ nhưng không có phản ứng trong giai đoạn diễn ra việc công bố
Chen et al (2000) hướng đến điều tra phản ứng ở một thị trường đang nổi (Shanghai Stock Exchange) với các ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần, bao gồm ý kiến ngoại trừ và ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh Mẫu nghiên cứu ban đầu gồm 884 quan sát từ các công ty cổ phiếu A-Share niêm yết trên sàn SSE trong giai đoạn 1995-1997 Kết quả thu được từ nghiên cứu cho thấy rằng cổ phiếu của công ty nhận được ý kiến ngoại trừ và chấp nhận toàn phần
Trang 18với đoạn nhấn mạnh cho thu nhập bất thường âm Thêm nữa, phân tích theo năm cho thấy rằng các nhà đầu tư đã không phản ứng giống nhau về ảnh hưởng của hai loại ý kiến này ở năm thứ hai, điều này hàm ý sự học hỏi của thị trường Nghiên cứu cũng cho thấy, không có sự khác biệt đáng kể giữa phản ứng của thị trường với
ý kiến ngoại trừ và ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn mở rộng
Al-Thuneibat et al., (2008), đã tìm hiểu ảnh hưởng của ý kiến ngoại trừ lên giá
cổ phiếu và thu nhập ở Jordan Nhóm tác giả đã tiến hành một nghiên cứu với mẫu
là 42 quan sát từ các công ty cổ phần ở Jordan trong giai đoạn từ 2000-2005 Nghiên cứu này sử dụng phương pháp cửa sổ sự kiện trong khoảng thời gian 11 ngày gồm 5 ngày trước ngày công bố, ngày công bố và 5 ngày sau ngày công bố báo cáo kiểm toán Kết quả thu được cho thấy rằng không rõ ràng hoặc có ảnh hưởng đáng kể của ý kiến kiểm toán ngoại trừ lên giá cổ phiếu và lợi nhuận Giá trị của nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng mới về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán ngoại trừ lên giá cổ phiếu và thu nhập ở một nước đang phát triển Từ đó các nhà nghiên cứu đề xuất rằng cần tăng nhận thức của người sử dụng về vai trò của báo cáo kiểm toán
Moradi et al., (2011) đã thực hiện tương tự như nghiên cứu của Al-Thuneibat
et al., (2008) để tìm hiểu về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán ngoại trừ lên giá cổ phiếu và lợi nhuận Nghiên cứu được tiến hành trên báo cáo kiểm toán ngoại trừ của các công ty cổ phần ở Iran trong giai đoạn 2005- 2009 Kết quả của cuộc khảo sát chỉ ra rằng việc đưa ra loại ý kiến này đã không ảnh hưởng đáng kể đến giá cổ phiếu
và lợi nhuận Nói cách khác, không có nội dung thông tin trong ý kiến kiểm toán ngoại trừ ở Iran Kết luận này có thể gợi ý rằng người sử dụng báo cáo kiểm toán đã không hiểu ý nghĩa của ý kiến kiểm toán hoặc không đánh giá cao giá trị của nó
Giuseppe Ianniello and Giuseppe Galloppo, (2015) kiểm tra phản ứng của nhà đầu tư với với các ý kiến kiểm toán viên bao gồm các ý kiến không phải chấp nhận toàn phần hoặc một ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài
Trang 19chính Đặc biệt, các khoản thu nhập bất thường được phân tích xung quanh ngày lập báo cáo kiểm toán Dữ liệu mẫu gồm các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Ý, nhận được các ý kiến không phải chấp nhận toàn phần và ý kiến chấp nhận toàn phần với một đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính trong báo cáo kiểm toán thường niên từ năm 2007 đến năm 2010 Phương pháp nghiên cứu sự kiện được sử dụng tập trung vào một cửa sổ sự kiện ngắn để xác định xem thị trường có phản ứng ngay lập tức đối với việc công bố báo cáo kiểm toán hay không, với giả định thị trường chứng khoán hiệu quả Kết quả nghiên cứu cho thấy, các báo cáo kiểm toán có ý nghĩa cho quyết định đầu tư Cụ thể, các ý kiến không phải chấp nhận toàn phần thể hiện trong báo cáo kiểm toán có ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu Đồng thời cũng chỉ ra rằng một ý kiến chấp nhận toàn phần với một đoạn vấn
đề cần nhấn mạnh về sự không chắc chắn khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính có ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu
1.2 Các nghiên cứu liên tại Việt Nam
Theo tìm hiểu của tác giả, tại Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu chính thức được thực hiện để đo lường ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới biến động giá cổ phiếu Tác giả đã tìm hiểu một số công trình nghiên cứu liên quan tới tới đề tài gồm những nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu và những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư
Một số nghiên cứu liên quan đến giá cổ phiếu có thể kể đến:
Phạm Thị Kim Cúc (2012), đã tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu tại Việt Nam dưới tác động của các nhân tố: thu nhập trên mỗi cổ phiếu EPS, mức chi trả cổ tức hàng năm của công ty DIV, tổng sản phẩm quốc nội GDP và dòng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán FII
Vũ Thị Anh Đào (2013): đã nghiên cứu để kiểm tra phản ứng giá cổ phiếu với thông báo phát hành cổ phiếu thưởng của những công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp sự kiện để kiểm tra sự
Trang 20biến động của giá cổ phiếu dựa vào việc tính toán thu nhập bất thường theo ngày cho 190 thông báo Kết quả cho thấy tại ngày thông báo, giá cổ phiếu tăng và có ý nghĩa thống kê rõ ràng cho nhóm các công ty công nghiệp và nhóm các thông báo nhiễu Tác động là tương tự tại ngày 1, nhưng rất rõ ràng cho toàn bộ các thông báo cũng như cho các nhóm được phân loại Hiệu ứng trước thông báo là tích cực có ý nghĩa đối với nhóm các thông báo nhiễu, các công ty thương mại (từ ngày -50 đến ngày -2), các công ty công nghiệp (từ ngày -20 đến ngày -2) Sau giai đoạn thông báo, thu nhập bất thường các cổ phiếu giảm nhưng không có ý nghĩa về mặt thống
kê Tỷ lệ chia cổ phiếu thưởng và thu nhập bất thường tích lũy trước khoảng thời gian thông báo có mối quan hệ đồng biến và có ý nghĩa thống kê với mức độ phản ứng giá với thông báo phát hành cổ phiếu thưởng
Nguyễn Thị Thương (2015) thực hiện nghiên cứu nhằm xác định tác động của chính sách cổ tức đến thay đổi về giá cổ phiếu của các công ty niêm yết Mẫu trong bài bao gồm 98 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh trong thời gian từ 2007 đến 2013 Sau khi phân tích tương quan và phân tích theo phương pháp bình phương bé nhất, kết quả đã chỉ ra rằng tỷ lệ cổ tức, tỷ lệ chi trả có mối quan hệ ngược chiều với thay đổi giá cổ phiếu Kết quả này cho thấy khi tỷ lệ cổ tức
và tỷ lệ chi trả giảm xuống, thay đổi giá cổ phiếu sẽ tăng lên và ngược lại Ngoài ra tác giả cũng sử dụng các biến kiểm soát mở rộng như quy mô doanh nghiệp để xác định ảnh hưởng
Về phương diện quyết định của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng đã được xem xét ở một số nghiên cứu Có thể kể đến như Vương Đức Hoàng Quân và Bùi Chiến Công (2016), Võ Tuấn Vũ (2015) Bằng cách khảo sát các nhà đầu tư, các nghiên cứu đã đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư cá nhân trên thị trường Một số yếu tố đã được xem xét như thiên lệch hành vi, tâm lý mỏ neo; tự tin thái quá và phản ứng thái quá, tâm lý bầy đàn và ác cảm sợ thua lỗ hay nhân tố tự nghiệm, triển vọng
Trang 21Các nghiên cứu trước được sử dụng trong phần tổng quan được được tóm tắt
trong Phụ lục 1
1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu
Tác giả nhận thấy rằng giá cổ phiếu biến động phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố,
và các nhà nghiên cứu tại Việt Nam đã thực hiện nghiên cứu ở nhiều hướng tác động khác nhau như các nhân tố kinh tế vĩ mô, hành vi nhà đầu tư hay những thông báo về chia cổ tức, phát hành cổ phiếu thưởng Vấn đề phản ứng của thị trường với
ý kiến kiểm toán đã được nghiên cứu ở một số nước trên thế giới nhưng kết quả vẫn chưa thống nhất và chưa được nghiên cứu nhiều ở các thị trường đang phát triển Bên cạnh đó, một vấn đề cần đặt ra câu hỏi ở đây là ở những nước đang phát triển, nguồn thông tin cho các nhà đầu tư ít hơn, ý kiến của KTV có thể là một kênh tin cậy nhưng ý kiến kiểm toán – cụ thể ý kiến kiểm toán ngoại trừ hoặc ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn
về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính lại không có giá trị thông tin hoặc ảnh hưởng không đáng kể tới quyết định của nhà đầu sau khi được nghiên cứu kiểm chứng ở một số nước như Iran hay Jordan Việt Nam là một thị trường đang phát triển và theo tác giả tìm hiểu, vấn đề này chưa được đưa vào nghiên cứu chính thức Do đó, cần thiết phải thực hiện các nghiên cứu chính thức để tìm hiểu mối quan hệ này và có những giải pháp thích hợp Từ đó, tác giả quyết định chọn đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới biến động giá cổ phiếu – Bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM”
Để thực hiện đề tài, tác giả có kế thừa một số đặc điểm từ các nghiên cứu trước như sau:
- Bằng chứng về ảnh hưởng ý kiến kiểm toán tới biến động giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán;
- Loại ý kiến kiểm toán ảnh hưởng tới biến động giá cổ phiếu, đồng thời kế thừa dấu kỳ vọng của các biến trong mô hình;
Trang 22- Kỹ thuật phân tích thực hiện đo lường biến động giá cổ phiếu bằng mô hình thị trường và phương pháp nghiên cứu cửa sổ sự kiện từ các nghiên cứu trước
Từ đó, tác giả điều chỉnh trong nghiên cứu như sau: Chỉ sử dụng hai loại ý kiến kiểm toán là ý kiến ý kiểm toán ngoại trừ hoặc ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính để nghiên cứu tác động đến biến động giá cổ phiếu
Ý kiến không chấp nhận không được đưa vào nghiên cứu vì số lượng quan sát qua khảo sát sơ bộ rất ít
Trang 23KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày khái quát các công trình nghiên cứu tiêu biểu của cả trong
và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu Các bài báo và công trình nghiên cứu đều đáng tin cậy về mặt khoa học và đều được đăng tải trên các tạp chí uy tín
kể cả trong và ngoài nước Từ đó, giúp tác giả nhận thấy được khoảng trống của các nghiên cứu và làm nền tảng để thực hiện những bước tiếp theo của luận văn Dù vẫn chưa thống nhất trong cả nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu dựa vào thị trường, nhưng kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước cho thấy ý kiến kiểm toán có thể là một kênh thông tin cho nhà đầu tư Một số nghiên cứu đã được thực nghiệm ở các thị trường đang phát triển như Iran, Jordan nhưng số lượng còn ít
Tại Việt Nam, mặc dù thị trường chứng khoán ngày càng phát triển nhưng ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến quyết định của nhà đầu tư hiện chưa nhận được sự quan tâm đúng mức khi chưa có những nghiên cứu chính thức được công bố Đây chính là khe hổng nghiên cứu, tạo động lực cho tác giả thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới biến động của giá cổ phiếu - Bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp HCM”
Từ khe hổng nghiên cứu đã xác định được, tác giả thực hiện các bước tiếp theo trong quy trình nghiên cứu, sẽ được trình bày ở các chương tiếp theo
Trang 24CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết về kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán
2.1.1 Khái niệm, mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán
Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng về một thông tin nhằm xác định và báo cáo về sự phù hợp của thông tin này với các tiêu chuẩn được thiết lập Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các KTV có đủ năng lực và độc lập” (Arens et al., 2012)
Kiểm toán BCTC là việc KTV hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán (Theo luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)
Theo ISA 200, việc kiểm toán BCTC nhằm mục đích là tăng độ tin cậy của người
sử dụng đối với BCTC Điều này đạt được thông qua việc các KTV đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC có được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không
Từ đây có thể thấy rằng báo cáo kiểm toán là phương tiện truyền thông giữa KTV và người sử dụng BCTC Nó đại diện cho khía cạnh quan trọng nhất của quy trình kiểm toán và KTV sử dụng báo cáo này để chuyển tải kết quả của quá trình kiểm toán đến những người sử dụng BCTC
Theo Arens et al (2006), nhu cầu về dịch vụ kiểm toán xuất phát từ nhiều yếu tố như khoảng cách xa giữa người sử dụng BCTC và người chuẩn bị các báo cáo này, xung đột lợi ích giữa những người sử dụng BCTC, sự phức tạp của các giao dịch kinh tế và những ảnh hưởng kỳ vọng của BCTC đối với việc ra quyết định
Tuy nhiên, báo cáo kiểm toán – cụ thể là ý kiến kiểm toán thực sự có ý nghĩa hay không với các nhà đầu tư vẫn là một vấn đề còn chưa thống nhất Estes và Reimer
Trang 25(1977), Houghton (1983), Robertson (1988) và Lin et al (2003) cho rằng báo cáo kiểm toán không gây ra ảnh hưởng đáng kể trong các phân tích của họ Tuy nhiên, Firth (1980), Gul (1987), Bessell et al (2003) và Guillamon (2003) cho lại cho rằng báo cáo kiểm toán là một nguồn thông tin hữu ích cho các bên tham gia trong thị trường, và các loại ý kiến không phải chấp nhận toàn phần ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và quyết định đầu tư
2.1.2 Các loại ý kiến kiểm toán báo cáo tài chính
Ngày 06/12/2012, Bộ Tài Chính ra Thông tư 214/2012/TT-BTC ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, gồm 37 chuẩn mực kiểm toán mới, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 nhằm hướng đến hài hòa và hội tụ với quốc tế trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán Theo đó, một số chuẩn mực cũ liên quan đến báo cáo kiểm toán và ý kiến kiểm toán đã được thay mới
Để đạt được số lượng mẫu cần thiết cho nghiên cứu, bài viết sử dụng dữ liệu trong khoảng thời gian từ 2012 đến 2016, do đó một số báo cáo kiểm toán trong mẫu nghiên cứu được trình bày theo hệ thống chuẩn mực trước Vì vậy, tác giả sẽ tóm tắt các nội dung liên quan đến cả hai hệ thống chuẩn mực và tiến hành so sánh
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũ (Ban hành và công bố theo Quyết định
120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 09 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và
đã hết hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014)
Trong đoạn 34, chuẩn mực VSA 700 của hệ thống chuẩn mực này, căn cứ vào kết quả thực hiện kiểm toán, KTV có thể đưa ra một trong các loại ý kiến đối với BCTC của đơn vị được kiểm toán, như sau:
Ý kiến chấp nhận toàn phần
Báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần được đưa ra trong trường hợp KTV và công ty kiểm toán cho rằng BCTC phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành (hoặc được chấp nhận) Ý kiến chấp nhận toàn phần cũng mang hàm ý rằng tất cả các thay đổi về nguyên tắc kế
Trang 26toán và các tác động của chúng đã được xem xét, đánh giá một cách đầy đủ và đã được đơn vị nêu rõ trong phần thuyết minh BCTC
Ý kiến chấp nhận từng phần
Báo cáo kiểm toán loại này được đưa ra trong trường hợp KTV và công ty kiểm toán cho rằng BCTC chỉ phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị, nếu không bị ảnh hưởng bởi yếu tố tuỳ thuộc (hoặc ngoại trừ) mà KTV đã nêu ra trong báo cáo kiểm toán Điều này cũng có nghĩa nếu vấn đề này ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC thì BCTC đó đã không phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu
Yếu tố tuỳ thuộc trong báo cáo do KTV nêu ra thường liên quan đến các sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và KTV Việc đưa ra yếu tố tuỳ thuộc cho phép các KTV hoàn thành trách nhiệm kiểm toán của mình nhưng cũng làm cho người sử dụng BCTC phải lưu ý và tiếp tục theo dõi khi
sự kiện có thể xảy ra
Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược)
Báo cáo với ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược) được đưa ra trong trường hợp các vấn đề không thống nhất với Giám đốc là quan trọng hoặc liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục đến mức độ mà KTV cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai sót trọng yếu của BCTC
Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến)
Loại ý kiến kiểm toán từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến) được đưa ra khi hậu quả của việc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc thiếu thông tin liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục tới mức mà KTV không thể thu thập đầy
đủ và thích hợp các bằng chứng kiểm toán để có thể cho ý kiến về BCTC
Trong hệ thống 37 chuẩn mực kiểm toán mới, có hiệu lực từ 01/01/2014 có ba
chuẩn mực quy định về báo cáo kiểm toán và ý kiến kiểm toán:
Trang 27VSA 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về BCTC;
VSA 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần ; VSA 706: Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo kiểm toán về BCTC
Theo hệ thống chuẩn mực mới này, ý kiến kiểm toán được phân loại như sau:
Ý kiến chấp nhận toàn phần
KTV đưa ra ý kiến dạng này khi kết luận rằng BCTC đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng Ý kiến này hàm ý rằng:
- KTV đã thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp về BCTC;
- Mọi thay đổi về chính sách kế toán và các tác động của chúng đã được xem xét, đánh giá đầy đủ và đã được công bố trong thuyết minh BCTC;
- Không có nghi ngờ đáng kể về giả định hoạt động liên tục của đơn vị
Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
Theo VSA 705 “Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần”, KTV không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần trong trường hợp:
- BCTC, xét trên phương diện tổng thể, vẫn còn sai sót trọng yếu;
- Không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để đưa ra kết luận rằng BCTC, xét trên phương diện tổng thể, không còn sai sót trọng yếu
- Ý kiến này gồm các loại ý kiến:
Ý kiến kiểm toán ngoại trừ
Dạng ý kiến này được trình bày khi KTV cho rằng BCTC chỉ phản ánh trung thực
và hợp lý nếu không bị ảnh hưởng bởi yếu tố ngoại trừ khi BCTC Cụ thể KTV đưa
ra dạng ý kiến này khi:
Trang 28 Các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC, hoặc
Không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán để là cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng các ảnh hưởng của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có)
có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC
Ý kiến kiểm toán trái ngược
Đây là trường hợp ngược lại của ý kiến chấp nhận toàn phần KTV đưa ra ý kiến này khi các sai sót, xét riêng rẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đối với BCTC KTV phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở cho ý kiến Đây là trường hợp mà các sai sót là quan trọng hoặc liên quan đến đa số khoản mục và làm cho tổng thể của BCTC bị sai sót trọng yếu đến mức phản ứng không trung thực và hợp lý về tình hình tài chính hoặc kết quả hoạt động của đơn vị Lúc này, vì tính nghiêm trọng của vấn đề nên ý kiểm kiểm toán ngoại trừ là không thể áp dụng
Từ chối đưa ra ý kiến
KTV đưa ra ý kiến này khi không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp
để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán và những ảnh hưởng có thể của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu và lan tỏa đối với BCTC Nói cách khác, hậu quả của việc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng và các thông tin bị thiếu liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục đến mức mà KTV không thể thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp để có thể cho ý kiến về BCTC
Ý kiến kiểm toán có đoạn giải thích về “Vấn đề cần nhấn mạnh” hoặc “vấn
Trang 29- Vấn đề đó đặc biệt quan trọng để người sử dụng hiểu được BCTC, và
- Vấn đề đó không bị sai sót trọng yếu trong BCTC
Những tình huống cần sử dụng đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” để thu hút sự chú ý của người sử dụng BCTC có thể là:
- Khuôn khổ về lập và trình bày BCTC theo yêu cầu của pháp luật và các quy định là không thể chấp nhận được nhưng đơn vị đó vẫn phải áp dụng vì đó là yêu cầu bắt buộc của pháp luật và các quy định;
- Có sự tồn tại của yếu tố không chắc chắn liên quan đến sự kiện hoặc điều kiện
có thể dẫn đến nghi ngờ đáng kể khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán (giả định này là phù hợp và đã được thuyết minh đầy đủ trong BCTC của đơn
vị được kiểm toán);
- BCTC được lập theo khuôn khổ về lập và trình bày BCTC cho mục đích đặc biệt và do đó, BCTC này có thể không phù hợp cho mục đích khác;
- BCTC kỳ trước có sai sót nhưng chưa được sửa chữa và chưa phát hành lại BCKT, nhưng thông tin so sánh là dữ liệu tương ứng đã được trình bày lại một cách hợp lý hoặc đã có các thuyết minh phù hợp trong BCTC kỳ hiện hành
KTV có thể thêm đoạn với tiêu đề riêng “Vấn đề khác” ngay sau đoạn “Ý kiến của KTV” và sau đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” khi:
- Nhận thấy cần phải trao đổi về một vấn đề khác ngoài vấn đề đã được trình bày
và thuyết minh trên BCTC;
- Vấn đề đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm toán và trách nhiệm của KTV hoặc về BCKT, đồng thời pháp luật và các quy định của không cấm việc này
So sánh hai hệ thống chuẩn mực về phương diện ý kiến kiểm toán
Về phương diện ý kiến kiểm toán, hai hệ thống chuẩn mực này có một số khác biệt cơ bản sau:
Trang 30- Hệ thống 37 chuẩn mực mới sử dụng thuật ngữ ý kiến kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần, với ý nghĩa bao gồm ý kiến ngoại trừ, ý kiến không chấp nhận và ý kiến từ chối đưa ra ý kiến Như vậy, theo như chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành, ý kiến kiểm toán được phân thành hai loại chính là ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần và ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
- Khi BCTC xuất hiện yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn liên quan đến sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và KTV thì khi đó KTV đưa ra ý kiến có đoạn nhấn mạnh thay vì ý kiến chấp nhận từng phần tùy thuộc vào như chuẩn mực cũ Như vậy, chuẩn mực kiểm toán hiện hành đã loại bỏ ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào so với chuẩn mực
cũ
Trong phần nội dung của luận văn, tác giả sử dụng 2 dạng ý là ý kiến kiểm toán ngoại trừ, hay ý kiến chấp nhận từng phần theo chuẩn mực cũ và ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính Ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh được bao gồm trong mẫu nghiên cứu, mang ý nghĩa
là một dạng ý kiến điều chỉnh, tách biệt với ý kiến chấp nhận toàn phần Việc sử dụng dạng ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính
là sự kế thừa từ các nghiên cứu trước như Chel et al., (2000), Bessel et al (2003) Giuseppe Ianniello và Giuseppe Galloppo (2015)
2.2 Cơ sở lý thuyết về cổ phiếu và giá cổ phiếu
Trang 312.2.2 Các loại cổ phiếu
Theo cách phân loại phổ biến nhất - dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho người nắm giữ, có thể phân biệt thành cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi
- Cổ phiếu phổ thông: là loại cổ phiếu phổ biến nhất trong các loại cổ phiếu
của một công ty cổ phần Các cổ đông sở hữu loại cổ phiếu này được quyền tự do chuyển nhượng, có đầy đủ quyền biểu quyết đối với các quyết định của công ty tại Đại hội cổ đông và được hưởng cổ tức theo kết quả kinh doanh và giá trị cổ phiếu
họ nắm giữ
- Cổ phiếu ưu đãi: là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong một công ty,
đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi
ưu tiên hơn so với cổ đông phổ thông Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi được gọi là
cổ đông ưu đãi của công ty
Trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, tác giả chỉ tập trung vào cổ phiếu phổ thông (hay cổ phiếu thường)
2.2.3 Giá cổ phiếu thường
Các hình thức giá của cổ phiếu thường gồm:
Trang 32- Mệnh giá của cổ phiếu thường: Giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu là
mệnh giá cổ phiếu Mệnh giá của mỗi cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa
- Giá trị sổ sách: là giá của cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh tình
trạng vốn cổ phần của công ty ở một thời điểm nhất định
Trường hợp công ty chỉ phát hành cổ phiếu thường thì giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu hoặc tổng giá trị tài sản thuần (phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tổng tài sản với tổng số nợ) của công ty chia cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành Trường hợp công ty phát hành cả
cổ phiếu ưu đãi, thì phải lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi rồi mới chia cho số cổ phiếu thường đang lưu hành
- Giá trị nội tại: là giá trị thực của cổ phiếu tại thời điểm hiện tại, được tính
toán căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường Đây là căn cứ quan trọng cho nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu, đánh giá được giá trị thực của cổ phiếu, so sánh với giá của thị trường và chọn lựa phương án đầu tư có hiệu quả nhất
- Giá trị thị trường: là giá cả cổ phiếu trên thị trường tại một thời điểm nhất
định Tùy theo quan hệ cung cầu mà giá thị trường có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng giá trị thực của nó tại thời điểm mua bán Quan hệ cung cầu cổ phiếu, lại bị tác động bởi nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, xã hội, …trong đó yếu tố quan trọng nhất là giá thị trường của công ty và khả năng sinh lợi của nó Do đó, giá thị trường của một cổ phiếu thường xuyên biến động
2.3 Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới sự biến động giá cổ phiếu
2.3.1 Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới sự biến động giá cổ phiếu
Báo cáo hàng năm của các công ty được lập theo các tiêu chuẩn được thiết lập, theo luật, chuẩn mực của từng quốc gia, khu vực như các nguyên tắc được chấp nhận chung GAAP, chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS Các báo cáo này cần được công bố ra công chúng để thông tin cho các bên liên quan của doanh nghiệp
Trang 33Tại Việt Nam, theo thông tư số 155/2015/TT-BTC, ngày 06 tháng 10 năm 2015, Công ty đại chúng phải công bố BCTC năm đã được kiểm toán trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo kiểm toán nhưng không vượt quá 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính Trường hợp công ty đại chúng không thể hoàn thành việc công bố BCTC năm trong thời hạn nêu trên do phải lập BCTC năm hợp nhất hoặc BCTC năm tổng hợp; hoặc do các công ty con, công ty liên kết của công ty đại chúng cũng phải lập BCTC năm có kiểm toán, BCTC năm hợp nhất hoặc BCTC năm tổng hợp thì Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xem xét gia hạn thời gian công bố BCTC năm khi có yêu cầu bằng văn bản của công ty, nhưng tối đa không quá 100 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính bảo đảm phù hợp với quy định pháp luật liên quan
Ảnh hưởng kỳ vọng của người sử dụng báo cáo là một nhân tố quan trọng đứng sau nhu cầu cho dịch vụ này Báo cáo kiểm toán là một trung gian truyền thông giữa các KTV và người sử dụng báo cáo, do đó báo cáo này phải dễ hiểu, khách quan và được chấp nhận bởi người sử dụng như là một nguồn thông tin thích hợp Sự thích hợp của báo cáo có nghĩa nó phải tạo ra sự khác biệt trong việc đưa ra quyết định, ngược lại, người sử dụng báo cáo sẽ không đọc báo cáo và sẽ không xem xét nó trong quá trình ra quyết định Theo Al-Thuneibat et al., (2008), ảnh hưởng lên việc
ra quyết định có nghĩa là báo cáo kiểm toán phải có nội dụng thông tin có ý nghĩa, ảnh hưởng tới quyết định đầu tư, quyết định vay nợ và giá cổ phiếu
Bằng chứng thực nghiệm ở Trung Quốc bởi Chen et al (2000) cho thấy ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính ảnh hưởng tiêu cực tới biến động giá cổ phiếu Nghiên cứu đã đưa ra giải thích rằng các KTV đã sử dụng ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh như một sự thay thế thuận tiện cho ý kiến kiểm toán ngoại trừ để họ không mất khách hàng trong khi tránh được việc vi phạm các chuẩn mực kiểm toán Do đó, loại ý kiến này như một chỉ báo tiêu cực cho các nhà đầu tư Giuseppe Ianniello and Giuseppe Galloppo, (2015) tìm thấy ảnh hưởng tiêu cực của ý kiến kiểm toán ngoại trừ lên biến động giá
Trang 34cổ phiếu tại Italia, hàm ý một dấu hiệu tiêu cực Tuy nhiên, ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh nhận được kết quả là tạo ảnh hưởng tích cựcđối với biến động giá cổ phiếu Điều này được giải thích trong bối cảnh ở Ý rằng, loại ý kiến này như một đánh giá thuận lợi liên quan đến khả năng hoạt động liên tục, đặc biệt ở các công ty đang rất khó khăn Nhóm tác giả đã cho rằng có thể các nhà đầu tư có thể đã đánh giá cao giá trị của ý kiến kiểm toán khi lựa chọn giữa việc đưa ra một trong hai loại ý kiến với ranh giới rất mong manh bởi kết luận của KTV
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới biến động giá cổ phiếu
Các nghiên cứu liên quan về phản ứng của giá cổ phiếu trên thế giới và ở Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả, hầu hết sử dụng phương pháp nghiên cứu nghiên cứu sự kiện Một số khái niệm, nội dung liên quan đến phương pháp thực hiện nghiên cứu này:
- Phương pháp nghiên cứu sự kiện (Event Study Methodology)
Các nhà nghiên cứu thường được được yêu cầu đo lường ảnh hưởng của một sự kiện kinh tế lên giá trị công ty Điều này dường như là một nhiệm vụ khó khăn nhưng nó có thể được hiện dễ dàng bằng một nghiên cứu sự kiện Sử dụng dữ liệu thị trường tài chính, một nghiên cứu sự kiện đo lường ảnh hưởng của một sự kiện cụ thể lên giá trị công ty Tính hữu ích của phương pháp này đến từ thực tế là, với một mức độ hợp lý của thị trường, sự ảnh hưởng của một sự kiện sẽ được phản ánh ngay lập tức trong thị trường cổ phiếu Vì vậy, việc đo lường ảnh hưởng về mặt kinh tế
có thể được thực hiện bằng việc quan sát giá cổ phiếu trong một khoảng thời gian ngắn (MacKinlay, 1997)
Phương pháp cửa sổ sự kiện là một trong những công cụ phân tích được sử dụng thường xuyên nhất trong nghiên cứu tài chính Mục tiêu của một nghiên cứu sự kiện
là để đánh giá xem liệu có bất cứ khoản thu nhập bất thường hoặc thu nhập vượt trội nào phát sinh bởi người nắm giữa cổ phiếu kèm theo bởi một sự kiện cụ thể nào đó
Trang 35(ví dụ như thông báo lợi nhuận, thông báo sáp nhập, thông báo chia tách cổ phiếu,…) (Pamela P Peterson ,1989)
- Cửa sổ sự kiện (event window):
Nhiệm vụ đầu tiên để thực hiện một nghiên cứu sự kiện là xác định ngày sự kiện và xác định khoảng thời gian mà giá cổ phiếu của các công ty liên quan trong nghiên cứu sự kiện được kiểm tra – Đây là cửa sổ sự kiện (MacKinlay, 1997)
Cửa sổ sự kiện có thể là ngày sự kiện được đưa ra công chúng cộng, trừ một số ngày Việc xác định cửa sổ sự kiện dài hay ngắn phụ thuộc vào tính chất hiệu quả của thị trường vì khả năng các thông tin có thể bị rò rỉ ra công chúng trước ngày sự kiện được công bố chính thức Do đó, cửa sổ sự kiện thường được chia thành ba giai đoạn nhỏ, gồm thời gian trước sự kiện, ngày sự kiện và thời gian sau sự kiện (Glenn V Henderson, Jr, 2000)
- Thu nhập bình thường (normal return) và thu nhập bất thường (abnormal return) Trước khi tính toán thu nhập, cần phân biệt giữa hai giai đoạn trong loại nghiên cứu
này Giai đoạn ước lượng, các ước lượng được tính toán ở giai đoạn này Những
ước lượng này được sử dụng để tính toán thu nhập kỳ vọng hay thu nhập bình
thường cho mỗi công ty trong giai đoạn cửa sổ sự kiện (Glenn V Henderson, Jr,
2000) Thu nhập bất thường là sự khác biệt giữa thu nhập quan sát được và một giá trị thu nhập được tính toán bởi mô hình – thu nhập bình thường (Pamela P Peterson,1989)
Trong các nghiên cứu sự kiện, mô hình được sử dụng phổ biến nhất để ước lượng thu nhập bất thường là mô hình thị trường (MacKinlay, 1997) Ngoài ra có thể sử dụng hoặc mô hình thu nhập điều chỉnh trung bình, hoặc một số mô hình phân tích khác như mô hình nhân tố Dựa vào tổng kết lý thuyết của MacKinlay (1997) và Glenn V Henderson, Jr, 2000), tác giả tổng kết, tóm tắt nội dung của một số mô hình ước lượng như sau:
Trang 36 Mô hình thị trường
Theo mô hình này, phân tích sử dụng một cửa sổ ước lượng (thường 120 ngày) trước của sổ sự kiện để xác định mối quan hệ giữa cổ phiếu của công ty và chỉ số giá thị trường thông qua phân tích hồi quy Dựa vào hệ số hồi quy, thu nhập sẽ được
dự đoán và được sử dụng để tính toán thu nhập bất thường
Mô hình thị trường được mô tả bằng công thức sau:
αi: Giới hạn chặn
βi : Đo lường tác động của thu nhập thị trường trên thu nhập của cổ phiếu i
̂ ̂
Ri,t : Thu nhập cổ phiếu i tại ngày t
Rm.t : Thu nhập của thị trường tại ngày t (được tính toán từ một danh mục thị trường hoặc một chỉ số thị trường)
ARi,t : Thu nhập bất thường của cổ phiếu i tại ngày t
̂, ̂ : Là ước lượng của α, β từ phương pháp bình phương bé nhất OLS
Trong mô hình thị trường có xét đến tác động của thị trường lên thu nhập của cổ phiếu do đó phương sai thu nhập bất thường của mô hình này giảm xuống
Mô hình thu nhập điều chỉnh trung bình
Trong cách tiếp cận của mô hình này, việc thiếu thông tin mới, được kỳ vọng tạo
ra mức thu nhập giống kết quả được tính trung bình trong giai đoạn ước lượng Với ERi,t là thu nhập trung bình của chứng khoán i, được tính toán từ một khoản thời gian ước lượng, công thức xác định như sau:
∑
Trang 37Từ đó tính thu nhập bất thường theo công thức
AR i,t =R i,t – ER i
Các mô hình phân tích khác
Một số mô hình phân tích khác đã được đề xuất Một loại mô hình phân tích được sử dụng là mô hình nhân tố Các mô hình nhân tố được thúc đẩy bởi lợi ích của việc giảm sai lệch của thu nhập bất thường bằng cách giải thích nhiều hơn sự sai lệch của thu nhập bình thường Nhân tố điển hình được xem xét là danh mục các chứng khoán được giao dịch Mô hình thị trường là ví dụ của kiểu mô hình một nhân tố Những mô hình đa nhân tố khác bao gồm các chỉ số ngành bổ sung ngoài chỉ số thị trường Một biến thể khác của mô hình nhân tố là việc tính toán thu nhập bất thường bằng cách tính toán mức chênh lệch giữa thu nhập bình thường và thu nhập của danh mục các công ty có cùng kích cỡ giống nhau, với kích cỡ công ty được đo lường bằng giá trị vốn hóa thị trường Tuy nhiên, mô hình này có những giới hạn như chỉ áp dụng hiệu quả khi những quan sát trong mẫu có những đặc điểm chung như cùng một ngành,…
Trên cơ sở tổng kết và kế thừa từ những nguyên cứu thực hiện gần đây như Thuneibat et al., (2008), Moradi et al., (2011), Giuseppe Ianniello and Giuseppe Galloppo, (2015), tác giả sử dụng phương pháp sự kiện và sử dụng mô hình thị trường (MacKinlay, 1997) để đo lường ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới biến động giá cổ phiếu
Trang 38Al-KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 bao gồm những lý thuyết nền tảng liên quan đến các vấn đề trong nội dung nghiên cứu của đề tài Cụ thể, nội dung chương này đã trình bày một số vấn đề liên quan đến giá cổ phiếu, báo cáo kiểm toán, các loại ý kiến kiểm toán; mối quan
hệ kỳ vọng giữa ý kiến kiểm toán và giá cổ phiếu và cách thức đo lường ảnh hưởng của mối quan hệ này Những nội dung lý thuyết này là nền tảng quan trọng để tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán tới biến động giá cổ phiếu Việc xây dựng giả thuyết nghiên cứu, phương pháp thực hiện và kết quả thực nghiệm sẽ được trình bày cụ thể trong các chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu
Bài viết được thực hiện dựa vào cách tiếp cận suy diễn với phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp định lượng Đồng thời, bài viết cũng sử dụng phương pháp mô tả phân tích và tổng hợp nhằm xây dựng cơ sơ lý thuyết cho mô hình nghiên cứu Quy trình thực hiện luận văn được tiến hành như sau:
Hình 3.1 Khung nghiên cứu của luận văn
Nguồn: Tác giả xây dựng
Thiết kế nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu liên quan và các khái niệm
Xây dựng đề cương nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
Trang 403.2 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
3.2.1 Mô hình nghiên cứu
Bài nghiên cứu thực hiện nhằm kiểm định ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán ngoại trừ và ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên quan đến sự không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục hoặc khủng hoảng tài chính đến biến động giá cổ phiếu của các công ty niêm yết thông qua xác định thu nhập bất thường, từ đó đề ra giải pháp nâng cao tính kịp thời, cũng như nhận thức của nhà đầu tư về giá trị của ý kiến kiểm toán tại Việt Nam Dựa trên cơ sơ lý thuyết liên quan đến mô hình nghiên cứu đã trình bày ở các phần trên và kế thừa mô hình nghiên cứu, kết quả của các nghiên cứu có liên quan được tổng kết trong chương 1, mô hình nghiên cứu của đề tài được mô tả trong hình 3.1 như sau:
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Tác giả xây dựng trên các cơ sơ lý thuyết của mô hình nghiên cứu
Với mô hình này, biến động giá cổ phiếu, được đo lường bằng thu nhập bất thường, là nhân tố bị tác động mà nghiên cứu tiến hành đo lường Thu nhập bất thường được xác định bằng phần chênh lệch giữa thu nhập thực tế và thu nhập kỳ
Biến động giá
cổ phiếu
Ý kiến kiểm toán ngoại trừ
Ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần
với đoạn vấn đề cần nhấn mạnh liên
quan đến sự không chắc chắn về khả
năng hoạt động liên tục hoặc khủng
hoảng tài chính