Xuất phát từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn trên, với mong muốn tìm hiểu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới nợ xấu, rủi ro đạo đức, sự điều tiết của ngân hàng trung ương tới hệ thống
Trang 1Đỗ Công Huân
NỢ XẤU, RỦI RO ĐẠO ĐỨC VÀ ĐIỀU TIẾT CỦA HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2Đỗ Công Huân
NỢ XẤU, RỦI RO ĐẠO ĐỨC VÀ ĐIỀU TIẾT CỦA HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
Tp Hồ Chí Minh - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nợ xấu, rủi ro đạo đức và điều tiết của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” là công trình do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Ngoài những tài liệu tham khảo đã được trích dẫn trong luận văn, tôi đảm bảo các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn độc lập không sao chép từ bất kỳ một công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2017
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 4
2.1 Nền tảng lý thuyết nghiên cứu 4
2.1.1 Khái niệm về nợ xấu của các Ngân hàng thương mại 4
2.1.2 Rủi ro đạo đức 6
2.1.3 Hệ thống ngân hàng thương mại và các quy định 7
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đó có liên quan tới bài nghiên cứu 10
2.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 10
2.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 12
Trang 5CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
15
3.1 Phương pháp nghiên cứu 15
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 15
3.3 Mô hình nghiên cứu 16
3.3.1 Biến nghiên cứu 16
3.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 17
3.3.3 Mô hình hồi quy 19
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI THÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 24
4.1 Thống kê mô tả 24
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến 25
4.2 Kết quả thực nghiệm 25
4.2.1 Ước tính ngưỡng 27
Bảng 4.2 (a): Ước tính ngưỡng nợ xấu (1 ngưỡng) 27
Bảng 4.2 (b): Ước tính ngưỡng nợ xấu (2 ngưỡng) 28
Bảng 4.2 (c): Ước tính ngưỡng nợ xấu (3 ngưỡng) 29
Hình 4.1 Xây dựng khoảng tin cậy và “miền bác bỏ” (Tỷ số NPLs) 30
4.2.2 Kết quả hồi quy 30
Bảng 4.3: Phân loại các ngân hàng theo giá trị ngưỡng (tỷ lệ NPLs) 31
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy với tỷ số NPLs là ngưỡng 33
Bảng 4.5: Ước tính hiệu ứng ngưỡng của CAR 35
Hình 4.2 Xây dựng khoảng tin cậy và “miền bác bỏ” (CAR) 36
Bảng 4.6: Phân loại các ngân hàng theo giá trị ngưỡng (CAR) 36
Trang 6Bảng 4.7: Kết quả hồi quy với CAR là ngưỡng 37
Bảng 4.8: Sắp xếp ngân hàng theo 2 tiêu chí đo lường (CAR & NPL) 38
4.3 Thảo luận các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu 39
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Khuyến nghị 41
5.3 Hạn chế của đề tài 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Thống kê mô tả
Bảng 4.2 (a) Ước tính ngưỡng nợ xấu (1 ngưỡng)
Bảng 4.2 (b) Ước tính ngưỡng nợ xấu (2 ngưỡng)
Bảng 4.2 (c) Ước tính ngưỡng nợ xấu (3 ngưỡng)
Bảng 4.3 Phân loại các ngân hàng theo giá trị ngưỡng (tỷ lệ NPLs)
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy với tỷ số NPLs là ngưỡng
Bảng 4.5 Ước tính hiệu ứng ngưỡng của CAR
Bảng 4.6 Phân loại các ngân hàng theo giá trị ngưỡng (CAR)
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy với CAR là ngưỡng
Bảng 4.8 Sắp xếp các ngân hàng theo hai tiêu chí đo lường (NPL và CAR)
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Xây dựng khoảng tin cậy và “miền bác bỏ” (Tỷ số NPLs) Hình 4.2 Xây dựng khoảng tin cậy và “miền bác bỏ” (CAR)
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT
NHTM: Ngân hàng thương mại
BCBS – Basel Committee on Banking Supervison
IMF – International Moneytary Fund
IAS – International Acounting Standards
NPL – Non-performing loans: Nợ xấu
LGR – Loan growth rate: Tốc độ tăng trưởng tín dụng DGR – Deposite growth rate: Tốc độ tăng trưởng tiền gửi
ER – Equipty ratio: Tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAR – Capital Adequacy Ratio: Hệ số an toàn vốn
Trang 10CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Thị trường tài chính là huyết mạch của nền kinh tế, trong đó kênh dẫn quan trọng là hệ thống ngân hàng thương mại trong nước Nền kinh tế có phát triển bền vững lành mạnh hay không một phần rất quan trọng là sự phát triển lành mạnh của
hệ thống ngân hàng Trong những năm gần đây vấn đề nợ xấu, rủi ro đạo đức của ngân hàng đang nổi lên là vấn đề nhức nhối có ảnh hưởng tới sự phát triển của toàn
bộ ngành, lĩnh vực khác trong nền kinh tế Nợ xấu của hệ thống ngân hàng giai đoạn từ 2009 đến 2016 là khá cao cụ thể năm 2009 là 2,5%, năm 2010 là 3%, năm
2011 là 3,3 %, năm 2012 tăng lên 4,08% và cuối năm 2016 về mức 2,46% Mặt khác vấn đề rủi ro đạo đức giai đoạn này cũng đáng báo động với quy mô và mức
độ ngày càng tăng, những vụ án chiếm đoạt tài sản, cho vay trái quy định gây thất thoát thiệt hại cho nền kinh tế nhiều ngàn tỷ Các ngân hàng thương mại hoạt động
bị âm vốn “insolvency” bị ngân hàng nhà nước mua lại với giá 0 đồng Vấn đề điều tiết của chính phủ cũng diễn ra khá quyết liệt với hàng loạt thông tư, nghị định về
xử lý nợ xấu, quản trị rủi ro Do đó, nghiên cứu tác động của nợ xấu lên hành vi của ngân hàng tại Việt Nam là vấn đề vô cùng quan trọng
Ở Việt Nam gần đây có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại tuy nhiên mới chỉ tập trung vào các yếu tố sức khỏe tài chính nội tại của ngân hàng và nền kinh tế rồi đưa ra những giải pháp mà chưa thấy tập trung vào yếu tố hành vi của nhà quản trị ngân hàng
Xuất phát từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn trên, với mong muốn tìm hiểu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới nợ xấu, rủi ro đạo đức, sự điều tiết của ngân hàng trung ương tới hệ thống ngân hàng thương mại nhằm đưa ra các hàm ý chính sách
cho cơ quan quản lý nhà nước, tôi đề xuất nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Nợ xấu,
rủi ro đạo đức và điều tiết của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”
Trang 111.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu nợ xấu tác động như thế nào lên hành vi của các nhà quản trị ngân hàng
Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích các nhân tố tác động tới nợ xấu
- Mức độ ảnh hưởng của nợ xấu lên hành vi nhà quản trị ngân hàng
- Các công cụ điều tiết của ngân hàng nhà nước
- Các hàm ý chính sách đối với cơ quan quản lý nhà nước
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các nhân tố nào tác động đến nợ xấu của ngân hàng?
Liệu nợ xấu có ảnh hưởng đến hành vi của các nhà quản trị ngân hàng?
Chính sách điều tiết như thế nào để hạn chế hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng?
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: nợ xấu của các ngân hàng, rủi ro đạo đức, điều tiết của ngân hàng trung ương
Phạm vi nghiên cứu: do yêu cầu về dữ liệu của mô hình sử dụng nghiên cứu
và giới hạn về dữ liệu được công bố bởi các ngân hàng nên phạm vi bài nghiên cứu
là 24 ngân hàng thương mại tại Việt Nam hoạt động trong giai đoạn từ 2006 – 2016 (chi tiết xem phụ lục 01)
Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán và báo cáo thường niên của các ngân hàng
Trang 121.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng (Panel threshold regression) dựa trên
mô hình của Hansen 1999 để kiểm tra xem hành vi cho vay của các ngân hàng có liên quan đến việc đạt đến một ngưỡng cụ thể của nợ xấu, và quan trọng hơn, liệu các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao hơn có xu hướng áp dụng một chiến lược tích cực cho vay hơn và nhiều rủi ro hơn hay không Tác giả đưa ra giả thuyết rằng các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao hơn thì nhận nhiều rủi ro hơn để bù đắp các khoản lỗ liên quan đến nợ xấu và do đó nợ xấu sẽ gia tăng hơn nữa do sự tăng trưởng tín dụng cao hơn Ngoài nợ xấu, bài nghiên cứu này cũng xem xét tính hữu ích của tỷ số an toàn vốn (CAR) là một biện pháp điều tiết thay thế được thúc đẩy bởi những thay đổi pháp lý lớn gần đây ở Việt Nam
Các kết quả nghiên cứu được xác định thông qua sử dụng phần mềm Stata 14
1.6 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương, đó là:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp, dữ liệu nghiên cứu và thống kê mô tả
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và giải thích
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC
NGHIÊN CỨU
2.1 Nền tảng lý thuyết nghiên cứu
2.1.1 Khái niệm về nợ xấu của các Ngân hàng thương mại
Trên thế giới hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nợ xấu tuy nhiên nợ xấu “Nonperforming loans” có thể được hiểu là các khoản nợ không thực hiện hoặc thực hiện thanh toán gốc và lãi trễ so với kỳ hạn được chủ nợ quy định hoặc các khoản nợ nghi ngờ bị mất vốn hay khả năng thanh toán của khách hàng Trong đó một số quan điểm về nợ xấu phổ biến được công nhận và sử dụng rộng rãi đó là:
Theo Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS – Basel Committee on Banking Supervison): Các khoản nợ được xem là không có khả năng chi trả khi
một trong hai hoặc cả hai sự kiện sau xảy ra: (i) Ngân hàng nhận thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa có bất cứ hành động gì để cố gắng thu hồi khoản nợ; (ii) Người vay đã quá hạn trả nợ gốc và lãi trên 90 ngày (Basel Committee on Banking Supervison, 2002)
Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF – International Moneytary Fund): “Nợ
xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả đầy đủ (người vay phá sản) Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi khoản thay thế (IMF’s Compliation Guide on Financial Soundness Indicatiors, 2004)
Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS – International Acounting Standards): Thường đề cập đến các khoản nợ bị giảm giá trị (Impairred) thay vì sử
Trang 14dụng thuật ngữ nợ xấu (NPL Chuẩn mực kế toán IAS 39 công bố tháng 12 năm
1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000 và lần 2 vào đầu tháng
12 năm 2003) được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần phải có bằng chứng khách quan để xếp hạng một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ
bị giảm xuống do những tổn thất chất lượng do nợ xấu gây ra
Cơ bản IAS 39 chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp này để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và là phương pháp phân tích dòng tiền trong tương lai hoặc xếp hạng khoản vay Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn
Tại Việt Nam: khái niệm về nợ xấu xuất hiện lần đầu tiên tại quy định về
phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
ra ngày 22/04/2005 của thống đốc NHNN Việt Nam
Thông tư 02/2013/TT-NHNN thay thế cho Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN thì nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn); các nhóm nợ trên có các khoản nợ gốc và lãi đã quá hạn từ 90 ngày trở lên
Kết luận: Như vậy theo các khái niệm về nợ xấu được nêu ra trên thế giới và
tại Việt Nam thì nợ xấu được xác định căn cứ trên hai yếu tố cơ bản đó là:
(i) Các khoản cho vay quá hạn thanh toán gốc và lãi từ 90 ngày trở lên;
(ii) Nghi ngờ về khả năng thanh toán đầy đủ gốc và lãi khoản vay của khách
hàng đối với khoản cho vay khi đến hạn
Trong bài nghiên cứu nợ xấu được nhắc đến là tỷ lệ các khoản nợ thuộc nhóm
3, nhóm 4 và nhóm 5 trên tổng dư nợ cho vay
Trang 152.1.2 Rủi ro đạo đức
Theo Dembe và Boden (2000) thì thuật ngữ moral hazard (rủi ro đạo đức)
được các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm Anh quốc đặt ra từ thế kỷ 17 Vào thập niên 1960, các nhà kinh tế học Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng thường xuyên thuật ngữ moral hazard để chỉ tình trạng kém hiệu suất nảy sinh từ loại rủi ro như trên Sau này, thuật ngữ moral hazard được sử dụng trong bối cảnh nhấn mạnh các yêu tố tâm
Các giám đốc ngân hàng có thể có những khuyến khích hay động cơ để thực hiện cho vay với rủi ro cao hơn so với mức tối ưu Jensen và Meckling (1976) cho rằng có hai loại vấn đề rủi ro đạo đức nảy sinh từ hành vi này
Thứ nhất, đó là việc tìm kiếm đặc lợi của nhà quản lý, thực hiện khi các giám đốc theo đuổi các lợi ích cá nhân của họ bởi việc đầu tư vào các dự án ưa thích hoặc thông qua việc kiểm soát không đầy đủ những khoản vay
Vấn đề rủi ro đạo đức còn lại nảy sinh từ sự mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và các chủ nợ Các cổ đông có thể muốn thực hiện những khoản vay rủi ro nhưng cuối cùng lại chuyển những rủi ro này đến những người gửi tiền
Lý thuyết Jensen và Meckling (1976) hàm ý rằng cả hai vấn đề rủi ro đạo đức trên đều dẫn đến tốc độ tăng trưởng nợ vay (tín dụng) cao hơn và một lượng lớn các khoản nợ xấu
Trang 16Dĩ nhiên, rủi ro đạo đức không quan sát trực tiếp được nhưng có thể được suy
ra từ việc quan sát hành vi của ngân hàng Như đã được nhấn mạnh ở trên, một trong những lý do chính của vấn đề rủi ro đạo đức là chấp nhận rủi ro quá mức trong cho vay
2.1.3 Hệ thống ngân hàng thương mại và các quy định
Trước năm 1975 Việt Nam tồn tại hai ngân hàng trung ương một ở Miền Bắc
xã hội chủ nghĩa (Ngân hàng Quốc gia Việt Nam sau đổi thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) và một ở Miền Nam cộng hòa (Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cộng hòa)
Thời kỳ 1975-1985 là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thanh lý hệ thống Ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam; thu hồi tiền cũ ở cả hai miền Nam- Bắc; phát hành các loại tiền mới của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trong giai đoạn này, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường Giai đoạn 1986 -
1990 đứng trước thực trạng khó khăn trì trệ trong kinh tế và hệ thống tài chính cả nước hệ thống ngân hàng đã bắt đầu có những cải cách đầu tiên, làm tiền đề cho việc hình thành và phát triển một hệ thống Ngân hàng Việt Nam một cách căn bản
và toàn diện hơn
Tháng 3/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính Sự ra đời của 2 Pháp lệnh ngân hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp Trong đó, cấp 1 là Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng Và cấp 2 là các ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng
Trang 17trong toàn nền kinh tế quốc dân do các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện như ngân hàng cổ phần, liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, Hợp tác xã tín dụng, Quỹ tín dụng nhân dân và công ty tài chính
Từ năm 1990 đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và các nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN (Nghị định số 88/1998/NĐ-CP ngày 02/11/1998, Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003, Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008, Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013), làm rõ hơn địa vị pháp lý của NHNN, đồng thời xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của NHNN với tư cách là ngân hàng trung ương, thực hiện các chức năng về quản
lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa hai chức năng quan trọng của một ngân hàng trung ương là thực thi chính sách tiền tệ và giám sát an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng Tính đến thời điểm 31/12/2016 Việt Nam có 31 NHTMCP trong nước, 2 NH chính sách, 4 NHTM Nhà nước, 8 NHTM 100% vốn nước ngoài, 2 NHTM liên doanh, 1 Ngân hàng hợp tác xã với trên 2.600 chi nhánh và phòng giao dịch trên khắp 64 tỉnh thành cả nước
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, sau hơn 30 năm chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Hệ thống ngân hàng cũng không nằm ngoài sự phát triển và hội nhập đó, những quy định và cải cách liên tục phù hợp với thông lệ và quy định quốc tế, tạo
sự an toàn lành mạnh cho hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính đã được đưa ra
Cụ thể là năm 1998 ban hành hai luật về ngân hàng là bước tiến trong củng cố, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động ngân hàng Năm 1999, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 297/1999/QÐ-NHNN5, quy định CAR là 8%, nhưng phương pháp
Trang 18tính đơn giản và chưa phản ánh chính xác tinh thần Basel I Năm 2005, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 457/2005/QÐ-NHNN, theo đó CAR vẫn là 8%, nhưng phương pháp tính toán đã tiếp cận tương đối toàn diện Basel I Năm 2010, cơ quan này ban hành Thông tư số 13/2010/TT-NHNN, nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu lên 9% và phương pháp tính toán đã từng bước tiếp cận Basel II Ngày 20/11/2014, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 36/2014/TT-NHNN (có hiệu lực từ 1/2/2015), tạo lập chuẩn mực mới về quản trị, an toàn hoạt động ngân hàng với các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; giới hạn, hạn chế cấp tín dụng; tỷ lệ khả năng chi trả; tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn; giới hạn góp vốn, mua cổ phần; tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi Việt Nam chưa phải là thành viên của Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng, do
đó không bị ràng buộc bởi thời hạn phải tuân thủ các Hiệp ước Basel Tuy nhiên, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều văn bản luật
và quy định theo định hướng Basel II
Đặc biệt, nhằm phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam theo các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, Ngân hàng Nhà nước đã xác định lộ trình triển khai tuân thủ Basel II Theo đó, kể từ tháng 2/2016, 10 ngân hàng gồm: BIDV, VietinBank, Vietcombank, Techcombank, ACB, VPBank, MB, Maritime Bank, Sacombank và VIB thực hiện thí điểm phương pháp quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II cho đến cuối năm 2018 Sau giai đoạn này, Basel II sẽ được áp dụng rộng rãi tại các ngân hàng thương mại còn lại
Khi hệ thống ngân hàng phát triển thì việc ban hành những quy định càng trở nên phức tạp hơn Sự quản lý kém và việc chấp nhận rủi ro quá mức có thể gây ra
sự bất ổn nghiêm trọng trong hệ thống ngân hàng và góp phần vào việc gia tăng khủng hoảng kinh tế Sự xung đột lợi ích và rủi ro đạo đức trong hệ thống ngân hàng đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam
Trang 192.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đó có liên quan tới bài nghiên cứu 2.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan tới nợ xấu, rủi ro đạo đức và điều tiết hệ thống ngân hàng thương mại và mối quan hệ giữa chúng
Về mối liên hệ giữa tăng trưởng tín dụng và nợ xấu đa phần các nghiên cứu cho thấy sự tăng trưởng tín dụng có tác động tích cực (cùng chiều và ngược chiều) tới tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng trong giai đoạn sau đó Nổi bật trong số các nghiên
cứu đó là của Foos et al (2010) tác giả gợi ý rằng sự tăng trưởng tín dụng đại diện
cho một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro của ngân hàng Qua việc nghiên cứu hơn 10.000 ngân hàng ở Mỹ, Canada, Nhật và Châu Âu trong suốt giai đoạn 1997-2007, Foos et al cho rằng sự tăng trưởng tín dụng (Loan growth) dẫn đến môt
sự gia tăng các khoản lỗ (Losses) từ cho vay trong suốt ba năm liên tiếp sau đó, gây nên một sự sụt giảm trong cả thu nhập từ lãi và tỷ lệ vốn
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng, nợ xấu và chấp nhận rủi ro của các ngân hàng, đồng thời xem xét vấn đề rủi ro đạo đức, các nghiên cứu cho thấy:
Cấu trúc sở hữu cổ phần của ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến hành vi chấp nhận hay e ngại rủi ro của ngân hàng: nếu cổ đông sở hữu ngân hàng thì sẽ chấp nhận nhiều rủi ro hơn trong hoạt động so với nhà quản lý sở hữu ngân hàng
Demirguc-Kunt (1989), Barr et al (1994), Gorton and Rosen (1995), Berger and Udell (1994) and Shrieves and Dahl (2003) đã nghiên cứu sâu hơn về
mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng, nợ xấu và sự chấp nhận rủi ro của các ngân hàng Phần lớn trong bài nghiên cứu cũng xem xét về vấn đề rủi ro đạo đức, hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng trong khuôn khổ cấu trúc sở hữu cổ phần Cụ
thể: Saunder et al (1990) phát hiện rằng cổ đông kiểm soát các ngân hàng thì có
khuynh hướng thực hiện nhiều rủi ro hơn so với những nhà quản lý kiểm soát ngân
Trang 20hàng Demsert and Strahan (1997) tìm thấy về mối quan hệ dương và không tuyến
tính giữa các thước đo rủi ro thị trường và mức sở hữu của nhà quản lý (cổ phần
thuộc nhà quản lý) Jia (2009) cho thấy hoạt động cho vay bởi các ngân hàng cổ
phần thì thận trọng hơn so với hoạt động cho vay bởi các ngân hàng thuộc sở hữu
nhà nước ở Trung Quốc Zhou (2014) cho thấy sự đa dạng hóa trong cấu trúc thu
nhập của các ngân hàng Trung Quốc giúp giảm thiểu không đáng kể tổng rủi ro của ngân hàng
Tỷ lệ nợ xấu của giai đoạn trước đó có ảnh hưởng tích cực lên hành vi trong giai đoạn tiếp theo của nhà quản lý ngân hàng, nếu tỷ lệ nợ xấu cao thì nhà quản lý thận trọng có xu hướng hạn chế những hoạt động mang nhiều rủi ro trong khi với những nhà quản lý khác lại là một động cơ để thúc đẩy việc cho vay nhiều rủi ro hơn để giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu
Bernanke và Gertler (1986) chỉ ra rằng những khoản nợ xấu có thể đưa đến
các hành vi khác nhau của các ngân hàng dưa theo sự ưa thích hay khẩu vị rủi ro của họ Các ngân hàng thận trọng thường có xu hướng cẩn trọng hơn khi họ đối mặt với mức độ gia tăng của các khoản nợ xấu Tuy nhiên khi tỷ lệ nợ xấu quá cao, cả
cổ đông và các nhà quản lý ngân hàng đều có sự khuyến khích rõ ràng để dịch
chuyển các rủi ro Eisdofer (2008) cho rằng các doanh nghiệp trong tình trạng kiệt
quê tài chính sẽ có hành vi chuyển dịch rủi ro nhiều hơn Xem xét các ngân hàng ở
Mỹ, Koudstaal và Wijinbergen (2012) tìm thấy danh mục cho vay có càng nhiều vấn đề thì càng thúc đẩy các ngân hàng chấp nhận rủi ro cao Bruche và Llobet
(2011) tranh luận khi các ngân hàng đối mặt với mối đe dọa phá sản, họ có xu
hướng đảo nợ xấu để gia tăng khả năng thu hồi
Quy mô của ngân hàng cũng có ảnh hưởng tới nợ xấu và rủi ro đạo đức của nhà quản lý, cụ thể khi các ngân hàng lớn thường có xu hướng tăng cường cho vay dựa trên vị thế thị trường của mình Tâm lý “quá lớn để sụp đổ” làm cho ngân hàng
có xu hướng chấp nhận thêm rủi ro bởi kỳ vọng được cứu trợ trong trường hợp mất khả năng thanh toán
Trang 21Thái độ của ban lãnh đạo cũng quan trọng Boyd và Graham (1998), Nier và
Baumann (2006) tranh luận rằng khi các ngân hàng cảm thấy “quá lớn để sụp đổ”
nhờ vào sức mạnh thị trường lớn của họ hoặc là kỳ vọng được cứu trợ trong trường hợp mất khả năng thanh toán, thì vấn đề rủi ro đạo đức càng trở nên rõ rệt
Soedarmono và Tarazi (2015) cho thấy rằng sức mạnh thị trường càng lớn trong
ngành ngân hàng có thể ngay lập tức dẫn đến sự không ổn định hơn trong hệ thống
ngân hàng ở các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương Kim et al (2015) cũng cho
thấy rằng gia tăng trong sức mạnh thị trường của các ngân hàng lớn gây nên sự bất
ổn tài chính của các ngân hàng nhỏ ở các nền kinh tế Châu Á
Bằng chứng từ các nghiên cứu trên chỉ ra mức độ nợ xấu (NPLs) có thể là một yếu tố quan trọng quyết định hành vi của các ngân hàng đưa đến việc họ có những hành vi khác nhau khi đối mặt với nợ xấu cao hơn mức chuẩn Tác giả tin rằng mức
độ của nợ xấu có thể hữu ích trong việc xác định sự hiện diện của rủi ro đạo đức trong ngành ngân hàng Do vậy, bài nghiên cứu này xác định hành vi cho vay có rủi
ro và rủi ro đạo đức với điều kiện trên một mức ngưỡng của nợ xấu mà các ngân hàng phải đối mặt
2.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam vấn đề nợ xấu được nghiên cứu khá nhiều trong những năm gần đây, tuy nhiên các bài nghiên cứu đa phần tập trung vào hai nhóm nhân tố chính tác động tới nợ xấu của ngân hàng đó là: nhóm nhân tố vi mô (ROE, Tốc độ tăng trưởng tín dụng, Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ dự phòng rủi ro…) và nhóm nhân tố vĩ
mô (GDP, Tỷ lệ thất nghiệm, Lạm phát…) cụ thể như sau:
Nhóm nhân tố vi mô các nghiên cứu cho thấy Tốc độ tăng trưởng tín dụng có mối tương quan âm với tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng Ví dụ bằng việc nghiên cứu 9 NHTM niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2006-2015 Phạm Thị Mỹ An (2016) sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS Trong 10 biến của mô hình tác giả đã đi đến kết luận khi các ngân hàng tăng cường cho vay làm tỷ lệ nợ
Trang 22xấu giảm xuống Kết luận tương tự cũng được đưa ra bởi Đoàn Thị Thanh Thủy (2015) khi nghiên cứu 23 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006-2014
Quy mô ngân hàng có tương quan âm với tỷ lệ nợ xấu các nghiên cứu cho thấy các ngân hàng có quy mô càng lớn thì độ vững mạnh tài chính càng cao, quy trình kiểm soát cũng khá chặt chẽ nên làm giảm tỷ lệ nợ xấu Điều này được tìm thấy trong nghiên cứu của Phạm Thị Mỹ An (2016)
Rủi ro đạo đức có tương quan dương đối với tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng, khi mức độ quản lý của chủ sở hữu ngân hàng đối với các nhà quản trị giảm xuống thì
tỷ lệ nợ xấu trung bình sẽ tăng lên tương ứng Điều này được thể hiện trong nghiên cứu của Võ Thanh Bình (2015) khi nghiên cứu 18 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006-2014
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có mối tương quan dương đối với nợ xấu của ngân hàng, các nghiên cứu cho thấy khi ngân hàng có xu hướng tăng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng của mình lên chứng tỏ họ nhận thấy nguy cơ hiện hữu hoặc tiềm tàng của khả năng dẫn tới nợ xấu trong khoản cho vay của mình Các nghiên cứu của Phạm Thị Mỹ An (2016), Nguyễn Thị Hồng Hà (2016), Đoàn Thị Thanh Thủy (2015) đã đưa ra những kết luận tương đồng về mối tương quan này Ví dụ sử dụng
mô hình tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM) để nghiên cứu các yếu tố vĩ mô và vi mô tác động đến nợ xấu trên dữ liệu bảng của 23 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2014 Kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Thanh Thủy (2015) cho thấy quy mô ngân hàng, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có mối tương quan dương với tỷ lệ nợ xấu ngân hàng
Đối với nhóm nhân tố vĩ mô có tác động tới tỷ lệ nợ xấu của các NHTM cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP có mối tương quan âm đối với tỷ lệ nợ xấu, khi nền kinh tế tăng trưởng càng cao thì tỷ lệ nợ xấu của các NHTM càng thấp Điều này được tìm thấy trong nghiên cứu của Phạm Thị Mỹ An (2016), Nguyễn Thị Hồng
Hà (2016)
Trang 23Tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát có mối tương quan âm đối với nợ xấu của NHTM khi thất nghiệp và lạm phát ở mức cao thì nợ xấu của ngân hàng gia tăng với tỷ lệ nhất định Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hà (2016), Đoàn Thị Thanh Thủy (2015) cho kết luận tương đồng
Kết luận: Các nghiên cứu tại Việt Nam đến thời điểm hiện tại mới chỉ tập
trung vào phân tích các nhân tố vi mô thuộc về chỉ số sức khỏe tài chính của ngân hàng, nhân tố vĩ mô thuộc về sức khỏe nền kinh tế mà chưa tập trung phân tích vào mối quan hệ giữa hành vi nhà quản trị tác động đến nợ xấu như thế nào
Mặt khác các bài nghiên cứu trước đó phần lớn sử dụng mô hình hồi quy bình phương bé nhất OLS với tác động cố định và tác động thay đổi để xác định các nhân tố có tác động tới tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng Do đó, đóng góp của bài nghiên cứu này tác giả sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng trên dữ liệu bảng cân bằng để tập trung vào phân tích hành vi của nhà quản trị ngân hàng trên ngưỡng nợ giai đoạn trước có tác động như thế nào đến nợ xấu
Trang 24CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN
CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng dựa trên dữ liệu bảng để xác định các vấn đề rủi ro đạo đức Dữ liệu bảng được kết hợp từ thành phần dữ liệu chéo và thành phần dữ liệu theo chỗi thời gian Mô hình hồi quy ngưỡng được thiết
kế để chia các quan sát riêng lẻ vào các trạng thái (regimes) với điều kiện là giá trị của một biến được xác định trước (biến ngưỡng) Mô hình hồi quy sử dụng trong bài nghiên cứu dựa trên mô hình của Hansen (1999)
Các bước chi tiết của nghiên cứu
Bước 1: Xác định bài toán nghiên cứu và hình thành giả thiết nghiên cứu Bước 2: Thu thập dữ liệu
Bước 3: Xác định các biến
Bươc 4: Đề xuất mô hình hồi quy và chạy thực nghiệm
Bước 5: Thảo luận kết quả và đưa ra kết luận cho bài nghiên cứu
3.2 Dữ liệu nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu về nợ xấu, rủi ro đạo đức và điều tiết của hệ thống NHTM từ năm 2006 đến năm 2016, các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu phải có
dữ liệu từ năm 2006 đến năm 2016 Vì mô hình hồi quy ngưỡng của Hansen (1999) yêu cầu một bảng cân đối (balanced panel) nên tác giả đã phải bỏ đi một số ngân hàng và quan sát từ mẫu Bài nghiên cứu chỉ lựa chọn các ngân hàng thương mại nội địa mà không lựa chọn ngân hàng thương mại nước ngoài hay liên doanh Ngoài
ra các ngân hàng mà thiếu dữ liệu quan sát trong suốt giai đoạn 2006 – 2016 cũng bị loại ra khỏi mẫu nghiên cứu Cuối cùng bài nghiên cứu bao gồm mẫu quan sát là một dữ liệu bảng bao gồm 24 ngân hàng thương mại cổ phần trong nước giai đoạn
từ 2006 – 2016 với 4 NHTM nhà nước và 20 NHTMCP với 264 quan sát Mặc dù
Trang 25phải bỏ đi một số tương đối các ngân hàng, tuy nhiên mẫu nghiên cứu vẫn đại diện cho một phần quan trọng tỷ lệ tổng tài sản và tỷ lệ vốn hóa của các ngân hàng trên toàn bộ thị trường Việt Nam nằm trong khoảng từ 70% đến 75%
Dữ liệu được thu thập trên báo cáo tài chính của các ngân hàng Danh sách và giá trị tính các biến của các công ty trong mẫu nghiên cứu được nêu trong phần phụ lục
3.3 Mô hình nghiên cứu
3.3.1 Biến nghiên cứu
Căn cứ mục tiêu nghiên cứu của bài đặt ra, các biến và cách thức đo lường biến trong bài nghiên cứu này dựa trên các lý thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm về nợ xấu, rủi ro đạo đức và điều tiết của hệ thống NHTM được nêu ra trong chương 2 Bài nghiên cứu này dựa vào nghiên cứu của Dayong Zhang et al (2014) về các NHTM niêm yết trên TTCK Trung Quốc Zhang et al nghiên cứu tác động của nợ xấu lên hành vi của 60 NHTM thành phố, 16 NHTM nhà nước và 11 NHTM nông thôn tại Trung Quốc giai đoạn 2006 – 2012 Theo đó, biến phụ thuộc
là tỷ lệ nợ xấu (nợ nhóm 3, 4, 5 trên tổng dư nợ) các biến giải thích bao gồm tốc độ tăng trưởng tín dụng (LGR), tốc độ tăng trưởng tiền gửi (DGR), tỷ số vốn chủ sở hữu (ER), hệ số an toàn vốn (CAR), quy mô ngân hàng (SIZE)
Biến phụ thuộc: Bài nghiên cứu sử dụng biến đo lường nợ xấu đó là
- Tỷ lệ nợ xấu (NPL): Tỷ lệ giữa giá trị nợ nhóm 3, 4, 5 trên giá trị tổng dư nợ:
(Nợ nhóm 3 + nhóm 4 + nhóm 5)/ Tổng dư nợ
Biến kiểm soát:
Các biến giải thích trong bài bao gồm:
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng (LGR): Được tính bằng tỷ lệ giữa tổng dư nợ tín dụng năm t trừ tổng dư nợ tín dụng năm t-1 trên tổng dư nợ tín dụng năm t-1:
(Total Loant – Total Loant-1)/Total Loant-1
Trang 26- Quy mô ngân hàng (SIZE): Logarit của tổng tài sản
- Tốc độ tăng trưởng tiền gửi (DGR): Được tính bằng cách lấy tỷ lệ tổng tiền gửi năm t trừ tổng tiền gửi năm t-1 trên tổng tiền gửi năm t-1
(Depositt – Depositt-1)/Depositt-1
- Tỷ số vốn chủ sở hữu của ngân hàng (ER): Được tính bằng tỷ số giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
ER = Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản
- Hệ số an toàn vốn (CAR): Được tính bằng tỷ số an toàn vốn hay hệ số k của ngân hàng
CAR = (Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2)/Tài sản có rủi ro
3.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Tốc độ tăng trưởng tín dụng (LGR)
Sử dụng hơn 16.000 dữ liệu ngân hàng riêng biệt từ 16 quốc gia trong thời kỳ trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Foos et al (2010) cho thấy tăng trưởng tín dụng (bất thường) có thể gây ra tổn thất theo sau đáng kể với độ trễ
từ 2 tới 4 năm Sinky và Greenawalt (1991) và Clair (1992) cũng công bố bằng chứng về tầm quan trọng của tăng trưởng tín dụng trong hiệu quả hoạt động của ngân hàng Cottarelli et al (2005) và Kraft và Jankov (2005) tiếp tục phân tích vai trò của tăng trưởng tín dụng trong việc chấp nhận rủi ro ở ngân hàng và kết quả thu được là không ổn định Dựa trên những nghiên cứu trước đó, tác giả đưa ra giả thuyết rằng có một mối quan hệ có ý nghĩa giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng và mức độ tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam Sự tăng trưởng tín dụng mức bình thường liên quan đến sự hoạt động theo chuẩn của ngân hàng và qua đó có thể làm giảm tỷ lệ nợ xấu, trong khi tỷ lệ tăng trưởng bất thường có thể chỉ ra một vấn đề rủi ro đạo đức và có thẻ gây thiệt hại nhiều hơn sau đó
Trang 27Giả thuyết 1: Tốc độ tăng trưởng tín dụng (LGR) có mối quan hệ có ý nghĩa
(+/-) đối với tỷ lệ nợ xấu
Quy mô ngân hàng (SIZE)
Quy mô của các ngân hàng thường được coi là một yếu tố quan trọng đối với
nợ xấu Ví dụ, Salas và Saurina (2004) lập luận các ngân hàng lớn có nhiều cơ hội
đa dạng hóa và do đó có thể làm giảm mức độ các khoản vay gặp vấn đề Rajan và Dhal (2003) trình bày bằng chứng thực nghiệm ủng hộ cho mối quan hệ như vậy
Hu et al (2004) cho thấy các ngân hàng lớn có thể đánh giá chất lượng tín dụng tốt hơn bởi có nguồn lực lớn hơn Wang (2014) báo cáo rằng quy mô ngân hàng càng lớn thì cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở Đài Loan Hệ quả là quy mô của ngân hàng có tương quan âm với mức độ nợ xấu Tuy nhiên, dựa trên lập luận
“quá lớn để sụp đổ” (Louzis et al 2012), tác giả mong đợi một mối tương quan dương giữa quy mô của ngân hàng và mức độ nợ xấu
Giả thuyết 2: Quy mô ngân hàng (SIZE) có mối tương quan dương (+) với tỷ
lệ nợ xấu
Hệ số an toàn vốn và Tỉ số vốn chủ sở hữu (CAR và ER)
Louzis et al (2012) sử dụng cấu trúc vốn ngân hàng (tỷ lệ đòn bẩy) như là một yếu tố quyết định khác đối với nợ xấu và cho rằng, với điều kiện về quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ càng cao có thể đưa đến hành vi rủi ro hơn và do đó làm tăng nợ xấu Tác giả sử dụng tỷ lệ vốn cổ phần (bằng 1 – tỷ lệ đòn bẩy) là một trong những yếu
tố quyết định có thể có về nợ xấu và tác động của nó được dự kiến là tương quan
âm Điều này cũng có thể liên quan đến lập luận mức độ an toàn vốn bởi vì hệ số an toàn vốn hoặc tỷ số vốn chủ sở hữu cao hơn đều sẽ phản ánh rằng ngân hàng là tương đối an toàn hơn và sẽ có nợ xấu thấp hơn (Berger và DeYoung, 1997; Salas
và Saurina, 2002)
Giả thuyết 3: Hệ số an toàn vốn (CAR) và Tỉ số vốn chủ sở hữu (ER) có tương
quan âm (-) với tỷ lệ nợ xấu
Trang 283.3.3 Mô hình hồi quy
Các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao có thể là do hai nguyên nhân: thứ nhất là do kém may mắn, thứ hai là do quản lý kém Nếu nguyên nhân là do kém may mắn, tác giả kỳ vọng các ngân hàng có thể quản lý tiến trình này bằng cách giảm dư nợ cho vay khách hàng xuống do đó sẽ giảm tỷ lệ nợ xấu xuống Nếu là do quản lý kém, tác giả kỳ vọng rằng tỷ lệ nợ xấu tăng đi kèm với một sự chấp nhận rủi ro tăng thêm
vì khi các nhà quản lý cố gắng giảm bớt khoản lỗ của họ thông qua các mức độ cho vay cao hơn, và vì vậy sẽ chấp nhận thêm rủi ro Một cách để xác định hành vi như trên hay qua đó để xác định rủi ro đạo đức là kiểm tra xem liệu có một giá trị ngưỡng đặc biệt của tỷ lệ nợ xấu hay không, và trên mức ngưỡng đó thì việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng sẽ gia tăng và làm tỷ lệ nợ xấu trở nên tồi tệ hơn
Để thúc đẩy nhiều hơn việc sử dụng một mô hình ngưỡng và liên kết nợ xấu với các vấn đề rủi ro đạo đức, ta cần phải xem lại lý thuyết của Jensen và Meckling (1976) về các khuyến khích hay động cơ Nhà quản lý của các tổ chức tài chính có những động cơ rõ ràng để đi chệch so với lợi ích của cả nhà đầu tư và cơ quan điều tiết Rủi ro đạo đức có thể gây ra việc chấp nhận rủi ro quá mức, do đó làm giảm chất lượng tài sản, từ đó dẫn đến việc các tổ chức này sụp đổ Rủi ro đạo đức khi các nhà quản lý (người đại diện cho lợi ích của cổ đông) nỗ lực để tối đa hóa lợi ích riêng của họ, mà không phù hợp với lợi ích của các chủ sở hữu (cổ đông) Keeley (1990) cho thấy rằng các nhà quản lý có thể nhận toàn bộ lợi ích từ các kết quả đầu
ra dương, nhưng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn khi họ thất bại Các ngân hàng, đặc biệt là một số ngân hàng thương mại tại Việt Nam thường tạo mối quan hệ với các quan chức chính phủ để có được bảo đảm, điều này dẫn đến một khả năng cao hơn của rủi ro đạo đức Lý thuyết triển vọng của Kahneman và Tversky (1979) cũng cho thấy rằng các nhà quản lý thì e ngại rủi ro (risk averse) khi đối mặt với khoản lời chắc chắn, nhưng họ sẽ trở nên tìm kiếm rủi ro khi phải đối mặt với khoản lỗ chắc chắn (loss averse – e ngại thua lỗ) Do đó là hợp lý khi cho rằng các nhà quản lý ngân hàng có động cơ để tăng mức chấp nhận rủi ro khi rơi vào tình huống kiệt quệ (hay khó khăn tài chính) Nói cách khác, các nhà quản lý ngân hàng phải đối mặt
Trang 29với một sự đánh đổi giữa chi phí và lợi ích khi chấp nhận rủi ro quá mức Việc chấp nhận rủi ro quá mức có thể mang lại lợi ích cho các ngân hàng trong việc đạt được lợi nhuận cao hơn và cải thiện danh tiếng hoặc đem lại lợi ích cho các nhà quản lý như nhận được thù lao hoặc cơ hội thăng tiến cao hơn Nhà quản lý có thể được hưởng lợi từ hiệu quả hoạt động tốt hơn Các nhà quản lý có động cơ rõ ràng để đánh bóng hiệu suất của họ để đạt được sự ủng hộ về mặt chính trị và thăng tiến Do
đó, họ có thể chấp nhận các dự án rủi ro cao khi phải đối mặt với kiệt quệ tài chính Những hành động đó không phải chỉ gặp ở Việt Nam Ví dụ, Miguel và Ana (2015)
đã nghiên cứu hệ thống ngân hàng của các thành viên chủ chốt của EU cũng cho thấy có sự tồn tại của rủi ro đạo đức Mặt khác, việc chấp nhận rủi ro quá mức có thể liên quan đến kiệt quệ tài chính trong dài hạn, tác động tiêu cực đến các ngân hàng hoặc các nhà quản lý Bebchuk và Spamann (2010) và Bebchuk et al (2010) cho rằng sự sụp đổ của các định chế tài chính lớn trong cuộc khủng hoảng năm
2008 có thể là do các động cơ của CEO để chấp nhận rủi ro quá mức Pierre (2013) báo cáo rằng các thiết kế hợp đồng (thù lao) cho CEO cũng góp phần cho việc chấp nhận rủi ro quá mức hơn so với mức tối ưu của xã hội Kim et al (2014) cho thấy các ngân hàng ở các nước ASEAN chấp nhận rủi ro một cách tích cực khi có sự hiện diện của bảo hiểm tiền gửi (DI), là nguyên nhân dẫn đến rủi ro đạo đức Nếu các nhà quản lý ngân hàng hy vọng rằng chính phủ sẽ giải cứu các ngân hàng gặp khó khăn, họ có thể gia tăng thêm việc chấp nhận rủi ro quá mức và coi nhẹ việc xem xét khía cạnh chi phí Nếu các ngân hàng dự đoán rằng chính phủ có thể can thiệp ở mức ngưỡng nguy hiểm để bảo vệ các ngân hàng vỡ nợ khi nợ xấu đạt đến một mức độ nhất định, thì các ngân hàng thậm chí có thể còn tăng tỷ lệ nợ xấu đến mức độ đó
Hoạt động kinh doanh thường ngày của các ngân hàng sẽ có một tỷ lệ nhất định của các khoản vay có vấn đề Do đó, tác giả sẽ không kỳ vọng rằng mỗi ngân hàng sẽ hành xử một cách mạo hiểm Tuy nhiên, các ngân hàng với các khoản vay trên một ngưỡng cụ thể sẽ thể hiện một quyết định cho vay rủi ro cao hơn với những khoản vay nằm dưới ngưỡng Các nhà quản lý chính sách có thể áp dụng một cách
Trang 30tiếp cận ngưỡng để giám sát nợ xấu và quan sát xem mức nợ xấu cao hơn có liên quan đến việc cho vay có nhiều rủi ro và rủi ro đạo đức hay không
Do đó bài nghiên cứu này sử dụng một mô hình hồi quy ngưỡng để xác định các vấn đề rủi ro đạo đức Mô hình hồi quy ngưỡng được thiết kế để chia các quan sát riêng lẻ vào các trạng thái (hay nhóm – regimes) với điều kiện là giá trị của một biến được xác định trước (biến ngưỡng)
3.3.3.1 Mô hình hồi quy ngƣỡng
Đây là phương pháp được đề xuất bởi Hansen (1999) đã được chứng minh là một công cụ hiệu quả khi điều tra các hiệu ứng bất đối xứng Mô hình này gần đây
cũng được sử dụng để nghiên cứu hành vi của ngân hàng Ví dụ, Balboa et al
(2013) nghiên cứu một mẫu của các ngân hàng ở Mỹ dựa trên giả thuyết quản trị thu
nhập cho phép động lực phi tuyến và các hiệu ứng ngưỡng Trong mô hình của họ, mối quan hệ phi tuyến giữa thu nhập của các ngân hàng và các khoản dự phòng rủi
ro tín dụng bị chi phối bởi động cơ của ban quản lý
Dữ liệu được quan sát từ một bảng cân bằng {yit, qit, xit : 1 ≤ i ≤ n, 1 ≤ t ≤ T} Trong đó: i đại diện cho chỉ số chéo và t đại diện cho phần chuỗi thời gian, công thức được viết như sau:
yit = µi + β1xitI(qit ≤ γ) + β2xitI(qit > γ) + eit (1)
Trong đó: I(.) là hàm chỉ báo
Một cách viết thay thế trực quan của phương trình (1) là:
yit = { Một cách trình bày tích hợp khác của phương trình (1) là thiết lập
xit(γ) = ( )
lấy β = (β1 β2) phương trình (1) được viết lại như sau:
yit = µi + βxit(γ) + eit
Trang 31Quan sát được chia làm hai miền phụ thuộc vào liệu biến ngưỡng qit nhỏ hơn hay lớn hơn ngưỡng γ Miền được phân biệt bởi sự khác biệt độ dốc hồi quy, β1 và
β2 Để xác định β1 và β2, được yêu cầu rằng thành phần của xit không phải là thời gian bất biến Giả định rằng biến ngưỡng qit không phải là thời gian bất biến và được xác định trước đó Phần dư eit cũng được giả định là độc lập và phân phối đều (iid) với trung bình 0 và phương sai σ2 iid giả định không bao gồm các biến trễ phụ thuộc từ xit
Mô hình này cho phép giá trị ngưỡng được chọn nội sinh, và cũng chấp nhận hiệu ứng ngưỡng một phần (a partial threshold effect)
3.3.3.2 Mô hình hồi quy đề xuất trong bài nghiên cứu
Dựa trên mô hình cơ bản của Hansen, tác giả có thể viết công thức ước tính dựa theo giả thiết có thể kiểm tra được dưới đây:
- i = 1,…,24 thể hiện chiều ngân hàng và t = 1,…,11 thể hiện chiều thời gian,
uit là yếu tố nhiễu được định nghĩa như sau:
Trang 32Mô hình 1: Mô hình tuyến tính chuẩn cho mục đích so sánh
NPLit = µi +θ’1 LGRit(NPLi,t-1 < γ^) + θ’2 LGRit(NPLi,t-1 ≥ γ^) + θ’3DGRi,t +
θ’4ERi,t + θ’5SIZEi,t+ φDyear + εit
Mô hình 3: Chỉ bao gồm biến độ trễ của tốc độ tăng trưởng tín dụng (LLGR)
Mô hình 5: Thay thế ER bằng CAR để kiểm tra sự ổn định của mô hình 4 Vì
tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng giá trị tài sản (ER) và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là các thước đo tương tự nhau
Biến phụ thuộc trong tất cả các phương trình là tỷ lệ nợ xấu hiện thời NPLs Biến ngưỡng trong các mô hình 2-5 là biến tỷ lệ nợ xấu NPL với độ trễ một thời kỳ (NPLi, t-1)