1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng dụng mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA) đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

116 287 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dài để có thể đưa ra những đánh giá nhất định về hiệu quả hoạt động; thứ hai, cho phép chọn được thêm nhiều biến đầu vào kết hợp với nhiều biến đầu ra, điều mà trước đây chỉ thực hiện bở

Trang 1

HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

_

TRẦN HOA NHÃ TRÚC

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU (DEA) ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số ngành : 60.340.201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HOÀNG ĐỨC

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan, nội dung và số liệu sử dụng để phân tích trong Luận văn này

là kết quả nghiên cứu độc lập của tác giả với sự giúp đỡ của Thầy hướng dẫn Số liệu trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy và kết quả nghiên cứu của Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2017

Tác giả

Trần Hoa Nhã Trúc

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài: 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 1

1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2

1.5 Phương pháp và mô hình nghiên cứu: 2

1.6 Kết cấu của luận văn: 2

1.7 Ý nghĩa của đề tài: 3

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU 6

2.1 Tổng quan về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại: 6

2.1.1 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: 6

2.1.2 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại: 7

2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM: 8

2.1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan 9

2.1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan: 11

2.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại: 12

2.2.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu tài chính: 12

Trang 5

2.2.1.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng: 12

2.2.1.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi: 14

2.2.1.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh: 15

2.2.2 Đánh giá hiệu quả bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên: 16

2.2.2.1 Phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA) - Tiếp cận tham số: 16

2.2.2.2 Phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) - Tiếp cận phi tham số: 17

2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại: 18

2.3.1 Khái niệm: 18

2.3.2 Mục tiêu của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại: 18

2.3.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại: 19

2.4 Phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA): 21

2.4.1 Giới thiệu tổng quát về mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA): 21

2.4.2 Các mô hình DEA: 24

2.4.2.1 Mô hình DEA với hiệu quả không đổi theo quy mô CRS: 24

2.4.2.2 Mô hình DEA với hiệu quả thay đổi theo quy mô VRS: 25

2.4.3 Các độ đo hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân bổ (AE) và hiệu quả chi phí (CE) hay hiệu quả kinh tế: 27

2.4.4 Chỉ số Malmquist và đo lường thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp: 29

2.5 Lược khảo các nghiên cứu liên quan: 30

2.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới: 30

2.5.2 Các nghiên cứu trong nước: 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 36

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 37

Trang 6

3.1 Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam:

37

3.1.1 Mạng lưới hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: 37

3.1.2 Năng lực tài chính: 37

3.1.3 Năng lực công nghệ: 39

3.1.4 Nguồn nhân lực: 40

3.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam: 40

3.2.1 Các hoạt động kinh doanh chính: 40

3.2.1.1 Hoạt động huy động vốn: 40

3.2.1.2 Hoạt động cấp tín dụng: 42

3.2.1.3 Hoạt động thanh toán: 42

3.2.2 Hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam: 43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 47

CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU (DEA) ĐỂ ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 48

4.1 Giới thiệu sơ lược về phương pháp nghiên cứu: 48

4.2 Quy trình nghiên cứu: 49

4.2.1 Chọn lựa các DMUs: 50

4.2.2 Chọn biến đầu vào và đầu ra: 51

4.2.3 Kiểm tra mối tương quan giữa các biến trong mô hình: 52

4.2.4 Áp dụng mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA): 54

4.3 Kết quả nghiên cứu: 56

4.3.1 Hiệu quả kỹ thuật mô hình DEACRS: 57

4.3.2 Hiệu quả kỹ thuật mô hình DEAVRS: 59

4.3.3 Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô: 63

Trang 7

4.3.4 Ước lượng năng suất nhân tố tổng hợp TFP: 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 72

CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM 73

5.1 Một số kết luận: 73

5.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam: 74

5.1.2 Đối với các NHTM: 74

5.1.2.1 Tăng hiệu quả quy mô: 74

5.1.2.2 Cải thiện hiệu quả kỹ thuật thuần: 76

5.2.2 Đối với NHNN: 79

5.2.2.1 NHNN cần đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM một cách toàn diện: 79

5.2.2.2 Dựa vào kết quả nghiên cứu về hiệu quả quy mô của toàn bộ hệ thống NHTM để có những chính sách hiệu quả: 80

5.3 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu trong tương lai: 80

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 82

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ tiếng Việt Viết đầy đủ tiếng Anh

CRS Sản lượng không đổi theo quy mô Constant returns to scale DEA Phân tích bao dữ liệu Data envelopment analysis DMU Đơn vị ra quyết định Decision making unit DRS Sản lượng giảm theo quy mô Decreasing returns to scale effch Thay đổi hiệu quả kỹ thuật Technical efficiency change HQHĐ Hiệu quả hoạt động

IRS Sản lượng tăng theo quy mô Increasing returns to scale

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

PE Hiệu quả kỹ thuật thuần Pure technical efficiency

pech Thay đổi hiệu quả thuần Pure technical efficiency

change

SE Hiệu quả quy mô Scale efficiency

sech Thay đổi hiệu quả quy mô Scale efficiency change

TC Thay đổi kỹ thuật Technical change

TE Hiệu quả kỹ thuật Technical efficiency

techch Thay đổi tiến bộ công nghệ Technological change

tfpch Thay đổi năng suất nhân tố tổng

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu của nước ngoài đánh giá HQHĐ của NHTM Bảng 2.2 Tóm tắt các nghiên cứu đánh giá HQHĐ của ngân hàng tại Việt Nam Bảng 3.1: Số lượng các NHTMVN từ 2009 – 2015

Bảng 3.2: Hệ thống phần mềm các NHTMVN áp dụng đến năm 2015

Bảng 3.3: Thống kê một số chỉ tiêu về nhân lực trong mẫu các NH nghiên cứu Bảng 3.4 Tình hình thanh toán qua NH giai đoạn 2009 – 2015

Bảng 3.5: Tình hình thu nhập của các NHTMVN trong mẫu nghiên cứu

Bảng 4.1: Danh sách các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu và mã hóa

Bảng 4.2: Tên biến, số lượng biến, khái niệm các biến

Bảng 4.3: Kiểm tra mối tương quan giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra

Bảng 4.4: Tóm tắt dữ liệu các biến trong mẫu nghiên cứu

Bảng 4.5: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô

Bảng 4.6: Hiệu quả kỹ thuật theo mô hình DEA CRS

Bảng 4.7: Hiệu quả kỹ thuật theo mô hình DEA VRS

Bảng 4.8: Hiệu quả kỹ thuật theo mô hình DEACRS

Bảng 4.9: Hiệu quả kỹ thuật theo mô hình DEAVRS

Bảng 4.10: Hiệu quả theo quy mô

Bảng 4.11: Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô

Bảng 4.12: Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô theo nhóm ngân hàng

Bảng 4.13: Số lượng các NHTM trong điều kiện IRS, DRS và CRS

Bảng 4.14: Giá trị tối ưu cho các biến số đầu vào của VAB và EIB năm 2015

Bảng 4.15: Chỉ số Malmquist bình quân toàn bộ mẫu

Bảng 4.16: Chỉ số Malmquist bình quân toàn bộ mẫu, phân loại theo hình thức sở hữu

Biểu đồ 3.1: Vốn huy động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 – 2015

Biều đồ 3.2: Dư nợ cho vay của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 – 2015

Biểu đồ 3.3: Khả năng sinh lợi trung bình của các NHTM Việt Nam trong mẫu nghiên cứu

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài:

Sau khủng khoảng tài chính toàn cầu năm 2008, hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt khi chính phủ đưa vấn đề tái cơ cấu

hệ thống ngân hàng là một trong ba trọng tâm hàng đầu Giai đoạn 2009 – 2015, mức độ đóng góp của hệ thống ngân hàng vào sự phát triển chung của nền kinh tế là

vô cùng to lớn, các NHTM không chỉ tiếp tục khẳng định là kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế mà còn góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, ngành ngân hàng cũng đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, đặc biệt là hiệu quả hoạt động và nợ xấu Để tiếp tục duy trì sự tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững, vai trò của năng suất trong hoạt động ngân hàng càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết

Trên thế giới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả hoạt động và các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động, trong đó, sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) để đánh giá hiệu quả hoạt động và ước lượng năng suất tổng hợp

Ở Việt Nam, cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này

sử dụng phân tích các chỉ số tài chính hay phân tích hồi quy để đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động Một số khác sử dụng phương pháp DEA theo hướng tiếp cận tham số dựa trên giả định các ngân hàng hoạt động trên cùng một nền tảng công nghệ và cùng đường biên hiệu quả

Trong thực tế, những giả định và phương pháp này là chưa phù hợp và nghiên cứu này được thực hiện để giải quyết điều đó Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Ứng dụng mô hình phân tích bao dữ liệu để đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam” để nghiên cứu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTMCP Việt Nam bằng mô hình phân tích bao dữ liệu

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM Việt

Trang 11

Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu:

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả nêu lên hai câu hỏi cần phải làm rõ:

Thứ nhất, hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam sẽ như thế nào nếu

sử dụng mô hình DEA?

Thứ hai, sau khi đánh giá thực trạng, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại các NHTMCP Việt Nam là gì?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: trong mô hình là hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009 đến 2015

Phạm vi nghiên cứu: do hạn chế về dữ liệu nên luận văn tập trung nghiên cứu hiệu quả hoạt động của 21 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009 -2015 Trên cơ sở

đó, tác giả chọn thêm 03 NHTM Nhà Nước để thực hiện đối chiếu hiệu quả hoạt động của hai nhóm ngân hàng trên

1.5 Phương pháp và mô hình nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng bằng phương pháp bao dữ liệu để đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam

Về phương pháp định tính: sử dụng phương pháp thống kê thông qua việc thu thập dữ liệu từ các báo cáo thường niên của NHNN và các NHTMCP ở Việt Nam thời kỳ 2009-2015, từ đó lập bảng biểu, vẽ biểu đồ để phân tích thực trạng HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam Đồng thời luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp,

so sánh để hệ thống lý thuyết về HQHĐ của NHTMCP và cách đánh giá HQHĐ bằng mô hình phân tích bao dữ liệu DEA

Về phương pháp định lượng: luận văn sử dụng mô hình phân tích bao dữ liệu

để đo lường HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam

1.6 Kết cấu của luận văn:

Kết cấu của luận văn gồm 5 chương:

Trang 12

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan về đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại và

mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA)

Chương 3: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Chương 4: Ứng dụng mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA) để đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam

Chương 5: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTMCP Việt Nam

1.7 Ý nghĩa của đề tài:

Đề tài đóng góp ở hai khía cạnh: giá trị khoa học và giá trị thực tiễn

Ý nghĩa khoa học, ngày nay, có khá nhiều phương pháp để đánh giá hiệu quả

hoạt động của ngân hàng thương mại, mỗi phương pháp có những ưu và nhược điểm riêng Trong luận văn, tác giả đã trình bày chi tiết về phương pháp DEA được xây dựng trên đường biên sản xuất hiệu quả (có thực, có thể đạt được trên thực tế), dựa trên số liệu thực tế nên có thể nói độ tin cậy của phương pháp này rất cao Bên cạnh đó, đề tài đã hệ thống hóa một cách cơ bản lịch sử phát triển của phương pháp

DEA cũng như những công trình nghiên cứu chất lượng về phương pháp này

Ý nghĩa thực tiễn, phương pháp bao dữ liệu không mới nhưng là một công cụ

rất hiệu quả để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng và các NHTM nói chung Phần này, dựa vào báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các ngân hàng công bố tại thời điểm nghiên cứu, tác giả đã vận dụng phương pháp DEA để đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, là cơ sở để NHNN xem xét lại hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng nói chung, các NHTM có thể nghiên cứu để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình nói riêng

Ngoài ra, nghiên cứu là một công cụ vừa giúp các NHTM đo lường hiệu quả hoạt động của riêng mình, đồng thời giúp NHNN có thể so sánh, đối chiếu hiệu quả giữa các NHTMCP với nhau, hoặc giữa các nhóm ngân hàng So với các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này có một vài điểm mới: thứ nhất, mở rộng phạm vi nghiên cứu từ một năm hoặc ba năm sang giai đoạn bảy năm, là một khoảng thời gian đủ

Trang 13

dài để có thể đưa ra những đánh giá nhất định về hiệu quả hoạt động; thứ hai, cho

phép chọn được thêm nhiều biến đầu vào kết hợp với nhiều biến đầu ra, điều mà

trước đây chỉ thực hiện bởi một biến đầu vào và một biến đầu ra hay hai biến đầu

vào và một biến đầu ra; thứ ba, phân tách các NHTM Việt Nam thành hai nhóm

riêng biệt để đánh giá mức độ hiệu quả, ưu nhược điểm của từng nhóm để có những

nhận định riêng góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng

Trang 14

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả đã giới thiệu những thông tin cơ bản về đề tài, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn Trên cơ sở đó, tác giả đã trình bày những đóng góp của đề tài ở cả hai khía cạnh là: ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực

tiễn

Trang 15

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU 2.1 Tổng quan về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại:

2.1.1 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp:

Theo Nguyễn Khắc Minh (2004), hiệu quả “efficiency” trong kinh tế được định nghĩa là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ Khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào Như vậy, có thể hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng

và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, kỹ thuật, xã hội Một cách đơn giản, hiệu quả được đo bằng tỷ lệ đầu ra so với đầu vào:

Hiệu quả = (đầu ra)/(đầu vào)

Nguồn lực đầu vào của một doanh nghiệp là các yếu tố đầu vào sản xuất như vốn, lao động, kỹ thuật Đầu ra là kết quả kinh tế như sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận

Theo Farrell (1957), hiệu quả có hai dạng là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Hiệu quả kỹ thuật là sự chuyển hóa các đầu vào vật lý cho trước (như nhân công, máy móc) thành các đầu ra với cách làm tốt nhất (best practice) Hiệu quả kỹ thuật có thể được đánh giá về khả năng của một đơn vị trong việc tối đa hóa đầu ra trong điều kiện đầu vào cho trước (định hướng đầu ra) hoặc tối thiểu hóa tổng đầu vào để sản xuất một lượng đầu ra nhất định (định hướng đầu vào) Ở mức độ cao hơn, khi có nhiều lựa chọn để thay thế giữa các yếu tố đầu vào với nhau thì trên cơ

sở cho trước giá tương đối của các đầu vào, một đơn vị được gọi là đạt hiệu quả phân bổ khi tìm được cách thức kết hợp các đầu vào để sản xuất một đầu ra cho trước với mức chi phí thấp nhất

Như vậy, hiệu quả phản ánh trình độ của đơn vị trong việc sử dụng các nguồn lực có giới hạn, cho biết kết quả đạt được từ hoạt động kinh doanh của doanh

Trang 16

nghiệp bằng cách phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh doanh và chi phí bỏ

ra để đạt được kết quả đó

Khi đánh giá HQHĐ của một tổ chức, có thể dựa vào hai chỉ tiêu đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối

Hiệu quả hoạt động tuyệt đối có đặc điểm là phản ánh qui mô, khối lượng của

một đối tượng trong điều kiện, thời gian và địa điểm cụ thể Hiệu quả hoạt động tuyệt đối được đo lường bằng kết quả kinh doanh trừ đi chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các chỉ tiêu này khó có thể so sánh được và chưa phản ánh chính xác hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong phép so sánh với nhau Ví dụ, tổ chức có quy mô lớn sẽ có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn tổ chức có quy mô nhỏ, nhưng chưa thể kết luận là tổ chức có quy mô lớn hoạt động

có hiệu quả hơn tổ chức có quy mô nhỏ Như vậy, hiệu quả hoạt động tuyệt đối không cho biết chính xác trình độ sử dụng các nguồn lực trong mối quan hệ so sánh hoạt động giữa các tổ chức

Hiệu quả hoạt động tương đối được đánh giá dựa trên tỷ lệ so sánh giữa kết

quả đầu ra và yếu tố đầu vào Một cách đơn giản, đối với trường hợp doanh nghiệp

có một biến đầu vào và một biến đầu ra, hiệu quả hoạt động tương đối được xác định như sau: dạng thuận Hiệu quả= đầu ra/ đầu vào (Efficiency= output/ input) hoặc dạng nghịch Hiệu quả= đầu vào/ đầu ra (Efficiency= input/ output) Cách đánh giá hiệu quả tương đối này thuận tiện hơn khi so sánh giữa các tổ chức có quy mô khác nhau, các không gian khác nhau, cũng như qua những thời kỳ khác nhau

2.1.2 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại:

Theo Rose, Peter S., (2001), về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư

Ngân hàng thương mại hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong mức

độ rủi ro cho phép Vì vậy, việc đánh giá HQHĐ của NHTM cũng dựa trên những

Trang 17

nền tảng lý thuyết như đánh giá HQHĐ của một doanh nghiệp, tổ chức Ngoài ra, vì quan điểm về hiệu quả là đa dạng, nên tùy theo mục đích mà nhà nghiên cứu sẽ xem xét theo những khía cạnh khác nhau

Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại có thể được chia làm hai nhóm đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối:

Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh tế

- chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó) cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo cả chiều sâu và chiều rộng Tuy nhiên loại chỉ tiêu này trong một số trường hợp lại khó có thể thực hiện so sánh được Chẳng hạn, những ngân hàng có nguồn lực lớn thì tạo ra lợi nhuận lớn hơn những ngân hàng có nguồn lực nhỏ, nhưng không có nghĩa là các ngân hàng quy mô lớn lại có hiệu quả lớn hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn Như vậy, hiệu quả tuyết đối không cho biết khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các đầu vào

Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tương đối có thể được thể hiện dưới dạng tĩnh (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh tế/chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó hoặc

dạng nghịch hiệu quả hoạt động = chi phí/ kết quả kinh tế) hoặc dưới dạng động hay dạng cận biên (hiệu quả hoạt động = mức tăng kết quả kinh tế/mức tăng chi phí) Những chỉ tiêu này rất thuận tiện so sánh theo thời gian và không gian như cho

phép so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng có quy mô khác nhau, các thời kỳ khác nhau

Trong luận văn này, xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, tác giả đánh giá HQHĐ của các NHTMCP dựa trên tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế: cho thấy khả năng của một ngân hàng kết hợp các nguồn lực đầu vào (lao động, kỹ thuật, vốn…) thành các đầu ra (thu nhập, lợi nhuận…)

2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM:

Theo Athanasoglou và cộng sự (2006) và Sehrish và cộng sự (2011), các yếu

tố ảnh hưởng đến HQHĐ của NHTMCP được phân thành hai nhóm nhân tố: nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan Nhóm nhân tố chủ quan chủ yếu liên quan đến năng lực quản lý và mục tiêu chính sách của ngân hàng, tiêu biểu như

Trang 18

năng lực về vốn, quy mô và chất lượng tài sản có, khả năng thanh khoản, khả năng sinh lợi, công nghệ cũng như nhân lực của ngân hàng Trong khi đó, nhóm nhân tố khách quan chủ yếu liên quan đến các yếu tố phản ánh môi trường kinh tế và pháp

lý mà các ngân hàng đang hoạt động Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận như trên

2.1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan

Nhóm nhân tố chủ quan được bàn đến chính là các nhân tố bên trong nội bộ của chính các ngân hàng thương mại như các nhân tố về năng lực tài chính, năng lực quản trị và điều hành, năng lực về công nghệ, trình độ và chất lượng của lao

động

Năng lực tài chính:

Năng lực tài chính của một ngân hàng thương mại thường được biểu hiện trước hết

là qua khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chính của một ngân hàng Theo Berger (1995) và Sufian và Habibullah (2010) thì một tỷ lệ vốn thấp có thể đặt các ngân hàng trong trạng thái nguy hiểm,

và sẽ tác động tiêu cực đến lợi nhuận cũng như hiệu quả hoạt động của ngân hàng, một cấu trúc vốn mạnh tác động tích cực đến HQHĐ của ngân hàng Trái lại một mức vốn chủ sở hữu cao hơn sẽ có thể giúp giảm bớt các chi phí về nguồn vốn huy động, tác động tích cực đến khả năng sinh lợi của ngân hàng (Molyneux, 1993) Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính và trình độ trang bị công nghệ Thứ hai, khả năng sinh lời cũng là một nhân tố phản ánh về năng lực tài chính của một ngân hàng vì nó thể hiện tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh Thứ ba là khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của một ngân hàng cũng là nhân

tố phản ánh năng lực tài chính Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng

để bù đắp rủi ro, có nghĩa là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất

có thể xảy ra Ngược lại, nếu nợ xấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng tài chính xấu và năng lực tài chính bù đắp cho các khoản chi phí này bị thu hẹp

Trang 19

Năng lực quản trị và điều hành:

Năng lực quản trị, điều hành cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Năng lực quản trị điều hành trước hết phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức

bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hữu hiệu của cơ chế điều hành để có thể ứng phó tốt trước những diễn biến của thị trường Tiếp theo năng lực quản trị, điều hành còn có thể được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao năng suất sử dụng các đầu vào để có thể tạo ra được một tập hợp đầu ra cực đại Như vậy có một mối quan hệ tích cực giữa năng lực quản trị và điều hành với HQHĐ (Isik & Hassan, 2002)

Năng lực về công nghệ:

Trong môi trường hội nhập và canh tranh gay gắt, nếu các ngân hàng chỉ duy trì cung ứng các dịch vụ truyền thống thì các ngân hàng không thể nào giữ vững vị thế của mình Vì vậy công nghệ thông tin đóng vai trò không kém phần quan trọng, giúp các ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh thông qua việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, chiếm lĩnh thị phần bằng các thiết bị giao dịch tự động, đầu tư vào hệ thống thanh toán, hệ thống thông tin điện tử…tăng cường khả năng dự báo rủi ro, hạn chế tổn thất qua việc đầu tư vào hệ thống báo cáo rủi ro, hệ thống thông tin quản lý… nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Sufian (2010) chỉ ra rằng các ngân hàng đạt được HQHĐ cao hơn nhờ vào sử dụng công nghệ thông tin để giảm thiểu chi phí hoạt động

Trình độ và chất lượng lao động:

Nguồn nhân lực là đội ngũ giúp đảm bảo xây dựng và thực hiện thành công các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch kinh doanh đảm bảo ứng phó tốt với biến động, là yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong bất kỳ hoạt động nào của các ngân hàng Nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992) cho thấy chi phí hoạt động có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM, và chi phí nhân viên là thành phần chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi phí hoạt động Từ đó cho thấy khi chi phí nhân viên lớn sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM

Bên cạnh đó khi xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi những dịch vụ mới, chất

Trang 20

lượng cao hơn từ ngân hàng, do đó đội ngũ lao động cũng phải được nâng cao để đáp ứng kịp thời Nguồn nhân lực có đạo đức, nghề nghiệp và giỏi về nghiệp vụ chuyên môn sẽ giúp ngân hàng ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro có thế xảy ra trong hoạt động kinh doanh, đầu tư và giúp giữ chân được khách hàng

2.1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan:

Ngoài các nhân tố chủ quan của ngân hàng, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khách quan liên quan đến môi trường bên

ngoài như môi trường kinh tế, xã hội, pháp luật

Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước:

Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại, vì đây cũng là điều kiện làm cho quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh do đó nhu cầu vay vốn tăng làm cho các ngân hàng thương mại dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình đồng thời khả năng nợ xấu có thể giảm vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp cũng được nâng cao Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thì lại

là những nhân tố bất lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại như nhu cầu vay vốn giảm; nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Các nghiên cứu của Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992) cho thấy một mối quan hệ tích cực giữa lạm phát và hiệu quả của ngân hàng Sufian và Habibullah (2010) chỉ ra rằng lạm phát có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng bởi vì lãi suất cho vay được điều chỉnh để phù hợp với tình hình lạm phát nhanh hơn là lãi suất tiền gửi Nhân tố tác động kế tiếp là tốc độ tăng trưởng GPD – chỉ số đại diện cho sự phát triển của nền kinh tế

Trang 21

Theo Sufian và Habibullah (2010), tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn tác động tích cực đến ROA và NIM bởi vì nhu cầu đối với các dịch vụ tài chính có xu hướng gia tăng khi nền kinh tế được mở rộng và xã hội trở nên giàu có

Môi trường pháp lý:

Theo Ngô Đình Giao (1997), “môi trường pháp lý bao gồm luật, văn bản dưới luật, quy trình, quy phạm kỹ thuật sản xuất Tất cả các quy phạm kỹ thuật sản xuất kinh doanh đều tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”

Thực tế cho thấy sự phát triển của các nền kinh tế thị trường trên thế giới hàng trăm năm qua đã minh chứng cho tầm quan trọng của hệ thống luật trong việc điều hành nền kinh tế thị trường Nếu hệ thống luật pháp được xây dựng không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì sẽ là một rào cản lớn cho quá trình phát triển kinh tế Với đặc thù là định chế tài chính quan trọng, hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro, gây tác động lớn đến toàn bộ nền kinh tế, nên ngành ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật hơn so với các ngành khác Nghiên cứu của Demirguc-Kunt, Laeven và Levine (2004) giải thích rằng các quy định của pháp luật về ngân hàng hạn chế sự tự do của các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh, đồng thời làm gia tăng chi phí hoạt động, vì vậy, các quy định này có tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng

2.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại: 2.2.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu tài chính:

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại được thực hiện thông qua 03 nhóm chỉ tiêu chính: nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi, nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh

2.2.1.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng:

Theo E.Elyasiani và các đồng sự (1994) và Yeh (1996), các chỉ tiêu tài chính sau thường được sử dụng để đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng:

Trang 22

 Tỷ lệ dự trữ thanh khoản trên tổng tài sản (Liquid Assets/ Total Assets): chỉ tiêu này phản ánh rủi ro thanh khoản, cho thấy tỷ trọng của tài sản thanh khoản trong tổng tài sản của ngân hàng Tỷ lệ này càng tăng cho thấy khả năng chống đỡ rủi ro thanh khoản của ngân hàng càng tăng, và ngược lại

Tỷ lệ dự trữ thanh khoản trên tổng tài sản=Dự trữ thanh khoản

Tổng tài sản

Tuy nhiên, việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản càng nhiều thì có khả năng sinh lợi của ngân hàng càng thấp, nên tỷ lệ này cần được giữ ở mức hợp lý nhằm tối ưu hóa lợi nhuận của ngân hàng với một mức rủi ro có thể kiểm soát được

 Tỷ lệ an toàn vốn (Capital Adequacy): chỉ tiêu này phản ánh sức mạnh tài chính cũng như sự ổn định của ngân hàng, cho thấy tỷ trọng vốn tự có (bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2) trong tổng tài sản có rủi ro của ngân hàng

Tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy động= Tổng cho vay

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng= Nợ xấu

Tổng dư nợ

Theo Thông tư 13/2010/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quy

Trang 23

định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng được ban hành ngày 20/05/2010, thì tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại phải dưới mức 3%

 Tỷ lệ Tổng vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản (Total Equity/ Total Assets): chỉ tiêu này phản ánh có bao nhiêu đồng tài sản được tạo ra trên cơ sở một đồng vốn chủ sở hữu và ngân hàng phải dựa vào nguồn vốn vay nợ là bao nhiêu Tỷ lệ này càng thấp, chứng tỏ ngân hàng vay nợ càng nhiều, khả năng chống đỡ của vốn chủ

sở hữu không đủ để bù đắp rủi ro, vì vậy rủi ro phá sản của ngân hàng càng lớn

Tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản=Tổng vốn chủ sở hữu

Tổng tài sản

2.2.1.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi:

Theo Yeh (1996), các chỉ tiêu tài chính sau thường được sử dụng để đánh giá khả năng sinh lợi của ngân hàng:

 Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROA phản ánh tính hiệu quả của quản lý, cho thấy khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng Một ngân hàng có ROA thấp cho thấy chi phí hoạt động của ngân hàng đang quá cao, hoặc có cơ cấu tài sản chưa hợp lý, và ngược lại

ROA =Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản

ROE phản ánh khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn đầu tư, thể hiện thu nhập của các cổ đông khi đầu tư vào ngân hàng với việc chấp nhận rủi ro nhằm thu được lợi nhuận ở mức hợp lý

ROE =Lợi nhuận sau thuế

Trang 24

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) phản ánh năng lực của nhà quản trị trong việc duy trì sự tăng trưởng các nguồn thu so với mức tăng của chi phí, cho thấy mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi Tỷ lệ NIM tăng cho thấy việc quản trị tốt tài sản Nợ - tài sản Có, và ngược lại

NIM = Thu nhập lãi − Chi phí lãi

Tổng tài sản

Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM) đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi (chủ yếu là nguồn thu từ phí dịch vụ) với các chi phí ngoài lãi

mà ngân hàng phải chịu (như tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị,…)

NNIM =Thu nhập ngoài lãi − Chi phí ngoài lãi

Tổng tài sản

2.2.1.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh:

Theo Yeh (1996), các chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh thường được sử dụng gồm:

 Tổng thu nhập hoạt động trên Tổng tài sản (Total Operating Income/ Total Assets): chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng trong việc tạo

ra thu nhập Hệ số này càng lớn cho thấy ngân hàng đã phân bổ tài sản một cách hợp lý, giúp nâng cao lợi nhuận của ngân hàng

Tỷ lệ thu nhập hoạt động trên tổng tài sản=Thu nhập hoạt động

Tổng tài sản

 Tổng chi phí hoạt động trên Tổng thu từ hoạt động (Total Operating Expenses/ Total Operating Income): chỉ tiêu này phản ánh khả năng thu nhập từ hoạt động bù đắp chi phí trong hoạt động của ngân hàng

Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu từ hoạt động= Chi phí hoạt động

Thu nhập hoạt động

Mặc dù có nhiều chỉ tiêu tài chính được sử dụng để đo lường hiệu quả tuy nhiên phương pháp đo lường hiệu quả này còn tồn tại các hạn chế nhất định Các nghiên cứu của Yeh (1996) và Maudos và các cộng sự (2002) cho thấy việc sử dụng các chỉ tiêu tài chính đơn lẻ chỉ phản ánh hay đánh giá mối quan hệ giữa hai biến số

cụ thể mà không cho thấy cái nhìn tổng quát về tình hình của một ngân hàng, để làm

Trang 25

được điều này đòi hỏi nhà phân tích phải kết hợp rất nhiều chỉ số lại với nhau Tuy nhiên, việc kết hợp các chỉ số tài chính là một quá trình khá phức tạp, đòi hỏi những kinh nghiệm và kỹ năng của nhà phân tích Trong điều kiện kinh tế biến động như hiện nay thì sự kết hợp này càng gặp phải nhiều khó khăn do đó các phương pháp linh hoạt hơn đã được phát triển để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng Gần đây, các nhà phân tích thường sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên để phân tích về hiệu quả hoạt động của ngân hàng do khắc phục được các nhược điểm trong phân tích của các chỉ tiêu tài chính và cho thấy được cái nhìn tổng quan thực trạng của ngân hàng

2.2.2 Đánh giá hiệu quả bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên:

Phương pháp phân tích hiệu quả biên tính toán chỉ số hiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của các đơn vị (trong đề tài này là các ngân hàng) với một đơn vị thực hiện hoạt động tốt nhất trên đường biên (biên hiệu quả tốt nhất được tính từ tập dữ liệu, vì trên thực tế không thể xác định được biên hiệu quả toàn

bộ theo lý thuyết) Phương pháp này cho phép xác định được hiệu quả chung của từng ngân hàng dựa trên hoạt động của chúng và cho phép xếp hạng hiệu quả hoạt động của từng ngân hàng dựa trên hoạt động thực tế của chúng Từ đó giúp các nhà quản lý xác định được thực tế hoạt động hiệu quả nhất trong đánh giá hoạt động của

hệ thống ngân hàng mình, đồng thời có những cải thiện nhằm nâng cao khả năng hoạt động thực tế tốt nhất ở những bộ phận có thể áp dụng được, qua đó cải thiện hiệu quả hoạt động của toàn bộ ngân hàng

Phương pháp phân tích hiệu quả biên được chia thành hai nhóm là tiếp cận tham số và tiếp cận phi tham số

2.2.2.1 Phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA) - Tiếp cận tham số:

Năm 1957, Farell đã đưa ra một độ đo hiệu quả kỹ thuật để phản ánh khả năng của một đơn vị ra quyết định (hay một ngân hàng) đạt được đầu ra cực đại từ một tập hợp các yếu tố đầu vào đã cho Điểm mấu chốt ở chỗ hàm sản xuất của các đơn

vị ra quyết định sẽ khác nhau do vậy cần phải ước lượng hàm sản xuất từ số liệu

Trang 26

mẫu Cách tiếp cận tham số nhằm ước lượng hàm sản xuất hướng tập trung vào chức năng sản xuất hoặc chức năng chi phí của các ngân hàng (Banker và Maindiratta, 1988) Sau đó, việc tính toán hiệu quả của một ngân hàng nhất định được thực hiện bằng cách so sánh mức sản xuất hoặc mức chi phí của ngân hàng đó với mức tối ưu của ngân hàng tốt nhất Phương pháp tiếp cận tham số này được công nhận về thống kê bởi các ước tính đều dựa trên một mô hình hồi quy với khoảng tin cậy và mức ý nghĩa nhất định Nghiên cứu của Berger và Humphrey (1997) được thực hiện trong giai đoạn 1992-1997, cho thấy đã có khoảng hơn 52% các nhà nghiên cứu ưa thích sử dụng phương pháp tiếp cận tham số trong đo lường hiệu quả của các tổ chức tài chính Họ là những người đầu tiên đưa ra cách tiếp cận biên ngẫu nhiên để xác định sự đóng góp của từng nhân tố đầu vào trong quá trình sản xuất

Một trong những hạn chế của cách tiếp cận tham số là giả định rằng các ngành đều sử dụng một loại công nghệ và cùng đường biên sản xuất Vì thế, sự khác biệt trong sản xuất của các ngành chủ yếu là do vấn đề con người trong quản lý hoặc do

sự khác biệt về công nghệ Ngoài ra, cách tiếp cận tham số đặt ra yêu cầu là phải chỉ định dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả, đồng thời phải đưa ra các ràng buộc về phân phối của các nhân tố phi hiệu quả hoặc sai số ngẫu nhiên Vì vậy, hạn chế của cách tiếp cận này là nếu việc chỉ định dạng hàm sai thì các chỉ số hiệu quả

sẽ bị ảnh hưởng ngược chiều bởi kết quả tính toán

2.2.2.2 Phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) - Tiếp cận phi tham số:

Khác với cách tiếp cận tham số nhằm ước lượng hàm sản xuất từ đó tính toán hiệu quả hoạt động của các đơn vị ra quyết định, cách tiếp cận phi tham số hướng đến việc bao bọc dữ liệu thu thập từ các đơn vị được chọn làm mẫu, để đo lường mức sản xuất và chi phí tối ưu cho toàn bộ mẫu Tiếp cận phi tham số linh hoạt hơn phương pháp tiếp cận tham số vì không đòi hỏi phải chỉ định dang hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả cũng như các ràng buộc đối với nhân tố phi hiệu quả Ngoài ra, ưu điểm của cách tiếp cận phi tham số là cho phép kết hợp nhiều đầu vào

Trang 27

và nhiều đầu ra trong việc tính toán, phân tích các độ đo hiệu quả Tuy nhiên, hạn chế của cách tiếp cận này là đưa ra giả thiết dữ liệu không có sai số ngẫu nhiên hoặc sai số phép đo, chính điều này sẽ ảnh hưởng đến kết quả đo lường trong trường hợp

dữ liệu tồn tại sai số ngẫu nhiên

Cả hai cách tiếp cận tham số và phi tham số đều có những ưu điểm cũng như hạn chế riêng, vì vậy mà việc lựa chọn phương pháp ước lượng hiệu quả phù hợp đã gây ra rất nhiều tranh cãi Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu (chẳng hạn như Eisenbeis và các đồng sự, 1999; Weill, 2004) đã lập luận rằng không nhất thiết phải

có sự đồng thuận về phương pháp tốt nhất để đo biên hiệu quả Thay vào đó họ đề nghị một quá trình kiểm tra mà sử dụng nhiều hơn một phương pháp để đánh giá độ tin cậy của kết quả thu được

Các phương pháp đánh giá có các ưu điểm và nhược điểm riêng Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình phân tích bao dữ liệu - DEA để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại

2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại:

2.3.1 Khái niệm:

Trong luận văn này, xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, tác giả đánh giá HQHĐ của các NHTMCP dựa trên tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế, cho thấy khả năng của một ngân hàng kết hợp các nguồn lực đầu vào (chi phí vốn, cơ sở vật chất,…) thành các đầu ra (thu nhập, lợi nhuận…)

Như vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM có thể được hiểu là việc một ngân hàng tìm kiếm các kết hợp nhằm tối đa hóa các đầu ra trên cơ sở các nguồn lực đầu vào nhất định

2.3.2 Mục tiêu của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại:

Mục tiêu của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm nguồn lực lao động xã hội Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của

Trang 28

xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực

Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các ngân hàng buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí

Mục tiêu của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí để tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là giá trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của sự hy sinh các nguồn lực của ngân hàng vào các hoạt động kinh doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này

2.3.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại:

Hiệu quả hoạt động là một trong các công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị ngân hàng thực hiện các chức năng của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả hoạt động không những chỉ cho biết việc kinh doanh của ngân hàng đạt ở mức độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả Với tư cách là một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp đầu vào trong phạm vi toàn của ngân hàng mà còn

sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng cũng như ở từng bộ phận cấu thành của ngân hàng

Ngoài ra, việc nâng cao hiệu quả hoạt động còn là sự biểu hiện của việc lựa chọn và đưa ra các kế hoạch kinh doanh Ngân hàng phải tự lựa chọn kế hoạch kinh doanh của mình cho phù hợp với tiềm lực hiện có Để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, ngân hàng buộc phải sử dụng tối ưu nguồn lực sẵn có Nhưng việc sử dụng nguồn lực đó bằng cách nào để có hiệu quả nhất lại là một bài toán mà nhà

Trang 29

quản trị ngân hàng phải lựa chọn cách giải Chính vì vậy, ta có thể nói rằng việc nâng cao hiệu quả hoạt động không chỉ là công cụ hữu hiện để các nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị của mình mà còn là thước đo trình độ của nhà quản trị Ngoài những chức năng trên nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng còn đóng vai trò quan trọng trong cơ chế thị trường

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng Sự tồn tại của môt ngân hàng được xác định bởi sự có mặt của ngân hàng đó trên thị trường, mà hiệu quả hoạt động lại

là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại đó, đồng thời mục tiêu của ngân hàng khác với các doanh nghiệp khác là luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc Do vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với hệ thống ngân hàng hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay Do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng đòi hỏi nguồn thu nhập và thị phần phải không ngừng tăng lên Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các yếu tố công nghệ cũng như các yếu tố đầu vào khác chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các ngân hàng phải nâng cao hiệu quả hoạt động Như vậy, hiệu quả hoạt động là hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng

Thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong kinh doanh Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các ngân hàng phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh Song khi thị trường ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn Sự cạnh tranh lúc này không còn là sự cạnh tranh về dịch vụ cung cấp cho khách hàng mà là cạnh tranh về mặt chất lượng phục vụ, phí dịch vụ và nhiều yếu tố khác mục tiêu của các ngân hàng là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm cho các ngân hàng mạnh lên nhưng ngược lại cũng có thể đưa các ngân hàng đến bờ vực phá sản Để đạt được mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì các ngân hàng phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường Do đó ngân hàng cần phải có dịch vụ chất lượng tốt, lãi

Trang 30

suất, phí dịch hợp lý Mặt khác hiệu quả lao động là đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khả năng cung cấp dịch vụ, đa dạng dịch vụ với chất lượng không ngừng được cải thiện nâng cao

Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng chính là nhân tố cơ bản tạo ra sự thắng lợi cho ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường Muốn tạo ra sự thắng lợi trong cạnh tranh đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của mình Chính sự nâng cao hiệu quả hoạt động là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi ngân hàng

2.4 Phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA):

2.4.1 Giới thiệu tổng quát về mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA):

Phương pháp phân tích bao dữ liệu là phương pháp tiếp cận biên phi tham số,

sử dụng kỹ thuật quy hoạch tuyến tính toán học để ước lượng đường PPF dựa trên các quan sát thực tế Từ đó đưa ra các so sánh, đánh giá mức độ hiệu quả trong hoạt động của một tập các đơn vị ra quyết định DMU (Decision Making Unit) trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Để việc so sánh có ý nghĩa thì các đơn vị được đánh giá cần phải có sự tương đồng ở một mức độ nhất định

Quá trình phát triển

Farell (1957) đã đưa ra một độ đo kỹ thuật để phản ánh khả năng một đơn vị ra quyết định đạt được đầu ra cực đại từ một tập hợp đầu vào đã cho Tuy nhiên, vì trên thực tế ta không biết được hàm sản xuất hiệu quả, do vậy Farell gợi ý ước lượng hàm này từ dữ liệu mẫu hoặc tiếp cận theo một hàm số Khoảng hơn 20 năm sau đó, Charnes, Cooper và Rhodes (1978) đã tiếp tục kế thừa, tiếp cận theo hướng gợi ý thứ nhất của Farell và phát triển thành mô hình DEA, với giả thiết tối thiểu hóa đầu vào trong điều kiện hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS) Về sau, các báo cáo của Fare, Grosskopf và Logan (1983); Banker, Charnes, Cooper (1984) đã phát triển mô hình DEA hơn nữa với việc xây dựng mô hình bao dữ liệu trong điều kiện hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS)

Trang 31

 Ưu điểm-Nhược điểm

- Ưu điểm của phương pháp DEA:

 Khác với cách tiếp cận tham số, phương pháp này không yêu cầu phải xác định dạng hàm cụ thể khi xây dựng đường biên hiệu quả

 Có thể sử dụng trong trường hợp nhiều sản phẩm đầu ra và nhiều yếu tố đầu vào trong việc tính toán hiệu quả

 Đường giới hạn biên sản xuất được xây dựng trực tiếp từ dữ liệu quan sát được thông qua hệ thống các phương trình tuyến tính Vì thế có thể ứng dụng phương pháp DEA trong những nghiên cứu với số lượng quan sát hạn chế

 DEA có thể sử dụng để ước lượng riêng biệt các loại hiệu quả sản xuất như hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối nguồn lực, hiệu quả sử dụng chi phí và hiệu quả theo quy mô sản xuất

 DEA có khả năng xác định nguyên nhân và mức không hiệu quả trong mỗi đầu vào và mỗi đầu ra của từng đơn vị Từ đó định hướng, chỉ ra được tham khảo phù hợp cho mỗi đơn vị

- Nhược điểm của phương pháp DEA:

 Phương pháp này có nhược điểm lớn nhất là điểm hiệu quả chỉ mang ý nghĩa tương đối giữa các DMU trong cùng một mẫu nghiên cứu Tức là nếu một DMU có điểm hiệu quả là 1 thì không có nghĩa đó là DMU tốt nhất trên thực tế, mà

nó chỉ tốt hơn các DMU khác trong mẫu nghiên cứu

 Nhược điểm thứ hai là DEA không được công nhận về mặt thống kê do không tính toán mức sai số nên không tồn tại mức ý nghĩa hay độ tin cậy của các ước lượng

 Kết quả ước lượng cho phần phi hiệu quả hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm thống kê của các quan sát

 Các cách tiếp cận đánh giá hiệu quả

Theo phương pháp DEA, có hai hướng tiếp cận để đánh giá hiệu quả hoạt động của các đơn vị ra quyết định DMU (Decision Making Unit), đó là hướng tiếp cận đầu vào và hướng tiếp cận đầu ra

Trang 32

- Hướng tiếp cận đầu vào cho biết doanh nghiệp có thể giảm tối thiểu bao nhiêu đầu vào để đạt đến trạng thái tối ưu mà không làm thay đổi sản lượng đầu ra

- Hướng tiếp cận đầu ra cho biết lượng đầu ra tối đa mà doanh nghiệp có thể tăng thêm để đạt đến trạng thái tối ưu trong điều kiện giữ nguyên lượng đầu vào cho trước

 Các cách lựa chọn biến đầu vào và đầu ra trong mô hình DEA

Lựa chọn biến đầu vào và đầu ra thích hợp là yêu cầu cơ bản đặt ra cho người phân tích khi sử dụng phương pháp DEA để đánh giá hiệu quả hoạt động Tuy nhiên,

do tính phức tạp trong hoạt động của ngành ngân hàng mà không hề có sự đồng thuận về việc lựa chọn đầu vào và đầu ra trong các nghiên cứu Theo các nghiên cứu của Berger & Humphrey (1997), Sathye (2001) có 2 hai cách tiếp cận liên quan đến việc lựa chọn đầu vào và đầu ra là: cách tiếp cận sản xuất và cách tiếp cận trung gian

- Cách tiếp cận sản xuất: cách tiếp cận này chú trọng nhiều đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng, ngân hàng được xem như tổ chức tài chính sử dụng các nguồn lực khác nhau để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng Đầu ra bao gồm các sản phẩm dịch vụ như các khoản cho vay và các khoản tiền gửi, đầu vào bao gồm các nguồn lực như lao động, vốn, chi phí vận hành

- Cách tiếp cận trung gian: cách tiếp cận này đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng Trong cách tiếp cận này, ngân hàng được nhìn nhận dưới góc độ là các trung gian tài chính với hoạt động huy động và phân bổ các nguồn vốn cho vay

và các tài sản tài chính khác cho nền kinh tế Đầu vào bao gồm lao động, kỹ thuật, tiền gửi Đầu ra bao gồm tiền từ cho vay, các thu nhập khác từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng

Khác nhau cơ bản giữa hai cách tiếp cận này là trong cách tiếp cận sản xuất các khoản tiền gửi được xem là đầu ra, còn trong cách tiếp cận trung gian các khoản tiền gửi được xem là đầu vào Theo Berger & Humphrey (1997) cách tiếp cận sản xuất thường được dùng trong đánh giá hiệu quả ở cấp độ các chi nhánh của ngân hàng, cách tiếp cận trung gian là phổ biến và được cho là thích hợp hơn khi đánh

Trang 33

giá hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng cách tiếp cận trung gian để lựa chọn các biến đầu vào và đầu ra

2.4.2 Các mô hình DEA:

2.4.2.1 Mô hình DEA với hiệu quả không đổi theo quy mô CRS:

 Mô hình DEA (CRS) định hướng đầu vào:

Năm 1978, Charnes, Cooper và Rhodes đã phát triển mô hình của Farrell theo cách tiếp cận đầu vào kèm theo giả định rằng sản lượng không đổi theo quy mô CRS Mô hình DEA (CRS) được xây dựng như sau:

Min F Điều kiện :

𝐹𝑥0− 𝑋𝜆 ≥ 0 (1)

𝑌𝜆 ≥ 𝑦0

𝜆 ≥ 0

Trong đó:

- 𝐹 là mức độ hiệu quả của từng doanh nghiệp

- 𝜆 gồm tập hợp (𝜆1, 𝜆2, …, 𝜆n) thể hiện mối quan hệ giữa các doanh nghiệp được khảo sát (𝜆 là “trọng số” giữa các DMU với nhau)

Bài toán (1) được gọi là mô hình DEA (CRS) với giả định các doanh nghiệp hoạt động ở quy mô tối ưu Bài toán (1) được giải n lần, mỗi lần với một doanh nghiệp Giá trị 𝐸 được xác định cho từng doanh nghiệp, thỏa điều kiện 𝐹 ≤ 1, với 𝐹 = 1 là doanh nghiệp đạt hiệu quả hoàn toàn

Mục đích của mô hình DEA (CRS) là xác định điểm hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp được khảo sát với giả định các doanh nghiệp hoạt động ở quy mô tối ưu, đồng thời xác định phi hiệu quả kỹ thuật có thể xảy ra Phi hiệu quả kỹ thuật là lượng

mà tất cả các đầu vào có thể giảm xuống mà không làm giảm đầu ra Nguyên nhân gây ra phi hiệu quả kỹ thuật có thể là do cơ cấu (configuration) giữa đầu vào và đầu ra,

do khả năng quản lý kém hoặc do quy mô hoạt động chưa phù hợp

Trang 34

 Mô hình DEA (CRS) định hướng đầu ra:

Mô hình định hướng đầu ra được xây dựng như sau:

- 𝜂 là mức độ hiệu quả của từng doanh nghiệp

- 𝜇 gồm tập hợp (𝜇1, 𝜇2, …, 𝜇n) thể hiện mối quan hệ giữa các doanh nghiệp được khảo sát

mà các DMU không phải lúc nào cũng hoạt động ở mức quy mô tối ưu Khi đó, áp dụng mô hình DEA (CRS) để đánh giá hiệu quả hoạt động sẽ còn không phù hợp và không có ý nghĩa

2.4.2.2 Mô hình DEA với hiệu quả thay đổi theo quy mô VRS:

Do tính hạn chế của mô hình DEA (CRS), Banker-Charnes và Cooper (1984)

đã đề xuất mở rộng mô hình DEA (CRS) với giả định sản lượng thay đổi theo quy

Trang 35

mô (VRS), hình thành mô hình DEA (VRS), giúp loại bỏ tác động của hiệu quả quy

mô trong tính toán hiệu quả kỹ thuật

Mô hình DEA (VRS) được xây dựng bằng cách thêm điều kiện: 𝑒𝜆 =

∑ 𝜆𝑛𝑗 𝑖 = 1 với 𝜆 ∈ 𝑅𝑛 và e là một vec-tơ hàng với tất cả các giá trị bằng 1

Mô hình DEA (VRS) định hướng đầu vào:

Mô hình DEA (VRS) định hướng đầu vào đánh giá hiệu quả của các DMU bằng việc giải bài toán tuyến tính sau:

Min F Điều kiện:

𝐹𝑥0− 𝑋𝜆 ≥ 0 (4)

𝑌𝜆 ≥ 𝑦

𝑒𝜆 = 1

 Mô hình DEA (VRS) định hướng đầu ra:

Mô hình DEA (VRS) định hướng đầu ra đánh giá hiệu quả của các DMU bằng việc giải bài toán tuyến tính sau:

Trang 36

DEA (CRS)

Nếu hiệu quả quy mô bằng 1, DMU hoạt động với quy mô tối ưu, do đó năng suất của các yếu tố đầu vào không thể được cải thiện bằng cách tăng hay giảm quy mô sản xuất Hiệu quả quy mô bằng 1 chỉ khi doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện CRS Nếu hiệu quả quy mô nhỏ hơn 1 chứng tỏ DMU đang hoạt động với quy mô không tối ưu và tồn tại phi hiệu quả quy mô Phi hiệu quả quy mô có thể tồn tại trong điều kiện sản lượng tăng theo quy mô (IRS) hoặc sản lượng giảm theo quy mô (DRS) Muốn biết doanh nghiệp đang trong điều kiện tăng hay giảm sản lượng theo quy mô,

ta thay thế điều kiện 𝑒𝜆 = 1 trong bài toán (4) bằng điều kiện 𝑒𝜆 ≤ 1

Min F Điều kiện:

Điều kiện DRS ngụ ý rằng quy mô của doanh nghiệp quá lớn và doanh nghiệp

có thể cải thiện năng suất các yếu tố đầu vào và theo đó giảm các chi phí của đơn vị bằng cách giảm quy mô Còn điều kiện IRS cho biết doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất của các yếu tố đầu vào để giảm các chi phí đơn vị bằng cách tăng quy mô

Từ lý thuyết được đề cập, tác giả chọn hai mô hình DEA (CRS) và mô hình DEA (VRS) theo hướng tiếp cận đầu vào, tức các ngân hàng có thể cắt giảm bao nhiêu đầu vào để đạt đến trạng thái tối ưu mà không làm thay đổi lượng đầu ra

2.4.3 Các độ đo hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân bổ (AE) và hiệu quả chi phí (CE) hay hiệu quả kinh tế:

Độ đo hiệu quả đầu tiên được Farell giới thiệu vào năm 1957, để định nghĩa một độ đo đơn giản hiệu quả của ngân hàng có thể tính đến nhiều đầu vào Ông cho

Trang 37

rằng hiệu quả của một ngân hàng gồm hai thành phần: hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE), phản ánh khả năng của ngân hàng sử dụng các đầu vào theo các tỷ lệ tối ưu, khi giá cả tương ứng của chúng đã biết Khi kết hợp hai độ đo này cho ta độ đo hiệu quả kinh tế (CE)

Farell sử dụng tình huống đơn giản với đơn vị sản xuất là ngân hàng sử dụng 1 đầu vào x để sản xuất 2 đầu ra y1 và y2 (Biểu đồ 1), dưới điều kiện hiệu quả không đổi theo quy mô Đường giới hạn khả năng sản xuất của ngân hàng là SS’ Nếu một ngân hàng đã cho hoạt động không hiệu quả, xác định tại điểm A, nằm phía dưới đường giới hạn khả năng sản xuất Phi hiệu quả kỹ thuật của ngân hàng đó được xác định bởi khoảng cách AB - là lượng đầu ra cần phải gia tăng mà không cần có thêm đầu vào Mức không hiệu quả này thường được biểu diễn theo phần trăm và bằng tỷ

số AB/OB, biểu thị tỷ lệ phần trăm gia tăng các đầu ra Hiệu quả kỹ thuật (TE) của ngân hàng sẽ được đo bằng tỷ số:

TEi = OA/OB Nếu ta có thêm thông tin về giá đầu ra ta sẽ vẽ được đường giới hạn thu nhập FF’, cho phép chúng ta tính được hiệu quả phân bổ Hiệu quả phân bổ (AE) của ngân hàng hoạt động tại A được định nghĩa bởi tỷ số: AEi = OB/OC

Hiệu quả kinh tế toàn phần - CE = AEi x TEi = OA/OB x OB/OC = OA/OC

Trang 38

Hình 3.1 Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả kinh tế toàn phần

Nguồn: Farrrel (1957), “The measurement of productive efficiency”

2.4.4 Chỉ số Malmquist và đo lường thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp:

Năng suất được đo lường bằng lượng đầu ra trên một đơn vị đầu vào được sử dụng Có hai cách tiếp cận để đo lường năng suất:

Dựa trên năng suất nhân tố riêng lẻ nhằm đo lường năng suất riêng của từng nhân tố , và Dựa trên năng suất nhân tố tổng hợp TFP

Như đã biết, ngân hàng là ngành hoạt động có nhiều đầu ra và đầu vào, nên cách đo lường bằng TFP sẽ phù hợp hơn

Năm 1953, Sten Malmquist- nhà kinh tế và thống kê học người Thụy Điển –

đã đề xuất sử dụng chỉ số thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp, có tên TFP-Malmquist để đo lường sự thay đổi của TFP và sự thay đổi của các thành phần hiệu quả có liên quan như: thay đổi hiệu quả kỹ thuật, thay đổi hiệu quả kỹ thuật thuần, thay đổi tiến bộ công nghệ và thay đổi hiệu quả theo quy mô, tác giả cũng đã giới thiệu phương pháp phân tích thay đổi năng suất thông qua việc sử dụng phương pháp DEA kèm theo sử dụng chỉ số phân tích thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp

Trang 39

Tăng năng suất sẽ biểu thị bằng chỉ số Malmquist lớn hơn 1 Năng suất giảm

sẽ gắn với việc chỉ số Malmquist nhỏ hơn 1 Theo định nghĩa, tích số của thay đổi hiệu quả kỹ thuật và thay đổi kỹ thuật sẽ bằng chỉ số Malmquist, và những thành phần này có thể thay đổi ngược chiều nhau

TFP = TE x TC

Trong đó: TE = PE x SE

2.5 Lược khảo các nghiên cứu liên quan:

Đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu – DEA để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Một số nghiên cứu có thể kể ra như:

2.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới:

Tại Ba Lan, năm 2008, Grazyna đã sử dụng phương pháp DEA theo cách tiếp cận giá trị gia tăng để đánh giá hiệu quả hoạt động của 40 ngân hàng giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007 Theo đó nghiên cứu sử dụng hai biến đầu vào là tài sản và

số lượng nhân viên; ba biến đầu ra là cho vay, tiền gửi và thu nhập ngoài lãi Đồng thời thực hiện so sánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trên giữa hai phương pháp đánh giá là DEA và đánh giá bằng các chỉ số tài chính Kết qủa cho thấy với cách đánh giá bằng các chỉ tiêu tài chính, hiệu quả của các ngân hàng (ROE và hiệu quả nguồn lực) cao hơn nhiều so với cách đánh giá bằng phương pháp DEA

Tại Brazil, Roberta và cộng sự (2009) đã sử dụng phương pháp DEA để đánh giá hiệu quả chi phí, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ của các ngân hàng giai đoạn 2000 – 2007 theo hướng tiếp cận trung gian với ba biến đầu vào bao gồm: lao động, vốn và nguồn vốn huy động được; ba biến đầu ra gồm tiền gửi, cho vay và đầu tư Kết quả cho thấy các ngân hàng Brazil đạt được hiệu quả phân bổ là 66,9%, hiệu quả kỹ thuật là 63,3% Đồng thời, cho biết phi hiệu quả của các ngân hàng ở Brazil cao so với các quốc gia khác, hiệu quả của các ngân hàng thay đổi theo thời gian phù hợp với các thay đổi trong kinh tế vĩ mô hoặc các thay đổi về quy định tài chính

Tại Malaysia, Tahir và các cộng sự (2009) đánh giá hiệu quả hoạt động của 22

Trang 40

NHTM ở Malaysia giai đoạn 2000 – 2006 Nghiên cứu sử dụng mô hình DEAVRS định hướng đầu vào, với hai biến đầu vào là tổng tiền gửi và tổng chi phí; một biến đầu ra là tổng tài sản Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng nội địa hoạt động hiệu quả hơn các ngân hàng nước ngoài và phi hiệu quả của ngân hàng nội được gây

ra bởi phi hiệu quả kỹ thuật thuần lớn hơn là phi hiệu quả theo quy mô

Tại Trung Quốc, Chan (2011) đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2007 Nghiên cứu sử dụng hướng tiếp cận trung gian với ba biến đầu vào là các chi phí ngoài lãi, tài sản cố định và tổng tiền gửi; hai biến đầu ra là tổng cho vay và tổng đầu tư Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng hoạt động không hiệu quả với hiệu quả trung bình đạt được là 31,42% và phi hiệu quả chủ yếu đến từ phi hiệu quả kỹ thuật thuần, nghĩa là các NHTM đang đối mặt với việc phân tán các nguồn lực Theo tác giả, nguyên nhân là do hệ thống Ngân hàng Trung Quốc còn yếu kém, hệ thống tài chính và pháp luật chưa phát triển và không đạt được các tiêu chuẩn quốc tế

Tại Ấn Độ, Majid Karimzadeh (2012) đánh giá hiệu quả hoạt động của 08 NHTM ở Ấn Độ giai đoạn 2000 – 2010 theo hướng tiếp cận trung gian với ba biến đầu vào bao gồm: tài sản cố định, các khoản tiền gửi, số lượng nhân viên; hai biến đầu ra bao gồm: các khoản cho vay và các khoản đầu tư Kết quả cho thấy hiệu quả trung bình của các ngân hàng là 93%; các ngân hàng lớn có hiệu quả cao hơn; điểm hiệu quả khác nhau giữa các ngân hàng phụ thuộc vào quy mô, vị trí địa lý

Nhìn chung, phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA đã được sử dụng ở các nước phát triển để đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM và hiện nay đang trở nên phổ biến ở các nước đang phát triển Điều này chứng tỏ tính ưu việt của phương pháp DEA trong đánh giá bức tranh tổng thể hoạt động của hệ thống NHTM ở từng quốc gia

Ngày đăng: 17/06/2018, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Ngọc Quỳnh, 2013. Ứng dụng phương pháp DEA trong đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Tạp chí ngân hàng, số 21, trang 12-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí ngân hàng
3. Ngô Đăng Thành, 2010. Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực của một số NHTMCP Việt Nam ứng dụng phương pháp bao dữ liệu (DEA). SSRN eLibrary, WP.2010.01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SSRN eLibrary
4. Ngô Đình Giao, 1997. Quản trị kinh doanh tổng hợp. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị kinh doanh tổng hợp
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
5. Nguyễn Khắc Minh, 2004. Từ điển toán kinh tế, thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển toán kinh tế, thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
6. Nguyễn Thị Hồng Xuân, 2012. Ứng dụng phương pháp bao dữ liệu DEA vào việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.Tạp chí ngân hàng, số 20, trang 27-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí ngân hàng
7. Nguyễn Việt Hùng, 2008. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả họat động của NHTM ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sĩ kinh tế
8. Rose, Peter S., 2001. Quản trị ngân hàng thương mại. Dịch từ Tiếng Anh. Người dịch Nguyễn Huy Hoàng và cộng sự. Hà Nội: Nhà xuất bản Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài Chính
9. Thủ tướng Chính phủ, 2006. Đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.http://www.moj.gov.vn/vbpq/Pages/View_Propertes.aspx?ItemID=16085 10. Thủ tướng Chính phủ, 2012. Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020". http://www.moj.gov.vn/vbpq/Pages/View_Propertes.aspx?ItemID=16085 10. Thủ tướng Chính phủ, 2012
11. Athanasoglou. P, Delis. M and Staikouras. C, loi 2006. Determinants in the Bank profitability in South Eastern European region, Journal of Financial Decisions Making 2, pp.1-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Decisions Making 2
12. Athanasoglou. P., Brissimis. S. N and Delis. M, 2008. Bank- specific, Industrial-specific and Macroeconomic Determinants of bank profitability. Journal of international Financial Markets, Institutions and Money 18, pp.121-136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of international Financial Markets, Institutions and Money 18
13. Banker RD and A Maindiratta, 1988. Nonparametric Analysis of Technical and Allocative Efficiencies in Production. Econometrica 56(6), pp.1315-1332 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Econometrica 56(6)
14. Banker, R.D..A.C.a.W.W.C., 1984. Some models for estimating Technical and scale inefficiencies in Data Envelopment Analysis. Management Science, 30, pp.1078-92. http://dx.doi.org/10.1287/mnsc.30.9.1078 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management Science
15. Berger, A, 1995b. The relationship between capital and earnings in banking. Journal of Money, Credit and Banking 27, pp.432-456 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Money, Credit and Banking
16. Berger A.N & DeYoung. R, 1997. Problem Loans and Cost Efficiency in Commercial Banks. Journal of Banking and Finance , Vol. 21, pp.849-870 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking and Finance
17. Berger A.N & Humphrey, D.B, 1997. Efficiency of Financial Institutions: International Survey and Directions for Future Research. European Journal of Operational Research, 98(5), pp.175-212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Journal of Operational Research
18. Bourke, P., 1989. Concentration and other determinants of bank profitability in Europe, North America and Australia. Journal of Banking and Finance 13, pp.65-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking and Finance
19. Chan, 2011. Technical Efficiency of Commercial Banks in China: Decomposition into Pure Technical and Scale Efficiency. International Journal of China Studies Vol. 2, No. 1, pp. 27-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of China Studies
20. Charnes, A..W.W.C.a.E.R., 1978. Measuring the Efficiency of Decision Making Units. Europen Journal of Operational Research, 2, pp.429-44.http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/0377221778901388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Europen Journal of Operational Research
21. Dang- Thanh, N., 2010. Evaluating the Efficiency of Vietnamese Banking System: An Application Using Data Envelopment Analysis. [Online] Available at:http://ssrn.com/abstract=1626009 or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.1626009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating the Efficiency of Vietnamese Banking System: An Application Using Data Envelopment Analysis
23. Dang-Thanh, N., 2012. The Performance of Vietnamese Banking System Under Financial Liberalization: Measurement Using DEA. [Online] Available at:http://ssrn.com/abstract=2136150 or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.2136150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Performance of Vietnamese Banking System Under Financial Liberalization: Measurement Using DEA

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w