Các loại thuế gián thu hiện nay là thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường… Trong bài nghiên cứu này, tác giả chọn nghiên cứu mối quan hệ giữa thuế giá trị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG HOÀNG PHÚC
ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐẾN QUY MÔ CHI THƯỜNG XUYÊN VÀ QUY MÔ CHI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2TRƯƠNG HOÀNG PHÚC
ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐẾN QUY MÔ CHI THƯỜNG XUYÊN VÀ QUY MÔ CHI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan Tất cả những bài tham khảo đều được trích dẫn và tham chiếu đầy
đủ
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
Bối cảnh nghiên cứu 1
Lý do nghiên cứu 2
Mục tiêu nghiên cứu 6
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi dữ liệu 7
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
1.4.2 Phạm vi dữ liệu 7
Phương pháp nghiên cứu 7
Những điểm mới của đề tài 7
Cấu trúc của đề tài 8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
Tổng quan lý thuyết 9
2.1.1 Lý thuyết công dân: 9
2.1.2 Lý thuyết lựa chọn công: các lý thuyết này tập trung vào các ưu đãi của chính phủ hơn là công dân 10
Các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài 12
Kết luận chương 2 14
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 15
Phương pháp nghiên cứu 15
Mô hình nghiên cứu 16
Dữ liệu nghiên cứu 19
Kết luận chương 3 20
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
Trang 5Chile 21
4.1.1 Kiểm định tính dừng 21
4.1.2 Kiểm định đường bao (Bound test) 21
4.1.3 Kết quả tác động trong dài hạn 22
4.1.4 Kết quả tác động ngắn hạn 23
4.1.5 Kiểm định mô hình 24
Áo 28
4.2.1 Kiểm định tính dừng 28
4.2.2 Kiểm định đường bao (Bound test) 28
4.2.3 Kết quả tác động trong dài hạn 29
4.2.4 Kết quả tác động ngắn hạn 30
4.2.5 Kiểm định mô hình 31
Dominica 35
4.3.1 Kiểm định tính dừng 35
4.3.2 Kiểm định đường bao (Bound test) 35
4.3.3 Kết quả tác động trong dài hạn 36
4.3.4 Kết quả tác động ngắn hạn 37
4.3.5 Kiểm định mô hình 38
Tổng hợp kết quả nghiên cứu 42
Kết luận chương 4 43
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 44
Kết luận 44
Khuyến nghị 44
Những đóng góp mới của đề tài 45
Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Nghĩa đầy đủ Từ gốc tiếng Anh
phối trễ
AutoRegressive Distributed Lag
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Kiểm định nghiệm đơn vị ADF - Chile 21
Bảng 4.2 Kiểm định đường bao Mô hình 1 - Chile 21
Bảng 4.3 Kiểm định đường bao Mô hình 2 - Chile 22
Bảng 4.4 Kết quả tác động dài hạn - Chile 22
Bảng 4.5 Kết quả tác động ngắn hạn - Chile 23
Bảng 4.6 Kiểm định tự tương quan bậc 1 - Chile 24
Bảng 4.7 Kiểm định tự tương quan bậc cao - Chile 24
Bảng 4.8 Kiểm định phương sai thay đổi - Chile 25
Bảng 4.9 Kiểm định dạng sai của mô hình - Chile 25
Bảng 4.10 Kiểm định đa cộng tuyến - Chile 26
Bảng 4.11 Kiểm định tính dừng phần dư - Chile 27
Bảng 4.12 Kiểm định nghiệm đơn vị ADF - Áo 28
Bảng 4.13 Kiểm định đường bao Mô hình 1- Áo 28
Bảng 4.14 Kiểm định đường bao Mô hình 2 - Áo 29
Bảng 4.15 Kết quả tác động dài hạn - Áo 29
Bảng 4.16 Kết quả tác động ngắn hạn - Áo 30
Bảng 4.17 Kiểm định tự tương quan bậc 1 - Áo 31
Bảng 4.18 Kiểm định tự tương quan bậc cao - Áo 31
Bảng 4.19 Kiểm định phương sai thay đổi - Áo 32
Bảng 4.20 Kiểm định dạng sai của mô hình - Áo 32
Bảng 4.21 Kiểm định đa cộng tuyến - Áo 33
Bảng 4.22 Kiểm định tính dừng của phần dư - Áo 34
Bảng 4.23 Kiểm định nghiệm đơn vị ADF - Dominica 35
Bảng 4.24 Kiểm định đường bao Mô hình 1 - Dominica 35
Bảng 4.25 Kiểm định đường bao Mô hình 2 - Dominca 36
Bảng 4.26 Kết quả tác động dài hạn - Dominica 36
Bảng 4.27 Kết quả tác động ngắn hạn - Dominica 37
Bảng 4.28 Kiểm định tự tương quan bậc 1 - Dominica 38
Bảng 4.29 Kiểm định tự tương quan bậc cao - Dominica 38
Bảng 4.30 Kiểm định phương sai thay đổi - Dominica 39
Bảng 4.31 Kiểm định dạng sai của mô hình - Dominica 39
Bảng 4.32 Kiểm định đa cộng tuyến Dominica 40
Bảng 4.33 Kiểm định tính dừng phần dư - Dominica 41
Bảng 4.34 Tổng hợp kết quả nghiên cứu 42
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Kiểm định CUSUM và CUSUMSQ - Chile 27 Hình 4.2 Kiểm định CUSUM và CUSUMSQ - Áo 34 Hình 4.3 Kiểm định CUSUM và CUSUMSQ - Dominica 41
Trang 9CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Bối cảnh nghiên cứu
Theo số liệu báo cáo của Bộ Tài chính năm 2015, tình hình thu chi ngân sách Nhà ước của Việt Nam mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách lớn nhưng với nỗ lực không ngừng, ngành Tài chính đã vẫn vượt qua những khó khăn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu chi ngân sách Nhà nước
Những khó khăn của nền kinh tế và sự biến động của giá dầu giảm mạnh đã tạo ra không ít thách thức cho việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước 2015 Năm
2015, thu cân đối ngân sách Nhà nước đạt 989,69 nghìn tỷ đồng, bằng 108,6% dự toán Hầu hết các địa phương đều thu đạt và vượt dự toán được giao
Trong thu nội địa (tính đến 15/12/2015), tình hình thu ngân sách có chiều hướng tích cực Cụ thể, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao, đạt 90% dự toán (khoảng 128 nghìn tỷ đồng), doanh nghiệp nhà nước đạt trên 92% dự toán thu ngân sách năm (khoảng 204 nghìn tỷ đồng)
Xét theo khía cạnh từng loại thuế, số thu từ thuế công, thương nghiệp và dịch vụ Nhà nước và thuế thu nhập cá nhân đã đạt và vượt mức dự toán năm (thuế công thương nghiệp hơn 119 nghìn tỷ đồng, thuế thu nhập cá nhân 53 nghìn tỷ đồng) Có thể thấy tình hình thu ngân sách nhà nước rất khả quan Trong đó cụ thể hơn thuế giá trị gia tăng tăng trưởng cao qua các năm, chiếm 27.5% tổng thu ngân sách Nhà nước năm
2015
Song song với thu ngân sách, chi ngân sách Nhà nước là một công cụ để Nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình, đồng thời tác động đến nền kinh tế, điều chỉnh quản lý nền kinh tế để đạt được những mục tiêu đã định của Chính phủ Ngân sách Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay, vừa đảm bảo hoạt động cho bộ máy nhà nước thông qua chi thường xuyên, vừa có
Trang 10tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua chi đầu tư phát triển, vừa có tác dụng thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các thất bại của nền kinh tế thị trường
Chi tiêu ngân sách Nhà nước luôn là vấn đề quan trọng trong nền kinh tế, do đó, trong những năm qua, các cơ quan quản lý ngân sách Nhà nước từ địa phương tới Trung ương luôn cố gắng tiết kiệm chi tiêu nhằm giảm bớt bội chi ngân sách Nhà nước Kết thúc năm tài khoá 2015, chi ngân sách Nhà nước ở mức 1.263 nghìn tỷ đồng, vượt 10,1% so với dự toán khiến bội chi ngân sách Nhà nước tăng vọt lên 266 tỷ đồng (cao hơn mức 236 tỷ đồng của dự toán) đưa chỉ tiêu tỷ lệ bội chi ngân sách Nhà nước cao hơn mức 5% được Quốc hội phê duyệt Trong giai đoạn từ 2010-2015, dự toán ngân sách dù được điều chỉnh năm sau luôn cao hơn năm trước tuy nhiên dự toán vẫn không sát được thực tiễn khi con số thực tế so với dự toán đều tăng cao Năm 2010 và 2015 chi thực tế vượt dự toán tới 11,51 và 10,1% Các năm khác, mức chi đều trên 4% Như vậy, câu hỏi đặt ra là việc tăng thu ngân sách Nhà nước, cụ thể là số thu thuế giá trị gia tăng có mối quan hệ như thế nào đến số chi ngân sách Nhà nước?
Lý do nghiên cứu
Chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế vĩ mô Các hoạt động kinh tế của chính phủ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế, cụ thể hơn ở đây là hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển của chính phủ Có rất nhiều nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ, một trong số nguồn thu ổn định và chiếm tỷ trọng lớn là thu
từ thuế
Thuế là khoản trích nộp bằng tiền, mang tính bắt buộc, tính quyền lực nhà nước, tính không đối giá và hoàn trả trực tiếp doc các tổ chức, cá nhân nộp cho nhà nước khi đủ những điều kiện nhất định nhằm đáp ứng việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Căn cứ vào mục đích điều tiết của nhà nước thì phân ra làm hai loại: thuế trực thu và thuế gián thu Thuế trực thu là thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập hoặc tài
Trang 11sản của người nộp thuế Thuế trực thu ít ảnh hưởng đến giá cả thị trường nhưng có tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thuế thu nhập cá nhân hay thu nhập doanh nghiệp là các loại thuế trực thu Trong khi đó, thuế gián thu là thuế điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ, đánh trong tất cả các khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Thuế gián thu không ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh mà tác động đến giá cả thị trường, sức mua của thị trường Các loại thuế gián thu hiện nay là thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường…
Trong bài nghiên cứu này, tác giả chọn nghiên cứu mối quan hệ giữa thuế giá trị gia tăng đến quy mô chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển ở các quốc gia vì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu Thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng cuối cùng,
do đó thuế gián thu có thể có một mối liên hệ với chi thường xuyên và chi đầu tư Có thể thấy chi thường xuyên bao gồm chi cho các đơn vị sự nghiệp, chi cho các hoạt động quản lý nhà nước (chi quản lý hành chính), chi cho hoạt động an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội Các hoạt động này đều gắn trực tiếp với tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Do đó việc tăng chi thường xuyên sẽ dẫn đến tăng nguồn thu
từ các loại thuế gián thu thông qua các hoạt động tiêu dùng của các đơn vị nhà nước, sự nghiệp Ngoài ra, giữa chi đầu tư phát triển cũng có ảnh hưởng đến nguồn thu từ thuế gián thu Việc tăng số chi đầu tư phát triển, cơ sở hạ tầng sẽ thúc đẩy các hoạt động tăng trưởng kinh tế, cung cầu hàng hóa dịch vụ đều tăng Từ đó các hoạt động giao thương mua bán sẽ diễn ra hiệu quả cả về số lượng lẫn chất lượng với một hệ thống cơ
sở hạ tầng đảm bảo và ngày càng hoàn thiện Hệ thống cơ sở hạ tầng là điều kiện tiên quyết và quyết định quan trọng đến sự phát triển của nền kinh tế ở một quốc gia Việc gia tăng hoạt động tiêu dùng, dịch vụ cũng sẽ tác động trở lại làm tăng nguồn thu từ thuế, bao gồm cả thuế gián thu và thuế trực thu Ở chiều ngược lại, số thu thuế gián thu gia tăng có mối liên hệ đến chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển Bởi vì chi thường xuyên là những khoản chi thiết yếu, cần thiết không phụ thuộc vào mức thuế
Trang 12gián thu phải nộp nên việc thuế gián thu gia tăng sẽ dẫn đến sự gia tăng của chi thường xuyên, phản ánh sức cầu tiêu dùng lớn hơn của thị trường do chi thường xuyên của chính phủ gia tăng Bên cạnh đó, chi đầu tư phát triển cũng gắn liền với việc tiêu thụ các hàng hóa, dịch vụ liên quan Đây là những hàng hóa, dịch vụ bắt buộc sử dụng để tiến hành đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống… Do đó thuế gián thu gia tăng cũng dẫn đến việc chính phủ gia tăng quy mô chi đầu tư phát triển
Ngoài việc thuế gián thu có ảnh hưởng nhất định đến quy mô chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, tác giả lựa chọn thuế gián thu mà không lựa chọn thuế trực thu trong bài nghiên cứu này bởi vì việc thuế trực thu gia tăng sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp bởi thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập và tài sản của doanh nghiệp trong nền kinh tế Do đó các doanh nghiệp sẽ có động lực để làm giảm thấp nhất số thuế trực thu phải nộp, từ đó dẫn đến số thu thuế trực thu có thể không phản ánh đúng tình trạng nền kinh tế Còn thuế gián thu là thuế đánh vào người tiêu dùng, doanh nghiệp chỉ nộp thay nên thuế gián thu không ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Mặc dù việc tăng chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển có thể dẫn đến gia tăng thuế trực thu nhưng ở chiều ngược lại, việc tăng thuế trực thu lại không có mối liên hệ đến chi thường xuyên hay chi đầu tư phát triển của chính phủ
Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn thuế gián thu để xem xét tác động của thuế gián thu đến quy mô chi thường xuyên và quy mô chi đầu tư phát triển của chính phủ tại các quốc gia xem xét Trong các loại thuế gián thu, tác giả lựa chọn thuế giá trị gia tăng để nghiên cứu vì đây là loại thuế chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các loại thuế gián thu
Thực tế ở nước ta hiện nay, xét về cơ cấu chi ngân sách Nhà nước, khoản chi thường xuyên liên tục gia tăng và mở rộng trong cơ cấu chi ngân sách Nhà nước Trong khi áp lực trả nợ gia tăng làm chi trả nợ và viện trợ ngày càng lớn Điều này làm cho quy mô chi ngân sách gia tăng mạnh mẽ nhưng tốc độ gia tăng của chi đầu tư phát triển không
Trang 13được bao nhiêu So với năm 2013, chi đầu tư phát triển năm 2014 còn giảm 23,5% (năm 2013 là 271.680 nghìn tỷ đồng, năm 2014 là 208.040 nghìn tỷ đồng) Trong khi
đó, chi thường xuyên tăng đều đặn trong 3 năm 2013; 2014 và 2015 là 704.165 nghìn
tỷ đồng; 732.500 nghìn tỷ đồng và 790.168 nghìn tỷ đồng Hiện nay, ngân sách Nhà nước đang phải chi trả lương cho 2,8 triệu cán bộ Nếu như tính cả người nghỉ hưu và các đối tượng hưởng lương từ ngân sách con số này lên tới 7,5 triệu người, chiếm 8,3% dân số cả nước, trong khi tỷ lệ dân số hưởng lương của các quốc gia phát triển chỉ ở mức 2-4%
Hơn nữa, việc Bộ Tài chính vừa đề xuất tăng thuế giá trị gia tăng từ 10% lên 12%, dự kiến áp dụng từ 01/01/2019 đang là một chủ đề gây tranh cãi hiện nay khi nhiều người
lo ngại việc tăng thuế giá trị gia tăng sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân Theo
số liệu thống kê, với thuế suất 10% như hiện nay thì thuế giá trị gia tăng đã chiếm 27.5% tổng số thu ngân sách Việt Nam Có thể thấy rằng mức độ tác động của thuế giá trị gia tăng đến nền kinh tế là vô cùng lớn
Bộ Tài chính cho rằng mức thuế suất thông thường 10% của Việt Nam vẫn còn tương đối thấp, ví dụ thuế suất trung bình tại các nước châu Âu (European Union) từ 19% (năm 2000) tăng lên gần 21,5%, Philippines là 15%, Trung Quốc trung bình 17% Trong khi đó Đài Loan chỉ là 5%, ở Thái Lan và Singapore là 7% Bộ cũng cho rằng việc tăng thuế giá trị gia tăng không ảnh hưởng nhiều đến người nghèo Cụ thể, theo luật thuế giá trị gia tăng, các mặt hàng lương thực thực phẩm trực tiếp sản xuất và bán
ra, giáo dục, y tế,… đều không chịu thuế giá trị gia tăng Tuy nhiên nhận định này vẫn đang vấp phải nhiều tranh cãi gay gắt Tác giả nhận thấy, mặc dù các sản phẩm này không chịu thuế nhưng chi phí vận chuyển các sản phẩm này đến tay người tiêu dùng
sẽ tay lên do thuế giá trị gia tăng xăng, dầu tăng Cuối cùng giá hàng hóa khi đến tay người tiêu dùng cũng sẽ tăng lên, ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng, đặc biệt là người nghèo Hơn nữa thuế giá trị gia tăng là thuế tiêu dùng, đánh vào mọi đối tượng
Trang 14tiêu dùng, ai cũng như ai, đều phải nộp thuế như nhau Như vậy việc Bộ Tài chính tăng thuế giá trị gia tăng sẽ tác động đến tất cả mọi người, đặc biệt là những người có thu nhập thấp Vậy vấn đề cần quan tâm là việc Chính phủ tăng thuế giá trị gia tăng có tác động dẫn đến tăng chi thường xuyên hay tăng chi đầu tư phát triển để nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, cải thiện phúc lợi xã hội, thúc đẩy tăng trưởng quốc gia hay không?
Do đó, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa thuế giá trị gia tăng đến quy mô chi thường xuyên và và quy mô chi đầu tư phát triển là vô cùng cần thiết
Hiện nay trên thế giới mới chỉ có nghiên cứu quan hệ giữa thuế giá trị gia tăng và chi
thường xuyên, chi đầu tư tại Iran (M Alizadeh (2016)), chưa nghiên cứu cho các quốc
gia khác, chưa có cái nhìn tổng quát toàn diện về bản chất của mối quan hệ này Do đó
tác giả chọn đề tài “Ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chi thường
xuyên và quy mô chi đầu tư phát triển” để bổ sung khoản trống nghiên cứu này Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu sự ảnh hưởng thuế giá trị gia tăng đến chi
thường xuyên và chi đầu tư phát triển
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các kiến nghị có ý nghĩa thực tiễn để áp dụng
đối với các quốc gia trong nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Thuế giá trị gia tăng ảnh hưởng như thế nào với chi thường xuyên?
- Thuế giá trị gia tăng ảnh hưởng như thế nào với chi đầu tư phát triển?
Trang 15Đối tượng nghiên cứu và phạm vi dữ liệu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu ở đây là ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chi thường xuyên và quy mô chi đầu tư phát triển
vì số liệu Việt Nam không đầy đủ trong giai đoạn này, dưới 30 quan sát nên không đủ tin cậy
Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên số liệu thu thập từ Ngân hàng Thế giới, tác giả nghiên cứu xây dựng mô hình xem xét ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chi thường xuyên và quy mô chi đầu tư phát triển trên dữ liệu chuỗi thông qua phương pháp tự hồi quy và phân phối
trễ ARDL của Pesaran (1997) và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để xem xét tác động
trong ngắn hạn và dài hạn từng quốc gia
Những điểm mới của đề tài
Với những dự thảo thay đổi về chính sách thuế giá trị gia tăng trong nước như hiện nay, việc đảm bảo tăng thu ngân sách đồng thời cũng tăng chi ngân sách để nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, cải thiện phúc lợi xã hội, thúc đẩy tăng trưởng quốc gia là vấn đề vô cùng quan trọng Vì vậy thông qua bài nghiên cứu, tác giả mong muốn
Trang 16tìm ra sự ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến chi thường xuyên và chi đâu tư phát triển, từ đó làm cơ sở cho những khuyến nghị chính sách cho Việt nam
Điểm mới của bài nghiên cứu là bên cạnh việc sử dụng phương pháp tiếp cận tự hồi quy và phân phối trễ ARDL và ECM cho dữ liệu chuỗi của nhiều quốc gia khắp các châu lục, bao gồm cả quốc gia phát triển và đang phát triển, tác giả sử dụng kiểm phương pháp lựa chọn độ trễ tối ưu theo tiêu chuẩn Akaike's Information Criterion (AIC) so với tiêu chuẩn Schwartz Bayesian Criterion (SBC) của bài nghiên cứu gốc Phương pháp ARDL có nhiều ưu điểm hơn so với các phương pháp tiếp cận trước đây, một trong số đó là tách biệt được tác động trong ngắn hạn và dài hạn của dữ liệu Từ
đó có cái nhìn tổng quát và toàn diện, tin cậy hơn về mối quan hệ này
Cấu trúc của đề tài
Luận văn được kết cấu thành 5 chương:
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Trang 17CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Tổng quan lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết công dân:
Một trong những lý thuyết tăng trưởng của chính phủ lâu đời nhất là lý thuyết tăng trưởng của Wagner nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế là yếu tố quyết định cơ bản đến tăng trưởng khu vực công Ông đã phân tích số liệu chi tiêu của một số nước phát triển và cho rằng tỷ trọng khu vực công trong GDP có xu hướng tăng lên Các kết quả thu được
từ nghiên cứu của Wagner như sau: Đầu tiên, ông nhận thấy rằng tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng phù hợp Thứ hai, việc phát triển đô thị hóa đòi hỏi phải tăng chi tiêu của chính phủ Cuối cùng, ông kết luận rằng tăng trưởng khu vực công sẽ lớn hơn khi thu nhập bình quân đầu người thực tế tăng lên Có thể thấy lý thuyết của Wagner giải thích chính xác sự tăng trưởng của chính phủ
Bên cạnh đó, lý thuyết của Meltzer và Richard (1983) xem xét quy mô chính phủ theo
một khía cạnh khác trên quan điểm chính phủ chủ yếu tập trung vào việc phân bổ tài sản và thu nhập một cách công bằng Tác giả sử dụng tỷ lệ thu nhập được phân phối lại bởi chính phủ, bao gồm tiền mặt và dịch vụ, như là thước đo về quy mô của chính phủ
Lý thuyết của Meltzer khác với các lý thuyết trước ở các điểm: Thứ nhất, người dân không bị "ảo tưởng về ngân sách" Họ biết rằng chính phủ phải sử dụng các nguồn lực
để trả cho tái phân phối Thứ hai, tác giả tập trung vào nhu cầu phân phối lại và bỏ qua các hàng hoá công cộng do chính phủ cung cấp (Peltzman 1979) Thứ ba, tác giả trở lại
với truyền thống trước đây của Tocqueville (1835, 1965), trong đó đo lường quy mô
của chính phủ bằng thuế và chi tiêu, với hai yếu tố: sự mở rộng của nhượng quyền thương mại và sự phân phối thu nhập
Lý thuyết của Meltzer hàm ý rằng quy mô của chính phủ phụ thuộc vào mối quan hệ giữa thu nhập trung bình với thu nhập của cử tri quyết định Với quyền bầu cử phổ
thông và đa số, cử tri trung gian là cử tri quyết định như Roberts (1977) đã đưa ra
Trang 18trong một phần mở rộng tác phẩm nổi tiếng của Hotelling (1929) và Downs (1957)
Các nghiên cứu về phân phối thu nhập cho thấy sự phân phối bị lệch về phía bên phải,
do đó thu nhập nằm trên thu nhập trung bình Do đó những cử tri nào có thu nhập thấp hơn thu nhập trung bình sẽ khuyến khích việc tái phân phối lại thu nhập để đảm bảo cân bằng thông qua một thuế suất cao hơn Ngoài ra việc mở rộng nhượng quyền thương mại đối với nhiều cử tri có thu nhập dưới mức trung bình có nghĩa là tăng thu nhập để tái phân phối, và do đó tăng quy mô chính phủ
Vì vậy với một mức thuế suất cao hơn, vừa làm tăng chi tiêu cho khu vực công Từ đó tác giả đưa ra giả thuyết thứ 1: Thuế giá trị gia tăng làm tăng tỷ lệ chi thường xuyên của Chính phủ so với GDP
2.1.2 Lý thuyết lựa chọn công: các lý thuyết này tập trung vào các ưu đãi của
chính phủ hơn là công dân
Lý thuyết lựa chọn công: Buchanan (1976) là cha đẻ của lý thuyết lựa chọn công đã
đạt giải Nobel kinh tế năm 1986 Các nhà kinh tế học nghiên cứu hành vi trên thị trường tư nhân cho rằng người ta chủ yếu tập trung vào lợi ích cá nhân., động cơ chiếm
ưu thế trong hành động của người dân trên thị trường - dù là người sử dụng lao động, người lao động, hay người tiêu dùng – đều là lợi ích cá nhân Tương tự như vậy, các nhà kinh tế học về sự lựa chọn công cũng đưa ra giả thuyết tương tự, động cơ chính của những người hoạt động trên thị trường chính trị, dù là cử tri, chính trị gia, hay quan chức đều là lợi ích cá nhân Họ hy vọng làm lợi cho chính mình chứ chẳng bao giờ màng đến việc trở thành những nhà quản lý công cộng thánh thiện Đây là cách tiếp cận mang tính hoài nghi song lại hữu ích nhất Bunachan chỉ ra rằng, sự can thiệp của chính phủ vào nên kinh tế có hợp lý hay không phụ thuộc vào việc các quan chức bị thúc đẩy bởi lợi ích cá nhân hay bởi lợi ích xã hội Trong quá khứ, nhiều nhà kinh tế đã lập luận rằng cách để kìm hãm "thất bại trên thị trường" như độc quyền là đưa ra hành động khắc phục của chính phủ Nhưng Buchanan chỉ ra rằng cũng có khái niệm về
"thất bại của chính phủ" Đó là, có những lý do tại sao can thiệp của chính phủ không
Trang 19đạt được hiệu quả mong muốn Ví dụ, Bộ Tư pháp có trách nhiệm giảm quyền lực độc quyền trong các ngành công nghiệp phi cạnh tranh Tuy nhiên, một nghiên cứu năm
1973 của William F Long, Richard Schramm và Robert Tollison đã kết luận rằng hành
vi chống cạnh tranh thực sự chỉ đóng một vai trò nhỏ trong các quyết định của Bộ Tư pháp để chống độc quyền Thay vào đó, họ tìm thấy, ngành công nghiệp càng lớn thì càng có nhiều doanh nghiệp bị kiện
Một trong những cơ sở chính của lý thuyết lựa chọn công là việc thiếu các công cụ, biện pháp để cử tri theo dõi chính phủ một cách hiệu quả Anthony Downs, tác giả của một trong những cuốn sách viết về sự lựa chọn công sớm nhất “Lý thuyết Kinh tế về Dân chủ” đã chỉ ra rằng hầu như cử tri không biết đến các vấn đề chính trị Mặc dù kết quả của một cuộc bầu cử có thể rất quan trọng, tuy nhiên việc bỏ phiếu của một cá nhân hiếm khi có ảnh hưởng quyết định đến kết quả một cuộc bầu cử Như vậy, tác động trực tiếp của việc bỏ phiếu là gần như bằng không, cử tri hầu như không có cơ hội
để xác định kết quả của cuộc bầu cử Bên cạnh đó, việc bỏ phiếu không có kết quả trực tiếp, do đó phần lớn cử tri không biết về vị trí của người dân mà họ bỏ phiếu Ngoại trừ một vài vấn đề được công bố rộng rãi, cử tri gần như không chú ý nhiều đến những gì
cơ quan lập pháp làm, và ngay cả khi họ chú ý, họ cũng ít có khả năng để có được kiến thức nền tảng và kỹ năng phân tích cần thiết để hiểu các vấn đề này
Các nhà kinh tế học về sự lựa chọn công cộng cũng xem xét các hành động của các nhà lập pháp Mặc dù các nhà lập pháp dự kiến sẽ theo đuổi "lợi ích công cộng" nhưng họ
sẽ quyết định sử dụng các nguồn lực của người khác, chứ không phải là của riêng họ Người nộp thuế là người phải cung cấp các nguồn lực này và sẽ là những những người
bị thiệt hại khi các nguồn lực được sử dụng không hiệu quả theo các quy định cho dù
họ có muốn hay không Các chính trị gia có thể định chi tiền của người đóng thuế một cách khôn ngoan Tuy nhiên, các quyết định hiệu quả sẽ không tiết kiệm được tiền của chính họ cũng như không cung cấp cho họ bất kỳ nguồn thu nhập nào Vì vậy, các ưu
Trang 20đãi đối với chính quyền để họ quản lý tốt trong lợi ích công cộng rất yếu, từ đó dễ dẫn đến đầu tư không hiệu quả
Lý thuyết lựa chọn công được coi là một nhánh kinh tế bảo thủ, cho rằng việc can thiệp của Chính phủ có thể không hiệu quả, trái ngược với lý thuyết của cha đẻ kinh tế học vĩ
mô, John Maynard Keynes, khi Keynes cho rằng Chính phủ có thể sữa chữa các thất bại của thị trường một cách hiệu quả Hơn nữa, Buchanan cho rằng nếu chi tiêu Chính phủ được thực hiện từ cấp địa phương thì sẽ hiệu quả hơn Người dân có thể giám sát việc chi tiêu của chính quyền địa phương hiệu quả, chính xác hơn Họ cũng có thể gây
áp lực đến chính quyền địa phương bằng cách “bỏ phiếu bằng chân”, tạo ra sự cạnh tranh giữa các địa phương, từ đó hiệu quả của việc chi tiêu được cải thiện, nâng cao đời sống người dân
Như vậy theo lý thuyết lựa chọn công, việc chi tiêu của Chính phủ có thể không hiệu quả do lợi ích cá nhân gây ra Do đó tác giả đề xuất giả thuyết thứ 2: Thuế giá trị gia tăng làm giảm tỷ lệ chi đầu tư phát triển của Chính phủ so với GDP
Các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài
Nghiên cứu của Mohammadiyan, F., Amade, H., và Shakeri, A (2013) đã nghiên
cứu, giới thiệu và thử nghiệm mô hình mới để giải thích quy mô chính phủ Bài nghiên cứu sử dụng các biến cầu, cung và các biến khác, trình bày một mô hình khái niệm và ước lượng thực nghiệm cho 103 quốc gia được chọn Kết quả là thu nhập bình quân đầu người, bất bình đẳng và tỷ lệ đô thị hóa của các biến số cầu có ảnh hưởng lần lượt
là ngược chiều, cùng chiều và cùng chiều và có ý nghĩa quan trọng đối với quy mô của chính phủ Đối với các biến số cung của nền kinh tế, các loại thuế gián thu có tác động cùng chiều và ảnh hưởng đáng kể đến quy mô của chính phủ Trong các yếu tố khác (các yếu tố khác ngoài cung và cầu), ba biến tỷ lệ độ tuổi của dân số, mức độ mở của nền kinh tế và tỷ lệ về sự tham gia của phụ nữ vào thị trường lao động đều có tác động cùng chiều và có ý nghĩa đến quy mô của chính phủ Tác giả thấy rằng kết quả của
Trang 21nghiên cứu này cũng phù hợp với lý thuyết tác giả xây dựng khi thuế gián thu có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa đến quy mô chính phủ, hay cụ thể hơn là thuế gián thu sẽ
có ảnh hưởng tích cực đến cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển
Nghiên cứu của J.A.Stockfisch (1985) về ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến chi
tiêu chính phủ tại 24 quốc gia OECD trong giai đoạn 1964-1981 đã cho thấy những kết quả ủng hộ giả thuyết của tác giả đặt ra Nghiên cứu chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ tích cực giữa thuế giá trị gia tăng và chi tiêu chính phủ Khi thuế giá trị gia tăng tăng sẽ làm tăng chi tiêu chính phủ Tác giả nhận thấy rằng kết quả bài nghiên cứu này ủng hộ cho giả thuyết của tác giả Nhưng hạn chế của bài nghiên cứu này là gộp chung cả chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác vào nhau khi xem xác tác động của thuế giá trị gia tăng đến chi tiêu chính phủ Do đó tác giả hi vọng việc tác riêng từng khoản chi sẽ cung cấp cái nhìn chính xác và cụ thể, rõ ràng hơn
Dongwon Lee, Dongil Kim và Thomas E Borcherding (2013) nghiên cứu đề tài
“Cấu trúc thuế và quy mô chính phủ: có phải thuế giá trị gia tăng làm tăng quy mô chính phủ?” sử dụng dữ liệu 29 quốc gia OECD trong 38 năm (1970-2007) Kết quả bài nghiên cứu cho thấy rằng nhu cầu chi tiêu của chính phủ có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc thuế của quốc gia Đồng thời kết quả cho thấy việc tăng thuế giá trị gia tăng trong thế kỷ 20 nên là một sự lựa chọn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của chi tiêu chính phủ Nhưng ảnh hưởng giữa thuế giá trị gia tăng đến quy mô chính phủ lại không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu này đưa ra được một quan điểm vô cùng phù hợp với thực tiễn hiện nay bởi theo xu hướng giống nhau, chính sách thuế ở các nước hiện nay đang theo xu hướng giảm dần các khoản thuế trực thu và gia tăng các khoản thuế gián thu, nhưng đồng thời do kết quả không có ý nghĩa thống kê nên vẫn cần thực hiện kiểm chứng lại
Dadgar, Y., Nazari, R., và Seyami Araghi, I (2013) nghiên cứu thuế tối ưu và chính
phủ tối ưu trong nền kinh tế khu vực công & phương trình thuế và phương trình về cấu
Trang 22trúc của chính phủ ở Iran Sử dụng 2 yếu tố là tỷ lệ tiêu dùng trên GDP và tỷ lệ thuế trên GDP, thêm vào đó là sự phân tích cấu trúc của thuế và cấu trúc của chính phủ Kết quả là quy mô của chính phủ tối ưu dựa trên chỉ số chi tiêu của chính phủ trên GDP vượt quá mức tối ưu và trong khi nguồn thu từ thuế thì lại dưới mức tối ưu Sự yếu kém trong việc điều hành đất nước là gốc rễ trong cấu trúc chính phủ Do đó, việc thiết lập quy mô chính phủ tối ưu luôn nhất quán với hệ thống thuế tối ưu
Đặc biệt gần đây nhất, nghiên cứu của Mohammad Alizadeh (2016) nghiên cứu mối
quan hệ giữa thuế giá trị gia tăng và quy mô chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển tại Iran Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ đồng biến và có ý nghĩa
cả trong ngắn hạn và dài hạn giữa thuế giá trị gia tăng đến chi thường xuyên, nghịch biến và có ý nghĩa đến chi đầu tư phát triển Trong đó hệ số tác động của thuế giá trị gia tăng đến chi thường xuyên là thấp, hệ số tác động đến chi đầu tư phát triển là cao, cho thấy thuế giá trị gia tăng không được dùng cho giáo dục và y tế mặc dù đây là mục tiêu của việc thu thuế, chủ yếu dùng để đầu tư xây dưng Bài nghiên cứu kiến nghị nên xây dựng một hệ thống thuế tự động báo cáo, minh bạch cao hơn để giảm gánh nặng thuế giá trị gia tăng Chính phủ nên chi nhiều hơn cho phúc lợi, y tế và giáo dục để giảm nghèo và cải thiện phúc lợi cho những người có thu nhập thấp
Kết luận chương 2
Như vậy qua các nghiên cứu liên quan, tác giả thấy rằng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu
về mối quan hệ giữa thuế giá trị gia tăng đến chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển
Do đó tác giả thực hiện bài nghiên cứu này với 2 giả thuyết được xây dựng từ lý thuyết của Meltzer và Buchanan:
- Thuế giá trị gia tăng có tác động cùng chiều đến tỷ lệ chi thường xuyên trên GDP
- Thuế giá trị gia tăng có tác động ngược chiều đến tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP
Trang 23CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp tự hồi quy và phân phối trễ (Auto Regressive
Distributed Lag ARDL) của Pesaran và cộng sự (1997) Cách tiếp cận này có nhiều
cải tiến so với các phương pháp trước đây
Thứ nhất, nó phân biệt các biến phụ thuộc và giải thích và giải quyết vấn đề nội sinh Thứ hai, nó cho thấy tác động đồng thời và riêng biệt của các thành phần trong cả ngắn hạn và dài hạn đồng thời loại bỏ các vấn đề tự tương quan Thứ ba, đó là các phương pháp trái ngược với phương pháp Johansen-Josilius khi yêu cầu tất cả các biến phải dừng cùng bậc, phương pháp ARDL không yêu cầu các biến phải dừng cùng bậc Thứ
tư, tránh những thiếu sót của các mô hình khác bao gồm sự thiên lệch trong các mẫu nhỏ, ARDL chỉ yêu cầu một kích thước nhỏ hơn so với các phương pháp kiểm định đồng liên kết theo các phương pháp khác Cuối cùng chúng ta có các phương pháp tốt hơn để phân tích các mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa các biến, bao gồm phương
pháp kiểm định biên tự tương quan và phân phối độ trễ (Pesaran và Shin 1999 hay
Abbasi 2013) Phương trình 1 mô tả một mô hình động thích hợp:
𝑌𝑡 = 𝑎𝑋𝑡+ 𝑏𝑋𝑡−1+ 𝑐𝑌𝑡−1+ 𝑢𝑡 (1) Tuy nhiên, tốt hơn là sử dụng một mô hình có nhiều độ trễ cho các biến như phương trình 2 để làm giảm sự ước lượng sai lệch các hệ số mô hình trong các mẫu nhỏ
Trang 24phương trình cho tất cả các chế độ và tất cả các yêu cầu có thể, tức là (m +1) k + 1 lần
M là độ trễ tối đa được xác định bởi nhà nghiên cứu và k là số biến giải thích Trong bước tiếp theo, một trong các phương trình được chọn bằng cách sử dụng một trong các tiêu chuẩn Akaike, Schwarz Bayesian (SBC), Hannan-Quinn (HQC) hoặc R-Bar Squared Nói chung, tiêu chuẩn Schwarz Bayesian (SBC) được sử dụng trong các mẫu nhỏ hơn 100
Mô hình tác động dài hạn sử dụng kiểm định đường bao Bound test để xác định tồn tại
có hay không mối quan hệ đồng liên kết (mối quan hệ dài hạn) Nếu tồn tại mối quan
hệ dài hạn thì tiến hành ước tính các hệ số dài hạn thông qua hồi quy ARDL Các hệ số dài hạn liên quan đến biến X được mô tả như phương trình 5:
θi = b̂i (l,qi) 1−ϕ ̂(l,p) =b̂i01−ϕ+b̂̂i1+⋯+b̂iq
1 −⋯−ϕ̂p , i = 1,2, … , K (5)
Mô hình nghiên cứu
Dựa theo mô hình bài nghiên cứu gốc của M Alizadeh và M Motallabi (2016) nghiên cứu tác động của thuế giá trị gia tăng đến chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:
LCG: logarit của chỉ số chi thường xuyên/GDP
LDG: logarit của chỉ số chi đầu tư phát triển/GDP
LVAT: logarit của thuế giá trị gia tăng
Trang 25Trình tự thực hiện nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu theo thời gian
Tác giả sử dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị Dicky và Fuller (1981) Mô
hình kiểm định nghiệm đơn vị mở rộng ADF có dạng:
Độ trễ k được lựa chọn tối ưu một cách tự động cho mô hình ADF theo tiêu chuẩn AIC
(Akaike’s Information Criterion) của Akaike (1973) Cụ thể, giá trị k được lựa chọn
sao cho AIC nhỏ nhất
Giả thuyết kiểm định:
H0: β = 0 (Yt là chuỗi dữ liệu không dừng)
H1: β < 0 (Yt là chuỗi dữ liệu dừng)
Thứ hai, sử dụng phương pháp của Pesaran (1997) là kiểm định đường bao (Bound
test) để xác định đồng liên kết giữa các biến, tức là xem xét trong mô hình có tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến hay không
Thứ ba, chạy mô hình ARDL với các độ trễ tối ưu được xác định tự động theo tiêu
chuẩn AIC để xem xét tác động trong dài hạn giữa các biến trong mô hình nghiên cứu
Mô hình dài hạn có dạng:
𝑌𝑡 = 𝛼0+ 𝛾0𝑋𝑡 + 𝛾1𝑋𝑡−1 + ⋯ + 𝛾𝑞𝑋𝑡−𝑞+ 𝜀𝑡
Trang 26Với 𝛾0: tác động tức thời của X đến Y;
𝛾1: tác động của X đến Y sau 1 kỳ;
𝛾𝑗: tác động của X đến Y sau j kỳ (j = 1, 𝑞̅̅̅̅̅)
Tổng 𝛾0+ 𝛾1+ ⋯ + 𝛾𝑞 được gọi là tổng tác động của X đến Y, thể hiện sự tác động của X đến Y trong dài hạn
Thứ tư, tính tác động ngắn hạn của các biến bởi mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) dựa
trên cách tiếp cận ARDL đối với đồng liên kết
Phương trình tác động ngắn hạn có dạng:
∆𝑌𝑡 = 𝛾𝐸𝐶𝑡−1 + 𝛼1∆𝑌𝑡−1 + ⋯ + 𝑢𝑡
Với 𝐸𝐶𝑡−1 = 𝑌𝑡−1− 𝛽1− 𝛽2𝑋𝑡−1
Thứ năm, kiểm định mô hình theo các yếu tố:
- Kiểm định tự tương quan bậc 1: phương pháp Durbin-Watson (1950) với
giả thuyết: H0: Mô hình có tự tương quan bậc 1
- Kiểm định tự tương quan bậc cao: phương pháp Breusch-Godfrey (1978)
với giả thuyết H0: Mô hình có tự tương quan
- Kiểm định phương sai thay đổi: phương pháp Breusch-Pagan (1979) với giả
thuyết H0: Mô hình bị phương sai thay đổi
- Kiểm định dạng sai của mô hình: phương pháp kiểm định RESET của
Ramsey (1968) với H0: Mô hình không phù hợp
- Kiểm định đa cộng tuyến: kiểm định hệ số VIF với giả thuyết VIF>10 thì mô hình bị đa cộng tuyến
Trang 27- Kiểm tra sự ổn định của mô hình: sử dụng các tiêu chuẩn của CUSUM (cumulative sum of recurvive residuals) và CUSUMSQ (cumulative sum of squares of recurvive residuals)
- Kiểm định tính dừng của phần dư
Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ dữ liệu của Ngân hàng Thế giới WorldBank (https://data.worldbank.org/), tại 3 quốc gia: Cộng hòa Áo, Cộng hòa Chile và Cộng hòa Dominica, bao gồm 1 quốc gia đang phát triển là Dominica và 2 quốc gia phát triển là Áo và Chile, từ năm 1972 đến năm 2015
Tác giả lựa chọn 3 quốc gia Áo, Chile và Dominica để đưa vào nghiên cứu vì các lý do sau đây:
- Đây là các quốc gia có đủ số quan sát trong thời gian nghiên cứu, đủ điều kiện để tạo độ cậy cho kết quả nghiên cứu
- Có mức thuế suất giá trị gia tăng tương tự nhau: Chile: 19%, Áo 20% và Dominica 16%
- Đây là 3 quốc gia cùng theo thể chế cộng hòa, người đứng đầu lãnh đạo đất nước là Tổng thống Việc nghiên cứu các quốc gia cùng một thể chế sẽ dẫn đến kết quả có sự thống nhất với nhau và có độ tin cậy cao hơn Tác giả lựa chọn các quốc gia theo chế độ thể chế cộng hòa bởi vì thuế giá trị gia tăng ra đời lần đầu tiên là tại Cộng hòa Pháp, cũng là một quốc gia theo chế độ cộng hòa
- Các quốc gia đến từ 2 châu lục khác nhau trên thế giới: châu Âu và châu Mỹ Tác giả hi vọng có được kết quả nghiên cứu toàn diện, bao quát về đề tài nghiên cứu Đây cũng là 2 khu vực chưa tiến hành nghiên cứu này, bài
Trang 28nghiên cứu gần nhất của đề tài này là nghiên cứu ở Iran – một quốc gia ở châu Á
Kết luận chương 3
Như vậy bài nghiên cứu sử dụng phương pháp tự hồi quy và phân phối trễ của Pesaran
và cộng sự (1997) áp dụng cho mô hình hồi quy của bài nghiên cứu gốc Với dữ liệu
được thu thập từ 3 quốc gia trong khoảng thời gian 44 năm, tác giả hi vọng sẽ có được kết quả hồi quy đáng tin cậy về ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến quy chi thường xuyên và quy mô chi đầu tư phát triển
Trang 29CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chile
4.1.1 Kiểm định tính dừng
Bảng 4.1 Kiểm định nghiệm đơn vị ADF - Chile
Kết quả kiểm định cho thấy biến giá trị gia tăng dừng ở bậc 0 Hai biến tỷ lệ chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển trên GDP không dừng ở bậc 0 mà dừng ở bậc 1
4.1.2 Kiểm định đường bao (Bound test)
4.1.2.1 Mô hình 1: thuế giá trị gia tăng và tỷ lệ chi thường xuyên trên GDP
Số bậc Giá trị thống kê F Giá trị tới hạn của các đường bao
Trang 30Giá trị F bằng 19.269 lớn hơn giá trị giới hạn đường bao trên (7.84 ứng với mức ý nghĩa 1%) Như vậy có sự tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa thuế giá trị gia tăng
và tỷ lệ chi thường xuyên trên GDP ở mô hình 1 tại Chile
4.1.2.2 Mô hình 2: thuế giá trị gia tăng và tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP
Số bậc Giá trị thống kê F Giá trị tới hạn của các đường bao
k F-statistic
I(0) I(1) I(0) I(1) I(0) I(1) I(0) I(1)
1 29.202 4.04 4.78 4.94 5.73 5.77 6.68 6.84 7.84
Bảng 4.3 Kiểm định đường bao Mô hình 2 - Chile
Giá trị thống kê F bằng 29.202 lớn hơn giá trị giới hạn đường bao trên ứng với mức ý nghĩa 1% Như vậy có sự tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa thuế giá trị gia tăng và
tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP ở mô hình 2 tại Chile
4.1.3 Kết quả tác động trong dài hạn
Bảng 4.4 Kết quả tác động dài hạn - Chile
Kết quả mô hình cho thấy trong dài hạn, thuế giá trị gia tăng đều có ảnh hưởng đáng kể đến biến tỷ lệ chi thường xuyên và chi đầu tư trên GDP ở Chile Cụ thể, thuế giá trị gia tăng có tác động cùng chiều và có ý nghĩa đến tỷ lệ chi thường xuyên trên GDP, điều này phù hợp với giả thuyết 1 Bên cạnh đó, thuế giá trị gia tăng có tác động ngược
Trang 31chiều và có ý nghĩa đến tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP, kết quả này ủng hộ giả thuyết 2
Trang 32Mô hình 2: kết quả cho thấy cả trong ngắn hạn và dài hạn, thuế giá trị gia tăng đều có tác động ngược chiều và có ý nghĩa đến tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP, phù hợp với giả thuyết 2 Hệ số R2 hiệu chỉnh của mô hình là 71% tức là mô hình giải thích được 71% sự biến động của tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP theo thuế giá trị gia tăng
4.1.5 Kiểm định mô hình
4.1.5.1 Kiểm định tự tương quan bậc 1
Kiểm định Durbin-Watson với H0: không có tự tương quan
Bảng 4.6 Kiểm định tự tương quan bậc 1 - Chile
Kết quả kiểm định Durbin-Watson cho thấy cả mô hình 1 và mô hình 2 đều chấp nhận giả thuyết H0, tức là không có tự tương quan bậc 1
4.1.5.2 Kiểm định tự tương quan bậc cao
Kiểm định Breusch-Godfrey với H0: không có tự tương quan
Bảng 4.7 Kiểm định tự tương quan bậc cao - Chile
Kết quả kiểm định Breusch-Godfrey cho thấy cả mô hình 1 và mô hình 2 đều chấp nhận giả thuyết H0,tức là không có hiện tượng tự tương quan ở bậc cao
Trang 334.1.5.3 Kiểm định phương sai thay đổi
Kiểm định Breusch-Pagan với H0: phương sai không đổi
Bảng 4.8 Kiểm định phương sai thay đổi - Chile
Kết quả kiểm định Breusch-Pagan cho thấy cả mô hình 1 và mô hình 2 đều không có hiện tượng phương sai thay đổi
4.1.5.4 Kiểm định dạng sai của mô hình
Kiểm định RESET Ramsey với H0: mô hình phù hợp
Bảng 4.9 Kiểm định dạng sai của mô hình - Chile
Kết quả kiểm định RESET của Ramsey cho thấy cả mô hình 1 và mô hình 2 đều là mô hình phù hợp
Trang 344.1.5.5 Kiểm định đa cộng tuyến
Bảng 4.10 Kiểm định đa cộng tuyến - Chile
Kết quả kiểm định đa cộng tuyến cho thấy giá trị VIF đều nhỏ hơn 10, do đó cả mô hình 1 và mô hình 2 đều không có hiện tượng đa cộng tuyến
Trang 354.1.5.6 Kiểm định CUSUM (cumulative sum of recurvive residuals) và
CUSUMSQ (cumulative sum of squares of recurvive residuals)
Kết quả kiểm định CUSUM và CUSUMSQ cho thấy biểu đồ đều nằm trong giới hạn biên nên mô hình 1 và mô hình 2 có tính ổn định
4.1.5.7 Kiểm định tính dừng của phần dư
Bảng 4.11 Kiểm định tính dừng phần dư - Chile
Trang 36Kết quả kiểm định tính dừng của phần dư cho thấy phần dư của mô hình 1 và mô hình
2 đều dừng Điều đó cho thấy cả hai mô hình đều hiệu quả
Áo
4.2.1 Kiểm định tính dừng
Bảng 4.12 Kiểm định nghiệm đơn vị ADF - Áo
Kết quả kiểm định cho thấy cả 3 biến giá trị gia tăng, tỷ lệ chi thường xuyên và chi đầu
tư phát triển trên GDP đều dừng ở bậc 0
4.2.2 Kiểm định đường bao (Bound test)
4.2.2.1 Mô hình 1: thuế giá trị gia tăng và tỷ lệ chi thường xuyên trên GDP
Số bậc Giá trị thống kê F Giá trị tới hạn của các đường bao
K F-statistic
I(0) I(1) I(0) I(1) I(0) I(1) I(0) I(1)
1 4.859 4.04 4.78 4.94 5.73 5.77 6.68 6.84 7.84
Bảng 4.13 Kiểm định đường bao Mô hình 1- Áo
Giá trị F bằng 4.859 lớn hơn giá trị giới hạn đường bao trên (4.78 ứng với mức ý nghĩa 10%) Như vậy có sự tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa thuế giá trị gia tăng và tỷ
lệ chi thường xuyên trên GDP ở mô hình 1 tại Áo
Trang 374.2.2.2 Mô hình 2: thuế giá trị gia tăng và tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP
Số bậc Giá trị thống kê F Giá trị tới hạn của các đường bao
k F-statistic
I(0) I(1) I(0) I(1) I(0) I(1) I(0) I(1)
1 2.773 4.04 4.78 4.94 5.73 5.77 6.68 6.84 7.84
Bảng 4.14 Kiểm định đường bao Mô hình 2 - Áo
Giá trị F bằng 2.773 nhỏ hơn giá trị giới hạn đường bao (4.04 ứng với mức ý nghĩa 10%) Như vậy không có sự tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa thuế giá trị gia tăng
và tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP ở mô hình 2 tại Áo
4.2.3 Kết quả tác động trong dài hạn
Bảng 4.15 Kết quả tác động dài hạn - Áo
Kết quả mô hình cho thấy trong dài hạn, thuế giá trị gia tăng đều có ảnh hưởng đáng kể đến biến tỷ lệ chi thường xuyên và chi đầu tư trên GDP ở Áo Cụ thể, thuế giá trị gia tăng có tác động cùng chiều và có ý nghĩa đến tỷ lệ chi thường xuyên trên GDP, điều này phù hợp với giả thuyết 1 Bên cạnh đó, thuế giá trị gia tăng có tác động ngược chiều và có ý nghĩa đến tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP, kết quả này ủng hộ giả thuyết 2 Kết quả này cũng thống nhất với kết quả tại Chile
Trang 38Mô hình 2: kết quả cho thấy trong ngắn hạn thì thuế giá trị gia tăng có tác động ngược chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP Còn trong dài hạn thì mô hình 2 cho thấy thuế giá trị gia tăng có tác động ngược chiều và có
ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP, tuy nhiên kết quả kiểm định lại cho thấy không có đồng liên kết trong dài hạn nên không có bằng chứng để bác bỏ giả thuyết 2
Như vậy tại Áo, mô hình 1 là phù hợp với giả thuyết 1, cho rằng thuế giá trị gia tăng tác động cùng chiều đến chi thường xuyên trên GDP cả trong ngắn hạn và dài hạn Còn
Trang 39mô hình 2 tuy thuế giá trị gia tăng có tác động ngược chiều đến chi đầu tư phát triển phù hợp với giả thuyết 2 nhưng không có ý nghĩa thống kê nên không có bằng chứng
để bác bỏ giả thuyết 2
4.2.5 Kiểm định mô hình
4.2.5.1 Kiểm định tự tương quan bậc 1
Kiểm định Durbin-Watson với H0: không có tự tương quan
Bảng 4.17 Kiểm định tự tương quan bậc 1 - Áo
Kết quả kiểm định Durbin-Watson cho thấy cả mô hình 1 và mô hình 2 đều không có hiện tượng tự tương quan bậc 1
4.2.5.2 Kiểm định tự tương quan bậc cao
Kiểm định Breusch-Godfrey với H0: không có tự tương quan
Bảng 4.18 Kiểm định tự tương quan bậc cao - Áo
Kết quả kiểm định Breusch-Godfrey cho thấy cả mô hình 1 và mô hình 2 đều không có hiện tượng tự tương quan ở bậc cao
Trang 404.2.5.3 Kiểm định phương sai thay đổi
Kiểm định Breusch-Pagan với H0: phương sai không đổi
Bảng 4.19 Kiểm định phương sai thay đổi - Áo
Kết quả kiểm định Breusch-Pagan cho thấy mô hình 2 không có hiện tượng phương sai thay đổi còn mô hình 1 có hiện tượng phương sai thay đổi Tuy nhiên kết quả ước lượng vẫn không chệch nhưng không còn hiệu quả
4.2.5.4 Kiểm định dạng sai của mô hình
Kiểm định RESET Ramsey với H0: mô hình phù hợp
Bảng 4.20 Kiểm định dạng sai của mô hình - Áo
Kết quả kiểm định RESET của Ramsey cho thấy cả mô hình 1 và mô hình 2 đều là mô hình phù hợp