Đến với huyện Phong Thổ mỗi dịp xuân sang chúng ta sẽ được hòa mình vào các lễ hội của người Thái Trắng như: Lễ hội Nàng Han, lễ hội Then Kin Pang, lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu lễ hội Ăn Cơm
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài khóa luận và kết thúc khóa học, với tình cảm chân thành,
em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện cho em
có môi trường học tập tốt trong suốt thời gian em học tập, nghiên cứu tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn tới Thầy Hoàng Xuân Thành đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này Đồng thời, em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới thầy cô trong Khoa Sử - Địa, bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp lần này
Em xin gửi lời cảm ơn tới phòng văn hóa - thông tin huyện Phong Thổ đã cung cấp tài liệu cho em để hoàn thành khóa luận
Cuối cùng, em xin cảm ơn những người thân, gia đình đã luôn bên em, động viên tôi hoàn thành khóa học và bài luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Lành Thị Cúc
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và đóng góp của đề tài: 3
4 Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc của khóa luận 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN PHONG THỔ 5
1.1 Khái quát về vị trí, đặc điểm tự nhiên và xã hội 5
1.1.1 Vị trí 5
1.1.2 Tình hình dân cư – văn hóa – xã hội 6
1.2 Tình hình kinh tế 11
1.3 Truyền thống yêu nước đánh giặc ngoại xâm 13
Tiểu Kết 16
CHƯƠNG 2: LỄ HỘI NÀNG HAN CỦA NGƯỜI THÁI Ở MƯỜNG SO, PHONG THỔ, LAI CHÂU 17
2.1 Một số khái niệm 17
2.2 Khái quát về lễ hội Nàng Han 18
2.2.1 Nguồn gốc của lễ hội Nàng Han 20
2.2.2 Đặc điểm của lễ hội 30
2.2.3 Công việc chuẩn bị cho lễ hội 31
2.2.4 Thời gian và không gian diễn ra lễ hội 32
2.3 Lễ hội Nàng Han 33
2.3.1 Phần lễ 33
2.3.2 Phần hội 35
TIỂU KẾT 40
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ, THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN NÉT VĂN HÓA Ở LỄ HỘI NÀNG HAN 41
3.1 Giá trị của lễ hội Nàng 41
3.1.1 Giá trị văn hóa 41
3.1.2 Giá trị lịch sử 41
Trang 33.1.4 Giá trị xã hội đương đại 43
3.2 Thực trạng và giải pháp giữ gìn nét văn hóa trong lễ hội Nàng Han 43
3.2.1 Thực trạng 44
3.2.2 Giải pháp giữ gìn nét văn hóa trong lễ hội Nàng Han 44
TIỂU KẾT 47
KẾT LUẬN 48
Tài liệu tham khảo 49
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Văn hóa là cốt lõi của dân tộc” trong đó lễ hội là một thành tố quan trọng của nền văn hóa dân tộc Từ xưa đến nay lễ hội là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi người dân Việt Lễ hội cũng là nơi thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”
là nơi mọi người sinh hoạt văn hóa, giao lưu cộng cảm trong không khí thiêng liêng nhưng cũng kém phần nhộn nhịp Lễ hội được tổ chức nhằm tưởng nhớ, tôn vinh những hiện tượng tự nhiên được định danh là các vị thần, các vị anh hùng có thật trong lịch sử dân tộc, các vị tổ nghề…
Đến với bất kỳ vùng miền nào trên đất nước Việt Nam vào bất kỳ khoảng thời gian nào trong năm đều thấy sự xuất hiện và tồn tại của các lễ hội Lễ hội là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc về nhiều mặt của đời sống (chính trị, văn hóa, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng…) của cư dân vùng lúa nước Đa phần các lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân Mùa cây cối đâm chồi nảy lộc, trăm hoa đua nở, khí tiết trời đẹp, ngày tháng nông nhàn, cư dân có điều kiện về thời gian cũng như tinh thần để
tổ chức lễ hội Lễ hội ngoài mục đích tưởng nhớ, tri ân các vị thần để cầu cho một năm mới may mắn, một vụ mùa bội thu, một cuộc sống sung túc, còn là nơi để người dân giải trí, nghỉ ngơi sau một vụ mùa, một năm lao động vất vả
Đến với huyện Phong Thổ mỗi dịp xuân sang chúng ta sẽ được hòa mình vào các
lễ hội của người Thái Trắng như: Lễ hội Nàng Han, lễ hội Then Kin Pang, lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu (lễ hội Ăn Cơm Mới),…Mỗi một lễ hội lại có những đặc sắc riêng, những nét văn hóa riêng biệt Đặc biệt là lễ hội Nàng Han, lễ hội tôn vinh vị nữ anh hùng có công đánh đuổi giặc ngoại xâm của đồng bào Thái, vừa mong cầu sự no ấm, cuộc sống an lành, nhân khang, vật thịnh, mùa màng tươi tốt cho khắp bản làng
Lễ hội Nàng Han cho chúng ta thấy những nét văn hóa, phong tục của người Thái trắng Vào ngày hội các thiếu nữa Thái rạng rỡ trong những bộ váy cóm duyên dáng uốn mình chơi những trò chơi như: ném còn, đánh cầu, kéo co… Các chàng trai tràn đầy sức sống trong các trò chơi như đi cà kheo, đẩy gậy đánh cầu lông gà, bắt cá suối Khách tham gia đến cuối ngày sẽ được mời thưởng thức những đặc sản của người Thái mang đậm phong vị Tây Bắc
Lễ hội Nàng Han là lễ hội dân gian giàu bản sắc và sinh động trong các dạng thức biểu hiện Tuy nhiên trước nguy cơ đồng nhất về văn hóa cần có sự phục dựng và
Trang 5bảo tồn kịp thời để không mất đi một lễ hội đầy ý nghĩa trong ngày xuân và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc miền núi tỉnh phía Bắc Vấn đề bảo tồn và phát huy những đặc điểm đặc sắc của lễ hội Nàng Han là cần thiết Được sinh ra trên mảnh đất với bề dày truyền thống văn hóa, với tình yêu văn hóa, yêu lễ hội, yêu phong tục tập quán sinh hoạt của đồng bào mình, tôi đã quyết định chọn đề tài “Bước đầu tìm hiểu lễ hội Nàng Han của người Thái ở xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu” làm
đề tài khóa luận Với hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của của đồng bào dân tộc Thái ở Mường So, Phong Thổ, Lai Châu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong bối cảnh hiện nay vấn đề nghiên cứu, phục dựng các lễ hội truyền thống đang được giới nghiên cứu quan tâm Do đó việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Lễ hội “Nàng Han” đã được các tác giả Đỗ Đình Hãn, Vũ Trường Giang tìm hiểu và đăng trên các tạp chí chuyên nghành Ngoài ra còn có các tác phẩm khác phải kể đến như: “lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam” của GS.TS Hoàng Lương đã nghiên cứu, khái quát về những truyền thống tốt đẹp, phong tục tập quán của lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam
Cuốn “Văn hóa Thái những tri thức dân gian” đã giới thiệu khái quát nhất, sơ lược nhất về những nét văn hóa của người Thái
Trong tác phẩm “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Huy, do nhà xuất bản giáo dục xuất bản năm 2003, đã nghiên cứu khá chi tiết các đặc trưng tiêu biểu về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của các dân tộc trong đó có dân tộc Thái
Trong “Văn hóa ẩm thực trong lễ hội truyền thống Việt Nam” do nhà xuất bản văn hóa dân tộc Hà Nội xuất bản năm 2012 của tác giả Nguyễn Quang Lê đã có những nét khái quát về văn hóa ẩm thực của Tây Bắc đặc biệt là ẩm thực của người Thái Ngoài ra còn có các tác phẩm, các công trình nghiên cứu khác cũng đã phần nào nghiên cứu, tìm hiểu cuộc sống con người, các phong tục tập quán cổ truyền của người Thái Tuy nhiên, việc tìm hiểu lễ hội của người Thái ở Mường So, Phong Thổ thì chưa có một tác phẩm nào đề cập chi tiết đến vấn đề này Do đó vấn đề cần được quan tâm, tìm hiểu
Trang 6Tôi hy vọng với đề tài “Bước đầu tìm hiểu về hội Nàng Han của người Thái ở xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu” sẽ ít nhiều góp phần tìm hiểu những nét độc đáo trong lễ hội Nàng Han Góp phần giáo dục truyền thống văn hóa, ý thức, giữ gìn bản sắc dân tộc cho thế hệ trẻ trong bối cảnh hiện nay
3 Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và đóng góp của đề tài:
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Trên cơ sở của những công trình nghiên cứu về lễ hội của người Thái, khóa luận tập trung nghiên cứu “Lễ hội Nàng Han của người Thái ở xã Mường So, Phong Thổ, Lai Châu”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận tập trung “lễ hội Nàng Han của người Thái ở
xã Mường So, phong Thổ, Lai Châu”
3.3 Mục đích nghiên cứu
Việc tìm hiểu lễ hội Nàng Han góp phần tìm hiểu những nét đặc trưng trong văn hóa truyền thống của người Thái Nhằm tái hiện lại những trò chơi dân gian trong lễ hội Nàng Han Giới thiệu những nét văn hóa độc đáo của người Thái Trên cơ sở ấy phát huy những giá trị đặc sắc, những mặt tiến bộ tích cực của “Lễ hội Nàng Han” đồng thời đưa ra những biện pháp nhằm loại bỏ những hủ tục không còn phù hợp với
xu thế phát triển của xã hội và đưa ra những biện pháp nhằm bảo vệ, giữ gìn nét văn hóa truyền thống đặc sắc
3.4 Những đóng góp của khóa luận
Với khóa luận này, tôi muốn khôi phục lại bức tranh văn hóa truyền thống của người Thái ở xã Mường So, Phong Thổ, Lai Châu Qua đó, giúp cho chúng ta hiểu thêm những tục lệ, truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông ta Đồng thời góp phần giữ gìn và phát huy những tinh hoa văn hóa đẹp đẽ ấy
Khóa luận hoàn thành sẽ cung cấp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử địa phương Đặc biệt là tìm hiểu văn hóa của dân tộc thiểu số nói chung, văn hóa của người Thái nói riêng trong việc nghiên cứu giảng dạy lịch sử địa phương Để từ đó đề
ra những giải pháp nhằm bảo vệ và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc trong
Trang 7phòng văn hóa và thông tin huyện Phong Thổ, những lời kể của cư dân địa phương nơi diễn ra lễ hội
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận tôi sử dụng phương pháp sau:
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp logic
- Hệ thống phương pháp điều tra điền dã, sưu tầm thơ ca
- Phương pháp phân tích, đánh giá
5 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận gồm III chương
Chương 1: Khái quát chung về huyện Phong Thổ
Chương 2: Lễ hội Nàng Han của người Thái ở Mường So, Phong Thổ, Lai Châu Chương 3: Giá trị, thực trạng và một số giải pháp giứ gìn nét văn hóa ở lễ hội Nàng Han
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN PHONG THỔ
1.1 Khái quát về vị trí, đặc điểm tự nhiên và xã hội
1.1.1 Vị trí
Lai Châu là tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc Tổ quốc, quê hương của 20 dân tộc anh em cùng sinh sống, có truyền thống đoàn kết, yêu quê hương đất nước, kiên cường dũng cảm trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, xây dựng quê hương
Toàn tỉnh Lai Châu có 7 huyện thị, 1 thành phố Lai Châu là vùng đất lưu giữ nhiều nét văn hóa cổ xưa, di tích lịch sử và nhiều danh lam thắng cảnh đặc sắc như:
Di chỉ khảo cổ học Nậm Tun, di chỉ khảo cổ học Thẩm Đán Chể, di tích lịch sử Bản Lướt, dinh thự Đèo Văn Long, hang kháng chiến Nà Củng, quần thể danh lam thắng cảnh Phiêng Phát, khu du lịch sinh thái Dào San Các lễ hội truyền thống cũng được duy trì, bảo tồn và phát triển cùng với sự phát triển lịch sử người Thái Phong Thổ - Lai Châu như lễ hội "Gầu Tào" ở Dào San; lễ hội "Lộc Xuân" ở Sì Lở Lầu, lễ hội "Nàng Han" ở Mường So - Phong Thổ Lai Châu, trong đó nổi bật, ý nghĩa nhất vẫn là lễ hội Nàng Han
Thực hiện Nghị định số: 08/NĐ-CP, ngày 14 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ, huyện Phong Thổ được chia tách để thành lập huyện mới Tam Đường Ngày 22 tháng
9 năm 2002, huyện Phong Thổ làm lễ ra mắt chuyển về địa điểm mới ngã ba Pa So -
xã Mường So và chính thức đi vào hoạt động với 15 đơn vị hành chính Tháng 10 năm
2004 chia tách xã Mường So thành lập Thị trấn Phong Thổ, Tháng 12 năm 2006 huyện Phong Thổ tiếp nhận thêm 2 xã: Lản Nhì Thàng - huyện Tam Đường; Huổi Luông - huyện Sìn Hồ; đến nay toàn huyện có 18 đơn vị hành chính, với một vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển Kinh tế - xã hội, Quốc phòng - an ninh không chỉ với tỉnh Lai Châu vùng Tây Bắc mà đối với cả nước; huyện Phong Thổ còn là đầu cầu thông thương giữa tỉnh Lai Châu với Trung Quốc qua cửa khẩu Quốc gia Ma Lù Thàng Đồng thời đây cũng là một trong những vùng rừng phòng hộ đầu nguồn quan trọng lòng hồ thuỷ điện Sơn La và thủy điện Hòa Bình
Phong Thổ là huyện vùng cao biên giới, nằm ở phía Tây bắc của Tổ quốc, cửa ngõ phía Đông Bắc của tỉnh Lai Châu, có diện tích tự nhiên gần 1.031 km2, phía bắc giáp huyện Kim Bình tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, với 98,95 km đường biên giới, có
Trang 9cửa khẩu Quốc gia Ma Lù Thàng Nhân dân các dân tộc trong huyện có truyền thống đoàn kết, yêu nước nồng nàn, kiên cường dũng cảm trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, cần cù sáng tạo trong lao động Phong Thổ còn là vùng đất có nhiều tiềm năng thế mạnh trong phát triển kinh tế, có truyền thống văn hoá phong phú, đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc Là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về Quốc phòng - An ninh trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 220C, lượng mưa trung bình hằng năm là 2.226
mm, độ ẩm là 84,34% Diện tích tự nhiên của huyện là 1.029,25 km2, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 17.915,14 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 50.264,4 ha [3] Phong Thổ là một huyện có nhiều tài nguyên, khoáng sản, trữ lượng khá lớn như: Đất hiếm, đồng, vàng là điều kiện quan trọng để phát triển công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản
1.1.2 Tình hình dân cư – văn hóa – xã hội
Vài nét về Mường So – Phong Thổ:
Toàn huyện Phong Thổ có 7 xã với 187 bản; với 14.513 hộ; 74.480 khẩu, trong huyện có 8 dân tộc anh em cùng sinh sống Đa số là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 93,4% dân số Trong đó , dân tộc Dao chiếm 36,28%; dân tộc Mông chiếm 25,53%; Dân tộc Thái chiếm 18,94%; Dân tô ̣c Hà Nhì ch iếm 8,4%; Dân tô ̣c Kinh chiếm 6,58
%; Dân tộc Giáy chiếm 3,4%, còn lại là các dân tộc thiểu số khác [3] Mỗi dân tộc có
phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, bản sắc văn hoá đa dạng phong phú trong sự thống nhất đó là: Truyền thống đoàn kết, yêu nước, cần cù lao động, cố kết cộng đồng
trong đấu tranh cách mạng, đã viết nên trang sử hào hùng 60 năm qua
Xã Mường So được xem như là cái nôi của dân tộc Thái Nơi đây đã sản sinh
ra nhiều nét văn hóa phi vật thể đặc trưng không nơi nào có được như những điệu xòe, điệu múa, truyện thơ Thái cổ, lễ hội Nàng Han, lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu…
Đã góp phần tạo nên sự độc đáo của văn hóa vùng dân tộc Tây Bắc
Xã Mường So còn được ví như là “nơi hoa ban nở thành người con gái”, đến với nơi đây nhiều du khách đã bị nét đẹp e ấp, dịu dàng của người con gái Thái làm cho không thể cầm lòng được với những “bông hoa rừng hoang sơ” toát ra từ thiếu nữ thái
ở vùng này Ông Nông Văn Nhay khẳng định chẳng có bùa ngải nào thu phục được lòng người khi không có rung động về cái đẹp Khi được hỏi tại sao con gái Thái nơi đây được mệnh danh là miền gái đẹp? Ông trả lời: Tích truyền rằng Nàng Han, nữ kiệt
Trang 10Thái Trắng đẹp tựa bông hoa rừng gặp ánh sương mai Nàng đẹp và tài giỏi nhất vùng Tây Bắc Sau khi dẫn đoàn quân thắng trận trở về, nàng tắm gội ở mó nước Tây An, rồi bay lên trời Nàng về trời để lại bộ váy, áo cóm trắng tinh khôi hóa thành dòng nước nóng mà ngày nay gọi là suối Mường So Chuyện của ngày xa xưa nhưng ngày nay các cô gái Thái Mường So vẫn thường ra đó tắm rồi gánh nước về nhà dùng Con gái Mường So ai được Nàng Han để lại cho nước da thì đẹp tựa ban trắng trên rừng, môi đỏ như quả bồ quân mọc trên núi Điều lạ kì suối Mường So nguồn mạch nước nóng ở bên Nàng Han nơi được cho rằng Nàng đã để lại tất cả để bay về trời Những mó nước nóng ở Tây Bắc thường là nơi cô gái có làn da tuyệt mịn và trắng căng tràn sức sống
Nguời Thái nổi tiếng là dân tộc giỏi làm ruộng nước và đánh bắt các loại thủy sản dưới nước Đặc biệt, với hệ thống dẫn thủy nhập điền vĩ đại: “mương, phai, lái, lin” và kĩ thuật làm ruộng nước ưu tú, người Thái nơi đây đã làm chủ các cánh đồng như: cánh đồng Tùng So, các cánh đồng nhỏ ven theo suối hoặc các không gian thung lung Kết hợp với nghề chính là trồng lúa nước người Thái nơi đây còn làm nương rẫy trồng bông, ngô, lúa, khoai, sắn… Chăn nuôi gia súc, gia cầm để lấy sức kéo, lấy thịt,
cá để cải thiện những bữa ăn hàng ngày
Với trí tưởng tượng bay bổng, phong phú, bàn tay khéo léo, những người phụ nữ nơi đây đã tạo ra những tấm vải thổ cẩm tốt, đẹp rực rỡ, các đường nét hoa văn tinh xảo:
Khuổn mứ sại pên bó cai Hai mư khoa pên bó cum xương bó đin So Năng dóng dỏ xéo nộc cốt canh
Năng xé canh pắn phải pên bó so se…
Dịch nghĩa:
(Úp bàn tay trái đã thành hoa đào Ngửa bàn tay phải đã thành hoa tươi đất Mường So Ngồi xổm thêu được hình chim phượng hòang Ngồi nghiên quay sợi thành chùm hoa so se…) [6, tr.21]
Vải thổ cẩm không những đã giúp người Thái thích nghi với môi trường sống nơi núi rừng, bền bỉ, phù hợp với công việc lao động mà nó còn biểu thị quan niệm thẩm
mĩ cũng như những nhận thức của họ về tự nhiên và xã hội
Trang 11Phong Thổ là một trong những cái nôi gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc lâu đời, cho đến nay nghề thủ công vẫn được duy trì và phát triển
Loại hình văn hóa:
khiến cho người ăn nhớ mãi dù chỉ là một lần nếm thử (Ước gì được ăn cá bống vùi tro, ước gì được về Mường So thăm nàng) [13] Bên cạnh các món ăn cung cấp năng
lượng cho các hoạt động lao động, sinh hoạt hàng ngày, họ còn có các món bồi bổ cho người già, trẻ em, người mới ốm dậy và một số món ăn giúp phòng chống bệnh tật Trong các lễ cúng, lễ hội, các món ăn còn biểu thị tín ngưỡng, tôn giáo dân tộc (các món cá nướng, cơm nếp đồ không thể thiếu trong các lễ hội Then Kin Pang, Nàng
Han, Kin lẩu khẩu mẩư…)
Trang phục:
Trang phục truyền thống của những cô gái Thái khu vực này là những bộ váy,
áo cóm gọn gàng, không cầu kì nhưng ưa nhìn
Các cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính hàng khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu…chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhập với chiếc váy màu thâm, hình ống Theo quan niệm của người Thái, hai hàng cúc bạc trên hai vạt áo tượng trưng cho sự kết hợp nam nữ, tạo nên sự trường tồn của nòi giống Thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây, đeo dây xà tích bạc ở bên hông Ngày lễ có thể vận thêm chiếc
áo dài đen (sở luông), xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực, có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước
Trang phục truyền thống của nam người Thái: Nam người Thái mặc quần cắt theo kiểu chân què có cạp để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo
Trang 12của người Thái Trắng thì sẽ có thêm túi ở ngực trái, cài khuy tết bằng dây vải Màu áo quần phổ biến là màu đen, có thể là màu gạch non, hoa kẻ sọc hay trắng Ngày lễ hội mặc thêm áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay
Nhà cửa: Do vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, đặc điểm khí hậu nên nó đã quy định nhà cửa phù hợp với điều kiện tự nhiên và diều kiện kinh tế Nhà ở của người Thái thường là nhà sàn có thể là 3 hoặc 5 gian được làm bằng nhiều loại gỗ, trước đây thì lợp bằng cỏ gianh nhưng bây giờ lợp bằng ngói, tôn… Nhà có hai mái lớn và hai mái nhỏ, thường thì sẽ để gian giữa để thờ cúng tổ tiên (cúng hoóng) hoặc một gian nào đó do chủ nhà quy định và con dâu thì không được phép đi qua khu vực này
Văn hóa tinh thần:
Tôn giáo, tín ngưỡng: Sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp trong điều kiện khoa học kĩ thuật còn thô sơ, khoa học chưa phát triển Người Thái đã thần thánh hóa và tôn thờ các lực lượng tự nhiên Tín ngưỡng vạn vật hữu linh là tín ngưỡng phổ biến trong cộng đồng Thái Người Thái nhận thức về vũ trụ với hai tầng cơ bản: Mường Côn – nơi ở của con người và vạn vật, Mường Phạ - nơi ở của các vị then và nơi trú ngụ của các linh hồn người chết Họ quan niệm Then Luông là vị thần ngự trên Mường Phạ Then Luông là vị thần có quyền lực lớn nhất, Then cai quản Mường Trời
và Trần gian Dưới then luông có các vị thần giúp Then các việc cai trị trần gian và muôn loài Dưới trần gian, bất kì vật nào cũng có linh hồn, nơi nào cũng có phi (Ma) làm chủ Nhà ở thì có Phi Hươn (Ma Nhà), sông suối thì có Chảu Nặm (Chủ Nước), Đất có Chảu Đin (Chủ Đất) cai quản, Phi Pá (Ma Rừng)… Con người muốn lập bản, dựng Mường và làm nương, bắt cá… Đều phải xin phép các thần (Ma) này Nếu không xin phép, công việc của họ chẳng những thất bại mà họ còn có thể bị các loại
ma này làm ốm đau, bệnh tật, thậm chí bị chết
Người Thái quan niệm, con người có đến 80 linh hồn: Xam xíp khon tang nả,
hả xíp khon tang lăng (Ba mươi hồn đằng trước, năm mươi hồn đằng sau) Các hồn này đều trú ngụ ở các bộ phận trên cơ thể con người Khi con người ốm hoặc bị đâu ở một bộ phận nào đó trên cơ thể là khi các hồn trông coi bộ phận đó bị lạc khỏi cơ thể, cần phải cúng gọi hồn trở về đầy đủ thì cơ thể con người mới khỏe mạnh Khi con người chết đi các hồn cư trú ở các nơi: một số hồn ngụ tại gian Hoóng trong nhà sàn để phù hộ con cháu, một số hồn đi ngụ tại các đẳm (dòng họ) trên Mường Phạ, một số
Trang 13hồn ngụ tại mộ Trong tín ngưỡng của người Thái, mỗi hồn này đều có những chức năng riêng, chúng chuyển đổi theo vòng luân hồi và có mối liên hệ với cả hai thế giới người sống và người chết
Đối với người Thái việc thờ cúng tổ tiên có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, vừa thể hiện niềm tin, vừa thể hiện tín ngưỡng thiêng liêng sự gắn kết dòng họ và văn hóa cội nguồn Trong mỗi gia đình trong nhà sẽ để một gian ở giữa hoặc một gian nào
đó do gia chủ quy định để làm gian thờ (Hoóng) Trong gian thờ sẽ đặt một cái bàn và trên đó đặt hai bát hương để thắp hương, ở dưới sẽ đặt một bát để thờ thổ công Con dâu, cháu dâu không được phép đi qua gian này Trong dịp lễ tết người đàn ông trụ cột gia đình sẽ thực hiện các nghi lễ thờ cúng Thờ cúng tổ tiên không chỉ thể hiện lòng biết ơn đối với cha ông ta mà còn thể hiện sự cầu mong, sự tạ lỗi, xin tha thứ của tổ tiên Lễ sẽ được thực hiện vào các dịp: Mừng năm mới (tết Nguyên Đán), tết Xíp Xí (rằm 14 tháng 7 âm lịch), lễ gọi hồn
Chữ viết, tiếng nói:
Người Thái có hệ thống chữ viết riêng, chữ viết cổ của Thái có tự dạng là Sanscrit, vốn được vay mượn từ Ấn Độ và được sáng tạo thành bộ chữ riêng, chữ Thái
cổ được viết liền nhau, không có dấu chấm, dấu phẩy, không viết hoa Hệ thống chữ viết người Thái cổ ghi chép về nhiều lĩnh vực như: lịch sử, lễ nghi, phong tục, luật lệ, đạo lý, địa lý, tín ngưỡng, nhân sinh quan, thế giới và vũ trụ, văn học, là nguồn sử liệu vô giá nghiên cứu mọi mặt đời sống, văn hóa, xã hội của người Thái Ghi lại những áng văn thơ của dân tộc để truyền từ đời này sang đời khác, được thể hiện qua những lời hát dân ca, những lời thơ trữ tình, lời dăn dậy con cháu, truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc ta Với giá trị và ý nghĩa đặc biệt Chữ viết cổ của người Thái được bộ tưởng bộ văn hóa thể thao và du lịch đưa vào danh mục Di sản phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 829/QĐ – BVHTTDL ngày 10/3/2016 Trước hệ thống chữ viết người Thái có tiếng nói riêng của mình, hệ thống chữ mẹ đẻ của mình rất đa dạng và phong phú
Văn hóa dân gian:
Văn học: Kho tàng văn học dân gian của người Thái vô cùng phong phú Với chữ viết xuất hiện từ lâu đời, người Thái đã ghi lại được một khối lượng khổng lồ các tác phẩm văn học dân gian của dân tộc mình Các tác phẩm nổi tiếng như: Táy Pú Sớc (lịch sử chinh chiến của người Thái), Quam Tô Mương (chuyện kể bản mường), các
Trang 14tập truyện thơ: Xống chụ son sao (Tiễn dặn người yêu), Khún Lú, Nang Ủa ( Khún Lú, Nàng Ủa) các bài dân ca (dân ca giao duyên, dân ca nghi lễ, dân ca lao động, sản xuất ), tục ngữ, câu đố, có giá trị nội dung và nghệ thuật
Y học: cũng là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, những người dân nơi đây đã biết tự tìm cho mình những bài thuốc riêng để chữa bệnh, những bài thuốc ấy lấy từ tự nhiên Họ có thể tự chữa trị như: cầm máu, bị rắn độc cắn, trị đau bụng, gãy xương hay thuốc bong gân
Hoạt động văn hóa - văn nghệ:
Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, thông tin truyền thanh - truyền hình có chuyển biến tích cực Các lễ hội truyền thống của các dân tộc như: Then Kin Pang, Nàng Han, Kin Lẩu Khẩu Mẩu, Gầu Tào, Lộc Xuân… Được khôi phục và duy trì tổ chức hàng năm; Điểm du lịch bản Vàng Pheo xã Mường So được gìn giữ, duy trì
và phát triển; Các di tích lịch sử văn hoá xếp hạng di tích cấp tỉnh như: Hang Thẩm tạo, Đồn Pháp, hang kháng chiến…và Di chỉ khảo cổ Nậm Tun xã Mường So xếp hạng cấp Quốc gia đang được khôi phục, giữ gìn và đầu tư Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" được duy trì và phát triển sâu rộng, hằng năm có
từ 55 - 60% số thôn bản; 85 - 90% số cơ quan, đơn vị, trường học; trên 60% số hộ gia đình được công nhận đạt tiêu chuẩn văn hóa
1.2 Tình hình kinh tế
Với những đặc điểm đã nói trên, Phong Thổ rất thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế Nông - Lâm nghiệp, chăn nuôi, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp khai khoáng, dịch
vụ, xuất, nhập khẩu và du lịch… Sau hơn 10 năm chia tách, bức tranh toàn cảnh về một huyện Phong Thổ mới đã cơ bản thay đổi: Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Hội Đồng nhân dân, Uỷ Ban nhân dân tỉnh Lai Châu, sự giúp đỡ của các ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh với quyết tâm ý chí tự lực, tự cường, đội ngũ cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc trong huyện đã đoàn kết một lòng phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, Phong Thổ đã nhanh chóng khẳng định vai trò của một huyện có tiềm năng, lợi thế để xây dựng và phát triển Kinh tế - xã hội huyện Phong Thổ phát triển khá toàn diện, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch, năm sau cao hơn năm trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 12,5%; thu nhập bình quân đầu người 13,5 triệu đồng/năm; lương thực đạt 446kg/người/năm; cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ
Trang 15trọng nông nghiệp (nông, lâm nghiệp, thủy sản: 32,2%; công nghiệp, xây dựng: 35%; dịch vụ: 32,8%).[3]
Công tác xây dựng Nông thôn mới được quan tâm chỉ đạo: Tăng cường tuyên truyền vận động dưới nhiều hình thức đảm bảo mọi tầng lớp nhân dân nắm được chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đảm bảo người dân được bàn bạc đóng góp ý kiến, góp công sức để thực hiện chương trình Nông thôn mới tại địa phương Đến nay đã triển khai xây dựng nông thôn mới 17/17 xã Tập trung lồng ghép các nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chuyển đổi đất trồng cây cao su trên địa bàn; được nhân dân tin tưởng hưởng ứng; đến nay đã trồng được 1.339 ha Công tác khoán, khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng mới; đã có chuyển biến căn bản, tình trạng lấn chiếm đất rừng làm nương và khai thác lâm sản không theo quy hoạch giảm hẳn, tỷ lệ
độ che phủ rừng tăng từ 29,5% năm 2002 lên 47,6%
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng khá, môi trường đảm bảo Chiếm tỷ trọng 12% trong cơ cấu kinh tế của huyện Cùng với đẩy mạnh phát triển nông - công nghiệp, huyện đã xác định thương mại, dịch vụ - du lịch là một lợi thế Khu kinh tế cửa khẩu Ma Lù Thàng đã và đang tiếp tục được đầu tư xây dựng, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng năm đều tăng, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất hàng nông sản xuất khẩu, giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng địa phương đạt trung bình 1,8 triệu USD/năm Trung tâm cụm xã, các chợ đường biên đang được đầu tư xây dựng và mở rộng để thúc đẩy giao lưu, trao đổi hàng hoá, qua đường biên mậu
Cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội được quan tâm đầu tư; Diện mạo đô thị từng bước khang trang, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được nâng nên Đến nay các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ thuộc địa bàn huyện đều được đầu tư, nâng cấp; 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm, trong đó: 46% được nhựa hoá, 42% rải cấp phối; hệ thống đường giao thông liên bản phát triển khá, 97% số thôn, bản có đường giao thông thuận tiện phục vụ nhu cầu giao thương; trên 74% số phòng học đã được kiên cố và bán kiên cố; 18/18 xã có trạm y tế được xây dựng và đang tiếp tục được nâng cấp; 18/18 xã đã có trụ sở làm việc khang trang; 100% số bản được xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, nhiều công trình thuỷ lợi được kiên cố hoá đã góp phần mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, 81% dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 18/18 xã, thị trấn với 82% số hộ
Trang 16được sử dụng điện lưới quốc gia Đài truyền thanh - truyền hình huyện được đầu tư xây dựng, các trạm thu phát sóng truyền thanh - truyền hình được nâng cấp, có trên 80% dân số được xem truyền hình, 97% dân số được nghe đài phát thanh; 18/18 xã, thị trấn phủ sóng điện thoại [3]
Quan hệ đối ngoại với huyện Kim Bình - tỉnh Vân Nam - Trung Quốc được mở rộng, tạo điều kiện giải quyết các vấn đề liên quan đến an ninh biên giới, hợp tác phát triển kinh tế Thường xuyên duy trì giao ban giữa lãnh đạo 2 huyện Từ những hoạt động ngoại giao thiết thực đó, mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa 2 huyện được tăng cường và phát triển
1.3 Truyền thống yêu nước đánh giặc ngoại xâm
Trước năm 1945, dưới sự cai trị của thực dân Pháp, huyện Phong Thổ cùng với các huyện Sa Pa, Than Uyên, Bát Xát, Văn Bàn (Lào Cai) thuộc tỉnh Phòng Tô, tỉnh lỵ đóng tại xã Mường So (Phong Thổ) Chúng xây dựng bộ máy chính quyền tay sai do gia đình Đèo Văn Ân cầm đầu, có cố vấn Pháp chỉ huy và bọn quan lại tổng quản, séo phải, tạo trưởng, thống lý, binh thầu… để cai trị, duy trì chế độ thực dân phong kiến Dưới ách thống trị, nô dịch, áp bức nặng nề và chính sách cai trị ngu dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chính quyền thực dân phong kiến đã làm cho tình hình kinh tế -
xã hội ở Phong Thổ lâm vào tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, tối tăm trì trệ kéo dài Đồng bào các dân tộc trở thành nô lệ cho chính quyền tay sai, đời sống vô cùng cực khổ, có tới 99% dân số mù chữ, cả huyện chỉ có 1 trường tiểu học, 1 bệnh xá chỉ giành cho gia đình bọn quan lại tay sai Nạn đói kinh niên, dịch bệnh xảy ra thường xuyên, các tệ nạn, hủ tục lạc hậu như nghiện hút thuốc phiện, mê tín dị đoan, ma chay cưới xin nặng
nề, tảo hôn, du canh, du cư… tồn tại phổ biến
Đồng bào các dân tộc đã nhiều lần tự phát đứng lên đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh, đòi xoá bỏ sưu cao thuế nặng Song bị chính quyền thực dân phong kiến đàn
áp dã man và đều bị thất bại Cách mạng tháng 8/1945 tuy chưa diễn ra, song các cuộc đấu tranh đã có tác động ảnh hưởng khá mạnh mẽ sâu sắc tới Phong Thổ
Để đối phó với cuộc kháng chiến của nhân dân ta, bọn thực dân phong kiến đã tăng cường củng cố, xây dựng hệ thống đồn bốt phòng ngự trên địa bàn toàn huyện Phía Bắc là đồn Dào San, phía Tây Bắc là đồn Pa Nậm Cúm, phía Đông Nam là các đồn Chu Va, Mường Cấu, Giang Ma, phía Tây Nam là đồn Pu Sam Cáp Xung quanh trung tâm tỉnh lỵ Phòng Tô là hệ thống đồn bốt khá dày đặc, chúng xây dựng sân bay
Trang 17quân sự Mường So Thực dân Pháp cho rằng Phong Thổ là địa bàn hiểm trở, Việt Minh không thể tiến công đánh chiếm được
Sau Cách mạng tháng 8/1945 phong trào cách mạng của huyện bắt đầu phát triển Hoạt động của các đoàn cán bộ và các đơn vị vũ trang đã khơi dậy tinh thần yêu nước, nhiều thanh niên các dân tộc đã hăng hái tham gia công tác cách mạng, hàng trăm gia đình không sợ địch khủng bố tù đầy đã che trở nuôi dấu cán bộ, liên lạc, dẫn đường cho bộ đội, tham gia xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng khu du kích
và cùng bộ đội chống địch càn quét, khủng bố Để đáp ứng với yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng Ngày 01/10/1950 Ban cán sự Đảng, tổ chức cộng sản, tiền thân của Đảng bộ huyện được thành lập, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào cách mạng từ tự phát đi đến tự giác, trở thành một bộ phận của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai
Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân dân các dân tộc trong huyện đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở chính trị
và lực lượng vũ trang Trong những năm 1950 - 1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Phong Thổ diễn ra gay go, quyết liệt, quân dân Phong Thổ đã phối hợp với
bộ đội chủ lực đánh bại các cuộc hành quân càn quét của địch bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân giữ vững vùng giải phóng Cuối năm 1950 đã phối hợp cùng với bộ đội mở chiến dịch Lê Hồng Phong, vây hãm đồn bốt, cứ điểm của địch, tiêu diệt bắt sống hàng trăm tên, làm cho chính quyền tay sai hoảng sợ, rút ra khỏi thị trấn Phong Thổ Đầu năm 1951, một trung đội dân quân du kích đã chiến đấu quyết tử với 1 đại đội của địch do một quan ba Pháp chỉ huy, bảo vệ cơ quan Ban cán sự Đảng, đã tiêu diệt nhiều tên địch trong đó có một tên quan ba Do lực lượng quá ít, trang bị vũ khí thô
sơ, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra rất gay go, quyết liệt Trận chiến đấu này tuy bị thiệt hại, xong tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm của các chiến sỹ, mãi mãi là tấm gương, cổ vũ động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân các dân tộc trong huyện
Từ tháng 9/1951 - 10/1953 chúng ta đã liên tiếp mở các chiến dịch Lý Thường Kiệt, Tây Bắc I, Tây Bắc II, chiến dịch Tiễu Phỉ, làm thất bại âm mưu mở rộng chiến tranh của địch Trong chiến dịch Lý Thường Kiệt ta đã tiêu diệt được 194 tên địch, gọi hàng và bắt sống 1.556 tên, làm thương vong 2 đại đội, thu hai khẩu pháo 37 ly, 13 súng cối, 161 súng các loại, 15 tấn đạn, 73 tấn lương thực và quân trang, quân dụng của địch Trong chiến dịch Tây Bắc ta đã tiến công bao vây, bức hàng, tiêu diệt, bắt sống
Trang 18làm thương vong hàng ngàn tên địch, giải phóng một vùng rộng lớn gồm Bình Lư, Tam Đường, Mường So, Pa Nậm Cúm Mặc dù liên tiếp bị thất bại nặng nề, xong với bản chất xâm lược, thực dân Pháp thi hành chính sách phỉ hoá toàn dân, hòng chiếm đóng lâu dài Phong Thổ Để ngăn chặn âm mưu của địch, cuối năm 1953 chúng ta mở chiến dịch Tiễu phỉ trừ gian, lực lượng vũ trang Phong Thổ phối hợp với các đơn vị chủ lực, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, anh dũng hy sinh, ngoan cường trong chiến đấu lần lượt đánh tan các đồn bốt địch, truy kích gọi hàng, bắt sống và tiêu diệt gần 500 tên phỉ, làm tan rã hoàn toàn lực lượng phỉ do thực dân pháp huấn luyện, chỉ huy phá tan âm mưu phỉ hoá của địch Cùng với chiến dịch tiễu phỉ, chúng ta đã huy động 22.341 ngày công, 49.899 công ngựa thồ, 2.460 công thuyền mảng vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí đạn dược cho chiến dịch Điện Biên Phủ, cử nhiều đơn vị dân quân, du kích trực tiếp cùng bộ đội tham gia chiến đấu, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đánh bại thực dân xâm lược và bọn can thiệp Mỹ, viết nên trang sử vàng chói lọi của dân tộc và giải phóng Phong Thổ ngày 29/10/1954
Giải phóng hoàn toàn huyện Phong Thổ, là sự kiện lịch sử trọng đại trong cuộc chiến đấu thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta Đã giải phóng đồng bào thoát khỏi ách cai trị, nô dịch, áp bức nặng nề của bọn thực dân xâm lược và phong kiến phản động Đó là bước ngoặt lịch sử, mở ra kỷ nguyên mới cho phong trào cách mạng huyện nhà đó là kỷ nguyên độc lập tự do và quá độ lên CNXH
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sau giải phóng tháng 10 năm 1954, nhiệm vụ của Đảng bộ, quân dân Phong Thổ rất nặng nề, khó khăn, một mặt phải ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, bài trừ tệ nạn, hủ tục lạc hậu, phát triển văn hoá xã hội, đẩy lùi nạn đói, nạn mù chữ để ổn định đời sống nhân dân, góp phần chi viện cho Miền Nam đánh Mỹ, đồng thời phải tập trung lực lượng tiếp tục trừ gian, tiễu phỉ, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ chủ quyền biên giới, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng hệ thống chính trị từ huyện tới cơ sở
Từ năm 1955 - 1960: Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân dân Phong Thổ mở nhiều đợt tấn công truy quét thổ phỉ, việt gian, đặc vụ Năm 1955 - 1956 tập trung cải huấn một số đối tượng tay sai trong bộ máy ngụy quân, ngụy quyền của địch Từ năm
1957 - Tháng 5/1959, lần lượt phá tan các vụ bạo loạn, nổi phỉ, xưng vua ở bản Chu
Va, Bình Lư, Hồ Thầu, Dào San, Khun Há, Nậm Xe, đến năm 1960 tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đã cơ bản ổn định và được giữ vững
Trang 19Tiểu Kết
Phong Thổ là huyện vùng cao biên giới phía Bắc của tỉnh Lai Châu Phía Bắc tiếp giáp huyện Kinh Bình, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây là huyện Sìn Hồ, phía Đông là huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp huyện Tam Đường và thành phố Lai Châu Huyện có 18 xã, thị trấn, trong đó có 13 xã biên giới tiếp giáp với Trung Quốc Nơi đây có nhiều tài nguyên, khoáng sản, trữ lượng khá lớn như: Đất hiếm, đồng, vàng là điều kiện quan trọng để phát triển công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản Phong Thổ rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế Nông - Lâm nghiệp, chăn nuôi, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp khai khoáng, dịch vụ, xuất, nhập khẩu và du lịch tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển
Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, thông tin truyền thanh - truyền hình có chuyển biến tích cực Các lễ hội truyền thống của các dân tộc như: Then Kin Pang, Nàng Han, Kin Lẩu Khẩu Mẩu, Gầu Tào, Lộc Xuân… Được khôi phục và duy trì tổ chức hàng năm
Với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân huyện Phong Thổ đã anh dũng tham gia những cuộc khởi trong các cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ bảo vệ tổ quốc
Trang 20CHƯƠNG 2
LỄ HỘI NÀNG HAN CỦA NGƯỜI THÁI Ở MƯỜNG SO,
PHONG THỔ, LAI CHÂU
2.1 Một số khái niệm
Khái niệm Lễ Hội
Trên thế giới, dân tộc nào cũng có lễ hội Nó như là một loại hình sinh hoạt văn hóa, tinh thần đặc biệt mang tính tập thể nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh, củng cố ý thức cộng đồng Lễ hội chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội - tâm lí, tính cách và tín ngưỡng, tôn giáo của các tộc người trên khắp hành tinh của chúng ta
Tuy nhiên, lễ hội phát huy giá trị và phát triển mạnh mẽ nhất ở những vùng cư dân quần tụ trong tinh thần cộng đồng làng xã, như cư dân nông nghiệp ruộng nước, nông nghiệp nương rẫy và cư dân ở những vùng biển, đầm phá… Do môi trường khắc nghiệt, do nhu cầu thời vụ và trị thủy họ phải cố kết với nhau để chống lại sự hiểm trở, hùng vĩ của tự nhiên nên họ sống quần tụ thành những làng xã ổn định Và chính tinh thần cộng đồng đó là cái nôi, là “nguồn sữa mẹ” nuôi dưỡng các hình thức lễ hội Trong lễ hội cư dân của làng, xã có dịp vui chơi, giao lưu tình cảm xóm làng và gửi gắm cho nhau những ước vọng về một cuộc sống ấm no hạnh phúc… Lễ hội là một hoạt động văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của nông dân, diễn
ra trong một chu kì không gian và thời gian nhất định Lễ hội gồm có hai phần: Một là phần lễ, phần này có tính cách nghiêm trang, thiêng liêng vừa để tưởng công nhớ lao của người mà ngày lễ hội đó đề cập đến, đồng thời thể hiện sự tôn sùng, biết ơn của nhân dân đối với đối tượng được thờ phụng Hai là phần hội: là phần tổ chức các hoạt động vui chơi cho cộng đồng
Như vậy, lễ hội là một hoạt động văn hóa cổ truyền của làng xã Việt Nam, góp phần tạo nên văn hóa truyền thống Văn hóa làng truyền thống là sự lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc Trải qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, kẻ thù của dân tộc có thể cướp được nước, thậm chí có hàng nghìn năm biến nước ta thành châu, quận như phương Bắc Hàng trăm năm biến dân ta thành nô lệ, áp dụng chính sách nô dịch văn hóa Tuy nhiên, với sức mạnh của một nền văn minh công nghiệp như thực dân Pháp nhưng cũng không thể đồng hóa được văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt Nam đó là nhờ sức sống của văn hóa làng truyền thống Việc điều tra khảo sát, nghiên cứu về văn
Trang 21hóa lễ hội đã góp phần trả về cho lễ hội những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, khẳng định vai trò của lễ hội truyền thống của các làng cổ trong điều kiện hiện nay
Khái niệm “Lễ”
Lễ là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, lực lượng siêu nhiên phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện
Khái niệm “Hội”
“Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ
nhu cầu cuộc sống Trong phần hội gồm hệ thống các trò chơi, trò diễn xướng phong phú và đa dạng, như các trò sau:
Trò chơi thượng võ: đấu vật, đánh đu, tung cầu, kéo co…
Trò chơi thi tài, bao gồm: thổi cơm, đồ xôi, làm bánh, dệt vải, bện thừng…
Trò chơi nghề nghiệp, bao gồm: trình nghề, cướp kén, săn cuốc, đánh cá, đốn củi, cướp pháo…
Trò chơi luyến ái: bắt chạch, múa mo, chen nhau…
Trò chơi giải trí, bao gồm: cờ người, tổ tôm, đáo cọc, đáo đĩa, thi thơ, ca hát… Trò chơi chiến đấu như: diễn trận, ném đá, múa cờ lau…
Trò chơi phong tục như: ôm cột, chạy hồi loan, chém chữ…
Trong thực tế, một trò chơi không thuần túy mang một ý nghĩa mà có sự đan xen, thâm nhập khá phức tạp của nhiều ý nghĩa và chúng tùy theo hoàn cảnh, môi trường mà có thể xuất hiện hoặc không
Hội là để vui chơi, chơi thỏa thích thoải mái Nó không bị ràng buộc bởi lễ nghi, tôn giáo, đẳng cấp và tuổi tác… Tuy ồn ào, náo nhiệt, tuy giẫm đạp, chen chúc nhưng hội không hề hỗn độn, sa đà…
2.2 Khái quát về lễ hội Nàng Han
Xuất phát từ lòng biết ơn nữ anh hùng của dân tộc, người dân xứ Thái ở Mường So đã lập đền thờ và hàng năm vào ngày 15/2 (âm lịch) mang các lễ vật tới đây
tổ chức lễ hội Thiếu nữ Thái rạng rỡ trong những bộ váy áo cóm duyên dáng, uyển chuyển qua từng điệu múa Các chàng trai khỏe mạnh, nhanh nhẹn tràn đầy sức sống bên các trò chơi dân gian truyền thống Già, trẻ vui mừng cùng du khách thập phương trong lễ hội Nàng Han được tổ chức ngày 15 tháng 2 tại xã Mường So, huyện Phong Thổ (Lai Châu)
Trang 22Tuy nhiên, từ năm 1948 lễ hội không được duy trì Năm 2008, UBND tỉnh Lai Châu quan tâm khôi phục và được duy trì đến ngày nay
Vào ngày lễ hội, ngay từ sáng sớm, trai mường trên, gái bản dưới trong bộ váy,
áo cóm mới nhất, đẹp nhất từ các ngả đường kéo về đền thờ Họ mang hương, hoa, nông sản, thực phẩm do chính bản làng mình làm ra dâng lên Nàng Han, nhằm cầu mong cho một mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa, gia súc đầy chuồng, người người khỏe mạnh
Tương truyền: Nàng Han là một người con gái Thái được sinh ra trong một gia đình nghèo Khi giặc phương Bắc xâm chiếm nước ta, Nàng Han cải trang nam nhi, trở thành một nữ tướng thuộc cánh quân phía Bắc Nàng kêu gọi thanh niên trong Mường nổi dậy, quật cường chống giặc ngoại xâm Sau khi dẫn quân đánh đuổi giặc ra khỏi
bờ cõi nước ta trở về Mường, nàng tắm gội tại mó nước ở bản Tây An (xã Mường So) rồi bay lên trời
Trong tâm linh 16 xứ Thái, xứ Mường ở Tây Bắc, Nàng Han cũng giống như
Bà Trưng, Bà Triệu đối với người Kinh
Trong lễ hội, gồm hai phần lễ và hội Trong phần lễ bà con trong bản Mường sẽ dâng hương, hoa và các nông sản do chính mình làm ra và khẩn cầu những điều tốt đẹp cho bản thân, gia đình, bản Mường
Ngoài phần lễ chính còn diễn ra phần hội với nhiều trò chơi dân gian đặc sắc, hấp dẫn như: kéo co, tó má lẹ, ném còn, tọt én cáy (đánh cầu lông gà), đi cà kheo Bên cạnh đó, còn chương trình văn nghệ đặc sắc với những điệu múa quạt, múa nón, múa soỏng đậm bản sắc dân tộc Thái hòa cùng tiếng đàn tính tẩu Cuối cùng du khách thập phương sẽ được thưởng thức những món ăn mang đậm hương vị Tây Bắc trong phần thi ẩm thực mang đậm bản sắc dân tộc Thái như: pa pỉnh tộp (cá nướng gấp), cơm lam, cá bống vùi tro, lá ngón xào tỏi
Để tạ ơn và nhớ ơn công lao của Nàng Han Người dân trong vùng hàng năm đã tổ chức lễ hội này Cũng vì nhiều lý do khác nhau mà đã có một thời gian lễ hội bị lãng quên Nhưng giờ Người dân và chính quyền địa phương đã khôi phục là lại lễ hội Đây cũng là dịp mà bà con các dân tộc cũng như du khách gần xa có cơ hôi giao lưu, tham
gian những trò chơi lý thú, góp phần dữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nơi đây
Lễ hội Nàng Han nhằm tỏ lòng biết ơn, tôn vinh nữ anh hùng có công đánh đuổi giặc ngoại xâm của đồng bào Thái trắng, lễ hội được tổ chức vừa để tri ân Nàng
Trang 23Han, vừa mong cầu sự no ấm, cuộc sống an lành, nhân khang, vật thịnh, mùa màng tươi tốt cho khắp bản làng Đây còn là dịp để khơi dậy, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Thái
2.2.1 Nguồn gốc của lễ hội Nàng Han
Lễ hội Nàng Han được lưu truyền trong nhân gian như một truyền thuyết, kể về người con gái kiên cường, anh dũng của dân tộc Thái trong chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc trống xâm lăng, một người phụ nữ mang những nét duyên dáng, hiếu thảo là hiện thân của người Thái khu vực Mường So – Phong Thổ Lai châu nói riêng và phụ nữ Việt Nam nói chung
Truyền thuyết Nàng Han là bản anh hùng ca lịch sử hào hùng của dân tộc Thái Nó chứng tỏ truyền thống yêu nước, xả thân vì tổ quốc, giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ như truyền thuyết Thánh Gióng của người Việt.Đó chính là cội nguồn sức mạnh truyền thống cố kết của dân tộc Việt Nam ta Là một người con của dân tộc Thái tại xã Mường So, Phong Thổ, Lai Châu Ông Nông Văn Nhay, người sưu tập văn hóa Thái đã biên soạn “Truyền thuyết Nàng Han” thành văn bản Theo ông:
TRUYỀN THUYẾT NÀNG HAN
Ngày xưa ở Mường Mít huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu có vợ chồng nông dân nghèo (dân tộc Thái), cũng hiếm hoi được người con, nhưng lại sinh con một bề là gái, đặt tên chị là Ơ và tên em là Ánh
Qua năm tháng tảo tần hai người con khôn lớn theo bản Mường chăm ngoan, nói lời hay, bản mường ai cũng khen Hai vợ chồng người nông dân vừa mừng lại vừa tủi Mừng vì hai con giờ đã khôn lớn giúp đỡ bố mẹ chăm lo việc đồng áng, lại biết
tự chăm sóc cho bản thân
Tủi vì đã hiếm con lại sinh con một bề là gái Tiếng Thái có câu: (Ó póng pẹ mặt,
Ó tằn pẹ chảu), Nghĩa là sinh con một bề là gái thì xung mẹ, nếu sinh con một bề là
trai thì xung bố, chính điều này không tránh khỏi bà con dân mường xôn xao, bàn tán Biết bố mẹ không vui do vậy hai chị em càng gắng sức chăm lo công việc đồng áng, công việc bản Mường Hai chị em tập đi cày, bừa nương ruộng, công việc hai chị em gánh vác không kém bọn con trai trong mường thậm trí còn giỏi hơn Con trai, con gái trong mường nô nức làm theo, nhân rộng cả khu vực Mường Than, chính vì vậy con gái trong Mường biết cày, bừa cho đến tận ngày nay
Trang 24Hai chị em còn tham gia học tập theo con trai trong Mường như: võ nghệ, bắn nỏ, bắn cung lại nhất nhì trong Mường Giỏi săn bắn thú rừng, không những thế hai chị em
còn biết chế thuốc độc đặc biệt để tẩm vào cung tên Thuốc đó theo người Thái là: "Da tai" thú rừng bị trúng tên uống nước vào thì chết gay tức khắc Người Thái có câu (Bén chắp hô đung mạ Tai Hô Tá), nghĩa là; bắn Hươu, Nai ven rừng về chết ở ven suối
Cuộc sống của họ cứ thế trôi đi, cho đến một ngày kia bản mường có nguy cơ bị giặc phương Bắc Tràn vào, tàn phá Chiềng Sa nay là Mường So Thanh niên trai tráng các Bản Mường văn ôn võ luyện, lên đường đánh giặc giữ Mường Nhân dân Chiềng
Sa phải sơ tán vào rừng, thanh niên ở lại đánh giặc, lúc bấy giờ tướng cầm đầu của
giặc phương Bắc là ải Dọ Dẹ, theo tiếng Thái "Dọ Dẹ" là rủ rê, tướng không có quân,
rủ rê nhau về đánh Chiềng Sa theo kiểu được ăn, mất thôi Tướng Dọ Dẹ rất tàn bạo, đi đến đâu chúng cướp đất, ruộng vườn, nương rẫy, giết hại người dân vô tội, chính vì vậy nhân dân có câu khiển trách chúa đất Chiềng Sa
Bớ pin tẹ bớ pin, bớ pin té tạo chúa đin Chiềng Sa
Chút láu phảy, pắt đẩy phô cảnh mế nấm khả
Pắt đẩy thẩu nóm nọi âu pay khả bén xê
Dân cọ giản lai - lo lai pái pây khẩu đung déc pá
Tản pá phé hệt hơn, Tản pá láu pa khem hệt chốn
Dịch nghĩa:
Không thành, thật là không thành!
Không thành tại tạo chúa đất Chiềng Sa
Đóng cửa ải không kín, khép của mường không khít
Giặc hại vào cửa ải, giặc Hỏ vào cửa mường
Ải Dọ Dẹ đến tàn phá mường Yên, giết hại dân vô tội
(Ải Dọ Dẹ là một tên tướng không có quân Dọ Dẹ tức là rủ rê, ải Dọ Dẹ là tướng rủ rê nhiều người đi đánh chiếm Chiềng Sa)
Trang 25Bắt được vợ chồng đem đi chém đầu
Bắt được già trẻ đem bắn bỏ giết hại
Dân làng chạy vào rừng lánh nạn
Cắt cỏ ranh lợp lán, chặt lau sậy làm lều
Mọi người dân gọi đất trời kêu cứu [13]
Lúc này tại Mường Mít và cả khu vực Mường Than, thanh niên trai tráng tích cực văn ôn võ luyện, nô nức lên đường đánh giặc giữ Mường Hai chị em Ơ và Ánh bàn nhau rằng nhà mình không có anh em trai chỉ có hai chị em mình là gái nhận thấy mình cũng có chút kinh nghiệm võ thuật, không kém gì đàn ông Ở Mường Mít có anh tên là Ái Sái Hịa, là người tài giỏi lại có tín nhiệm với bà con dân Mường và cũng là người trước đây thầm yêu, trộm nhớ chị Ơ nên hai chị em đến xin anh Hịa để được đi đánh giặc Hịa nghe hai chị em nói vậy ban đầu không chấp thuận, Hịa nói: "đàn bà con gái không được đi đánh giặc, ra trận gặp con gái là súi quẩy lắm đấy" Hai chị em buồn bã quay trở về thưa với bố đi xin hộ lại bị bố mắng chửi; " việc đánh giặc không phải đàn bà, con gái", hai chị em càng thất vọng nhưng không vì thế mà bỏ cuộc Ơ bàn với Ánh "Em ở nhà giúp bố mẹ chị có cách rồi, chị sẽ gặp Ải Sái Hịa và đóng giả mình làm trai xem thế nào " Sái Hịa nghe vậy cho rằng đó cũng là một ý hay, cuối cùng anh chấp thuận, Hịa căn dặn (tuyệt đối đừng để lộ là gái đóng giả trai)
Thế là chị Ơ đã trở thành gái đóng giả trai bước vào hàng ngũ đoàn quân lên đường đánh giặc giữ Mường, đoàn quân rất đông, hàng nghìn hàng vạn thanh niên dân tộc Thái và các dân tộc khác lần lượt hành quân qua Mường Lự, San Thàng, Thèn Sin, Bản Mấn, Vàng Bâu, rồi đánh nhau tại cánh đồng Tùng So, do quân địch đông nên quân ta phải dùng mưu trí, dũng cảm phá vây, dồn địch vào thế bí, quân ta tấn công bằng Nỏ có cung tẩm thuốc độc Anh tràng Ơ bắn cung tên rất giỏi, anh và đồng đội lập nhiều chiến công, bọn địch trúng tên uống nước vào là chết ngay tại vên suối
Ở đầu cánh đồng Tùng So có một cái ao nhỏ, người Thái gọi là "Nong Dạng"
Nong nghĩa là ao, Dạng nghĩa là lồng (ví như lồng gà) Quân địch bị thương lũ lượt kéo đến uống nước ở cái ao này rồi chết Người Thái ví cái ao là lồng, tướng là gà mẹ, lính là gà con Gà mẹ gọi gà con vào lồng, tướng gọi lính vào ao uống nước rồi chết, cái ao nhỏ từ đó người Thái gọi là Nong Dạng Hiện nay vẫn còn Nong Dạng ở đầu cánh đồng Tùng So, cách trung tâm Mường So 4 km, về phía Bản Nấm xã Nậm Xe huyện Phong Thổ
Trang 26Quân địch bị chết nhiều, tháo chạy về Khổng Bát nay gọi là thôn Tây An, bên làng Khổng Bát có bãi đất bằng nay là sân bay, cạnh sân bay có cái ao người Thái gọi
là Nong Búng, nghĩa là: Nong là ao, Búng là vùng (vùng nước - vùng máu) Quân ta
và quân địch đánh nhau lớn tại bãi bằng bên vùng Khổng Bát (nay là sân bay), đánh bằng võ nghệ, bằng giáo mác, đao kiếm Quân địch chết tại ven bờ ao, cái ao thành
vùng máu, từ đó người Thái gọi là (Nong Búng), hiện cái áo này vẫn còn cạnh sân bay
giáp thôn Tây An xã Mường So huyện Phong Thổ Do khí thế quân ta mạnh, mưu lược tài ba, địch bị thua chạy qua cánh đồng Tùng Lùm vượt suối nặm lùm vào cánh đồng Tùng Chín khu vực Huổi Nả xã Khổng Lào bây giờ
Tại bản Khồng Tở khu vực trụ sở Ủy Ban xã Mường So bây giờ, tướng địch là
ải Dọ Dẹ quân địch bảo vẹ nghiêm ngặt Quân ta do anh tràng Ơ dẫn đầu phá vây, anh
Ơ bắn ải Dọ Dẹ bị thương chạy lên ven rừng Pom Bê
Pom Bê nay là thôn Tây Sơn xã Mường So Ở đó có cái ao người Thái gọi là
Nong Cảu Va nghĩa là: Ao chín sải tay Tướng Dọ Dẹ bị thương uống nước ao này rồi
chết, họ đem Dọ Dẹ chôn cách bờ ao chín sải tay về phía chân đồi Pom Bê, không đắp
mộ chỉ cắm một cành lê Đánh Đẩu Tướng địch chết rồi, quân lính địch bị tiêu hao, chớp lấy thời cơ thuận lợi này, quân ta do Ải Sái Hịa lãnh đạo, chỉ đạo mỏm đồi Gianh
đối diện Huổi Nả tại đây quân ta cắm trông, theo người Thái tiếng gọi là khá, cắm trông là Pắc Khá, Huổi Nậm là một khe suối nhỏ Quân ta phục kích ở khe suối này
Ải Sái Hịa phát lệnh tấn công đuổi giặc ra khỏi bờ cõi lúc đó hàng nghìn, hàng vạn tên Nỏ - tên Cung lao vun vút từ khe suối ra quân địch quân địch đa phần trúng tên chết còn lại một số ít tháo chạy, bị quân ta đuổi, giặc chạy theo con suối Nặm Chín lên
Mồ Xì Câu rồi chạy sang bên kia biên giới Từ nay Chiềng Xa không còn một bóng tên xâm lược, bản mường được bình yên Lúc này nhân dân và các thiếu nữ Khổng Tở, Khổng Bát, Khổng Lào làm cơm liên hoan mừng chiến thắng, bữa cơm tạ ơn những chiến sĩ dũng cảm giữ Mường Nhà nào cũng đồ sôi, cóm khẩu thơm phức, các thiếu
nữ làm cá bống vùi tro cách làm đơn giản nhưng lại ngon ăn vào khó quên theo người Thái thì làm như sau: (con cá bống mổ rửa sạch, cho gia giảm, đặc biệt phải có quả Mắc Khén sau đó ướp khoảng vài phút dùng lá chuối gói kín hơi, vùi tro khoảng 20 -
30 phút là chín) Cá bống vùi tro đã trở thành món ăn ẩm thực nổi tiếng khu vực Mường So, quân ta ai cũng khen, khen gái Chiềng Sa dễ mến lại xinh đẹp, rồi họ hát
Trang 27và múa xòe thâu đêm Nhưng, cuộc vui nào cũng kết thúc Sau khi ra về ai cũng muốn được ăn cá bống vùi tro, ước về Mường So thăm nàng
Riêng Ơ và Hịa có ý định ở lại vài hôm để thấu tình lời yêu, Ơ và Hịa đi dạo chơi xuống vùng nước đầu làng vàng Pheo bây giờ, ở đó họ tâm tình lời yêu và hẹn nhau tại đây Hịa nói anh đợi em ở đây, em về lấy áo Cóm Váy, tắm xong em mặc bộ áo nữ đó vào chúng mình thành đôi tình nhân đi xem múa xòe, giới thiệu với bà con anh Ơ là đây, chính là chị Ơ đóng giả trai đánh giặc Nghe lời anh chị Ơ về Khổng Bát lấy quần
áo, đến mó nước nhỏ ven làng Khổng bát, Ơ cúi xuống nước rửa mặt, lộ bộ ngực ra bị
ai đó phát hiện Ơ là con gái đóng giả trai! không biết ai đó đã bắn Ơ bị thương Ơ chạy lên bãi cỏ ven đường đi Bản Lang nhờ cứu giúp nhưng Ơ lúc này đã ngã ngục, cấm khẩu Lúc này một tốp phụ nữ Chiềng On chạy nạn trên đường về nhà, thấy có người
bị thương họ bàn tán quân ta đấy, hôm qua quân ta đánh nhau với địch ở đây to lắm,
họ bàn nhau đưa anh về bản để chạy chữa, rồi họ phát hiện người bị nạn là đồng giới với mình là con gái, họ tấm tắc khen con gái gì mà han cả thế, ai cũng nói con gái gì
mà han ngán thế!, rồi họ đặt tên nàng là nàng Han
Tiếng Thái: Han là Hùng, nàng Han có nghĩa là nữ anh hùng Biết được anh là nữ lại anh hùng thế nên tốp phụ nữ đó tích cực chạy chữa, họ đưa nàng về Chiềng On, không tiện đưa người nạn vào nhà, họ cùng nhau làm một cái lán nhỏ ở ven suối có lùm cây xum xuê bóng mát, để nàng ở đó cùng nhau chạy chữa chăm sóc cho nàng Lúc này anh Hịa đang sốt ruột không biết Ơ đi đâu, không biết chuyện gì đã sảy ra, anh hịa đã đi tìm nhưng không thấy nên đành quay về Mường Mít
Gải thích về cái lán: theo tiếng Thái là cái nhà là Lang Hởn cái lán là Lang Chôn
nhưng phải có chủ nhà, làm cho nàng nhưng nàng còn cấm khẩu nên không biết tên này là gì, ở đâu Chẳng chạn lang Hớn thẩu xi, lang chốn mẹ nái, nghĩa là cái nhà ông xi, cái lán bà nác Họ đợi nàng tỉnh, hỏi tên rồi mới đặt tên cái lán Thế nhưng
vì vết thương quá nặng nàng đã qua đời Nhân dân Chiềng On tổ chức mai táng nàng rất tử tế, phụ nữ Chiềng On lấy vải Thổ Cẩm khổ hẹp 3 khổ khâu lại hình vuông bằng tấm vải ga trải đệm của người Thái, họ hái quả má phét về nhuộm
thành màu vàng làm lá cờ tặng cho nàng được gọi là (cờ Nàng Han) đưa nàng chôn
cất ở một khu rừng nhỏ gần đó Nàng là người không bình thường, đề phòng bất chắc, chôn sang lớp đất rồi san bằng phẳng, không dắp mộ
Trang 28Sau khi chôn cất song ngay đêm hôm đó bỗng một cơn mưa to gió lớn, con suối bên cạnh do lũ to tràn về cuốn trôi cái lán của nàng rồi bồi một lớp cát vàng lên, người Thái gọi là nậm mả sá lạng nau (rửa uế), từ đó khe suối này gọi là huổi Sá Lạng Để tiện hương khói cho nàng, phụ nữ Chiềng On có một số về làm nhà ở cạnh đó, rồi được nàng phù hộ cho làm ăn khấm khá, mùa màng bội thu, chính vì vậy dần dần có nhiều nhà đến ở thành một bản làng mang tên cái lán đó là Lang (từ đó được gọi là Bản Lang) Nay được gọi là Bản Lang xã Bản Lang huyện Phong Thổ
Bản mường Chiềng Sa được bình yên qua các thời kỳ phát triển lịch sử cho đến tận ngày nay Quan lại, chúa đất Chiềng Sa được củng cố và phát triển, chúa đất Chiềng Sa tính đến dưới linh hồn Nàng Han về trung tâm Chiềng Sa là chỗ mó nước Nàng Han
Nặm bó Nàng Han lập đền thờ để tiện thờ cúng nàng, quan lại chúa đất cho nhân dân bản Hố Ná làm cái trống to để làm lễ thờ cúng nàng Từ đó ngày này trở thành ngày hội lớn của nhân dân, trống to, cờ mở đón đưa nàng theo phong tục của người
Thái trắng vùng Chiềng Sa Theo nghi lễ: (Khon Páng, heo páng), tức là theo nghi lễ
(linh cứu giả, mộ giả)
Nghi lễ được tổ chức theo tuần tự sau: lấy rơm bó buộc thành hình người gọi là thần
linh (Phi Khon), mặc quần áo, cho thần linh nằm ngủ Coi như ốm nặng có người chăm sóc Do ốm nặng không qua khỏi đã qua đời Làm các thủ tục niệm, phát tang (Tấn Phi)
Làm thủ tục thờ cúng, đưa vào quan tài sau đó đưa lên kiệu khiêng đi Cả làng đi đưa đám dưới Nàng Han theo nghi lễ này, nhân dân Chiềng On đi đưa, nhân dân Chiềng Sa đi đón Những người đi đưa mỗi người cầm lá cờ nhỏ hình tam giác đủ các màu xanh, đỏ, tím,
vàng Người Thái gọi là: (cờ Xẳm Cơ Xét), lúc hành trình cờ nàng Han đi trước, cờ Xẳm
Cơ Xét theo sau Nhân dân Chiềng Sa đón, đã làm sẵn cái nhà mồ người Thái gọi là:
(Thênh heo) hay còn gọi là Hơn mố Phụ nữ Chiềng Sa làm hai cái nón tặng nàng, một cái nón bằng giấy và một cái bằng vải Tiếng Thái gọi cái nón bằng giấy là cúp chể, nón vải
là cúp pé Các thiếu nữ Chiềng Sa tặng nàng bài thơ sau:
Cúp ché bớ mí lạp
Cúp pé bớ mí sai
Sao đai bơ mí mả
Sao han cả chong phủ trái tặp sớc âu mướng
Xúm khỏi đây kin bớ lứm thú, dảy dú bớ lưm công
Trang 29Dịch nghĩa:
Nón giấy chưa có giải
Nón vải chưa có quai
Gái tơ chưa có chồng
Gái hùng đóng giả trai đánh giặc giữ mường
Chúng tôi được ăn không quên được, được sống bình yên không quên công ơn này [11]
Nàng Han được chôn cất bên cạnh mó nước nơi mà nàng bị nạn, nậm bó Nàng Han, ngôi mộ cao ráo xếp đá xung quanh rồi đặt nhà mồ lên trên mộ, cắm nón giấy đằng sau, nón vải đằng trước, các loại cờ cắm xung quanh mộ dân làng mổ trâu làm
đồ cúng, chọn con trâu màu trắng, trâu non chưa giao phối Điều đó thể hiện: Nàng
trong trắng chưa có chồng Lễ cúng tế được tổ chức theo nghi lễ (ngai tá phi tai típ),
(nghi lễ cúng tế này áp dụng cho người chết trận, chết oan uổng) Ngái tá ngái ra ăn bữa trưa, tá là bến nước tức là ăn trưa ở bến nước
Khi thờ cúng xong mọi người ra bến nước ăn cơm uống rượu đồ đựng thức ăn trải lá chuối làm mâm, thức ăn đựng bằng lá, bằng máng tre nứa, ăn xong tất cả vứt
xuống suối, ai cũng vừa vứt, vừa nói: "Xá Pay, xa hại xá khát, xá khẩu phay lay khẩu nặm pay tạu nị pay pin phi hụ phi đi lọ" Nghĩa là: ăn xong họ quét dọn đồ dựng rác
rưởi vứt xuống bến nước, họ vừa vứt vừa nói: Xua đi, xua đi những gì nàng bị oan uổng, xua đi những gì nàng gặp đen đủi Xua đi vào lửa cho cháy, xua xuống nước cho trôi Nàng sống khôn chết thiêng, thành ma làng canh giữ bản mường
Người Thái ngày xưa không có nhà mồ, khi trôn cất đắp mộ là song Nàng Han
là người có công với bản mường, nhân dân Chiềng Sa làm cái nhà mồ tặng nàng
Người Thái gọi là: (lang thiêng heo nang Han), kiến trúc ngôi nhà mồ kiểu nhà sàn
người Thái thu nhỏ Tầng dưới bằng ván gỗ, tầng trên bằng lớp nan tre nứa, tổng thể ngôi nhà có chiều dài khoảng 3m, dện tích trong nhà 2,2 m đủ để trải chiếu một, trải trăn, đệm và một chiếc gối, bề ngoài của ngôi nhà lớp nan đan hình vuông, sàn đằng trước để một nghế mây, một ca xá mâm nan Trong mâm nam có cơi chầu, chén uống nước và một số đồ dùng khác tượng trưng nhân dân làm tặng nàng Nóc
nhà hai mái đều lợp bằng gianh đặt lên trên mộ Tiếng Thái mộ là heo, nhà mộ là thiêng heo trang trí ngôi mộ: cái nón giấy cắm đằng sau ngôi mộ, xunng quanh
cắm các loại cỏ nhỏ Toàn thể ngôi mộ trông rất nghiêm trang - linh thiêng, chính
Trang 30vì vậy người Thái vùng này hễ có người chết lại làm nhà mồ kiểu như vậy, cứ thế đời này sang đời khác Cho đến nay nó trở thành một tín ngưỡng văn hóa bản địa bất khả xâm phạm từ bao đời nay
Qua các thời kỳ phát triển của lịch sử xã hội loài người Thái - cộng đồng các dân tộc, các thế hệ chúa đất có sự thay đổi về kiến trúc, nhìn chung cũng kiểu nhà sàn người Thái thu nhỏ Để chắc chắn và bền nhà mồ không đặt lên trên mộ nữa, họ làm bằng cột gỗ Chai, gỗ nghiến và chôn xuống đất cho thật chắc, xung quanh lợp bằng cây tre, ống bương bổ đôi khi lợp thì cái úp, cái ngửa Thời gian trôi đi thế hệ sau kế tiếp, tôn tạo nâng cấp lại làm theo ý mình, tuy nhiên cái cũ không vứt bỏ, cứ thế thành nhiều ngôi nhà, nó trở thành một quần thể di tích đề thờ
Đến thờ kỳ Đèo Văn Ân lên ngôi Ông sinh năm nhâm ngọ 1882, chàng trai thanh niên người Thái Mường So, năm 1917 ông được thăng chức: Chi Châu trưởng Châu Phồng Tô (tức Phong Thổ), lúc này ông 35 tuổi, khi lên ngôi ông củng cố tổ chức bộ máy quan lại từ
Châu đến cơ sở xã bản Ông tổ chức hội nghị người già (thẩu khé), bàn việc xây dựng bản
mường, việc tôn tạo nâng cấp các địa điểm thờ cúng, trong đó có đền thờ Nàng Han là trường hợp đặc biệt phải làm ngay
Chương trình xây dựng tôn tạo các đền thờ, ông đề ra được các già làng nhiệt liệt ủng hộ Thế nhưng chưa kịp thực hiện thì bỗng nhiên cơn đại hồng thủy ập tới Đây là cơn lũ khổng khiếp nhất trong lịch sử vào tháng 6 - 1917 Lũ cuốn trôi đi tất cả mọi thứ, nhà cửa, ruộng vườn, của cải, gia súc Ngay cả con người cũng bị lũ cuốn trôi đi Tất cả các đền thờ trong dự kiến tu sủa đều bị lũ tàn phá hư hỏng trong đó có đền thờ Nàng Han, nơi đền thờ Nàng Han thì tạo thành một bãi bồi, chỉ còn lại hai cây xổ và một cây xi nhỏ Bản mường năm đó rất khó khăn vừa thiệt hại người và tài sản, bị nạn đói, dịch bệnh hoành hành Ông vận động bản mường chung tay khắc phục hậu quả, ít lâu sau bản mường được khôi phục, đời sống nhân dân ổn định
Mùa xuân năm 1918 đền thờ Nàng Han được xây dựng lại tại địa điểm cũ là mó nước Nàng Han Lần này ông thiết kế kiểu nhà đất người Thái, làm nhà to hơn, rộng hơn để tiện lợi cho các già làng xum họp mỗi khi tế lễ và các hoạt động văn hóa khác Trong thời gian này người Pháp biết tin ngỏ ý với ông rằng: "để chúng tôi làm cho, xây cho chắc chắn" Ông là người thông minh nên đã từ chối Ông nói: "Nàng Han là người Thái không dám ở nhà tây, chúng tôi tự làm mà làm kiểu nhà của người Thái thôi ", biết vậy người Pháp lại gạ ông nên xây, tuy nhiên làm kiểu gì thì tùy ở ông