1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn tại khu vực kinh tế dân doanh – thực tiễn tại cà mau

64 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 753,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện điều này, ở nơi có công đoàn cơ sở thì công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở phải hỗ trợ trực tiếp cho công đoàn cơ sở và người lao động; ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

CAO MỘNG THÚY

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TẠI KHU VỰC KINH TẾ DÂN DOANH – THỰC TIỄN TẠI CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

CAO MỘNG THÚY

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TẠI KHU VỰC KINH TẾ DÂN DOANH – THỰC TIỄN TẠI CÀ MAU

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Lê Văn Hưng

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Cao Mộng Thúy mã số học viên: 7701251002A là học viên lớp

LOP_K25_MBL_CaMau; Khóa K25-2 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật,

Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học

với đề tài “Pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn tại khu vực kinh tế dân

doanh – Thực tiễn tại Cà Mau” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là

kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn

khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học

của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và

có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn

khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

Cao Mộng Thúy

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PH N MỞ Đ U 1

Chương 1: Cơ sở pháp lý về hoạt động của tổ chức công đoàn 5

1.1 Công đoàn Việt Nam trong mối liên hệ với ILO 5

1.2 Cơ sở pháp lý về hoạt động của tổ chức công đoàn 7

1.2.1 Khái niệm về Công đoàn 7

1.2.2 Vai trò chung của tổ chức công đoàn 9

1.2.2.1 Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động 9

1.2.2.2 Tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; Tham dự phiên họp, cuộc họp, kỳ họp, hội nghị; Tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát 10

1.2.2.3 Tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động 11

1.2.2.4 Phát triển đoàn viên công đoàn, công đoàn cơ sở 11

1.2.3 Vai trò của Công đoàn trong quan hệ lao động trong khu vực kinh tế dân doanh 12

1.2.3.1 Đối thoại, thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập thể 12

1.2.3.2 Tham gia giải quyết tranh chấp lao động 13

1.2.3.3 Tổ chức và lãnh đạo đình công 13

1.2.3.4 Tham gia xây dựng thang bảng lương, định mức lao động, phương án sử dụng lao động, bảo hộ lao động và xử lý kỷ luật lao động; Đại diện cho người lao động tham gia tố tụng, tại tòa án 14

1.2.3.5 Vai trò đại diện cho người lao động nơi chưa thành lập công đoàn 14

1.3 Mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động với tổ chức công đoàn 15

1.3.1 Vai trò của quan hệ ba bên 15

1.3.1.1 Vai trò của Nhà nước (Chính phủ) trong quan hệ ba bên 15

1.3.1.2 Vai trò của công đoàn (đại diện cho NLĐ) trong quan hệ ba bên 16

1.3.1.3 Vai trò của người sử dụng lao động (đại diện NSDLĐ) trong quan hệ ba bên 18

1.3.2 Trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước và người sử dụng lao động đối với Công đoàn 18

Tiểu kết luận Chương 1 20

Trang 5

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn

trong khu vực kinh tế dân doanh tại Cà Mau 21

2.1 Tình hình về khu vực kinh tế dân doanh và hoạt động tổ chức công đoàn tại Cà Mau 21

2.2 Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh tại Cà Mau 24

2.2.1 Thực trạng các quy định về vai trò của tổ chức Công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh 24

2.2.1.1 Một số bất cập trong việc thực hiện quyền, trách nhiệm công đoàn 25

2.2.1.2 Một số bất cập về vấn đề đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể 27

2.2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động Công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh tại Cà Mau 29

2.2.2.1 Việc phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở trong khu vực kinh tế dân doanh tại Cà Mau 30

2.2.2.2 Tổ chức Công đoàn với công tác phối hợp ba bên tại Cà Mau 32

2.3 Nguyên nhân những hạn chế trong hoạt động tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh 35

2.3.1 Nguyên nhân khách quan 35

2.3.1.1 Nguyên nhân từ chính sách quản lý nhà nước 35

2.3.1.2 Nguyên nhân từ giới chủ sử dụng lao động 35

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 36

2.3.2.1 Nguyên nhân từ công đoàn cơ sở 36

2.3.2.2 Nguyên nhân từ người lao động 38

Tiểu kết luận Chương 2 38

Chương 3: Giải pháp nâng cao việc thực hiện pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh 40

3.1 Nhóm giải pháp về việc bổ sung, sửa đổi các quy định pháp luật 40

3.1.1 Về Luật Công đoàn và Bộ Luật lao động 40

3.1.2 Về vấn đề đối thoại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể 41

3.2 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện pháp luật về Công đoàn 43

3.2.1 Xây dựng hệ thống cán bộ công đoàn chuyên trách 43

3.2.2 Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở 44

3.2.3 Tăng cường năng lực cho tổ chức công đoàn tham gia thỏa ước lao động tập thể 45

Trang 6

3.2.4 Tăng cường năng lực cho tổ chức công đoàn tham gia đối thoại tại nơi làm việc

trong các doanh nghiệp 46

3.3 Nhóm giải pháp khác 47

3.3.1 Đối với người sử dụng lao động 47

3.3.1.1 Giải quyết vấn đề thu nhập của người lao động, quan tâm, chăm lo đến đời sống người lao động 47

3.3.1.2 Thực hiện tốt các quy định của pháp luật lao động 48

3.3.1.3 Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người sử dụng lao động trong việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể 48

3.3.1.4 Tăng cường đối thoại giữa người sử dụng lao động và người lao động 49

3.3.1.5 Đảm bảo điều kiện lao động và môi trường làm việc 50

3.3.1.6 Tạo điều kiện để công đoàn cơ sở hoạt động 51

Tiểu kết luận Chương 3 52

KẾT LUẬN 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Trang 7

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

tại Việt Nam

Trang 8

PH N MỞ Đ U

1 Lý do chọn đề tài

Năm 2012, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành hai đạo luật mới liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam là Luật Công đoàn (hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013) và Bộ luật Lao động (hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/2013) Theo đó, tổ chức công đoàn có quyền,

trách nhiệm mới quan trọng: “Ở nơi đã thành lập công đoàn cơ sở, công đoàn cấp

trên trực tiếp cơ sở phải tăng cường hỗ trợ trực tiếp cho công đoàn cơ sở thực hiện quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn; Ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có quyền, trách nhiệm đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động khi được người lao động yêu cầu”1

Đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là nhiệm vụ trung tâm, là mục tiêu của công đoàn trong quan hệ lao động Trong thực tiễn quan hệ lao động, để thực hiện nhiệm vụ này thì tổ chức công đoàn phải đóng vai trò là người đại diện, tức là người thay mặt cho người lao động với danh nghĩa

vì quyền lợi cho người mà mình đại diện (ở đây là đoàn viên và người lao động) Khi thực hiện các quyền, trách nhiệm của mình, tổ chức công đoàn nhân danh và thay mặt cho người lao động để tiến hành Song song với nhiệm vụ thì công đoàn cũng có trách nhiệm cùng với người sử dụng lao động, Nhà nước xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định Để thực hiện điều này, ở nơi có công đoàn cơ

sở thì công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở phải hỗ trợ trực tiếp cho công đoàn cơ sở

và người lao động; ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở thì công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở phải có trách nhiệm thực hiện: đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể; tham gia xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động

Tuy nhiên, trong tổ chức và hoạt động công đoàn bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp khu vực kinh tế dân doanh hiện nay chưa đáp ứng

1

Điều 188 Bộ luật Lao động 2012; Điều 17 Luật Công đoàn 2012

Trang 9

được yêu cầu của tình hình mới, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các đơn vị, doanh nghiệp, đoàn viên, người lao động; về quan hệ lao động trong điều kiện mới Chất lượng, hiệu quả hoạt động công đoàn và đại diện bảo vệ đoàn viên, người lao động chưa cao, chưa tạo được sức hấp dẫn để thu hút người lao động tự nguyện gia nhập công đoàn Nhiều nơi quyền đại diện của công đoàn mang tính hình thức, chưa phát huy và thể hiện tốt vai trò là người “duy nhất” đại diện cho công nhân, lao động

Mặt khác, “đối với khu vực ngoài quốc doanh, nhất là trong các doanh

nghiệp dân doanh, doanh nghiệp FDI, nhiều chủ doanh nghiệp tìm cách né tránh, trì hoãn, ít tạo điều kiện thuận lợi để người lao động thực hiện quyền gia nhập, thành lập công đoàn”2 Ngay như việc thành lập công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước cũng gặp nhiều khó khăn: hiện nay có tới 80% tổng số doanh nghiệp dân doanh và 60% tổng số doanh nghiệp FDI chưa thành lập được công đoàn cơ sở Trong khi đó, sự cản trở, gây khó khăn của chủ doanh nghiệp được thực hiện bằng nhiều hình thức, nên rất khó cho việc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật

Từ đó, tổ chức và hoạt động của công đoàn rất khó có thể thực thi và bảo đảm được vai trò đại diện của mình đối với người lao động trong doanh nghiệp

Chính vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu sự tham gia của tổ chức Công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động là hết sức cần thiết, đặc biệt là việc nghiên cứu thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động của tổ chức công đoàn Do đó, người viết chọn đề tài nghiên cứu

“Pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn tại khu vực kinh tế dân doanh – Thực tiễn tại Cà Mau”

2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu

- Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Hoạt động của tổ chức công đoàn Việt Nam

được pháp luật quy định như thế nào?

- Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Tại sao trong tổ chức và hoạt động công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh còn nhiều hạn chế, bất cập? Thực tiễn tại Cà Mau?

- Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Để nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật

về hoạt động của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh cần có những giải pháp gì?

2 Báo cáo số 93/BC-TLĐ ngày 27/9/2011 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về Tổng kết thi hành 20 năm Luật Công đoàn

Trang 10

3 Tình hình nghiên cứu

Đã có một số nghiên cứu về lý luận công đoàn, về đổi mới và nâng cao năng lực hoạt động của công đoàn nói chung, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở nói riêng:

- TS Đặng Ngọc Tùng (2010): Đề tài khoa học cấp nhà nước “Xây dựng giai

cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” thuộc Chương trình khoa học và

công nghệ trọng điểm cấp nhà nước (KX.04.15/06–10)

- TS Đặng Quang Điều, Viện trưởng Viện Công nhân – Công đoàn (2011):

Cơ sở pháp lý về vai trò đại diện cho người lao động của Công đoàn Việt Nam

- TS Nguyễn Mạnh Cường – Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ

Lao động (2014): “Vai trò của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong quan hệ lao

động”

- TS Vũ Minh Tiến, Viện Công nhân – Công đoàn (2014): Báo cáo tổng

luận đề tài “Nâng cao năng lực của Công đoàn Cấp trên trực tiếp cơ sở đáp ứng

yêu cầu mới”

- ThS Nguyễn Ngọc Sơn (2014): Tình hình tổ chức, cán bộ công đoàn

chuyên trách công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực hoạt động đáp ứng yêu cầu mới

Các nghiên cứu trên đã giải quyết một số nội dung, trên các khía cạnh:

- Vai trò và yêu cầu đặt ra đối với hoạt động của công đoàn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Vai trò đại diện của công đoàn cấp trên trong quan hệ lao động

- Thực trạng tổ chức, hoạt động của các cấp công đoàn

- Thực trạng đội ngũ cán bộ công đoàn

- Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công đoàn

- Giải pháp tiếp tục hoàn thiện tổ chức, nâng cao năng lực hoạt động của công đoàn

- Đánh giá tác động của các quy định pháp luật liên quan đến vai trò của công đoàn

Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu trực tiếp nào về thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao việc thực hiện pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh Do đó, kết quả các nghiên cứu trên chủ yếu có tính chất gợi ý để tham khảo trong quá trình nghiên cứu của đề tài này

4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 11

- Mục đích nghiên cứu:

+ Phân tích thực trạng việc thực hiện pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn và những mặt đạt được, những khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về hoạt động của tổ chức Công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh tại

Cà Mau

+ Đề xuất giải pháp nâng cao việc thực hiện pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh đáp ứng yêu cầu mới

- Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công đoàn trong doanh nghiệp kinh tế dân doanh Bao gồm các quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chung và cụ thể của tổ chức công đoàn; trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước, doanh nghiệp đối với công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh

- Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh tại Cà Mau (khu vực ngoài nhà nước: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác

xã, hộ kinh doanh cá thể), với trọng tâm về vai trò của tổ chức công đoàn là người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động

5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu, khung lý thuyết

Đề tài sử dụng phối hợp phương pháp nghiên cứu khoa học: phương pháp lôgíc, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp; sử dụng phương pháp chuyên gia để đặt nghiên cứu chuyên đề; tiến hành khảo sát thực tế để bổ sung những đánh giá về thực trạng; trên cơ sở đó sử dụng phương pháp chuyên gia nghiên cứu các nội dung về giải pháp, kiến nghị

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Đề tài góp phần hoàn thiện về tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động công đoàn theo hướng vì đoàn viên và người lao động; chủ động phát huy vai trò của tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật Giúp cho tổ chức công đoàn thực tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, nhất là chăm lo đời sống, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động

Trang 12

Chương 1: Cơ sở pháp lý về hoạt động của tổ chức công đoàn

1.1 Công đoàn Việt Nam trong mối liên hệ với ILO

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) được thành lập năm 1919, khi thành lập ILO chỉ có 45 nước tham gia Đến nay, ILO đã có 183 quốc gia thành viên ILO được thành lập trên cơ sở ba mục tiêu cơ bản là mục tiêu nhân đạo (cải thiện điều kiện làm việc của người lao động); mục tiêu chính trị (đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ các quyền lao động và quyền con người sẽ tạo bình ổn xã hội); và mục tiêu kinh tế Để thực hiện các mục tiêu trên, ILO xây dựng các tiêu chuẩn lao động quốc

tế thông qua hình thức các Công ước và Khuyến nghị trong đó quy định các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền của người lao động, ví dụ: quyền tự do thương hội, quyền được tổ chức và đàm phán tập thể, quyền xoá bỏ lao động cưỡng bức, không bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc và trong việc làm vv…

Năm 1982 Việt Nam tham gia ILO, sau đó vì một số lý do kỹ thuật Việt Nam rút khỏi ILO Năm 1992, Việt Nam tái gia nhập ILO và tính đến nay Việt Nam đã phê chuẩn 18 Công ước trong tổng số 188 Công ước của ILO So với một số quốc gia trong khu vực, số lượng Công ước đã phê chuẩn của Việt Nam ở mức trung bình Việt Nam đã thông qua 5 Công ước cơ bản trong số 8 Công ước của ILO liên quan đến việc xoá bỏ lao động cưỡng bức, xoá bỏ lao động trẻ em và xoá bỏ việc phân biệt đối xử tại nơi làm việc, đó là: Công ước số 29 về xóa bỏ lao động cưỡng bức, được phê chuẩn ngày 5/3/2007; Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ, được phê chuẩn ngày 7/10/1997; Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử trong công việc, được phê chuẩn ngày 7/10/1997; Công ước

số 138 về độ tuổi tối thiểu được nhận vào làm việc, được phê chuẩn ngày 24/6/2003; Công ước số 182 về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, được phê chuẩn ngày 19/12/2000 Các thành viên ILO đã phê chuẩn công ước có nghĩa vụ báo cáo và kết hợp áp dụng với hệ thống pháp luật trong nước, kết hợp áp dụng với các điều khoản thực thi nghĩa vụ quy định trong Công ước đã phê chuẩn

Ở Việt Nam, nội dung của các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản (CILS) về lao động cưỡng bức, lao động trẻ em và chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc đã

có sự chuyển hoá vào hệ thống pháp luật Việt Nam CILS gồm có 4 tiêu chuẩn, cụ thể như sau:

Tiêu chuẩn thứ nhất: tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể, dựa trên

các tiêu chí quy định tại Công ước số 87 và Công ước số 98 Với các quyền cơ bản

Trang 13

như: Quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình (bên phía người lao động thường được gọi là quyền công đoàn); Quyền tự đề ra điều lệ

và quy chế của tổ chức; tự bầu ra người đại diện cho tổ chức và đề ra chương trình hành động của tổ chức; Quyền được bảo vệ để chống lại việc đình chỉ hoặc giải tán

tổ chức của mình bởi cơ quan hành chính (không thể bị bất cứ một cơ quan hành chính nào buộc phải giải tán hoặc đình chỉ); Quyền liên kết các tổ chức của NLĐ và NSDLĐ có quyền gia nhập hoặc trở thành hội viên của các liên đoàn, tổng liên đoàn

và công đoàn quốc tế

Tiêu chuẩn thứ hai: xóa bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức và lao động

bắt buộc, dựa trên các tiêu chí quy định tại Công ước số 29 và công ước số 105

Tiêu chuẩn thứ ba: xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, dựa trên

các tiêu chí quy định tại Công ước số 138 và Công ước số 182

Tiêu chuẩn thứ tư: xóa bỏ phân biệt đối xử trong công việc, dựa trên các tiêu

chí quy định tại Công ước số 100, Công ước số 111

Qua nghiên cứu, so sánh 4 nhóm tiêu chuẩn lao động trên với pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam, cho thấy có một số yêu cầu về tiêu chuẩn tự

do hiệp hội theo tiêu chuẩn lao động quốc tế mà Việt Nam chưa đáp ứng được:

Một là, chưa đáp ứng được quyền tự do tổ chức và gia nhập các tổ chức của

người lao động, mặc dù Bộ luật Lao động đã cho phép NLĐ và NSDLĐ có quyền thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn quy định Công đoàn Việt Nam có hệ thống tổ chức 4 cấp từ trung ương đến cấp cơ sở là đại diện duy nhất của người lao động trong quan hệ lao động

Hai là, chưa đáp ứng được quyền hưởng sự bảo vệ thích đáng trước mọi

hành vi phân biệt đối xử chống lại công đoàn trong việc làm của họ, nhất là về tài chính công đoàn Luật Công đoàn Việt Nam quy định chủ sử dụng lao động phải đóng kinh phí công đoàn 2%, dù doanh nghiệp đó đã thành lập hay chưa thành lập công đoàn cơ sở

Ba là, chưa đáp ứng hoàn toàn quyền đình công của người lao động Pháp

luật lao động quy định rộng về danh mục doanh nghiệp không được đình công (có thể làm hạn chế quyền đình công của người lao động); không cho phép đình công ngoài phạm vi doanh nghiệp (vi phạm quyền liên kết của các tổ chức của người lao động và quyền tổ chức, thương lượng tập thể)

Trang 14

Như vậy, điểm chưa tương thích mấu chốt của Việt Nam so với tiêu chuẩn lao động quốc tế là người lao động có quyền tự do thành lập và gia nhập tổ chức khác ngoài công đoàn theo hệ thống Công đoàn Việt Nam hiện nay

1.2 Cơ sở pháp lý về hoạt động của tổ chức công đoàn

1.2.1 Khái niệm về Công đoàn

Hiến pháp là đạo luật quy định những điều căn bản, cốt lõi nhất về chế tổ chức quyền lực nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, quyền con người, quyền công dân, v.v của một nước Tùy vào điều kiện, đặc điểm mỗi quốc gia, trong mỗi giai đoạn mà có những vấn đề cốt lõi khác nhau được quy định trong Hiến pháp Song bao trùm nhất đó là vấn đề tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, vấn đề xác định và phân phối lợi ích xã hội

Tham khảo Hiến pháp của một số nước cho thấy, do đặc điểm và điều kiện chinh trị, kinh tế – xã hội khác nhau nên Hiến pháp các nước trên thế giới quy định

về công đoàn cũng khác nhau Do có sự đặc thù khác nhau, cũng có nhiều nước không có các quy định hoặc chỉ quy định ở mức tổng quát, như Hiến pháp nước Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Úc, Cộng hòa Nam Phi hoặc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Tuy nhiên, phần lớn các nước, nhất là các nước có quan hệ lao động phát triển, thường quy định về ba quyền cốt lõi liên quan đến hoạt động công đoàn, nhưng dành cho người lao động, đó là: quyền công đoàn, quyền tổ chức, quyền thương lượng tập thể và hành động tập thể – chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và được coi là những quyền tự thân, tự nhiên vốn có của người con người, của người lao động Trong đó, quyền công đoàn, quyền tổ chức là cơ sở, quyền thương lượng tập thể và hành động tập thể là công cụ tạo sức mạnh để người lao động bảo đảm quyền lợi của mình; không những thế, nó còn là công cụ quan trọng nhất để người lao động nâng cao quyền lợi của mình Đây cũng chính là tinh thần chủ yếu được nêu trong những công ước cơ bản của Tổ chức Lao động quốc tế, như: Công ước số 87 và 98 về tự do hội đoàn, quyền tổ chức và thương lượng tập thể. 3

Cũng như hầu hết các nước trên toàn thế giới, hoạt động công đoàn ở Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn là trong xã hội Việt Nam, tổ chức công đoàn không chỉ là một tổ chức xã hội - quần chúng thông thường mà còn là một tổ chức chính trị - xã hội Công đoàn có một vị trí quan

3 Báo cáo nghiên cứu “So sánh quy định Hiến pháp của một số quốc gia về quyền công dân trong lĩnh vực lao động và công đoàn” của Viện Công nhân - Công đoàn

Trang 15

trọng trong xã hội, không chỉ đại diện cho lực lượng tự mình (bản thân tổ chức công đoàn, bản thân đoàn viên) mà còn bảo vệ lợi ích cho người lao động cũng như đại diện cho người lao động tham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội Vì vậy, Hiến pháp năm 2013, Luật Công Đoàn năm 2012, Bộ Luật lao động năm 2012 và các văn bản khác của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận và khẳng định địa

vị pháp lý, vai trò của tổ chức và hoạt động công đoàn ở Việt Nam

Theo Hiến pháp 2013 “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của

giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”4

Luật Công đoàn 2012 quy định “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng

lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” 5

Từ các khái niệm trên cho thấy, Công đoàn là tổ chức đoàn thể; là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ công nhân, viên chức, lao động; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động Công đoàn kết nạp đông đảo NLĐ vào công đoàn không phân biệt nghề nghiệp, thành phần, tín ngưỡng; cán bộ CĐ trưởng thành từ phong trào công nhân

và hoạt động CĐ; nội dung hoạt động đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của đông đảo người lao động; cơ quan lãnh đạo của công đoàn các cấp do đoàn viên bầu ra, đại diện cho tiếng nói của đoàn viên và NLĐ

Trang 16

Công đoàn Việt Nam là tổ chức Công đoàn thống nhất và duy nhất ở Việt Nam, tổ chức theo địa giới hành chính lãnh thổ là các Liên đoàn Lao động địa phương và theo ngành nghề là các Công đoàn ngành, Công đoàn Tổng Công ty Công đoàn Việt Nam được tổ chức theo 4 cấp cơ bản sau:

1 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

2 Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là LĐLĐ tỉnh, thành phố); Công đoàn ngành trung ương, Công đoàn Tổng Công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn

3 Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở

4 Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn

1.2.2 Vai trò chung của tổ chức công đoàn

Địa vị pháp lý cũng như vai trò của tổ chức công đoàn được ghi nhận và khẳng định trong Hiến pháp, Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn và nhiều văn bản pháp luật quan trọng khác Theo đó, công đoàn có các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm:

“Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; Tham

gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; Tham dự phiên họp, cuộc họp, kỳ họp, hội nghị; Tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát; Tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động; Phát triển đoàn viên công đoàn, công đoàn cơ sở”.6

1.2.2.1 Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động

Bảo vệ quyền lợi cho NLĐ là chức năng và là nhiệm vụ trung tâm của hoạt động công đoàn Trong thực tiễn quan hệ lao động, để thực hiện nhiệm vụ này thì tổ chức công đoàn phải đóng vai trò là người đại diện (tức là người thay mặt) cho người lao động Vai trò đại diện của tổ chức công đoàn, vai trò thay mặt cho người lao động được thể hiện ở các mặt như: tổ chức NLĐ; đối thoại, thương lượng; đề xuất ý kiến; tham gia bàn bạc và tham gia quyết định; kiểm tra, giám sát; tổ chức đình công; khiếu nại, tố cáo hoặc tham gia các hoạt động tố tụng tại tòa án Ở đây cũng cần nhấn mạnh thêm, các hoạt động này không chỉ vì tự thân tổ chức công đoàn mà với danh nghĩa vì quyền lợi cho người mà mình đại diện (đoàn viên và người lao động) Khi thực hiện các quyền, trách nhiệm này, tổ chức công đoàn nhân danh và thay mặt cho NLĐ để tiến hành

6

Điều 1 và Chương II Luật Công đoàn 2012

Trang 17

1.2.2.2 Tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; Tham dự phiên họp, cuộc họp, kỳ họp, hội nghị; Tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát

- Công đoàn đại diện người lao động tham gia với Nhà nước xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chính sách, cơ chế quản lý kinh

tế, chủ trương, chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động Cụ thể như:

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có quyền tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng pháp luật, chính sách, chế độ liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động; trình dự án Luật, dự án Pháp lệnh ra trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có quyền tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn đến những vấn đề liên quan trực tiếp tới quyền, nghĩa

vụ, lợi ích của người lao động7

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, công đoàn các cấp tham gia với các cơ quan nhà nước và đại diện của người sử dụng lao động bàn bạc, giải quyết các vấn

xử lý kỷ luật lao động

- Công đoàn thay mặt cho người lao động để thực hiện kiểm tra, giám sát, phát hiện và đề nghị xử lý, khắc phục những hành vi vi phạm quyền lợi của người

7 Điều 11, Điều 12, Điều 13 Luật Công đoàn 2012

8 Khoản 4 Điều 188 Bộ luật Lao động 2012

9 Điều 135 Bộ luật Lao động 2012

10

Điều 91 Bộ luật Lao động 2012

Trang 18

lao động: Tự mình hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước, công đoàn cấp trên để thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp từ tuyển dụng, sử dụng, chấm dứt hợp đồng lao động, trả lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, vệ sinh lao động, xử lý kỷ luật, chế độ phúc lợi ; Khi xác định có hành vi vi phạm, CĐCS có thể tự mình hoặc đề nghị cơ quan nhà nước, CĐ cấp trên có biện pháp yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng quy định và khắc phục những hành vi vi phạm liên quan đến quyền lợi của NLĐ

1.2.2.3 Tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động

Tuyên truyền, giáo dục người lao động là một trong 3 chức năng cơ bản của

tổ chức Công đoàn Việt Nam, đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, quy định về địa vị pháp lý, vai trò, chức năng của tổ chức Công đoàn Việt Nam, trong đó có chức năng tuyên truyền, giáo dục luôn được giữ vững và sửa đổi, phát triển cho phù hợp với từng thời kỳ của đất nước

Công tác tuyên truyền,giáo dục người lao động của tổ chức công đoàn luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của đất nước, của ngành, địa phương, thực tiễn phong trào CNVCLĐ, hoạt động công đoàn, xây dựng nội dung, lựa chọn các hình thức tuyên truyền, vận động, giáo dục phù hợp, hiệu quả Nội dung công tác tuyên truyền, giáo dục NLĐ của tổ chức công đoàn chủ yếu tập trung vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là chủ trương, chính sách liên quan đến đoàn viên công đoàn, NLĐ; vai trò, vị trí của tổ chức Công đoàn Việt Nam; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để người lao động nắm được quyền, nghĩa vụ để mọi người sống và làm việc theo pháp luật; Tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của đoàn viên, người lao động; Tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng người công nhân phát triển toàn diện;

Tổ chức xây dựng và phát triển đời sống văn hóa tinh thần cho đoàn viên, người lao động11

1.2.2.4 Phát triển đoàn viên công đoàn, công đoàn cơ sở

Đoàn viên công đoàn và CĐCS tạo nên sức mạnh tập thể của tổ chức công đoàn Các hoạt động công đoàn đều có mục đích lấy đoàn viên, người lao động và công đoàn cơ sở làm nền tảng hoạt động Do vậy, phát triển đoàn viên và công đoàn

11

Điều 15 Luật Công đoàn 2012

Trang 19

cơ sở là nhiệm vụ quan trọng của tổ chức Công đoàn Việt Nam nói chung và trực tiếp là của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở và của công đoàn cơ sở Đây còn là quyền, trách nhiệm được pháp luật ghi nhận và quy định cho tổ chức Công đoàn:

“Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có quyền, trách nhiệm cử cán bộ công đoàn đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người lao động thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn”12

Mục tiêu tập hợp đông đảo công nhân, viên chức, lao động vào tổ chức Công đoàn nhằm chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; đẩy mạnh phát triển tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp; nâng cao nhận thức của NLĐ và NSDLĐ về vai trò của tổ chức công đoàn; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn; góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ

1.2.3 Vai trò của Công đoàn trong quan hệ lao động trong khu vực kinh tế dân doanh

Khu vực kinh tế dân doanh là những doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước

vàdoanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm: công ty

cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể Các doanh nghiệp này tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tổ chức công đoàn có vai trò điều hoà và ổn định quan hệ lao động xã hội, đây là vai trò không một tổ chức nào khác có thể thay thế Bởi vì, công đoàn là đại diện một bên của quan hệ lao động, thiếu công đoàn không thể tạo thành QHLĐ hoàn chỉnh Vai trò

cụ thể của công đoàn trong quan hệ lao động tập trung vào việc nhấn mạnh vai trò của công đoàn trong đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể, tham gia giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức và lãnh đạo đình công với hướng trọng tâm là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động

1.2.3.1 Đối thoại, thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập thể

Đối thoại - thương lượng phải được diễn ra liên tục, năng động giữa các bên trong quan hệ lao động nhằm giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh hàng ngày giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc giữa các tổ chức đại diện của

12

Điều 16 Luật Công đoàn 2012

Trang 20

họ Vì vậy, nó cũng đòi hỏi cao hơn vai trò, trách nhiệm của công đoàn trong vấn đề nâng cao hiệu quả đối thoại - thương lượng tại doanh nghiệp:

- Công đoàn cơ sở là một bên không thể thiếu được trong toàn bộ quá trình đối thoại tại nơi làm việc13; là người có quyền, trách nhiệm yêu cầu người sử dụng lao động thương lượng tập thể14 Đồng thời công đoàn cơ sở là chủ thể đại diện tập thể lao động tại doanh nghiệp để tiến hành thương lượng tập thể và ký kết thỏa ước lao động tập thể với người sử dụng lao động15

- Trong toàn bộ quá trình thương lượng tập thể, TƯLĐTT thì CĐCS là người đại diện tập thể lao động, thay mặt tập thể lao động để thực hiện toàn bộ quá trình

và các hoạt động thương lượng

1.2.3.2 Tham gia giải quyết tranh chấp lao động

Công đoàn cơ sở đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp, đặc biệt là TCLĐ tập thể về quyền và về lợi ích:

- Công đoàn cơ sở có quyền, trách nhiệm tham gia toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp lao động16

- Trong giải quyết TCLĐ tập thể thì CĐCS là người đại diện cho tập thể lao động, cùng với người lao động, đứng ra để thực hiện, tham gia thực hiện các trình

tự, thủ tục giải quyết tranh chấp với người sử dụng lao động và các cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền

1.2.3.3 Tổ chức và lãnh đạo đình công

Công đoàn là người tổ chức, lãnh đạo đình công: “Ở nơi có tổ chức công đoàn

cơ sở thì đình công phải do Ban chấp hành công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo Ở

nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức công đoàn cấp trên tổ

chức và lãnh đạo theo đề nghị của người lao động” 17

Công đoàn là người lập phương án đình công, lấy ý kiến người lao động về phương án đình công, tổ chức cho người lao động đình công18 Công đoàn tham gia giải quyết các cuộc đình công không đúng trình tự, thủ tục, tham gia giải quyết xét tính hợp pháp của cuộc đình công19

13 Khoản 2 Điều 63 Bộ luật Lao động 2012

14 Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Lao động 2012

15

Khoản 1 Điều 69, Khoản 1 Điều 74 Bộ luật Lao động 2012

16 Khoản 4 Điều 194 Bộ luật Lao động 2012

17 Điều 210 Bộ luật Lao động 2012

18 Điều 212, Điều 213, Điều 214 Bộ luật Lao động 2012

19

Điều 222, Điều 227, Điều 234 Bộ luật Lao động 2012

Trang 21

1.2.3.4 Tham gia xây dựng thang bảng lương, định mức lao động, phương án

sử dụng lao động, bảo hộ lao động và xử lý kỷ luật lao động; Đại diện cho người lao động tham gia tố tụng, tại tòa án

Theo quy định, khi xây dựng thang bảng lương – thưởng, định mức lao động, phương án sử dụng lao động, kế hoạch bảo hộ lao động thì người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở20

Bên cạnh đó, việc xây dựng nội quy lao động, tiến hành kỷ luật người lao động, áp dụng biện pháp tạm ngừng việc thì người sử dụng lao động cũng phải tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở21

Ngoài ra, Công đoàn còn là người tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động và người lao động22

1.2.3.5 Vai trò đại diện cho người lao động nơi chưa thành lập công đoàn

Đây là một trong những điểm mới của Luật Công đoàn 2012 và Bộ luật Lao

động 2012 Theo quy định “Ở doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở thì

công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có quyền, trách nhiệm đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động khi được người lao động ở đó yêu cầu”23, trừ một ba trường hợp:

- Gặp người sử dụng lao động để đối thoại, trao đổi, thương lượng về những vấn đề lao động và sử dụng lao động24;

- Đến các nơi làm việc để gặp gỡ người lao động trong phạm vi trách nhiệm

20 Điều 93, Điều 103, Khoản 3 Điều 44, Điều 44, Điều 45, khoản 2 Điều 46, Khoản 1 Điều 138 BLLĐ

21 Khoản 1, Khoản 3 Điều 119; Khoản 3 Điều 121, Khoản 1 Điều 123, Khoản 1 Điều 129 BLLĐ 2012 22

Điều 10 Luật Công đoàn 2012

23 Điều 17 Luật Công đoàn 2012.

24 Khoản 1 Điều 191 Bộ luật Lao động 2012.

25 Khoản 2 Điều 191 Bộ luật Lao động 2012.

26

Khoản 2 Điều 16 Luật Công đoàn 2012

Trang 22

1.3 Mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động với tổ chức công đoàn

1.3.1 Vai trò của quan hệ ba bên

Quan hệ ba bên là quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ trong quan hệ lao động, thông qua các đại diện của mình Sự tham gia của Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ hình thành nên mối liên hệ ba bên của quan hệ lao động Mối liên hệ ba bên này sẽ đảm bảo tăng cường khả năng đối thoại trong lao động, hỗ trợ và tăng cường hiệu quả của quản lý lao động, giúp ổn định quan hệ lao động, tăng cường chia sẻ gánh nặng và các khó khăn, kiềm chế xung đột và nhanh chóng giải quyết tranh chấp Vai trò này được thể hiện rõ trong các quy định của Pháp luật:

1.3.1.1 Vai trò của Nhà nước (Chính phủ) trong quan hệ ba bên

Chính phủ: đại diện cho Nhà nước “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để

tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động; Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định”27 Chính phủ có vai trò như là người đại diện cho Nhà nước điều hành trực tiếp mọi mặt hoạt động, trong đó có lao động

và xã hội

Theo BLLĐ 2012 "Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động

trong phạm vi cả nước; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lao động Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong quản lý nhà nước về lao động; Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình"28 Là cơ quan quản lý chuyên môn về các vấn đề lao động và xã hội,

BLĐTBXH đại diện cho Chính phủ thực hiện các chức năng do Chính phủ quy định BLĐTBXH thay mặt cho Chính phủ làm việc trực tiếp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam để giải quyết những vấn đề chung về quan hệ lao động, thay mặt cho Chính phủ quan hệ với ILO và với các tổ chức quốc tế khác

Chính phủ tham gia vào quan hệ ba bên chủ yếu ở cấp quốc gia trong mối quan hệ tương tác bình đẳng với đại diện người sử dụng lao động và đại diện người

Trang 23

lao động để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng Nhà nước là chủ thể duy nhất có chức năng ban hành và thực thi pháp luật lao động, lúc này Chính phủ tách

ra khỏi quan hệ lao động để thực hiện chức năng hành pháp và điều hòa lợi ích các bên, tham gia xử lý xung đột, tranh chấp lao động

Ở cấp ngành và doanh nghiệp vai trò của Chính phủ không tham gia can thiệp trực tiếp vào quan hệ hai bên giữa người lao động (đại diện NLĐ) và người sử dụng lao động (đại diện NSDLĐ) Tuy nhiên, sự tham gia của Chính phủ, nhất là chính quyền địa phương, cơ sở tập trung vào các nhiệm vụ như: Giúp hai bên cấp ngành và doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật về QHLĐ; Tiếp cận thông tin phản hồi từ ngành, doanh nghiệp về những bất hợp lý, những phát sinh mới về quan hệ lao động để tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về quan hệ lao động; Thực hiện thanh tra, kiểm tra và giám sát,

xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về quan hệ lao động; Tham gia giải quyết tranh chấp lao động thông qua cơ quan tài phán (trọng tài, tòa án lao động) và can thiệp trực tiếp để giải quyết đình công theo đúng quy định của pháp luật

1.3.1.2 Vai trò của công đoàn ( đại diện cho NLĐ) trong quan hệ ba bên

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là tổ chức đại diện cho NLĐ "Công

đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động tham gia cùng với cơ quan nhà nước

hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động"29 Vị trí pháp lý của công đoàn trong lĩnh

vực lao động và xã hội đã được cụ thể hoá trong Luật công đoàn 2012

Công đoàn Việt Nam là tổ chức công đoàn thống nhất và duy nhất ở Việt Nam Công đoàn đóng vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động

Công đoàn là cầu nối NLĐ với NSDLĐ và Nhà nước; cùng đại diện của Nhà nước và NSDLĐ quyết định hoặc cùng đại diện của NSDLĐ tư vấn cho Nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật lao động, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Phối hợp với hai “đối tác xã hội” còn lại của cơ chế ba bên tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và giải quyết các vấn đề phát sinh từ quá trình tổ chức thực hiện này, bao gồm cả việc giải quyết TCLĐ và đình

29

Khoản 2 Điều 7 Bộ luật Lao động 2012

Trang 24

công; cùng đại diện người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hai bên lành mạnh, môi trường lao động hài hoà, ổn định

Thực hiện tốt vai trò đại diện CNVCLĐ tham gia quan hệ lao động, thúc đẩy

sự phát triển và ổn định xã hội Công đoàn chủ động phối hợp với NSDLĐ thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể; tích cực giải quyết mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên để phòng ngừa, giảm thiểu các TCLĐ; xây dựng cơ chế phối hợp với các cơ quan Nhà nước, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam (cơ chế ba bên) nhằm thúc đẩy việc hoàn thành nhiệm

vụ của mỗi bên, chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động

Hiện nay, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có 63 LĐLĐ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 20 CĐ ngành Trung ương, CĐ Tổng công ty trực thuộc; 710 LĐLĐ quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; 631 CĐ giáo dục huyện; 364

CĐ ngành địa phương; và 125.561 CĐCS với 9.636.417 đoàn viên Trong đó, có 80.971 CĐCS trong khu vực Nhà nước (cơ quan hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước) với 4.069.037 đoàn viên và 44.590 CĐCS khu vực ngoài Nhà nước, với 5.567.380 đoàn viên30

Với hệ thống tổ chức của mình, công đoàn đã thể hiện được vị trí độc lập về

tổ chức và bình đẳng với các tổ chức khác trong quan hệ ba bên, không chỉ ở cấp trung ương, tỉnh, thành phố, ngành, mà quan trọng và trực tiếp hơn là ở đơn vị cơ

sở, doanh nghiệp, trong đó công đoàn là tổ chức độc lập với bộ máy quản lý doanh nghiệp, với giới chủ

Năng lực tham gia các hoạt động quan hệ ba bên của công đoàn hiện nay được thực hiện khá tích cực, từ việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật cho đến việc tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát thực hiện các chính sách, pháp luật

Cụ thể: Công đoàn tham gia hoạch định, xây dựng chính sách, pháp luật; tổ chức công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật; truyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho người lao động; tham gia phê chuẩn Công ước quốc tế; xây dựng, thương lượng, ký kết TƯLĐTT và giám sát việc ký kết hợp đồng lao động; tham gia giải quyết TCLĐ; tổ chức đình công

30

Số liệu của Ban Tổ chức, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tháng 7 năm 2016

Trang 25

1.3.1.3 Vai trò của người sử dụng lao động (đại diện NSDLĐ) trong quan hệ

ba bên

Tổ chức đại diện giới sử dụng lao động Ở Việt Nam hiện nay có hai tổ chức cùng giữ vai trò làm đại diện cho giới sử dụng lao động để bảo vệ quyền lợi cho họ khi tham gia vào cơ chế ba bên, đó là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt

Nam; Liên minh các hợp tác xã Việt Nam

Cũng như các tổ chức đại diện cho NLĐ, các tổ chức đại diện của NSDLĐ

có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa Với vai trò là người đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích cho người sử dụng lao động, sự tham gia của tổ chức này trong các hoạt động đối thoại xã hội của cơ chế hai bên, ba bên sẽ góp phần ngăn ngừa và giải quyết các xung đột, bất đồng trong quan hệ lao động, tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung, các ngành, nghề

và doanh nghiệp nói riêng

Các tổ chức đại diện NSDLĐ còn có vai trò quan trọng trong việc xúc tiến thương mại, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh phát triển Vai trò này được khẳng định

từ các mục tiêu của tổ chức, được thúc đẩy bởi các chiến lược, tầm nhìn và hành động cụ thể của các tổ chức đó

Người sử dụng lao động (đại diện NSDLĐ) tham gia trực tiếp một bên trong quan hệ hai bên ở cấp doanh nghiệp, cấp ngành trong việc đối thoại, thương lượng, thỏa thuận và tự định đoạt về các quan hệ mà hai bên cùng quan tâm theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai cùng có lợi; cùng công đoàn tổ chức đàm phán,

ký kết thỏa ước lao động tập thể cấp ngành, cấp doanh nghiệp; hợp tác với các bên trong thỏa thuận về các vấn đề quan hệ lao động còn đang tranh chấp để giảm thiểu tranh chấp và đình công Khi có đình công, người sử dụng lao động có trách nhiệm hợp tác, tiến hành đàm phán thỏa thuận để đạt được sự thống nhất nhằm chấm dứt đình công và giải quyết hậu quả của đình công theo quy định của pháp luật

1.3.2 Trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước và người sử dụng lao động đối với Công đoàn

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,

chính đáng của NLĐ “Quan hệ giữa Công đoàn với Nhà nước, cơ quan, tổ chức,

doanh nghiệp là quan hệ hợp tác, phối hợp để thực hiện chức năng, quyền, trách nhiệm của các bên theo quy định của pháp luật,góp phần xây dựng quan hệ lao

Trang 26

động hài hoà, ổn định và tiến bộ”.31 Do vậy, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và hoạt động công đoàn

Nhà nước có trách nhiệm “bảo đảm, hỗ trợ, tạo điều kiện về mặt pháp lý

cũng như vật chất cho Công đoàn thực hiện chức năng, quyền, trách nhiệm theo quy định của pháp luật”.32

Về nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với tổ chức và hoạt động công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp:

- Thừa nhận và tạo điều kiện cho công đoàn cơ sở thực hiện quyền, trách nhiệm theo quy định của pháp luật33

- Phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho Công đoàn cấp trên cơ sở tuyên truyền, vận động phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở; bố trí cán bộ công đoàn chuyên trách tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp34

- Bảo đảm và tăng thời gian hoạt động công đoàn (hưởng nguyên lương) cho cán bộ công đoàn không chuyên trách35

- Vấn đề gia hạn hợp đồng lao động cũng nhưng việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, áp dụng các hình thức xử lý sa thải, buộc thôi việc đối với cán

bộ công đoàn cơ sở không chuyên trách: Khi NLĐ là cán bộ CĐ không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ36; Đơn vị sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, sa thải, buộc thôi việc hoặc thuyên chuyển công tác đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách nếu không có ý kiến thỏa thuận bằng văn bản của Ban chấp hành công đoàn

cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở37

- Đóng kinh phí công đoàn: mọi loại hình doanh nghiệp, không phân biệt đã

thành lập công đoàn cơ sở hay chưa, đều có nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn Mức đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động38 Khác với trước đây, các doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở và

31 Điều 20 Luật Công đoàn 2012

32 Điều 21 Luật Công đoàn 2012

33 Khoản 4 Điều 22 Luật Công đoàn 2012

34

Khoản 2 Điều 192 Bộ luật Lao động 2012

35 Khoản 2 Điều 193 Bộ luật Lao động 2012 và Khoản 2, Khoản 3 Điều 24 Luật Công đoàn 2012

36 Khoản 1 Điều 25 Luật Công đoàn 2012, Khoản 6 Điều 192 Bộ luật Lao động 2012

37 Khoản 2 Điều 25 Luật Công đoàn 2012 và Khoản 7 Điều 192 Bộ luật Lao động 2012

38

Khoản 2 Điều 26 Luật Công đoàn 2012

Trang 27

doanh nghiệp FDI không đóng kinh phí công đoàn

- Trao đổi, cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin liên quan đến tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật khi Công đoàn đề nghị39

- Phối hợp với công đoàn cùng cấp xây dựng, ban hành và thực hiện quy chế phối hợp hoạt động;đối thoại, thương lượng, ký kết, thực hiện thỏa ước lao động tập thể và quy chế dân chủ cơ sở40

Tiểu kết luận Chương 1

Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về hoạt động của tổ chức công đoàn

ta có thể thấy được Công đoàn Việt Nam là thành viên trong hệ thống chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là tổ chức chính trị - xã hội có các chức năng, nhiệm vụ quan trọng Với những quy định mới của Hiến pháp 2013 và Luật Công đoàn 2012, vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn Việt Nam tiếp tục được khẳng định, đồng thời được sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới

Trong công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, người lao động trong khu vực kinh tế dân doanh ngày càng trở thành lực lượng quan trọng Chính vì vậy, Công đoàn - tổ chức đại diện cho người lao động, ngày càng có vai trò quan trọng, không thể thiếu trong quan hệ lao động; bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội hài hòa, ổn định, tiến bộ trong quan hệ lao động

Để đảm bảo thực hiện tốt hoạt động của tổ chức Công đoàn tại khu vực kinh

tế dân doanh, cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, có tính khả thi; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia; xây dựng được hệ thống các thiết chế để đảm bảo thực hiện pháp luật về công đoàn, đảm bảo tổ chức Công đoàn thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình

Trang 28

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh tại Cà Mau

2.1 Tình hình về khu vực kinh tế dân doanh và hoạt động tổ chức công đoàn tại Cà Mau

Trong những năm qua, doanh nghiệp trong tỉnh Cà Mau phát triển khá mạnh

về số lượng và quy mô Tính đến tháng 12 năm 2015, tỉnh Cà Mau có 4.337 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký hơn 26.519 tỷ đồng và hơn 19.000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký hoạt động41 Trước đây, kinh tế tư nhân chỉ hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực thương mại – dịch vụ, thì nay đã mở rộng thêm nhiều loại hình mới như: sản xuất công nghiệp, xây dựng, vận tải, chế biến nông – lâm – thủy sản… Do đó, hiện nay khu vực kinh tế này chiếm số lượng lớn trong tổng số các đơn vị sản xuất kinh doanh của tỉnh và phân bổ gần như khắp các địa phương trong tỉnh Tiêu biểu có những doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu lên đến hàng chục, hàng trăm triệu USD, tỉnh Cà Mau có Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Minh Phú, Công ty Cổ phần Chế biến Thủy sản Xuất nhập khẩu Cà Mau (Camimex), Công ty Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cái Đôi Vàm, Cty TNHH Kinh doanh Chế biến Thủy sản Quốc Việt… đây là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, góp phần đưa mặt hàng thủy sản của Việt Nam cạnh tranh tốt tại các thị trường lớn của thế giới

Khu vực kinh tế dân doanh đóng vai trò ngày càng lớn đối với sự phát triển của tỉnh Cà Mau, so với thời điểm trước năm 2010, số lượng doanh nghiệp tư nhân

và cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cà Mau năm 2015 đã tăng gấp 3 lần42 Hiện nay hoạt động của khu vực kinh tế này đã góp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là huy động vốn cho đầu tư phát triển, mở rộng quy mô ngành nghề kinh doanh Lực lượng này đã và đang góp phần tích cực vào sự khởi sắc của nền kinh tế, giải quyết việc làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động và đóng góp một nguồn thu tương đối lớn cho ngân sách của tỉnh

Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế dân doanh trên địa bàn tỉnh Cà Mau phải đối mặt với các rào cản kỹ thuật và sự cạnh tranh gay gắt khi gia nhập vào thị trường thế giới Do những hạn chế trong việc áp dụng khoa học kỹ

41 Báo cáo tổng kết năm 2015 Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Cà Mau

42 So sánh số liệu Báo cáo tổng kết năm 2010 và 2015 của Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Cà Mau

Trang 29

thuật, doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, thiếu vốn đầu tư, thiết bị sản xuất chưa đồng bộ và hiện đại đã làm cản trở cho sự phát triển sản xuất của khu vực kinh tế dân doanh

Trong khu vực kinh tế dân doanh, tình trạng doanh nghiệp nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của NLĐ vẫn ở số lượng lớn, tính đến hết tháng 12/2015, còn 92 doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội từ 3 tháng trở lên, với tổng số tiền 40,07 tỷ đồng43; LĐLĐ tỉnh đã chủ động phối hợp với Bảo hiểm xã hội tỉnh giải quyết kịp thời những vướng mắc về việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho công nhân lao động tại một số doanh nghiệp thủy sản Ở một số doanh nghiệp, công nhân lao động vẫn phải làm việc trong môi trường chưa đảm bảo các điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của NLĐ Do một số doanh nghiệp gặp khó khăn phải thu hẹp sản xuất, tạm ngừng hoạt động, làm ảnh hưởng rất lớn tới việc làm của công nhân lao động; mức tiền lương của số đông CNVCLĐ chưa đáp ứng được mức sống hiện nay; đặc biệt, tình hình nhà ở cho CNVCLĐ thu nhập thấp còn nhiều khó khăn, bức xúc, phần lớn công nhân lao động phải tự thuê mướn nhà ở, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn

Để nâng cao năng lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế dân doanh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển nhanh hơn, các ngành chức năng cần tăng cường đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp bằng chính sách, cơ chế thích hợp như cho vay vốn ưu đãi; cung cấp thông tin thị trường, giúp doanh nghiệp tìm đầu ra cho sản phẩm … nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước Bên cạnh sự hỗ trợ từ nhà nước, bản thân các chủ doanh nghiệp phải năng động, sáng tạo và nâng cao kỹ năng điều hành, quản lý sản xuất kinh doanh thì khu vực kinh tế này mới phát triển đa dạng và mạnh mẽ hơn

Có thể nói, sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế dân doanh đã tạo

ra nhiều thời cơ cho sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà, tuy nhiên với sự đa dạng về loại hình cũng đã đặt ra những thách thức không nhỏ đối với tổ chức CĐ, nhất là vấn đề phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, thương lượng và ký kết TƯLĐTT, nhằm đại diện bảo vệ quyền và lợi ích cho NLĐ trong các doanh nghiệp

43 Báo cáo số 19/BC-LĐLĐ ngày 27/01/2016 của LĐLĐ tỉnh Cà Mau về Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Công đoàn tỉnh Cà Mau lần thứ IX trong nửa nhiệm kỳ 2013 – 2018

Trang 30

Trong những năm gần đây, hoạt động của CĐCS trong các doanh nghiệp đã

có nhiều chuyển biến tích cực Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của CĐ cấp trên cơ sở, các cấp công đoàn trong tỉnh Cà Mau tập trung chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho NLĐ, nắm bắt kịp thời những mâu thuẫn bức xúc phát sinh trong quan hệ lao động, phản ánh với chính quyền và người sử dụng lao động để tập trung giải quyết, kiến nghị với người sử dụng lao động thực hiện tốt các chính sách theo quy định của pháp luật như tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cải thiện điều kiện làm việc, thực hiện an toàn, vệ sinh lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Các CĐCS trong doanh nghiệp cũng đã tập trung hướng dẫn NLĐ ký kết hợp đồng lao động, tiến hành thương lượng và ký kết TƯLĐTT, phối hợp với NSDLĐ tiến hành Hội nghị NLĐ, Hội nghị đối thoại định kỳ theo quy định tại Nghị định 60/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại nơi làm việc trong các doanh nghiệp

Hàng năm đã có trên 60% doanh nghiệp có tổ chức CĐ tiến hành hội nghị người lao động, gần 50% ký kết được TƯLĐTT và thực hiện có hiệu quả44 Bên cạnh đó, các CĐ trong khu vực kinh tế dân doanh cũng tập trung tuyên truyền pháp luật cho NLĐ và NSDLĐ, bằng nhiều hình thức đa dạng và thiết thực, giúp người lao động nâng cao hiểu biết pháp luật, tuân thủ các quy định của nhà nước và của doanh nghiệp, nâng cao ý thức, tác phong, kỷ luật lao động cho NLĐ

Năm 2016, tình hình TCLĐ và ngừng việc tập thể trên địa bàn tỉnh tuy có xảy ra, nhưng số lượng không đáng kể (năm 2016 chỉ ra 02 vụ ngừng việc tập thể)45 Kết quả đó cho thấy công đoàn cơ sở có vai trò hết sức quan trọng tại các doanh nghiệp trong việc nắm bắt và phản ánh để giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quan hệ lao động Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trong hoạt động công đoàn thì một thực tế đặt ra là vai trò của CĐCS trong khu vực kinh tế dân doanh chưa tương xứng với kỳ vọng của người lao động và nhiệm vụ đặt ra trong tình hình hiện nay Việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho NLĐ để

họ hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các quan hệ lao động còn hạn chế Người lao động đa số vừa xuất thân từ nông nghiệp, chưa qua đào tạo nên ý thức, tác phong, kỷ luật lao động còn thấp kém, tay nghề chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, nhất là những công việc đòi hỏi kỹ thuật, chuyên môn

44 Báo cáo số 19/BC-LĐLĐ ngày 27/01/2016 của LĐLĐ tỉnh Cà Mau về Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Công đoàn tỉnh Cà Mau lần thứ IX trong nửa nhiệm kỳ 2013 – 2018

45

Số liệu của Ban Tổ chức LĐLĐ tỉnh Cà Mau, tháng 12 năm 2016

Trang 31

cao, đôi khi chỉ đòi hỏi quyền lợi một chiều mà quên trách nhiệm và nghĩa vụ đối với doanh nghiệp và xã hội

Việc tuyên truyền, vận động đối với NSDLĐ để họ hiểu đúng và ủng hộ cho hoạt động công đoàn của cán bộ CĐCS rất hạn chế Một bộ phận người sử dụng lao động chưa chấp hành tốt các chính sách, pháp luật, nhất là việc thực hiện các quy định về quy chế dân chủ cơ sở trong doanh nghiệp, trong việc ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thể, xác định định mức lao động, xây dựng thang bảng lương, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động ; chưa tạo điều kiện cho công đoàn và cán bộ CĐ hoạt động, chưa phối hợp chặt chẽ với tổ chức công đoàn trong việc tổ chức sản xuất, kinh doanh, trong việc tổ chức đối thoại, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ

Rất nhiều doanh nghiệp trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn năm 2012 và Nghị định 191/2013/NĐ-CP của Chính phủ Ở những doanh nghiệp này hoạt động công đoàn hết sức khó khăn do không có nguồn lực để thực hiện việc tổ chức phong trào, phụ cấp cán bộ công đoàn, thăm hỏi, trợ cấp, hội họp Có nơi việc thành lập và tổ chức hoạt động CĐCS còn mang tính hình thức, đối phó Cá biệt có công đoàn cơ sở bị tê liệt hoàn toàn, NLĐ không thiết tha gắn bó với công đoàn Năm 2016, CĐ cấp trên

cơ sở đã phải ra quyết định giải thể 15 công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp do hoạt động không hiệu quả, bị phá sản, ngừng hoạt động46 Việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của NLĐ, mạnh dạn đề xuất với NSDLĐ kịp thời giải quyết của cán bộ công đoàn nhiều nơi còn chưa kịp thời, dẫn đến tích tụ mâu thuẫn, phát sinh TCLĐ và đình công

2.2 Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh tại Cà Mau

2.2.1 Thực trạng các quy định về vai trò của tổ chức Công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh

Trong khu vực kinh tế dân doanh CĐCS thể hiện vai trò của mình thông qua việc đại diện tập thể lao động thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện TƯLĐTT; phối hợp với NSDLĐ hoặc đại diện NSDLĐ thực hiện quy chế dân chủ,

mở đại hội công nhân, viên chức, hội nghị người lao động; xây dựng, ký kết quy chế phối hợp hoạt động; hướng dẫn người lao động giao kết hợp đồng lao động Đại

46

Số liệu của Ban Tổ chức LĐLĐ tỉnh Cà Mau, tháng 12 năm 2016

Trang 32

diện cho tập thể lao động tham gia hội đồng hoà giải lao động cơ sở, giải quyết các tranh chấp lao động, thực hiện các quyền của công đoàn cơ sở, tổ chức và lãnh đạo đình công theo đúng quy định của pháp luật Ngoài ra, công đoàn cơ sở tổ chức việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật có liên quan đến quyền, nghĩa vụ người lao động và công đoàn; tham gia các hội đồng của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và điều lệ doanh nghiệp; xây dựng các nội quy, quy chế có liên quan đến quyền, lợi ích của NLĐ Tập hợp yêu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của người lao động; báo cáo, cung cấp thông tin và tổ chức đối thoại với người sử dụng lao động; phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức các phong trào thi đua, phát triển sản xuất kinh doanh chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với người lao động; vận động người lao động tham gia các hoạt động xã hội, hỗ trợ giúp đỡ nhau trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, đấu tranh ngăn chặn các tệ nạn xã hội Bên cạnh đó, công tác phát triển, quản lý đoàn viên; xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh, công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động người lao động thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn và nội quy, quy chế của doanh nghiệp cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của tổ chức CĐ

Tuy nhiên, vai trò của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế Cụ thể như sau:

2.2.1.1 Một số bất cập trong việc thực hiện quyền, trách nhiệm công đoàn

Hiện nay, trong Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn quy định chức năng, nhiệm vụ của công đoàn cơ sở rất nặng nề, trong khi đó lại chưa có cơ chế bảo đảm hoạt động và cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn cơ sở Vì vậy, hoạt động của cán bộ công đoàn cơ sở gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc Do đó, các quy định mới đang đặt ra cho công đoàn cấp trên cơ sở nhiều trách nhiệm hơn và đòi hỏi công đoàn cấp trên phải nỗ lực nhiều hơn trong công tác tổ chức người lao động, đại diện và hỗ trợ người lao động tại doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp chưa có tổ chức CĐCS

Một trong những nội dung mới đó là quyền, trách nhiệm của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở với nơi đang có công đoàn cơ sở và với nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở Những quy định này thực sự là những thách thức lớn đối với cả hệ thống công đoàn

Về mặt nguyên tắc, thẩm quyền – trách nhiệm của công đoàn không bao hàm nghĩa vụ công đoàn Tuy nhiên, việc thực thi một số quy định mới về vai trò công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở với nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở cũng phát sinh

Ngày đăng: 17/06/2018, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w