1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của vốn xã hội tới thu nhập hộ gia đình nông thôn việt nam

81 348 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Phân loại hoạt động theo chức năng và yếu tố Bảng 2.2: So sánh vốn xã hội với các loại vốn khác Bảng 2.3: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan Bảng 3.1

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

ĐOÀN THỊ THÙY LINH

ẢNH HƯỞNG CỦA VỐN XÃ HỘI TỚI THU NHẬP

HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

ĐOÀN THỊ THÙY LINH

ẢNH HƯỞNG CỦA VỐN XÃ HỘI TỚI THU NHẬP

HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRƯƠNG ĐĂNG THỤY

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện,

các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ

ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tp.HCM, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Đoàn Thị Thùy Linh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Kết cấu luận văn 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VỐN XÃ HỘI VÀ THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH 4

2.1 Cơ sở lý thuyết 4

2.1.1 Một vài lý thuyết liên quan tới thu nhập hộ gia đình 4

2.1.2 Lý thuyết về vốn xã hội 8

2.1.3 Cách đo lường về vốn xã hội 13

2.2 Lược khảo nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 15

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Khung phân tích 22

3.2 Đo lường các biến trong mô hình 27

3.2.1 Biến độc lập 27

3.2.2 Biến kiểm soát 28

3.3 Mô hình nghiên cứu 31

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Phân tích thống kê mô tả 33

4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của các hộ gia đình 33

4.1.2 Thành phần thu nhập của hộ gia đình 34

4.1.3 Đặc điểm về vốn xã hội 38

4.2 Phân tích ảnh hưởng của vốn xã hội tới thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 44

Trang 5

4.2.1 Kết quả hồi quy mô hình 46

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, HẠN CHẾ VÀ ĐỀ XUẤT 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Hàm ý chính sách 56

5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 60

5.3.1 Hạn chế của luận văn 60

5.3.2 Đề xuất hướng nghiên cứu 61

DANH MỤC THAM KHẢO

Phụ lục

Trang 6

DHMT: Duyên hải miền Trung

DBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

TN: Tây Nguyên

WB: World Bank

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Phân loại hoạt động theo chức năng và yếu tố

Bảng 2.2: So sánh vốn xã hội với các loại vốn khác

Bảng 2.3: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Bảng 3.1: Tóm tắt và mô tả các biến theo các nghiên cứu trước

Bảng 4.1: Đặc điểm nhân khẩu học của các hộ gia đình

Bảng 4.2: Số tổ chức tham của các hộ gia đình theo thu nhập trung bình

Bảng 4.3: Mô tả số tổ chức tham gia của 6 vùng miền theo thu nhập

Bảng 4.4: Đặc điểm về đóng góp tiền mặt của từng khu vực

Bảng 4.5: Đặc điểm mật độ tham gia vào tổ chức của hộ gia đình

Bảng 4.6: Bảng dấu kỳ vọng các hệ số của biến độc lập trong mô hình

Bảng 4.7: Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình nông thôn Hình 4.1: Biểu đồ cơ cấu nguồn thu nhập của các hộ gia đình

Hình 4.2: Biểu đồ mô tả tỷ trọng cơ cấu thu nhập theo từng khu vực

Hình 4.3: Thu nhập trung bình theo tính đồng nhất trong tổ chức

Hình 4.4 Thu nhập trung bình theo tính đồng nhất trong từng khu vực

Trang 8

TÓM TẮT

Luận văn sử dụng bộ dữ liệu tiếp cận nguồn lực hộ gia đình (VARHS) năm

2014 để nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn xã hội và thu nhập trung bình của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam Bài viết sử dụng ba mô hình: mô hình hồi quy OLS với biến vốn xã hội đơn giản, mô hình hồi quy OLS đầy đủ với biến vốn xã hội gồm bốn thành phần chính và mô hình hồi quy với biến công cụ là biến niềm tin giữa con người, các hộ gia đình với nhau Biến phụ thuộc trong nghiên cứu là thu nhập trung bình của hộ gia đình, biến độc lập là các nhóm biến về vốn xã hội như: tổng số tổ chức mà hộ có thành viên tham gia, tính đồng nhất của một trong ba tổ chức quan trọng nhất đối với hộ, mật độ tham gia vào tổ chức mà hộ có thành viên tham gia lâu nhất, đóng góp tiền mặt vào tổ chức; các nhóm biến về đặc điểm hộ gia đình như: quy

mô hộ gia đình, tuổi của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, nghề nghiệp chính của chủ hộ, số năm đi học trung bình của lực lượng lao động trong hộ, tổng diện tích đất của hộ gia đình và nhóm biến về các khu vực trong bộ dữ liệu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng vốn xã hội là biến bị nội sinh và có ảnh hưởng tới thu nhập trung bình của hộ Các thành phần của vốn xã hội như số tổ chức

hộ tham gia, mật độ tham gia thường xuyên, tính đồng nhất về nghề nghiệp trong tổ chức quan trọng đối với hộ và số tiền đóng góp vào tổ chức đều có tác động đến thu nhập hộ gia đình Nghiên cứu còn cho thấy rằng đặc điểm vốn con người và vật thể của hộ gia đình còn có vai trò quyết định đến thu nhập của hộ Cụ thể, số năm đi học trung bình của lực lượng lao động, tổng diện tích đất của hộ có tác động tích cực đến thu nhập trung bình của hộ gia đình Bên cạnh đó, nếu chủ hộ có nghề nghiệp chính

là sản xuất nông nghiệp thì thu nhập của hộ thấp hơn thu nhập của hộ có chủ hộ làm phi nông nghiệp, quy mô của hộ gia đình có tác động tiêu cực đến thu nhập trung bình của hộ Ngoài ra, những hộ nằm ở những khu vực khác nhau cũng có mức thu nhập trung bình của hộ khác nhau So với Đồng bằng sông Cửu Long thì tất cả các vùng đều có thu nhập thấp hơn

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Từ lâu nông thôn đã được xem là một bộ phận cốt lõi và đóng một vai trò cực

kỳ lớn, không chỉ về tỷ lệ dân cư sinh sống mà cả những đóng góp về mặt kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay Theo thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội của tổng cục thống kê, tính đến năm 2016, dân số nông thôn 60.64 triệu người, chiếm 65.4% dân số và đóng góp hơn 20% GDP Quốc Gia Con số này một phần minh chứng cho tầm quan trọng trong việc phát triển nông thôn để ổn định kinh tế, xã hội, trực tiếp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho dân cư Một trong những cách thức để nâng cao đời sống vật chất cho người dân đó chính là nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình Trong thời gian qua, Việt Nam đã thực hiện hàng loạt các giải pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các hộ gia đình ở khu vực nông thôn có thể tiếp xúc với nhiều cơ hội phát triển kinh tế, tăng thu nhập gia đình như: đầu tư vốn, hướng dẫn tăng cường áp dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp, khuyến khích phát huy vai trò của vốn xã hội Bên cạnh đạt được những kết quả đáng khích lệ, từng bước đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của khu vực nông thôn, song vẫn còn nhiều vấn đề nan giải Một trong những bất cập đó chính là chưa thực sự nhận thấy tầm quan trọng của các nguồn lực trong quá trình nâng cao thu nhập và đời sống cho cư dân vùng nông thôn

Xác định vốn xã hội như là một “nguyên liệu mới” để nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình Đến nay, mối quan hệ của vốn xã hội và thu nhập của các hộ gia đình

đã được đề cập trong rất nhiều các nghiên cứu của các tác giả khác nhau trên thế giới như Narayan & Pritchett (1999), Lu Sun và cộng sự (2014), và Yusuf (2008) Với vốn xã hội lớn hơn, các hộ gia đình thu nhập chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp có sử dụng phân bón, hóa chất nông nghiệp trong đầu vào hoặc chất lượng giống được cải thiện hơn do đó thu nhập của họ sẽ cao hơn (Narayan & Pritchett, 1999) Vốn xã hội cũng có thể mang đến cho người nông dân nhiều bài học, nhiều cơ hội thăng tiến, làm việc và giúp họ cải thiện được khả năng tự nâng cao thu nhập (Lu Sun và cộng sự,

Trang 10

2014) Vốn xã hội đã ảnh hưởng tích cực đến phúc lợi hộ gia đình, là một yếu tố cải thiện mức sống của thành viên hộ gia đình Cụ thể là tăng một đơn vị vốn xã hội sẽ dẫn đến tăng 0,15 phần trăm trong chi tiêu hộ gia đình bình quân trên đầu người (Yusuf, 2008)

Tại Việt Nam, đã có một vài nghiên cứu khảo sát về tầm quan trọng của vốn

xã hội song các nghiên cứu về vốn xã hội trong nông nghiệp, nông thôn vẫn còn rất

ít Nguyễn Tuấn Anh (2007, 2010) nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội trong khu vực nông thôn Bắc Trung Bộ Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ mới tập trung tìm hiểu vốn xã hội trong quan hệ họ hàng và phạm vi nghiên cứu cũng chỉ giới hạn

ở một làng Bắc Trung Bộ cụ thể Nhận thấy cần phải nghiên cứu vốn xã hội trên phạm

vi rộng hơn nữa, tác giả chọn đề tài “Ảnh hưởng của vốn xã hội tới thu nhập hộ

gia đình nông thôn Việt Nam” nhằm hiểu biết cụ thể hơn về tác dụng của vốn xã

hội ở khu vực nông thôn Việt Nam

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

 Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn xã hội và thu nhập hộ gia đình nông thôn Việt Nam

 Mục tiêu cụ thể:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các thành phần thuộc vốn xã hội lên thu nhập

hộ gia đình nông thôn Việt Nam

- Đề xuất một số chính sách có liên quan đến vốn xã hội phù hợp giúp các gia đình nông thôn để nâng cao thu nhập

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Vốn xã hội có ảnh hưởng như thế nào tới thu nhập hộ gia đình nông thôn Việt Nam?

Trang 11

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu dựa trên bộ dữ liệu từ cuộc điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thông Việt Nam (VARHS) năm 2014 do sự kết hợp của các Viện và

cơ quan nghiên cứu thực hiện Cuộc điều tra năm 2014 thu thập được lượng lớn thông tin về kinh tế cũng như xã hội của 3648 hộ gia đình nông thôn ở 12 tỉnh bao gồm Hà Tây, Lào Cai, Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đăk Lak, Đăk Nông, Lâm Đồng và Long An Tuy nhiên, để phù hợp với nghiên cứu tác giả đã lọc và chỉ sử dụng dữ liệu của 2730 hộ gia đình trong bộ dữ liệu Điều kiện lọc ở đây là tác gỉa chỉ lấy những hộ gia đình có chủ hộ là trên 18 tuổi để đúng với quy định làm chủ hộ của Việt Nam và kết quả mang tính chính xác hơn

Về đối tượng nghiên cứu: luận văn chỉ nghiên cứu về thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam và vốn xã hội của hộ gia đình dựa trên nguồn dữ liệu “Điều tra

hộ gia đình tiếp cận nguồn lực và đánh giá tác động chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn” năm 2014

1.5 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm 5 chương:

Chương 1 Giới thiệu

Chương 2 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến vốn xã hội và thu nhập hộ gia đình

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu

Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 12

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN VỐN XÃ HỘI VÀ THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH

Chương hai trình bày một vài lý thuyết về thu nhập, vốn xã hội bao gồm khái niệm, cách đo lường vốn xã hội với các tiêu chuẩn khác nhau để làm cơ sở chọn lọc

và áp dụng vào luận văn, cuối cùng là tổng quan các nghiên cứu của các tác giả trước

có liên quan đến đề tài nghiên cứu tại nhiều quốc gia khác nhau

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Một vài lý thuyết liên quan tới thu nhập hộ gia đình

 Định nghĩa và phân loại thu nhập

Khi nói đến thu nhập ta ngầm hiểu thu nhập là tất cả những gì mà một cá nhân nhận được hoặc kỳ vọng nhận được trong cuộc sống của họ Thu nhập thấp hay cao

sẽ ảnh hưởng tới phúc lợi cá nhân từ đó mà gây ra ảnh hưởng tới phúc lợi xã hội Nghiên cứu về thu nhập chính là tìm hiểu những yếu tố khiến thu nhập thay đổi Chính điều này sẽ làm tăng phúc lợi xã hội Hicks (1975) đưa ra định nghĩa về thu nhập chính bao gồm các khoản tiền mà cá nhân nhận được hay kỳ vọng nhận được Hội nghị các nhà thống kê lao động quốc tế lần thứ 16 thông qua một nghị quyết về thu nhập đã định nghĩa thu nhập của hộ gia đình là tổng thu nhập bằng tiền và hiện kim, có tính chất định kỳ hàng tháng hoặc hàng năm hoặc là thường xuyên của tất cả các thành viên trong hộ gia đình Còn theo Ellis (2000) định nghĩa thu nhập là kết quả của các hoạt động tạo thu nhập, nó được đo lường bằng cả tiền mặt và các khoản đóng góp cộng lại Trong đó tất cả những sản phẩm và dịch vụ được sản xuất ra từ các hoạt động được tính bằng giá thị trường của người sản xuất bất kể cả việc họ cũng là người

sử dụng sản phẩm và dịch vụ đó Vì vậy tất cả những sản phẩm thuộc sở hữu của nông trại được định giá bằng với giá khi mà họ bán Cách tiếp cận thu nhập cũng khá thú vị, theo nhóm Canberra (một nhóm chuyên gia làm việc chuyên nghiệp trong lĩnh vực thống kê thu nhập hộ gia đình gồm có đại diện của các cơ quan thống kê quốc gia, các cơ quan chính phủ và các cơ quan nghiên cứu từ Châu Âu như Mỹ, Australia

và một số tổ chức quốc tế khác) đã cho rằng tồn tại hai cách tiếp cận truyền thống của

Trang 13

thu nhập, thứ nhất là cách tiếp cận vĩ mô, có nguồn gốc từ các tài khoản quốc gia, đặc biệt là các tiêu chuẩn được đưa ra trong hệ thống Tài khoản Quốc Gia (SNA) Còn khi tiếp cận theo hướng vi mô thì đây là các khoản thu nhập cá nhân hoặc thu nhập

hộ gia đình, thường dùng trong các nghiên cứu về đói nghèo, phúc lợi và ảnh hưởng của nó đối với các nhóm kinh tế xã hội khác nhau

Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng định nghĩa thu nhập theo các nhà thống

kê đưa ra ở hội nghị lao động quốc tế lần thứ 16, đó là thu nhập của hộ gia đình là tổng thu nhập bằng tiền và hiện kim, có tính chất định kỳ hàng tháng hoặc hàng năm hoặc là thường xuyên của tất cả các thành viên trong hộ gia đình

Ngoài ra còn rất nhiều cách phân loại thu nhập khác nhau nữa, dựa theo nguồn tạo ra thu nhập như nghiên cứu của Ellis (2000) hay Barrett và các cộng sự (2001) đều cho rằng thu nhập chia thành hai loại đó là thu nhập nông trại và phi nông trại Nhưng hai nghiên cứu này có đôi chút khác nhau Ellis (2000) đưa ra ví dụ xác định thu nhập phi nông trại là thu nhập gồm lương, lao động, khác với thu nhập từ làm việc trên nông trại trong khi Barrett và các cộng sự (2001) lại cho rằng thu nhập phi nông trại là tất cả những hoạt động từ việc sở hữu tài sản của người nông dân Schwarze (2004) thì có cách phân loại theo hướng của Ellis cụ thể ở bảng dưới:

Bảng 2.1: Phân loại hoạt động theo chức năng và yếu tố

Chức năng

Yếu tố Nông nghiệp Phi nông nghiệp

Lao động cho chính mình

Trồng cây hàng năm Doanh nghiệp Trồng cây lâu năm Cho thuê Chăn nuôi

Lâm – ngư nghiệp

Trang 14

Lao động nhận tiền công Lao động nông nghiệp để

lấy tiền công

Lao động phi nông nghiệp

để lấy tiền công

Nguồn: Schwarze (2004)

Nhưng Schwarze khác Ellis ở chỗ là thu nhập phi nông nghiệp được tính bằng cách cộng tổng thu nhập từ doanh nghiệp và tiền cho thuê của tự chính người lao động Kết hợp với dữ liệu của VARHS năm 2014, trong bài này tác giả nghiên cứu theo cách phân loại của Schwarze (2004)

 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình

Trên thế giới và Việt Nam đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố nhân khẩu học, nguồn lực và thu nhập của hộ gia đình như Fadipe và cộng sự (2004), Lhing và cộng sự (2003), hay Aikaeli (2010) vv Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy rằng các yếu tố này thực sự có mối quan hệ chặt chẽ với việc tạo thu nhập, nâng cao phúc lợi của các hộ gia đình

Fadipe và cộng sự (2014) trong nghiên cứu đánh giá các yếu tố quyết định thu nhập giữa các hộ gia đình nông thôn ở Nigeria Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả

và hàm hồi quy đa biến để phân tích dữ liệu thu thập được từ 90 hộ gia đình ngẫu nhiên thông qua khảo sát bảng câu hỏi Kết quả cho thấy rằng thu nhập từ trang trại

là thu nhập quan trọng nhất cho các hộ gia đình, chiếm 57.9% trong tổng thu nhập Ngoài quy mô hộ gia đình có tác động tiêu cực đến thu nhập thì trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô trang trại và khả năng tiếp cận điện của hộ gia đình là các yếu tố chính quyết định tích cực đến thu nhập hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu

Lhing và cộng sự (2013) nghiên cứu điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của 102 hộ gia đình là khách hàng và 60 hộ gia đình không phải là khách hàng của một công ty hợp tác tư nhân ở Myanmar Cụ thể nghiên cứu sử dụng hàm hồi quy Logistic và hàm Cobb-douglas để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình và các đặc điểm nhân khẩu học, tài chính vi mô lên việc thành lập doanh

Trang 15

nghiệp mới của hộ Kết quả thực nghiệm từ mô hình chỉ ra rằng có sáu biến độc lập như tuổi, giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô đất đai, số lượng cây trồng

và việc thành lập doanh nghiệp mới có ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập hộ gia đình

Và nghiên cứu cho thấy rằng bắt đầu việc thành lập doanh nghiệp mới là yếu tố quan trọng nhất để tăng thu nhập cho các các hộ gia đình

Aikaeli (2010) nghiên cứu điều tra ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế xã hội

và yếu tố địa lý lên thu nhập của các hộ gia đình nông thôn và cộng đồng ở Tanzania Nghiên cứu này tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính và bình phương nhỏ nhất

để ước tính mối quan hệ giữa các yếu tố này Kết quả chỉ ra rằng có bốn yếu tố tác động tích cực đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn: trình độ học vấn của chủ

hộ, quy mô lực lượng lao động trong hộ, tổng diện tích đất của hộ và doanh nghiệp

tự chủ phi nông nghiệp Thêm vào đó, kết quả còn chỉ ra rằng nếu chủ hộ là nữ giới thì sẽ có thu nhập thấp hơn những hộ có chủ là nam giới Ở cấp độ cộng đồng thôn, tiếp cận với phương tiện thông tin đại chúng sẽ có khả năng tiếp cận theo thông tin thị trường nhiều hơn, thuận lợi cho việc kinh doanh, sản xuất, từ đó tăng thu nhập Đối với vấn đề về thời tiết, nếu một lượng mưa vừa đủ sẽ làm tăng thu nhập, ngược lại hạn hán và lũ lụt sẽ thất thu và làm giảm thu nhập

Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lan Duyên (2014) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang cho thấy: trình độ học vấn, diện tích đất, thời gian cư trú tại địa phương, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm, lượng vốn vay và số lượng lao động có ảnh hưởng đến thu nhập của các nông hộ ở

An Giang Hay trong nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Áp dụng phân tích mô hình hồi quy tuyến tính, các nhân tố tác động đến thu nhập bình quân/ người của hộ dân tộc thiểu số ở Đồng bằng Sông Cửu Long là: trình độ học vấn của chủ hộ, số hoạt động tạo thu nhập của hộ, độ tuổi của lao động trong hộ và tiếp cận với các chính sách hỗ trợ và trình độ học vấn của lao động trong hộ có tác động dương đến thu nhập của hộ, chỉ có quy mô hộ có tác động ngược chiều với thu nhập, Trong tất cả các yếu tố đó thì số hoạt động tạo ra thu nhập có tác

Trang 16

động cùng chiều và mạnh nhất đến thu nhập bình quân/ người của hộ dân tộc thiểu

Trong đó, Y là thu nhập, A là hằng số; Xi (i=1, 𝑛) là các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ như: vốn, lao động, đất đai, trình độ giáo dục , e là các yếu tố khác ngoài Xi

Ngoài ra, dạng hàm bán logarit: LN(Y)= β0 + β1X1 + β2X2 + + βnXn + €i

(Mincer, 1974) hoặc dạng hàm tuyến tính đa biến như trong nghiên cứu của Aikaeli (2010) : Y= β0 + β1X1 + β2X2 + + βnXn + €i cũng được sử dụng khá rộng rãi để ước lượng thu nhập và chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hàm bán logarit để nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn xã hội với thu nhập của các hộ gia đình

2.1.2 Lý thuyết về vốn xã hội

 Khái niệm về vốn xã hội

Vốn xã hội từ lâu được xem như là một loại vốn tương tự như vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn con người Lyda Judson Hanifan được coi là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về vốn xã hội vào năm 1916 Ông dùng khái niệm vốn xã hội để chỉ tình thân hữu, sự thông cảm, cũng như việc qua lại giữa các cá nhân hay gia đình Đến những năm 1980, khái niệm về vốn xã hội được nhắc đến một cách rộng rãi trong tác phẩm

Các hình thức của vốn của Bourdieu (1986) Theo Bourdieu (1986) được trích trong

Trần Hữu Quang (2006) vốn vã hội là một mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên

hệ quen biết nhau và nhận ra nhau, những mối liên hệ này ít nhiều đã được thể chế

Trang 17

hóa Khối lượng vốn xã hội của một cá nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mức độ liên

hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động được trong thực tế, và tùy vào khối lượng vốn kinh tế, vốn văn hóa hay vốn biểu tượng của từng người mà anh ta có liên hệ Cách xử lý khái niệm của ông là công cụ hết sức quan trọng, tập trung vào những điều mà cá nhân có được nhờ tham gia vào nhóm Ông khẳng định rằng “những lợi ích có được khi là thành viên của một nhóm, là cơ sở cho sự tích tụ vốn có thể có để tạo ra khoản lợi đó” Theo Bourdieu (1986) thì vốn xã hội được thể hiện ra ngoài bằng: niềm tin; sự tương hỗ và có đi có lại giữa con người với nhau; các quy tắc, hành

vi, thể chế và cả sự kết hợp với nhau thành mạng lưới

Coleman (1988) thì lại cho rằng vốn xã hội bao gồm những đặc trưng trong đời sống xã hội như mạng lưới xã hội, các quy tắc và niềm tin trong xã hội là những cái giúp cho các thành viên có thể gắn kết và làm việc cùng nhau, hướng tới mục đích chung, cuối cùng đạt được kết quả tốt hơn Ông cho rằng vốn xã hội có ba đặc tính Đầu tiên, nó tùy thuộc vào mức độ niềm tin với nhau của con người trong xã hội, hay

nó tùy thuộc vào nghĩa vụ mà mỗi người tự ý thức thực hiện và kỳ vọng của người này với người khác Thứ hai, nó có giá trị vì chứa đựng những liên hệ xã hội mang đặc điểm của kênh truyền thống, cụ thể là qua tiếp xúc với những người xung quanh như bạn bè, đồng nghiệp, từ đó họ có thể thu thập nhiều thông tin hữu ích cho cuộc sống, thay thế một phần thông tin trong sách báo, truyền hình Thứ ba, vốn xã hội càng lớn khi xã hội càng có nhiều quy tắc, chuẩn mực, đặc biệt là những quy tắc có kèm theo sự trừng phạt

Fukuyama là một tác giả có nhiều nghiên cứu về vốn xã hội Ông có những định nghĩa khác nhau khi bàn về vốn xã hội và vai trò của nó đối với sự phát triển Năm 2001, Fukuyama quan niệm “vốn xã hội là những chuẩn mực không chính thức

có tác dụng thúc đẩy sự hợp tác giữa hai hay nhiều cá nhân” Một năm sau, ông lại đưa ra một định nghĩa khác “vốn xã hội là các chuẩn mực, giá trị được chia sẻ để thúc đẩy sự hợp tác, điều này được chứng minh bằng các mối quan hệ xã hội thực sự”

Trang 18

Ngân hàng thế giới (WB) trích trong Trần Hữu Quang (2006) cũng có định nghĩa về vốn xã hội, WB (1919) cho rằng “vốn xã hội là một khái niệm có liên quan tới chuẩn mực và những mạng lưới xã hội dẫn đến hành động tập thể Ngày càng có nhiều sự kiện minh chứng rằng sự gắn kết xã hội – vốn xã hội – đóng vai trò trọng yếu đối với việc giảm nghèo và sự phát triển con người và kinh tế một cách bền vững”

Cohen và Prusak (2001) lại định nghĩa rằng vốn xã hội chủ yếu là sự hợp tác xây dựng giữa con người với nhau: Niềm tin, cách hiểu biết, sự tương hỗ lẫn nhau và

cả sự chia sẻ những giá trị đạo đức, sự nối kết những thành viên trong các tổ chức trong cộng đồng lại với nhau sẽ làm cho hành động, kết quả có khả năng thực hiện cao hơn Putnam (2000) thì cho rằng vốn xã hội là những phương tiện và những kĩ năng đào tạo có tác dụng làm tăng năng suất cá nhân Vốn xã hội nói tới những khía cạnh đặc trưng của tổ chức xã hội như các mạng lưới xã hội, các quy tắc chuẩn mực

và niềm tin trong xã hội

Như vậy, có nhiều định nghĩa, nhiều cách hiểu khác nhau về vốn xã hội, nhưng chung quy lại các tác giả đều có sự thống nhất chung về vốn xã hội Thứ nhất, các tác giả đều thống nhất với nhau ở chỗ cho rằng vốn xã hội gắn liền với mạng lưới và quan hệ xã hội, chẳng hạn, vốn xã hội kết nối với mạng lưới xã hội tương đối bền vững (Bourdieu, 1986), vốn xã hội nằm trong xã hội (Coleman, 1988) hay mạng lưới

xã hội là một thành tố của vốn xã hội (Putnam, 2000) Thứ hai, nhiều tác giả khi bàn

về vốn xã hội họ đều dùng khái niệm nguồn lực để định nghĩa vốn xã hội Nếu Bourdieu (1986) quan niệm vốn xã hội là nguồn lực dựa trên cơ sở mạng lưới quen biết, thì Lin (2001) định nghĩa vốn xã hội là nguồn lực nằm trong mạng lưới xã hội Điểm thống nhất thứ ba về vốn xã hội là quan niệm vốn xã hội được tạo ra thông qua việc đầu tư vào các mạng lưới và quan hệ xã hội, từ đó các cá nhân có thể tận dụng vốn xã hội có được từ việc đầu tư để tìm kiếm lợi ích Coleman (1988) thì khẳng định vốn xã hội là nguồn lực phái sinh của các hoạt động khác, thông qua mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau Người ta thiết lập và duy trì những quan hệ như thế để thu thập thông tin, lợi ích cho mình Trong khi đó Putnam (2000) chỉ ra rằng vốn xã hội

Trang 19

được dùng để tìm kiếm các luồng thông tin, sự giàu có về kinh tế, hay thành tích tốt trong sự nghiệp, học hành Và điểm thống nhất cuối cùng giữa nhiều tác giả khi đề cập đến vốn xã hội là vấn đề sự tin cậy và quan hệ qua lại/ sự có đi có lại Coleman (1988) khẳng định trách nhiệm, niềm tin giữa con người với nhau là các hình thức của vốn xã hội Cho đến nay, khái niệm vốn xã hội vẫn đang được các tác giả tiếp tục thảo luận và phát triển

 Lý do nào gọi vốn xã hội là vốn?

Có ba lí do chính để gọi vốn xã hội là vốn: Thứ nhất, nó giống những loại vốn khác là có thể tích lũy được như các loại vốn khác với hi vọng sẽ có thêm nhiều thành quả trong tương lai dù không chắc chắn Ví dụ như vốn tài chính là do con người tiết kiệm mà có được hay vốn con người do học hành, tìm tòi mới có được lượng kiến thức nhất định

Thứ hai, vốn xã hội có tính đa công dụng, hay nói cách khác, có thể được sử dụng trong rất nhiều trường hợp (Coleman, 1988) Ví dụ: Bạn có người bạn rất thân, khi bạn cần sự giúp đỡ về vấn đề tài chính, anh ta sẵn sàng cho bạn vay tiền mà không cần một đồng tiền lãi nào, dĩ nhiên bạn sẽ đỡ phải đi vay và trả tiền lãi cho ngân hàng, hay mạng lưới quan hệ của bạn rộng, bạn sẽ dễ tìm kiếm được việc làm thông qua những người bạn quen biết giới thiệu

Thứ ba, vốn xã hội có thể chuyển thành các loại vốn khác (Bourdieu, 1986), tuy nhiên sự chuyển đổi này không dễ như vốn tài chính Ví dụ: Nếu mạng quan hệ

xã hội của bạn rộng, bạn có thể học hỏi được rất nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm, từ đó nâng cao về kĩ năng của cá nhân, đây cũng là một trong những yếu tố được xem là vốn con người, rõ ràng nhờ có vốn xã hội mà vốn con người được cải thiện

Nguồn: Xem ở phụ lục 1A

Trang 20

 So sánh vốn xã hội với các loại vốn khác?

Cũng như các loại vốn khác, vốn xã hội có một vài đặc tính khác với các loại vốn khác Thứ nhất, khác vốn tài chính nhưng lại có đặc điểm giống vốn vật thể và vốn con người, vốn xã hội cần được nuôi dưỡng, duy trì, để mang lại lợi ích Ví dụ như mối liên hệ sẽ bị phai nhạt đi nếu con người không giữ liên lạc thường xuyên, không quan tâm tới bạn bè, đồng nghiệp hoặc anh chị em họ hàng

Thứ hai, khác với vốn vật thể (nhưng lại giống với vốn con người) không thể đoán trước được suất chiết khấu của vốn xã hội Có thể ví dụ đơn giản như chiếc xe chạy càng lâu thì càng giảm giá, nhưng không thể đoán trước được giá trị của một mối liên hệ so với mức độ mà 2 người đang giữ liên lạc với nhau

Thứ ba, vốn xã hội có nhưng đặc điểm riêng như vốn xã hội là kết quả của nhiều người xây dựng, kết nối lại với nhau mới có được, không phải chỉ riêng một cá nhân tạo thành Có thể nói vốn xã hội là một loại hàng hoá công Không một ai có thể chiếm hữu riêng cho mình mạng lưới xã hội và cũng không một ai có thể phá hoại lợi ích đến người khác Tuy nhiên, chỉ một vài cá nhân xấu cũng sẽ dẫn đến sự tàn phá vốn xã hội mà nhiều người đã mất công xây dựng

Nguồn: Xem ở phục lục 1B

Coleman (1988) còn so sánh vốn xã hội với vốn vật thể và vốn con người dưới góc độ tiếp cận vốn con người Cả ba loại có cùng đặc điểm chung: thứ nhất đều là một nguồn nguyên liệu cần cho sản xuất, thứ hai rất khó để luân chuyển dễ dàng từ loại vốn này sang loại vốn khác mà chỉ trong một số trường hợp nhất định, thứ ba không phải trong tất cả các trường hợp nó đều có lợi mà có thể có lợi trong trường hợp này nhưng lại có hại trong trường hợp khác Tuy nhiên bên cạnh những đặc điểm giống nhau thì vốn xã hội cũng có nhiều sự khác biệt so với các loại vốn khác Đầu tiên, vốn xã hội được xây dựng trong liên hệ giữa các cá nhân với nhau Hai là, vốn vật thể thì con người hoàn toàn nhìn thấy và hình dung được bởi nó hiển thị rõ trước mắt; vốn con người thì khó thấy hơn, vì nó tiềm tàng ở bên trong lượng kiến thức,

Trang 21

đạo đức của mỗi cá nhân còn vốn xã hội thì khó thấy nhất, bởi nó ẩn chứa trong liên

hệ giữa con người

Theo Bourdieu (1986), vốn kinh tế tồn tại dưới hình thức vật chất và được đo bằng tiền và tài sản, vốn tồn tại dưới hình thức phi vật chất là vốn văn hóa và vốn xã hội, trong đó vốn văn hóa được đo lường bằng vốn con người và vốn xã hội được đo bằng các mối quan hệ hệ ràng buộc Bourdieu đã đưa ra một ví dụ để làm rõ luận điểm của mình: để sở hữu một chiếc máy ta cần tiền để mua chiếc máy đó hay nói cách khác là cân vốn kinh tế, nhưng để sử dụng và vận hành cái máy đó ta cần vốn con người và cuối cùng để trao đổi sản phẩm làm ra từ máy đó ta cần phải có các mối quan hệ tức là cần có vốn xã hội

Bảng 2.2: So sánh vốn xã hội với các loại vốn khác

Vốn con người

Vốn tài chính

Vốn vật thể

Vốn thiên nhiên

Vốn xã hội

Vốn văn hóa

2.1.3 Cách đo lường về vốn xã hội

Đo lường vốn xã hội một cách thực nghiệm là việc không dễ dàng Nhiều tác giả, công trình nghiên cứu đã đưa ra những cách đo lường vốn xã hội khác nhau tùy từng mức độ đo vốn xã hội của vấn đề nghiên cứu vi mô hay vĩ mô Vì vậy mà trên

Trang 22

thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về cách thức đo lường vốn xã hội và đưa ra một

số bộ tiêu chuẩn đo lường như Ngân hàng thế giới (2002) hay cách đo lường vốn xã hội theo khung phân tích của nước Anh được thực hiện bởi Harper và Kelly (2003).vv Vốn xã hội được công nhận có tính đa công dụng nên tùy theo mục đích nghiên cứu, phương pháp tiếp cận mà có những cách đo lường khác nhau Trong bài nghiên cứu này, tác giả dựa vào hai nghiên cứu chính để đo lường vốn xã hội theo cấp độ hộ gia đình

Nghiên cứu vốn xã hội và phúc lợi hộ gia đình ở Nigeria của Yusuf (2008) và nghiên cứu vốn xã hội, phúc lợi hộ gia đình ở Burkina Faso của Grootaert (2002) khảo sát phúc lợi của các hộ gia đình, vốn xã hội của hộ gia đình được đo bằng:

 Mật độ thành viên: Ở cấp độ mỗi gia đình thì chính là tổng số các hiệp hội mỗi gia đình tham gia

 Tính không đồng nhất của tổ chức: Mỗi hộ gia đình trả lời câu hỏi liệu các thành viên một trong ba tổ chức quan trọng nhất đối với hộ là có cùng nhóm

họ hàng, cùng nghề nghiệp, tình trạng kinh tế tương tự, cùng tôn giáo, cùng giới tính, nhóm tuổi Nghiên cứu xây dựng một thang điểm từ 0 đến 9 để các

hộ gia đình đánh giá độ không đồng nhất ở mỗi nhóm của mỗi tổ chức Điểm không đồng nhất của ba tổ chức quan trọng nhất đối với hộ gia đình chính là trung bình cộng điểm của ba tổ chức và giao động từ 0 đến 100

 Chỉ số tham dự cuộc họp: Tổng số lần tham dự các cuộc họp của các thành viên trong hộ gia đình Giá trị này sau đó được nhân với 100

 Đóng góp tiền mặt: Được đo bởi số tiền mà hộ gia đình đóng góp vào hiệp hội

Trang 23

được tính bằng trung bình cộng của ba nhóm sau đó nhân với 100 cho mỗi hộ gia đình

Đề tài sử dụng bộ dữ liệu từ cuộc điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam năm 2014 nên sẽ hạn chế về các biến đo lường vốn xã hội Kết hợp với các nghiên cứu trên, bài này sử dụng bốn chỉ số tạo thành vốn xã hội: tổng số tổ chức mà hộ tham gia, mật độ tham gia, tính đồng nhất của tổ chức, đóng góp tiền mặt

2.2 Lược khảo nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến vốn xã hội và thu

nhập hộ gia đình

Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu về vốn xã hội và thu nhập của các hộ gia đình Nghiên cứu về vốn xã hội và thu nhập hộ gia đình nông thôn ở Tanzania của Narayan & Lant Pritchett (1997) đo lường mức độ và đặc điểm của các

tổ chức xã hội như là đại diện của biến vốn xã hội và thái độ của các hộ gia đình đối với tổ chức họ tham gia hay mức độ tin cậy giữa các hộ gia đình ở nông thôn Tanzania, tác giả nhận thấy rằng một sự gia tăng độ lệch chuẩn trong các chỉ số vốn xã hội của một làng sẽ kéo theo tăng ít nhất là 20% chi phí mỗi người trong từng hộ gia đình của làng đó Giống với đặc điểm riêng (học hành, tài sản, khoảng cách từ nhà đến chợ, giới tính chủ hộ) của các hộ gia đình, vốn xã hội của một làng cũng rất quan trọng trong việc xác định thu nhập của các hộ gia đình ở nông thôn Tanzania Mặt khác nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đối với những hộ gia đình có chi tiêu cao thường được tiếp xúc với những dịch vụ xã hội cao hơn như y tế, giáo dục, v.v Với một vốn xã hội lớn hơn, các hộ gia đình có thu nhập chủ yếu bằng nông nghiệp có sử dụng phân bón, hóa chất nông nghiệp trong đầu vào hoặc chất lượng giống được cải thiện thì có thu nhập cao hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, một làng có vốn xã hội cao hơn phần lớn đều sử dụng tín dụng để cải thiện nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập cho cá hộ gia đình

Lu Sun và cộng sự (2014) trong nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của vốn xã hội lên thu nhập của các hộ gia đình nghèo ở tỉnh Sichuan Nghiên cứu này sử dụng phương pháp OLS Trong mô hình này, thu nhập của hộ gia đình nông dân là biến

Trang 24

phụ thuộc, còn vốn hữu hình, diện tích đất, vốn con người, vốn xã hội là biến độc lập Ngoài ra nghiên cứu còn sử dụng yếu tố thể chế như là biến kiểm soát trong mô hình Tác giả chạy 4 mô hình với 4 nhóm hộ gia đình có mức thu nhập khác nhau, mô hình thứ nhất là tất cả các gia đình khảo sát, mô hình thứ 2 là những gia đình có thu nhập thấp, mô hình thứ 3 là gia đình có thu nhập trung bình, mô hình cuối cùng là gia đình

có thu nhập cao Kết quả chỉ ra rằng vốn xã hội của một hộ gia đình nghèo có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ thu nhập của họ và mức độ ảnh hưởng khác nhau tại các mức độ thu nhập khác nhau và hệ số co giãn của vốn xã hội tác động đến nhóm có thu nhập thấp là nhỏ nhất, và thu nhấp cao là cao nhất Ngoài ra, vốn xã hội có thể mang đến cho người nông dân nhiều bài học, nhiều cơ hội thăng tiến, làm việc và giúp họ cải thiện được khả năng tự nâng cao thu nhập

Johannes (2011) trong nghiên cứu về vốn xã hội và phúc lợi hộ gia đình ở Cameroon, nghiên cứu này sử dụng biến công cụ (IV) để điều tra ảnh hưởng nhân quả của vốn xã hội lên tiêu chuẩn phúc lợi khác nhau Bộ dữ liệu bao gồm một mặt cắt ngang của Điều tra hộ gia đình Cameroon năm 2007 Biến vốn xã hội được bắt nguồn từ thành viên trong các tổ chức văn hóa, xã hội và năm hiệp hội khác Vốn xã hội được tìm thấy để tăng phúc lợi hộ gia đình và xóa đói giảm nghèo cũng như nâng cao việc đi học của trẻ em, đồng thời có ảnh hưởng đến việc cá nhân tham gia lực lượng lao động Ước tính cho rằng tác động của vốn xã hội đến thu nhập hộ gia đình

và tham gia vào lực lượng lao động được đánh giá thấp khi hiệu chỉnh bỏ qua các biến tiềm ẩn không được đưa vào Vì vậy nghiên cứu đã chạy thêm mô hình sử dụng biến công cụ và kết quả là biến vốn xã hội bị nội sinh và không tồn tại mối quan hệ nhân quả Tác động khi có biến công cụ là tăng một đơn vị vốn xã hội sẽ tăng 2% chi tiêu bình quân trên đầu người của hộ gia đình, cao hơn nhiều so với mô hình hồi quy OLS khi tăng một đơn vị vốn xã hội sẽ làm thay đổi 0.3 phần trăm trong chi tiêu bình quân trên đầu người của hộ gia đình

Một nghiên cứu tương tự của Yusuf (2008) khảo sát ảnh hưởng của vốn xã hội tới phúc lợi của các hộ gia đình ở Nigeria Nghiên cứu được thực hiện bằng cách sử dụng số liệu thống kê mô tả, phương pháp OLS và 2SLS Biến phụ thuộc là chi tiêu

Trang 25

bình quân trên đầu người của mỗi hộ gia đình, biến độc lập gồm các biến: Vốn xã hội, vốn con người, tài sản và đặc điểm nhân khẩu học của các hộ gia đình Trong đó, vốn xã hội được chia thành sáu thành phần: mật độ thành viên, tính không đồng nhất, chỉ số tham dự cuộc họp, đóng góp tiền mặt, đóng góp lao động và chỉ số ra quyết định Ý tưởng chính của nghiên cứu này là giữa vốn xã hội và phúc lợi hộ gia đình

có mối quan hệ nhân quả hai chiều hay không, vốn xã hội có thực sự là đầu vào trong chức năng sản xuất của hộ gia đình Để làm điều này, nghiên cứu đã kiểm tra sự tồn tại mối quan hệ nhân quả với sự trợ giúp của biến công cụ Chỉ số biến vốn xã hội được thay thế bởi một biến cụ thể đó là biến niềm tin Chỉ số này được dựa trên các nghiên cứu trước đó của Narayan và Prichett (1997), Grootaert (2001), Grootaers và cộng sự (2002) Kết quả cho thấy rằng mối quan hệ giữa vốn xã hội và phúc lợi hộ gia đình là mối quan hệ ngoại sinh và không tồn tại mối quan hệ nhân quả Vốn xã hội đã ảnh hưởng tích cực đến phúc lợi hộ gia đình, là một yếu tố cải thiện mức sống của thành viên hộ gia đình Cụ thể là tăng một đơn vị vốn xã hội sẽ dẫn đến tăng 0.15 phần trăm trong chi tiêu hộ gia đình bình quân trên đầu người Việc đạt được bằng cấp giáo dục của các hộ gia đình không ảnh hưởng đến phúc lợi của hộ gia đình

Nghiên cứu ảnh hưởng của vốn xã hội đến thu nhập của các hộ gia đình làm nông của Wolz và cộng sự (2005) Nông nghiệp tư nhân là mô hình chủ đạo của sản xuất nông nghiệp ở hầu hết các nước ở Châu Âu Trong nghiên cứu này, nó được phân tích liệu vốn xã hội là nhân tố quan trọng đóng góp vào thu nhập nông nghiệp cao hơn Dựa trên kết quả của một cuộc khảo sát trang trại ở Ba Lan trong số 410 nông dân bằng cách áp dụng phân tích hồi quy đa biến, phân tích này có thể suy ra rằng vốn xã hội thực sự là một yếu tố quan trọng và có hưởng đáng kể đến tổng thu nhập nông nghiệp cho nông dân, cá nhân ở Ba Lan Nghiên cứu đề nghị từng hộ nông dân có thể cải thiện thu nhập nông nghiệp của họ nếu họ tham gia và làm việc chủ động, tích cực trong các tổ chức chính thức

Agboola và cộng sự (2016) trong nghiên cứu ảnh hưởng của vốn xã hội và tiếp cận chương trình vi mô đến năng suất nông dân trồng trọt ở Nigeria Một kỹ thuật lấy mẫu đa tầng được sử dụng cho bộ sưu tập dữ liệu từ 150 hộ gia đình ở hai khu vực

Trang 26

chính quyền địa phương Phân tích dữ liệu được tiến hành bằng cách sử dụng thống

kê mô tả và phân tích hồi quy với biến công cụ Biến phụ thuộc trong mô hình hồi quy đa biến là năng suất canh tác của nông dân được đo lường bằng giá trị của cây trồng trên mỗi hecta Biến độc lập là các nhóm biến về đặc điểm hộ gia đình, nhóm biến về tín dụng và nhóm biến về vốn xã hội Trong đó biến xã hội cũng bao gồm các thành phần như: số tổ chức tham gia, tính không đồng nhất, chỉ số ra quyết định, đóng góp lao động, đóng góp tiền mặt và tham gia các cuộc hội họp Nghiên cứu cho thấy

sự tồn tại của quan hệ nhân quả hai chiều với sự trợ giúp của biến công cụ Biến công

cụ thay thế cho chỉ số vốn xã hội tổng hợp là chỉ số niềm tin Kết quả chỉ ra rằng vốn

xã hội và tiếp cận tín dụng có ảnh hưởng tích cực đến năng suất và là một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện thu nhập của các thành viên trong tổ chức địa phương Cụ thể nếu tăng một đơn vị vốn xã hội sẽ làm tăng 1.55% năng suất của các hộ gia đình

Grootaert và cộng sự (2002) trong nghiên cứu khảo sát tầm quan trọng của vốn

xã hội đối với các phú lợi hộ gia đình ở Burkina Faso Vốn xã hội trong nghiên cứu bao gồm các thành phần: số tổ chức các thành viên trong hộ tham gia, tính không đồng nhất của tổ chức, chỉ số tham gia, chỉ số ra quyết định, phí hội viên bao gồm tiền mặt và hiện kim Nghiên cứu cũng sử dụng bộ biến công cụ là các biến về niềm tin được đo lường thông qua cách họ nghĩ họ có nhận được sự hỗ trợ từ người khác trong trường hợp khẩn cấp hay không, biến thời gian cư trú của một hộ gia đình tại làng và cuối cùng là biến công cụ về xu hướng tham gia vào tổ chức của hộ gia đình Qua đó, nghiên cứu có thể kiểm tra mối quan hệ của vốn xã hội và phúc lợi hộ gia đình, cho thấy đây là mối quan hệ ngoại sinh Kết quả chỉ ra rằng các hộ gia đình có mức vốn xã hội càng cao thì mức chi tiêu của hộ gia đình càng cao và khả năng tiếp cận với tín dụng tốt hơn Trong các thành phần của vốn xã hội thì số tổ chức tham gia của các thành viên trong hộ và tính không đồng nhất của các tổ chức mà hộ tham gia

có tác động mạnh nhất đến mức chi tiêu của các hộ gia đình Ngoài ra nghiên cứu còn tìm ra được mối quan hệ tích cực giữa vốn xã hội và khả năng tiếp cận với tín dụng của các hộ gia đình

Trang 27

Bảng 2.3: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Các nhân tố tác động đến thu nhập

Kết quả nghiên cứu

Vốn xã hội, các đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình và khoảng cách từ nhà đến chợ có ảnh hưởng tới thu nhập của các

hộ gia đình

Một sự gia tăng độ lệch chuẩn trong các chỉ số vốn

xã hội của một làng sẽ kéo theo tăng ít nhất là 20% chi phí mỗi người trong từng

và chạy 4

mô hình với 4 nhóm

hộ gia đình

có mức thu nhập khác nhau

Vốn xã hội, vốn vật thể, vốn con người, diện tích đất của hộ gia đình

Vốn xã hội của một hộ gia đình nghèo có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ thu nhập của họ và mức độ ảnh hưởng khác nhau tại các mức độ thu nhập khác nhau; hệ số co giãn của vốn

xã hội tác động đến nhóm

có thu nhập thấp là nhỏ nhất, và thu nhấp cao là cao nhất

3 Johannes

(2011)

OLS và 2 LSL

Vốn xã hội, tài sản, vốn con người, các đặc điểm nhân khẩu

Kết quả mô hình IV cho thấy vốn xã hội ảnh hưởng tích cực tới thu nhập hộ gia

Trang 28

học của hộ gia đình và đặc điểm của vùng mà

hộ gia đình sinh sống

đình Tác động khi có biến công cụ là tăng một đơn vị vốn xã hội sẽ tăng 2% chi tiêu bình quân trên đầu người của hộ gia đình, cao hơn nhiều so với mô hình hồi quy OLS

Vốn xã hội đã ảnh hưởng tích cực đến phúc lợi hộ gia đình, là một yếu tố cải thiện mức sống của thành viên hộ gia đình Cụ thể là tăng một đơn vị vốn xã hội sẽ dẫn đến tăng 0.15 phần trăm trong chi tiêu hộ gia đình bình quân trên đầu người

Vốn xã hội thực sự là một yếu tố quan trọng và có hưởng đáng kể đến tổng thu nhập nông nghiệp cho nông dân, cá nhân ở Ba Lan

6 Agboola

và cộng

sự (2016)

OLS và 2LSL

Vốn xã hội, tiếp cận tín dụng và đặc điểm

hộ gia đình

vốn xã hội và tiếp cận tín dụng có ảnh hướng tích cực đến năng suất và là một yếu

tố quan trọng trong việc cải thiện thu nhập của các

Trang 29

thành viên trong tổ chức địa phương

7 Grootaert

và cộng

sự (2002)

OLS và 2LSL

Vốn xã hội và các đặc điểm hộ gia đình

Kết quả chỉ ra rằng các hộ gia đình có mức vốn xã hội càng cao thì mức chi tiêu của hộ gia đình càng cao và khả năng tiếp cận với tín dụng tốt hơn Trong đó, số

tổ chức tham gia của các thành viên trong hộ và tính không đồng nhất của các tổ chức mà hộ tham gia có tác động mạnh nhất đến mức chi tiêu của các hộ gia đình

8 Aker

(2007)

OLS và 2LSL

Vốn xã hội và một số đặc điểm của hộ gia đình như quy mô hộ, trình độ học vấn của các thành viên trong

hộ

Nghiên cứu chỉ ra rằng vốn

xã hội bị nội sinh và vốn xã hội của hộ gia đình gắn liền với tỉ lệ gia tăng chi tiêu bình quân trên đầu người của hộ Và vốn xã hội liên quan đến sự sụt giảm tỉ lệ

hộ nghèo đáng kể ở vùng được khảo sát

Nguồn: Tổng hợp từ tác giả

Trang 30

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này xây dựng khung phân tích dựa trên cơ sở lý thuyết và các thực nghiệm liên quan đã trình bày ở chương hai, đồng thời giải thích việc lựa chọn các biến phụ thuộc, biến độc lập và nhóm biến kiểm soát Phần cuối cùng tác giả giới thiệu mô hình kinh tế lượng sử dụng trong đề tài này

3.1 Khung phân tích

Dựa trên nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, tác giả tổng hợp

ra các yếu tố có ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam:

 Yếu tố vốn xã hội: Dựa vào cách đo lường của các nghiên cứu đã nêu ở chương

2 Tác giả chọn bốn yếu tố hợp thành vốn xã hội trong nghiên cứu gồm: tổng

số các tổ chức mà thành viên trong gia đình tham gia; tính đồng nhất trong hiệp hội quan trọng đối với hộ gia đình; mật độ tham gia vào hoạt động của tổ chức mà hộ gia đình có thành viên tham gia lâu nhất và đóng góp tiền mặt là

số tiền mà mỗi hộ gia đình đóng góp cho một trong ba tổ chức quan trọng nhất đối với hộ

- Tổng số các tổ chức mà hộ có thành viên tham gia: Grootaert (2002) và Yusuf (2008) cho rằng số tổ chức hộ tham gia tác động tích cực đến thu nhập trung bình của hộ, tham gia nhiều tổ chức sẽ giúp hộ kết nối được với nhiều mối quan hệ hơn

- Mật độ tham gia: Gootaert (2002), khi hộ gia đình có mức độ tham gia càng nhiều vào các tổ chức xã hội thì thu nhập của hộ càng tăng

- Tính đồng nhất: Gootaert (2002) cho rằng trong các tổ chức quan trọng đối với hộ, tính không đồng nhất càng cao thì thu nhập của hộ càng cao Các thành viên trong tổ chức sẽ học hỏi được nhiều kiến thức hơn từ những thành viên có nghề nghiệp, họ hàng hay dân tộc khác nhau

Trang 31

- Đóng góp tiền mặt: Gootaert (2002), chỉ ra được mối quan hệ giữa đóng góp tiền mặt và thu nhập hộ gia đình, khi hộ gia đình có đóng góp tiền mặt vào các tổ chức xã hội thì thu nhập của hộ càng tăng

 Nhóm các yếu tố nhân khẩu học và nguồn lực của hộ gia đình: Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã đưa ra kết quả nhóm yếu tố nhân khẩu học và nguồn lực của hộ gia đình có ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của các hộ gia đình

- Quy mô hộ gia đình: (Fadipe, 2014), quy mô hộ gia đình mang hệ số hồi quy có dấu hiệu tiêu cực Điều này có thể do thực tế là hầu hết những người phụ thuộc trong gia đình quá nhỏ, chưa đến tuổi để lao động, đóng góp vào thu nhập hộ gia đình

- Tuổi của chủ hộ: (Lhing, 2013) biến tuổi của chủ hộ có tác động tiêu cực tới thu nhập của hộ gia đình: tăng 1% đơn vị tuổi làm giảm 0.461% đơn vị thu nhập hộ gia đình Phát hiện này đồng ý với Kudi (2009) người nghiên cứu tác động các chương trình tài chính vi mô để xóa đói giảm nghèo của các hộ nông dân ở Kaduna thuộc Nigeria

- Bình phương tuổi của chủ hộ: Theo Yusuf (2008) thì để nắm bắt được vòng đời phúc lợi của hộ gia đình

- Trình độ học vấn của chủ hộ: Aikaeli (2010) cho thấy rằng trình độ học vấn của chủ hộ, giới tính của chủ hộ và quy mô trang trại của chủ hộ xác định là yếu tố quyết định chính đến thu nhập của các hộ gia đình Trình độ giáo dục của chủ hộ có ảnh hưởng đáng kể và hệ số hồi quy có dấu hiệu tích cực Điều này chỉ ra rằng mức độ giáo dục của chủ hộ càng cao thì thu nhập của hộ gia đình càng cao

- Nghề nghiệp của chủ hộ: Trong nghiên cứu của Taluker (2014), tác giả hồi quy mô hình qua hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất từ năm 1985-86, giai đoạn thứ hai là 2005 Kết quả chỉ ra rằng, nghề nghiệp của chủ hộ là nông nghiệp thì có tác động dương vào giai đoạn thứ nhất và tác động âm

Trang 32

vào giai đoạn thứ hai Theo tác giả, nghề nghiệp của chủ hộ là yếu tố quan trọng đối với thu nhập của hộ gia đình

- Tổng diện tích đất của hộ gia đình: Lhing và cộng sự (2013) đã hồi quy thu nhập của nông dân theo các đặc tính kinh tế xã hội của các hộ gia đình thì phát hiện ra rằng quy mô đất đai của hộ gia đình có ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của họ

- Số năm đi học trung bình của những người trong độ tuổi lao động của hộ gia đình Trình độ học vấn của lao động tác động mạnh đến thu nhập bình quân/người/ tháng của hộ dân tộc thiểu số ở đồng bằng Sông Cửu Long Chất lượng lao động được thể hiện qua trình độ học vấn, hộ gia đình có trình độ học vấn của lao động càng cao thì thu nhập trung bình của hộ càng cao (Nguyễn Quốc Nghi, 2011)

 Nhóm biến kiểm soát khu vực của các hộ gia đình: vì mỗi vùng có một đặc điểm, địa lý khác nhau

- Cụ thể được chia như sau: Vùng 1 gồm có tỉnh Hà Tây (cũ) và Phú Thọ thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH), Vùng 2 gồm các tỉnh Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên thuộc trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB), Vùng 3 gồm tỉnh Nghệ An thuộc vùng Bắc Trung Bộ (BTB), Vùng 4 gồm tỉnh Quảng Nam, tỉnh Khánh Hòa thuộc vùng Duyên hải miền Trung (DHMT), Vùng 5 gồm các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng thuộc vùng Tây Nguyên (TN) và Vùng 6 có tỉnh Long An thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)

- Các biến gỉa khu vực như sau:

- DBSH = 1 nếu hộ thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, = 0 nếu trường hợp khác

- TDMNPB = 1 nếu hộ thuộc khu vực trung du miền núi phía bắc, =0 nếu trường hợp khác

Trang 33

- BTB = 1 nếu hộ thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, = 0 nếu trường hợp khác

- DHMT =1 nếu hộ thuộc khu vực duyên hải miền Trung, = 0 nếu trường hợp khác

- TN = 1 nếu hộ thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, = 0 nếu trường hợp khác

- ĐBSCL = 1 nếu hộ thuộc khu vực Đồng bằng Sông cửu Long, = 0 nếu trường hợp khác

Trong nghiên cứu này, khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình, tác giả không đưa yếu tố vốn tài chính và vốn vật chất vào mô hình để phân tích Bởi vì tác giả chỉ muốn tập trung vào phân tích tác động của vốn xã hội lên thu nhập của hộ gia đình Nhưng đây cũng chính là một mặt hạn chế của đề tài khi bỏ qua 2 yếu tố vốn này

Trang 34

Hình 3.1: Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Đặc điểm hộ gia đình: Quy

mô hộ; tuổi của chủ hộ; bình

phương tuổi của chủ hộ; nghề

nghiệp của chủ hộ; trình độ

giáo dục của chủ hộ; Số năm

đi học trung bình của những

người trong độ tuổi lao động;

Tổng diện tích đất của hộ

Biến khu vực:

Đồng bằng Sông hồng; Trung

du miền múi phía bắc; Bắc

Trung Bộ; Duyên Hải Miền

Trung; Tây Nguyên; Đồng

Bằng Sông Cửu Long

Thu nhập trung bình

hộ gia đình

Trang 35

3.2 Đo lường các biến trong mô hình

Biến phụ thuộc là log thu nhập trung bình của các hộ gia đình được tính bằng tổng các nguồn thu nhập chia cho tất cả các thành viên có trong hộ gia đình Trong đó:

Tổng thu nhập của hộ gia đình = Thu nhập từ làm công, làm thuê + Các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp không được trả công + Thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp + Thu nhập từ các hoạt động khai thác và đánh bắt tự nhiên + Thu nhập từ hoạt động cho thuê + Bán tài sản + Các khoản chuyển nhượng/

hỗ trợ từ cá nhân + Các khoản chuyển nhượng/ hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức xã hội + Khác (lãi tiền gửi, lợi tức từ đóng góp cổ phần )

ba tổ chức quan trọng mà hộ nêu trong bộ dữ liệu:

- dongnhat1: tương ứng với các thành viên trong tổ chức cùng là bà con họ hàng

- dongnhat2: tương ứng với các thành viên trong tổ chức cùng là ngành nghề

- dongnhat3: tương ứng với các thành viên trong tổ chức cùng dân tộc

Trang 36

 Matdo_tham gia: đo lường mức độ tham gia vào các hoạt động của tổ chức mà

hộ có thành viên tham gia lâu nhất Dựa trên câu hỏi: Mức độ tham gia vào tổ chức của Ông/ Bà? Và phương án trả lời là: 1 - Hiếm khi, 2 – Thỉnh thoảng, 3

- Thường xuyên Nghiên cứu đã tạo ra bốn biến giả để tiếp cận:

Matdo_thamgia0 = 1 nếu hộ gia đình không tham gia, = 0 nếu khác

Matdo_thamgia1 = 1 nếu hộ hiếm khi tham gia, = 0 nếu khác

Matdo_thamgia2 = 1 nếu hộ thỉnh thoảng tham gia, = 0 nếu khác

Matdo_thamgia3 = 1 nếu hộ thường xuyên tham gia, = 0 nếu khác

 Biến dgop_tien: Đo lường bằng số tiền mà hộ gia đình đã đóng góp cho một trong ba tổ chức quan trọng nhất mà hộ có thành viên tham gia trong 12 tháng qua

3.2.2 Biến kiểm soát

Nhóm biến về đặc điểm gia đình:

 Biến quymo_ho là tổng số thành viên trong hộ gia đình

 Biến tuoi là biến số tuổi của chủ hộ được tính bằng cách lấy năm điều tra trừ

đi năm sinh của chủ hộ

 Biến tuoi_2 là bình phương tuổi của chủ hộ

 Biến nghenghiep_chuho là biến giả nghề nghiệp chính của chủ hộ, nếu sản xuất nông nghiệp thì = 1, nếu khác thì =0

 Biến trinhdo_chuho là biến trình độ giáo dục của chủ hộ gia đình được tính bằng số năm đi học của chủ hộ

 Biến avge_namdihocld là số năm đi học trung bình của những người trong độ tuổi lao động trong hộ gia đình

 Biến tongdientichdat là tổng diện tích đất của hộ gia đình sở hữu

Trang 37

Bảng 3.1: Tóm tắt và mô tả các biến theo các nghiên cứu trước

quan hệ với Y

Tác giả

So_tc Tổng số tổ chức, hiệp hội mà

các thành viên trong gia đình tham gia

+ Yusuf (2008),

Grootaert (2002)

dongnhat Được đo lường thông qua câu

hỏi: Thành viên của tổ chức ông bà cho là quan trọng có cùng ngành nghề, họ hàng, dân tộc không?

Dongnhat1 = 1 nếu cùng họ hàng, = 0 nếu khác

Dongnhat2 = 1 nếu cùng ngành nghê, = 0 nếu khác

Dongnhat3 = 1 nếu cùng dân tộc, = 0 nếu khác

- Grootaert

(2002)

Không có mối quan

hệ với Y

Yusuf (2008),

Matdo_thamgia Matdo_thamgia0 = 1 nếu hộ

gia đình không tham gia, = 0 nếu khác

Matdo_thamgia1 = 1 nếu hộ hiếm khi tham gia, = 0 nếu khác

+ Grootaert (2002)

Không có mối quan

hệ với Y

Yusuf (2008);

Trang 38

Matdo_thamgia2 = 1 nếu hộ thỉnh thoảng tham gia, = 0 nếu khác

Matdo_thamgia3 = 1 nếu hộ thường xuyên tham gia, = 0 nếu khác

Dgop_tienmat

(vnd)

Số tiền hộ đã đóng góp cho tổ chức quan trọng nhất đối với

hộ trong 12 tháng qua?

+ Grootaert (2002)

Không có mối quan

Trang 39

Avge_namdihocld

(năm)

Số năm đi học trung bình của thành viên thuộc lực lượng lao động trong hộ

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

3.3 Mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) và chạy hồi quy hai mô hình để nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn xã hội và thu nhập trung bình của các hộ gia đình Ngoài ra, tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy với biến công cụ

để kiểm định tính nội sinh của biến vốn xã hội

Mô hình OLS thứ nhất: lnY i = α + bSC i + dX i + Z i + µ

Trong đó:

 Yi là biến phụ thuộc: thu nhập trung bình của mỗi hộ gia đình

 SCi là biến vốn xã hội được đo lường bằng tổng số tổ chức hộ tham gia của các hộ gia đình

 Xi là bao gồm đặc điểm của hộ gia đình như: tuổi của chủ hộ, bình phương tuổi của chủ hộ, nghề nghiệp của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của số người lao động trong gia đình, tổng diện tích đất , quy mô hộ gia đình

 Zi các nhóm biến về khu vực của các hộ gia đình gồm 6 khu vực: Đồng bằng Sông Hồng, Trung du miền núi Phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên Hải Miền Trung, Tây Nguyên, Đồng Bằng Sông Cửu Long

Trang 40

Mô hình OLS thứ hai khác với OLS thứ nhất là thành phần vốn xã hội bao gồm: tổng số tổ chức hộ tham gia, mật độ tham gia, tính đồng nhất và đóng góp tiền mặt Tương tự như các thành phần của vốn xã hội ở các nghiên cứu trước như Yusuf (2008), Grootaert (2002) hay Narayan & Lant Pritchett (1997)

Mô hình hồi quy với biến công cụ để xác định liệu biến vốn xã hội có bị nội sinh hay không hay nói cách khác mối quan hệ của vốn xã hội và thu nhập trung bình của hộ gia đình có phải là mối quan hệ ngoại sinh hay không Tác giả tiến hành hồi quy mô hình OLS (1) với biến bị nội sinh là biến số tổ chức và biến công cụ là biến niềm tin

Ngày đăng: 17/06/2018, 17:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w