Ví dụ: siêu thị máy tính, siêu thị điện thoại, siêu thị điện máy,… Tiêu chuẩn siêu thị Việt Nam Loại hình Hạng Diện tích m2 Danh mục mặt hàng Siêu thị kinh doanh Theo Viện nghiên cứu Thư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỀ TÀI: ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
VÀO HOẠT ĐỘNG MARKETING CHUỖI BÁN LẺ SAIGON CO.OP
Giảng viên hướng dẫn : ThS NGUYỄN NGỌC THÔNG
Lớp : DH13QT05
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN QUỐC SANG
Mã số: 1354010271
CHUYÊN ĐỀ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀO
HOẠT ĐỘNG MARKETING CHUỖI
BÁN LẺ SAIGON CO.OP
Ngành: Quản trị kinh doanh
Chuyên ngành: KINH DOANH QUỐC TẾ
Giảng viên hướng dẫn: ThS NGUYỄN NGỌC THÔNG
TP Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2017
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 04 năm 2017
TL HIỆU TRƯỞNG TRƯỞNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯỞNG KHOA
Trịnh Thùy Anh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN _ v GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ _ 1 1.2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI _ 2
2.2 TÌM HIỂU VỀ MARKETING 11
2.2.1 Khái niệm 11
2.2.2 Mục tiêu của Marketing 13
2.2.3 Chức năng của Marketing 14
2.2.4 Giới thiệu Maketing Mix 4P _ 14
2.2.4.1 Chiến lược sản phẩm (Product) _ 14
2.2.4.2 Chiến lược giá (Price) 15
2.2.4.3 Chiến lược phân phối (Place) _ 15
2.2.4.4 Chiến lược chiêu thị (Promotion) 16
2.3 TÌM HIỂU CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 16
2.3.1 Khái niệm 16
2.3.2 Các hình thức giao dịch trong thương mại điện tử 18
2.3.3 Điều kiện ứng dụng thương mại điện tử _ 20 2.3.4 Đặc điểm của thương mại điện tử 21 2.3.5 Chức năng của thương mại điện tử _ 23
2.3.5.1 Chức năng lưu thông 23
2.3.5.2 Chức năng phân phối 23
2.3.5.3 Chức năng thị trường 24
2.3.6 Các hình thức thương mại điện tử 26
2.3.6.1 Thư tín điện tử _ 26 2.3.6.2 Thanh toán điện tử 26 2.3.6.3 Trao đổi dữ liệu điện tử 27 2.3.6.4 Giao gửi các số hóa dung liệu _ 27
2.3.6.5 Bán lẻ các hàng hóa hữu hình và hàng hóa số _ 28
2.3.6.6 Hợp đồng thương mại điện tử _ 28
2.4 KẾT HỢP THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀO SIÊU THỊ BÁN LẺ - THƯƠNG MẠI TRUYỀN THỐNG 29
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHUYÊN ĐỀ _ 31
Trang 43.3 TÌNH HÌNH KINH DOANH – MARKETING 36
3.3.1 Kết quả kinh doanh _ 36 3.3.2 Chính sách sản phẩm 37
3.3.3 Chính sách truyền thông 37 3.3.4 Dịch vụ dành cho khách hàng _ 38 3.3.5 Chính sách giá 39
3.3.6 Chính sách phân phối 39
3.3.7 Thực trạng triển khai các chương trình marketing _ 41
3.4 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM _ 43
3.4.1 Thương mại điện tử (m-commerce) _ 43 3.4.2 Thương mại điện tử nền tảng di động (m-commerce) 45
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT _ 50
4.1 MÔ HÌNH CLICK AND MORTAR _ 50 4.2 CỬA HÀNG ẢO 50 4.3 QUY TRÌNH XỬ LÝ ĐƠN HÀNG 52 4.4 HOẠT ĐỘNG GIAO - NHẬN 53
KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN 56 THÔNG TIN LIÊN HỆ CỦA SINH VIÊN _ 58
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề khóa luận “Ứng dụng thương mại điện tử vào chuỗi bán lẻ
Saigon Co.op”, trước hết em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn
của em là ThS Nguyễn Ngọc Thông, thầy đã hết mình hỗ trợ em hoàn thành bài
cũng như những nhận xét quý báu
Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học
Mở TP Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập
tại trường Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền
tảng cho quá trình nghiên cứu thực hiện chuyên đề khóa luận mà còn là hành trang
quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc công ty Saigon Co.op chi nhánh Phan Văn Trị
cùng các anh chị làm việc tại đây đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em rất nhiều
trong quá trình thực hiện khóa luận
Cuối cùng em muốn gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè em, những
người đã luôn động viên, khích lệ tinh thần để em hoàn tất khóa luận này
Trang 6về thị trường bán lẻ, trong khi lại chưa được doanh nghiệp nội địa khai thác triệt để
dù đã có thời gian dài được chính phủ bảo hộ Các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới
đã nhanh chóng xuất hiện vào thị trường trong nước đa phần bằng con đường “mua bán và sáp nhập” (M&A – Mergers and Acquisitions) như: tập đoàn Central Group (Thái Lan) sở hữu Big C,tập đoàn Aeon (Nhật Bản) nắm giữ 30% cổ phần Fivimart
và 49% Citimart; tập đoàn Berli Jucker (BJC, Thái Lan) đã mua lại Metro Cash & Carry tại Việt Nam,… Đặc biệt, thương hiệu cửa hàng tiện lợi thành công nhất thế giới là 7-Eleven đã lên kết hoạch mở cửa hàng đầu tiên ở Việt Nam vào tháng 8/2018, theo Financial Times (2016) Điều này dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước Trong bối cảnh như hiện nay, Saigon Co.op phải không ngừng phấn đấu, sáng tạo nhiều hơn nữa, tiếp tục giữ vững danh hiệu
“Nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam – Top 500 nhà bán lẻ hàng đầu Châu Á” nhiều năm liên tiếp doanh nghiệp đã đạt được do Tạp chí bán lẻ châu Á (Retail Asia Publishing) trao tặng
Trang 7Kể từ ngày 09/02/1996, siêu thị đầu tiên của hệ thống Co.opmart ra đời tại đường Cống Quỳnh, Tp Hồ Chí Minh Đây là thành quả nhờ sự nắm bắt cơ hội trong thời
kì đổi mới Trải qua quá trình hoạt động lâu dài, Saigon Co.op đã không ngừng phát triển, mở rộng thành chuỗi hệ thống với 85 siêu thị ra phạm vi cả nước.1 Đến nay, Saigon Co.op liên tục gặt hát những thành công, trở thành doanh nghiệp bán lẻ lớn nhất cả nước xét về doanh thu
Trang 8CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 TÌM HIỂU VỀ SIÊU THỊ
2.1.1 Khái niệm
"Siêu thị" là từ được dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài - "supermarket" (tiếng
Anh) trong đó "super" nghĩa là "siêu" và "market" là "chợ" Khi về đến Việt Nam,
để phù hợp với ngôn ngữ tiếng Việt, từ "siêu thị" đã được hình thành ("Thị" trong
tiếng Hán Việt có nghĩa là "chợ")
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại Việt Nam (nay
là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004: siêu thị là loại
hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tồng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng
loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chẩn về
diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có
các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm
hàng hóa của khách hàng
Trên thế giới hiện có một số khái niệm về siêu thị như sau: theo Philips Kotler, siêu
thị là "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận
không cao và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu
của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng
chăm sóc nhà cửa"
Theo nhà kinh tế Marc Benoun của Pháp, siêu thị là "cửa hàng bán lẻ theo phương
thức tự phục vụ có diện tích từ 400m2 đến 2500m2 chủ yếu bán hàng thực phẩm"
Trang 9Theo Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z: "Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày
bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như
thực phẩm, đồ uống, dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác"
Cần phân biệt được siêu thị với cửa hàng và trung tâm thương mại Về quy mô thì
của siêu thị thì lớn hơn các cửa hàng tạp phẩm (hoặc chợ) và tương đối nhỏ hơn các
trung tâm thương mại Các trung tâm thương mại không chỉ bao gồm các loại hình
cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ mà còn bao gồm cả hội trường, phòng họp, văn
phòng cho thuê…được bố trí tập trung, liên hoàn
Dựa trên các khái niệm đã nêu ra ở trên, tác giả xin nêu các đặc điểm nổi bật của
siêu thị như: diện tích từ lớn đến rất lớn (Co.opmart Cần Giờ với 550 m2; Co.opXtra
plus Thủ Đức với hơn 15000m2); bày bán nhiều mặt hàng từ nhu yếu phẩm đến đồ
dùng, dụng cụ khác; siêu thị truyền thống thường được xây dựng gần khu dân cư để
tiện lợi cho khách hàng và đảm bảo doanh thu Có bán sỉ (như metro) và bán lẻ tổng
hợp hoặc chuyên doanh mặt hàng nào đó Trong bài viết này, tác giả xin phép chỉ đề
cập nội dung liên quan chủ yếu đến mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ tổng hợp
Trang 102.1.2 Phân loại
Hàng hóa ở đây rất đa dạng và được chọn lọc kĩ hơn so với trong chợ hay cửa hàng tạp hóa Loại hình này gọi chung là siêu thị truyền thống vì ngày nay, danh từ “siêu thị” còn được chỉ những nơi chuyên kinh doanh một mặt hàng hay một chủng loại hàng hóa nào đó Ví dụ: siêu thị máy tính, siêu thị điện thoại, siêu thị điện máy,…
Tiêu chuẩn siêu thị Việt Nam Loại hình Hạng Diện tích (m2) Danh mục mặt hàng
Siêu thị kinh doanh
Theo Viện nghiên cứu Thương mại Việt Nam, siêu thị có các đặc trưng sau:
Đóng vai trò cửa hàng bán lẻ: Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ - bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ không phải để bán lại Đây là một kênh phân phối ở mức phát triển cao, được quy hoạch và
tổ chức kinh doanh dưới hình thức những của hàng quy mô, có trang thiết bị
và cơ sở vật chất hiện đại, văn minh, do thương nhân đầu tư và quản lý, được Nhà nước cấp phép hoạt động
Trang 11 Áp dụng phương thức tự phục vụ (self – service hay libre – service): Đây là phương thức bán hàng được sáng tạo ra dành cho siêu thị, nay được ứng dụng trong nhiều loại của hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hội văn minh… giữa phương thức tự chọn và tự phục vụ cần
có sự phân biệt
o Tự chọn: khách sau khi chọn mua được hàng hóa sẽ đến chỗ người bán để trả tiền hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự giúp đỡ, hướng dẫn của người bán
o Tự phục vụ: khách hàng xem xét và chọn hàng, bỏ vào giỏ hàng để tự đem đi đến khu vực thanh toán gần lối ra vào Người bán vắng bóng trong quá trình mua hàng
Phương thức thanh toán thuận tiện: hàng hóa được gắn mã vạch, mã số nên khi thanh toán sẽ dùng máy quét đọc giá, tính tiền bằng máy tính và tự động
in hóa đơn Đây chính là tính chất ưu việt của siêu thị, đem lại sự thõa mãn cho người mua sắm… Đặc điểm này được đánh giá là cuộc đại “cách mạng” trong lĩnh vực thương mại bán lẻ
Nghệ thuật trưng bày hàng hóa: qua nghiên cứu cách thức vận động của người mua hàng khi vào của hàng, người điều hành siêu thị có cách bố trí hàng hóa thích hợp trong từng gian hàng nhằm tối đa hóa hiệu quả của không gian bán hàng Do đa phần người bán không thể xuất hiện trực tiếp tại từng quầy hàng nên hàng hóa phải có khả năng “tự quảng cáo”, lôi cuốn người mua Siêu thị làm được điều này thông qua các nguyên tắc sắp xếp, trưng bày hàng hóa như hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí
dễ thấy nhất, được trưng bày với không gian lớn hơn; những hàng hóa có liên quan đến nhau được xếp gần nhau; hàng khuyến mại phải thu hút khách hàng bằng những kiêu trung bày đập vào mắt; hàng có trọng lượng lớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng dễ lấy; bày hàng với số lượng lớn để tạo cho khách hàng cảm giác là hàng hóa đó đang được bán rất chạy…
Trang 12 Hàng hóa chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày như: thực phẩm, quần áo, bột giặt, đồ gia dụng, điện tử… với chủng loại rất phong phú, đa dạng Siêu thị thuộc hệ thống các của hàng kinh doanh tổng hợp, khác với các cửa hàng chuyên doanh chỉ chuyên sâu vào một hoặc một số mặt hàng nhất định Theo quan niệm của nhiều nước, siêu thị phải là nơi mà người mua có thể tìm thấy mọi thứ mà họ cần với mức giá “ngày nào cũng thấp” (everyday – low – price) Chủng loại hàng hóa của siêu thị có thể lên đến hàng nghìn, thậm chí
là chục nghìn loại hàng Thông thường, một siêu thị có thể đáp ứng được 80% nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống, trang phục, mỹ phẩm, đồ làm bếp, chất tẩy rửa, về sinh…
70-2.1.4 Chức năng
Siêu thị nằm trong hệ thống phân phối bán lẻ, là cầu nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu dùng Hệ thống siêu thị giải quyết được rất nhiều mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng hàng hóa
Trong khi người tiêu dùng có nhu cầu về nhiều loại hàng hóa với khối lượng nhỏ thì người sản xuất để đảm bảo lợi nhuận phải sản xuất một hoặc một số hàng hóa với khối lượng lớn Khi xã hội ngày càng phát triển, thu nhập của dân cư tăng lên, nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và phong phú Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất phải sản xuất với khối lượng lớn để đạt được hiệu quả sản xuất nhờ quy mô Sản xuất khối lượng lớn một số chủng loại sản phẩm mâu thuẫn với nhu cầu số lượng nhỏ, chủng loại đa dạng của người tiêu dùng Hệ thống siêu thị giúp giải quyết tốt sự khác biệt giữa sản xuất quy mô lớn và tiêu dùng đa dạng khối lượng nhỏ bằng cách mua hàng hóa của nhiều nhà sản xuất khác nhau, bán lại cho nhiều người tiêu dùng tại một địa điểm
Siêu thị giúp giải quyết sự khác biệt và không trùng khớp về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng Trong nền kinh tế có sự khác biệt về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng do nhiều người sản xuất tại nhiều địa điểm khác nhau, nhiều người tiêu dùng ở nhiều nơi khác nhau Siêu thị giúp giải quyết vấn đề này
Trang 13trong quá trình phân phối hàng hóa Về mặt thời gian, vì sản xuất thường không xảy
ra trùng thời gian với nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nên phải dự trữ hàng hóa, hơn
nữa nhiều hàng hóa sản xuất mang tính thời vụ còn tiêu dùng xảy ra quanh năm
hoặc ngược lại, siêu thị, giống như các hình thức phân phối khác, giúp tạo nên sự ăn
khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng thông qua hoạt động dự trữ
Các siêu thị hoạt động trong mạng lưới lưu thông phân phối bán lẻ, giữa vai trò
ngày càng quan trọng trong quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội, bởi các siêu thị
đảm bảo một khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất là khâu tiêu thụ Có thể nói,
hệ thống phân phối hàng hóa nói chung và siêu thị nói riêng, đang ngày càng củng
cố vài trò là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển và đem lại lợi ích to lớn
cho người tiêu dùng Siêu thị cung cấp cho người tiêu dùng đúng chủng loại hàng
hóa mà họ cần, đúng thời gian, tại một địa điểm và ở mức giá mà người tiêu dùng
chấp nhận Khi nhu cầu của người tiêu dùng biến đổi không ngừng, siêu thị có
những thông tin phản hồi từ người tiêu dùng để đặt hàng đáp ứng cho những thay
đổi đó, siêu thị cũng có thể tác động tới việc tạo nhu cầu mới cho người tiêu dùng
thông qua việc bổ sung vào tập hợp hàng hóa của mình những sản phẩm mới, tạo
nhiều sự lựa chọn khác nhau… Qua quá trình phân phối hàng hóa các siêu thị nắm
bắt được nhu cầu thực tế của thị trường cả về sản phẩm, thời gian và không gian nên
có thể truyền tải những thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường cho những người
sản xuất và cung ứng hàng hóa để điều chỉnh theo những điều kiện của thị trường
Siêu thị có thể dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, thúc đẩy
phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đó mà
tăng cường thương mại hàng hóa và phát triển thị trường cho các ngành kinh tế và
sản phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế đất nước
Siêu thị giúp giảm thiểu các tầng, nấc trung gian trong hệ thống phân phối, hình
thành nên một hệ thống phân phối liên kết dọc vững chắc, giúp giảm thiểu thời gian
Trang 14Các hình thức tổ chức quá trình phân phối sản phẩm của siêu thị đã giải quyết các mâu thuẫn cố hữu của nền kinh tế Các chức năng chính của siêu thị là mua, bán, vận chuyển, lưu kho, tiêu chuẩn hóa và phân loại, tài chính, chịu rủi ro, thông tin thị trường
Hoạt động trao đổi gồm chức năng mua và bán Chức năng mua có nghĩa là tìm kiếm và đánh giá giá trị của các hàng hóa và dịch vụ Chức năng ban liên quan đến tiêu thụ sản phẩm, bao gồm các lĩnh vực như quảng cáo, truyền thông và các công cụ marketing khác
Tiêu chuẩn hóa và phân loại liên quan đến sắp xếp hàng hóa theo chủng loại
và số lượng mà khách hàng mong muốn Chức năng này tạo kiện cho mua bán được dễ dàng và giảm được nhu cầu kiểm tra và lựa chọn Tiêu chuẩn hóa là công việc tìm kiếm các sản phẩm đồng nhất từ các nhà sản xuất có thể thay thế cho nhau Sau đó sản phảm được tập trung thành khối lượng lớn ở những địa điểm nhất định Để thõa mãn nhu cầu của khách hàng, sản phẩm được phân chia theo nhóm hàng hóa giống nhau hoặc có liên quan mà người tiêu dùng có thể sử dụng Phân loại đã giúp giải quyết vấn đề khác biệt giữa sản xuất và tiêu dùng Mức độ hiện đại của hệ thống siêu thị cho phép thực hiện vai trò phân loại ở các mức độ khác nhau
Siêu thị còn có chức năng vận tải thông qua quá trình mua hàng hóa của các nhà cung cấp để bán lại cho người tiêu dùng, siêu thị có thể tự mình thực hiện chức năng vận tải hàng hóa trong hệ thống phân phối
Để có thể phục vụ được khác hàng một cách hiệu quả, siêu thị cũng thực hiện chức năng lưu kho nhằm đảm bảo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dung, cũng như đảm bảo nhu cầu khách hàng đúng thời gian Thước đo khả năng đảm bảo sự ăn khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng là tốc độ qua vòng của hàng tồn kho
Siêu thị còn đóng vai trò chức năng tài chính cung cấp tiền mặt và tín dụng cần thiết cho hoạt động sản xuất hàng hóa Thực hiện chức năng này đến đâu tùy thuộc vào tiềm lực tài chính của nhà phân phối siêu thị và quan hệ giữa
Trang 15 Một vai trò rất quan trọng khác của siêu thị đó là người chia sẻ rủi ro với các nhà sản xuất Nếu như trước kia các nhà sản xuất tự phân phối hàng hóa và
tự gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa của mình thì hiện nay một số siêu thị đã bắt đầu tự kinh doanh rủi ro Họ thường mua đứt hàng hóa của các doanh nghiệp (với giá thấp) sau đó tự chịu trách nhiệm về bảo hành, vận chuyển hàng hóa cho khác hàng nhằm thu được lợi nhuận cao hơn
Siêu thị còn có vai trò cung cấp thông tin thị trường, do bán hàng trực tiếp cho khách hàng nên các siêu thị là người hiểu rõ nhất nhu cầu của khách hàng, những thay đổi về thị hiếu của khách hàng để từ đó cung cấp thông tin phản hồi đối với các nhà sản xuất, tác động tới sản xuất để các nhà sản xuất
có thể tạo ra các sản phẩm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng
Ngoài ra siêu thị còn có một số vai trò khác như: hoàn thiện sản phẩm; chế biến hàng tươi sống, đông lạnh; trực tiếp cung cấp và phân phối các nhãn hàng của chính mình thường được gọi là hàng nhãn riêng(Co.opmart có phân phối rất nhiều sản phẩm do chính mình cung cấp)…
Cùng với các chức năng trên thì Co.opmart còn có những nhiệm vụ chính như:
Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước, đảm bảo nghĩa vụ thuế cho ngân sách
Chăm lo đời sống tinh thần cho cán bộ, công nhân viên bằng cách thực hiện tốt các chế độ, chính sách, phúc lợi tập thể
Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân viên để nâng cao hiệu quả kinh tế
Luôn tích cực học hỏi, trau đồi khả năng phục vụ khách hàng trong bối cảnh hội nhập cao, được khách hàng tin tưởng và tiếp tục gắn bó với thương hiệu
Trang 16Tóm lại, có thể nói siêu thị đóng vai trò quan trọng trong hệ thống phân phối hàng hoá Siêu thị có thể thực hiện một hoặc nhiều chức năng của hệ thống phân phối tuỳ theo quy mô và cách thức hoạt động kinh doanh của từng siêu thị Với việc thực hiện các chức năng quan trọng nêu trên, các siêu thị ngày càng củng cố vai trò quan trọng như là một mắt xích chính của quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội đảm bảo cho quá trình này diễn ra thông suốt và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội chung
2.2 TÌM HIỂU VỀ MARKETING
2.2.1 Khái niệm
Hiệp hội Marketing Mỹ (American Marketing Association, AMA) cho định nghĩa
sau: “Marketing là một nhiệm vụ trong cơ cấu tổ chức và là một tập hợp các tiến trình để nhằm tạo ra, trao đổi, truyền tải các giá trị đến các khách hàng và nhằm quản lý quan hệ khách hàng bằng những cách khác nhau để mang về lợi ích cho tổ chức và các thành viên trong hội đồng cổ đông”
Có thể xem như marketing là quá trình mà những cá nhân hoặc tập thể đạt được những gì họ cần và muốn thông qua việc tạo lập, cống hiến, và trao đổi tự do giá trị của các sản phẩm và dịch vụ với nhau (MM - Kotler)
Theo định nghĩa dành cho các nhà quản lý, marketing được ví như "nghệ thuật bán hàng", nhưng khá ngạc nhiên rằng, yếu tố quan trọng nhất của marketing thật ra không nằm ở chỗ bán sản phẩm Peter Drucker, nhà lý thuyết quản lý hàng đầu cho rằng: "Nhưng mục đích của marketing là làm sao để biết và hiểu rõ khách hàng thật tốt sao cho sản phẩm hoặc dịch vụ thích hợp nhất với người đó, và tự nó sẽ bán được nó Lý tưởng nhất, Marketing nên là kết quả từ sự sẵn sàng mua sắm Từ đó, việc hình thành nên sản phẩm hoặc dịch vụ mới trở nên cần thiết để tạo ra chúng"
Từ lý thuyết trên và đặc biệt là của Peter Drucker, chúng ta có thể thấy được một quy trình đơn giản nhưng là một trong những động lực phát triển không ngừng của marketing và của toàn bộ nền kinh tế - xã hội nhân loại:
Trang 17 Nhu cầu: là sự thiếu hụt về một số hài lòng cơ bản (là khoảng cách giữa cái
mà khách hàng có và cái khách hàng muốn có) Nhu cầu xuất phát từ điều kiện vật chất, tinh thần hiện tại của mỗi con người, chúng tồn tại như một bộ phận không thể thiếu chứ không phải là do xã hội hay các nhà marketing tạo
ra Để hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng ta có thể xem qua tháp nhu cầu của Maslow
Tháp nhu cầu của Maslow, 1943
Mong muốn: mong muốn của con người là một nhu cầu cấp thiết có dạng đặc thù, tương ứng với trình độ văn hoá và nhân cách của con người Mong muốn là sự cụ thể hoá từ những nhu cầu sâu xa vốn có
Sản phẩm: là bất cứ thứ gì có thể đưa ra thị trường có được sự chú ý, thị trường tiếp nhận và tiêu thụ để thoã mãn nhu cầu hay mong muốn của con người Sản phẩm có thể bằng hàng hoá hữu hình hay dịch vụ và ý nghĩa quan trọng của chúng không phải bắt nguồn từ việc sở hữu sản phẩm đó, mà chính là từ những lợi ích thực tế mà con người có được khi sử dụng
Trang 18Cần làm rõ hơn về mối quan hệ của ba khái niệm trên thông qua các ví dụ đơn giản, như một cá nhân đang phải chật vật vì mưu sinh thì nhu cầu cấp thiết thể lý là cao nhất xong rồi mới nghĩ đến nơi trú ngụ và sức khoẻ, chẳng quan tâm nhiều đến thương hiệu mà chỉ đặc biệt quan tâm đến giá rẻ nhất Còn người có thu nhập khá, khi đã có dư dả sẽ bắt đầu quan tâm đến thương hiệu, vẻ bề ngoài đó là nhu cầu thể hiện bản thân với xã hội, người đó sẽ mong muốn các sản phẩm chất lượng, đắt tiền hơn so với mặt bằng chung
Ngành siêu thị bán lẻ cũng không nằm ngoài phạm vi, marketing cho lĩnh vực này là hoạt động giúp tăng cường sự phân phối hàng hoá đến tay người tiêu dùng bằng các nỗ lực về tăng cường độ bao phủ, chỉ tiêu chất lượng đầu vào, POSM – Shopper marketing, hậu mãi – khách hàng thân thiết, giao – nhận, Marketing ngành tương đối tốt nhưng chưa tận dụng nhiều vào xu thế e-commerce (economic commerce – thương mại điện tử) hay mới nhất là m-commerce (mobile commerce – thương mại điện tử trên nền tảng di động) Theo trang tin Nhượng Quyền Việt Nam (2014), Co.opmart và BigC là 2 thương hiệu siêu thị bán lẻ được biết đến nhiều nhất, nhưng cả hai đều chưa có tính năng mua sắm trực tuyến mà chỉ
có hỗ trợ mua sắm thông qua gọi điện thoại và đây cũng là thế mạnh của Co.opmart Bên cạnh đó, do đặc thù cơ sở hạ tầng và giao thông Việt Nam, mô hình siêu thị trung bình từ 2.500 đến 3.000 mét vuông sẽ trở nên phổ biến Đặc biệt, thương mại điện tử sẽ là xu hướng tất yếu nếu khắc phục được nhược điểm làm ảnh hưởng quan trọng đến quá trình vận hành hoạt động e-commerce đó là chuỗi cung ứng và hậu cần
2.2.2 Mục tiêu của Marketing
Tối đa hóa tiêu dùng:
Marketing kích thích tiêu thụ, tạo điều kiện tiêu thụ tối đa
Trang 19 Tối đa hóa sự thõa mãn của người tiêu thụ:
Làm cho người tiêu dùng thõa mãn tối đa về chất lượng tiêu thụ mà nhà sản xuất đem lại
Tối đa hóa sự chọn lựa:
Đem lại cho người tiêu dùng nhiều sự lựa chọn, giúp họ thõa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần mà sản phẩm hoặc dịch vụ mang lại
Tối đa hóa chất lượng của cuộc sống:
Làm tăng chất lượng cuộc sống (chất lượng hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ, môi trường sống, danh tiếng,…)
2.2.3 Chức năng của Marketing
Khảo sát thị trường, phân tích nhu cầu, dự đoán nhu cầu
Kích thích sản xuất để thích nghi với biến động của thị trường và khách hàng
Thõa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
Tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh
2.2.4 Giới thiệu Maketing Mix 4P
2.2.4.1 Chiến lược sản phẩm (Product)
Đây là chiến lược có vai trò cực kì quan trọng, được xem là nền tảng , “xương sống” của 4P Có các loại chiến lược sản phẩm là: chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược phát triển sản phẩm mới, chiến lược mở rộng thị trường, nhóm các chiến
lược đa dạng hóa
Trang 202.2.4.2 Chiến lược giá (Price)
Đây là một trong những cơ sở để khách hàng quyết định mua sản phẩm này hay sản phẩm khác Là đòn bẫy kích thích tiêu dùng, cũng như vũ khí giúp doanh nghiệp cạnh tranh trên thương trường Có các chiến lược giá như sau:
Nhóm chiến lược giá cho sản phẩm mới:
o Chiến lược giá hớt váng
o Chiến lược giá xâm nhập
Nhóm chiến lược giá cho danh mục sản phẩm:
o Chiến lược giá phân tầng bậc đối với dòng sản phẩm (Product line Pricing)
o Chiến lược giá sản phẩm tùy chọn (Option Product Pricing)
o Chiến lược giá sản phẩm chính - phụ (Captive product pricing)
o Chiến lược giá combo (Product bundle pricing)
Nhóm chiến lược hiệu chỉnh giá:
o Giảm giá
o Chiết khấu
o Giá tâm lý
2.2.4.3 Chiến lược phân phối (Place)
Vai trò của phân phối
o Là cầu nối giúp doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng
o Tập trung sản phẩm hay điều hòa sản phẩm
o Làm tăng giá trị sản phẩm
o Tổ chức điều hành vận chuyển, hạn chế rủi ro, tiết kiệm chi phí
Các chức năng phân phối
o Nghiên cứu nhu cầu người mua
o Tồn trữ và lưu kho
o Giao dịch thương mại, tìm ra khách hàng tiềm năng
Trang 21o Làm thích ứng mặt hàng thương mại, thã mãn nhu cầu của khách hàng
o Xúc tiến hỗ trợ bán hàng, thuyết phục mua hàng
o Thương thảo, đạt sự thõa hiệp về giá, phương thức thanh toán
o Tài trợ tín dụng, chấp nhận rủi ro trong phân phối
o Tiết kiệm chi phí, giảm rủi ro
2.2.4.4 Chiến lược chiêu thị (Promotion)
Là biện pháp thúc đẩy, xúc tiến bán hàng, làm cho hàng hóa được tiêu thụ nhanh hơn, đáp ứng nhu cầu Ngoài ra, chiêu thị giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua hoạt động tìm hiểu thông tin thị trường, nắm bắt những biến đổi nhu cầu và thị hiếu Chiêu thị bao gồm các hoạt động: chào hàng cá nhân, quảng cáo, khuyến mãi, tuyên truyền
2.3 TÌM HIỂU CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
2.3.1 Khái niệm
Thương mại điện tử, hay còn gọi là e-commerce, e-comm hay EC, là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet và các mạng máy tính (Rosen & Anita, 2000).2 Thương mại điện tử dựa trên một số công nghệ như chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho,
và các hệ thống tự động thu thập dữ liệu Thương mại điện tử hiện đại thường sử dụng mạng World Wide Web là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể bao gồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết bị di động cũng như điện thoại
Cho đến hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về thương mại điện tử Các định nghĩa này xem xét theo các quan điểm, khía cạnh khác nhau Chúng ta có thể tham khảo một số định nghĩa khác như:
Trang 22 UNCITAD định nghĩa về thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, phân phối, marketing, bán hay giao hàng hoá và dịch vụ bằng các phương tiện điện tử
Liên minh châu Âu định nghĩa thương mại điện tử bao gồm các giao dịch thương mại thông qua các mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện
tử Nó bao gồm thương mại điện tử gián tiếp (trao đổi hàng hoá hữu hình) và thương mại điện tử trực tiếp (trao đổi hàng hoá vô hình)
Liên Hiệp Quốc đưa ra định nghĩa đầy đủ nhất để các nước có thể tham khảo làm chuẩn, tạo cơ sở xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử phù hợp Định nghĩa này phản ánh các bước thương mại điện tử, theo chiều ngang: “thương mại điện tử là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán (MSDP) thông qua các phương tiện điện tử”
Định nghĩa của WTO Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận qua Internet dưới dạng số hoá
Thương mại điện tử thông thường được xem ở các khía cạnh của kinh doanh điện tử (e-business) Nó cũng bao gồm việc trao đổi dữ liệu tạo điều kiện thuận lợi cho các nguồn tài chính và các khía cạnh thanh toán của việc giao dịch kinh doanh Cơ bản kinh doanh điện tử được hiểu theo góc độ quản trị kinh doanh, đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin và Internet vào các quy trình, hoạt động của doanh nghiệp.3
Ngoài khái niệm e-commerce và e-business, đôi khi người ta còn sử dụng khái niệm M-commerce M-commerce (mobile commerce) là thương mại điện tử trên nền tảng các thiết bị di động như: điện thoại thông minh, máy tính bảng,…
Trang 232.3.2 Các hình thức giao dịch trong thương mại điện tử
Thương mại điện tử được phân chia thành một số loại như B2B, B2C, C2C dựa trên thành phần tham gia hoạt động thương mại Cách phân chia như trên được minh họa như sau:
Government Business Consumer
Hình 1 Các loại hình thương mại điện tử
Hình thức giao dịch thương mại điện tử doanh nghiệp với khách hàng (Business to Customer B2C) thành phần tham gia hoạt động thương mại gồm người bán là doanh nghiệp và người mua là người tiêu dùng Sử dụng trình duyệt (web browser)
để tìm kiếm sản phẩm trên Internet Sử dụng giỏ hàng (shopping cart) để lưu trữ các sản phẩm khách hàng đặt mua Thực hiện thanh toán bằng điện tử
Hình thức giao dịch thương mại điện tử doanh nghiệp với doanh nghiệp (Business
to Business - B2B): thành phần tham gia hoạt động thương mại là các doanh nghiệp, tức người mua và người bán đều là doanh nghiệp Sử dụng Internet để tạo mối quan
hệ giữa nhà cung cấp và các cửa hàng thông qua các vấn đề về chất lượng, dịch vụ Marketing giữa hai đối tượng này là marketing công nghiệp Hình thức này phổ biến nhanh hơn B2C Khách hàng là doanh nghiệp có đủ điều kiện tiếp cận và sử dụng Internet hay mạng máy tính Thanh toán bằng điện tử
Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan chính quyền (Business to Government-
B2G) và giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan chính quyền (B2G) Các giao dịch này gồm khai hải quan, nộp thuế, báo cáo tài chính và nhận các văn bản pháp
Trang 24C2G) Các giao dịch này gồm xin giấy phép xây dựng, trước bạ nhà đất… Hai loại giao dịch này thuộc về một hình thức được gọi là chính phủ điện tử Chính phủ điện
tử là cách thức qua đó các Chính phủ sử dụng các công nghệ mới trong hoạt động
để làm cho người dân, Doanh nghiệp tiếp cận các thông tin và dịch vụ do Chính phủ cung cấp một cách thuận tiện hơn, để cải thiện chất lượng dịch vụ và mang lại các
cơ hội tốt hơn cho người dân, Doanh nghiệp trong việc tham gia vào xây dựng các thể chế và tiến trình phát triển đất nước
Ngoài các hình thức kể trên, còn phải kể đến hình thức giao dịch giữa các cá nhân với nhau hay còn gọi là giao dịch Customer to Customer (C2C) hoặc Peer to Peer (P2P) Thành phần tham gia hoạt động thương mại là các cá nhân, tức người mua và người bán đều là cá nhân
Trang 252.3.3 Điều kiện ứng dụng thương mại điện tử
Để giải quyết được vấn đề này, các doanh nghiệp thương mại điện tử cần phải mở rộng các chi nhánh đến các địa phương Khi đó, các đơn hàng trực tuyến sẽ được chuyển đến chi nhánh gần nhất để đơn hàng được giao trong ngay trong ngày Điều này sẽ giúp giải quyết cùng một lúc hai vấn đề, đó là giảm thiểu chi phí và thời gian vận chuyển Dù chi phí lưu kho sẽ tăng nhưng lưu ý có đến 85% người tiêu dùng bỏ qua giỏ hàng đã đặt mua trước đó vì phí vận chuyển quá đắt (theo Carl Hartmann - Giám đốc Điều hành Temando, 2016).4
Giá cả linh hoạt
Giá hàng hoá trên các site thương mại điện tử rất năng động Chính sách giá của các công ty như Priceline.com và eBay.com là điển hình, họ tạo ra các lời đề nghị hấp dẫn để giảm giá cho khách hàng nhằm đặt được các mục đích khác như: khai thác thông tin, thói quen mua sắm khách hàng, quảng bá website… Ví dụ: số sản phẩm
Trang 26cáo đặt trên trang web của công ty? Khách hàng đặt hàng từ đâu? Khách hàng có
thể giới thiệu trang web của công ty với bao nhiêu người bạn của mình? Mức độ sẵn
sàng tiết lộ thông tin cá nhân của khách hàng với công ty?
Đáp ứng mọi nơi, mọi lúc
Trong tương lai, khách hàng sẽ có thể mua hàng ở mọi nơi, mọi lúc Xu hướng này
sẽ được thực hiện thông qua các thiết bị truy nhập Internet di động Các thiết bị
thương mại điện tử di động như những chiếc điện thoại di động, máy tính bảng đời
mới nhất có khả năng truy nhập được mạng Internet được sử dụng hết sức rộng rãi
Hiện các doanh nghiệp thương mại điện tử cũng có chú trọng đến thương mại di
động khi đầu tư xây dựng thêm giao diện website trên nền tảng di động
2.3.4 Đặc điểm của thương mại điện tử
Các đặc điểm nổi bật của loại hình thương mại điện tử được trình bày dựa trên sự so
sánh với thương mại truyền thống, do đây là loại hình mới phát triển gần đây đặc
biệt là ở Việt Nam, khi mà tháng 6/2006 Chính phủ mới ban hành Nghị định số
57/2006/NĐ-CP về thương mại điện tử Ngoài ra, người dân Việt Nam vốn đã quá
quen thuộc với thương mại truyền thống như siêu thị, chợ, cửa hàng tạp hóa
Về hình thức giao dịch
Nếu như trong thương mại truyền thống thì hình thức của giao dịch là trực tiếp giữa
các chủ thể tham gia giao dịch với nhau còn trong thương mại điện tử, hình thức của
giao dịch là hoàn toàn gián tiếp Điều này có nghĩa là các chủ thể không gặp gỡ trực
tiếp với nhau mà họ giao dịch với nhau thông qua các phương tiện điện tử Một đại
diện của doanh nghiệp Việt Nam có thể giao dịch nhiều năm với một đại diện của
doanh nghiệp nước ngoài thông qua việc gọi điện thoại để thảo luận với nhau, thông
qua fax để truyền cho nhau các nội dung hợp đồng, thông qua Internet để đàm phán
với nhau về hợp đồng sắp tới… mà không cần thiết phải gặp gỡ trực tiếp với nhau
Trang 27 Về vấn đề thị trường
Trong thương mại truyền thống, để tìm kiếm một thị trường mới, các doanh nghiệp phải đến tận nơi, tham gia các hội chợ, triển lãm, các cuộc gặp gỡ trực tiếp Như vậy thị trường trong Thương mại truyền thống bị giới hạn về mặt phạm vi, các doanh nghiệp không thể và không có cơ hội đi tìm hiểu trực tiếp các thị trường trên toàn thế giới thông qua việc gặp gỡ và trao đổi trực tiếp Còn đối với Thương mại điện tử thì thị trường là không biên giới Một doanh nghiệp có thể mở một Website kinh doanh trên mạng và thông qua các phương tiện quảng bá trên mạng có thể quảng bá doanh nghiệp mình ra thị trường toàn cầu mà không bị giới hạn về mặt phạm vi Một doanh nghiệp ở Châu Mỹ, Châu Âu hay ở Châu Phi có thể dễ dàng tiếp cận với thông tin doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam thông qua mạng Internet Điều này thể hiện lợi thế vượt trội của Thương mại điện tử so với hình thức Thương mại truyền thống
Về chủ thể tham gia
Trong Thương mại truyền thống chúng ta thấy tham gia vào hoạt động giao dịch chỉ
có các chủ thể trực tiếp tham gia dịch với nhau, đó là người mua và người bán Người mua hàng tìm đến người bán hàng, hai bên trao đổi , đàm phán trực tiếp với nhau để tìm kiếm cơ hội hợp tác, kinh doanh với nhau mà không cần có một chủ thể nào khác tham gia cùng
Còn đối với Thương mại điện tử, bên cạnh chủ thể người mua, người bán thì luôn luôn có một chủ thể thứ ba tham gia vào quá trình giao dịch của các bên đó là nhà cung cấp dịch vụ, cơ quan chứng thực… Đây là những chủ thể tạo ra môi trường cho thương mại điện tử hoạt động
Về mạng lưới thông tin
Đối với Thương mại truyền thống, mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu còn đối với Thương mại điện tử mạng lưới thông tin chính là thị trường
Trang 28Với sự phát triển như vũ bão của các thành tựu về công nghệ thông tin như ngày nay, đặc biệt là Internet đã giúp cho các doanh nghiệp có thể xây dựng cho mình các “gian hàng ảo” trên mạng mà ở đó doanh nghiệp có thể cung cấp vô số các thông tin giới thiệu về sản phẩm, dịch vụ của mình để cho các bạn hàng tìm kiếm
Sự phát triển này còn hình thành nên các “Trung tâm thương mại ảo” trên Internet với vai trò như một trung tâm Thương mại thật, tại đó có rất nhiều các thông tin giao dịch về doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ nhằm gắn kết người mua và người bán với nhau Các mạng lưới thông tin này chính là thị trường cho các doanh nghiệp tìm kiếm bạn hàng và giao dịch với nhau
2.3.5 Chức năng của thương mại điện tử
Chức năng của thương mại điện tử tương tự như các chức năng của thương mại nói chung bao gồm: Chức năng lưu thông; Chức năng phân phối; Chức năng thị trường Trong đó hai chức năng quan trọng và là điểm mạnh của thương mại điện tử so với thương mại truyền thống, đó là chức năng kênh phân phối và chức năng thị trường
2.3.5.1 Chức năng lưu thông
Lưu thông trong thương mại điện tử nhằm đáp ứng tất cả nhu cầu của khách hàng
về toàn bộ các loại sản phẩm từ mặt hàng thiết yếu cho đến các loại sản phẩm cao cấp hơn Nó tạo ra môi trường cạnh tranh mạnh mẽ giữa các công ty, doanh nghiệp vừa và nhỏ Lưu thông trong thương mại điện tử còn đưa hàng hóa từ người bán tới người mua trên phạm vi toàn cầu, giúp cho doanh nghiệp, cá nhân nắm rõ nhu cầu
và thị hiếu của khách hàng một cách gần nhất trong quá trình quảng bá sản phẩm tới người tiêu dùng
2.3.5.2 Chức năng phân phối
Một đặc điểm khác của thương mại điện tử so với thương mại truyền thống được thể hiện rất rõ trong chức năng phân phối Ở đây, thương mại điện tử đã làm thay đổi hẳn cách thức phân phối, mua/bán hàng hoá truyền thống Các trung gian trên thị trường hầu như không còn cần thiết nữa khi trong môi trường mạng toàn cầu các
Trang 29thành viên hoàn toàn có thể trao đổi trực tiếp và mua bán hàng hóa Một điểm khác nữa là việc thanh toán trong các giao dịch thương mại điện tử lại thường được thanh toán qua trung gian (ngân hàng trên mạng) thông qua các phương tiện thanh toán điện tử
Khi Thương mại điện tử được nhìn nhận như kênh phân phối, sự nhấn mạnh tập trung ở môi trường thương mại điện tử Tức là ở đây các sản phẩm và dịch vụ được phân phối thông qua các kênh phân phối khác với thông thường Có nhiều loại sản phẩm dịch vụ được đa vào dạng này:
Các sản phẩm và dịch vụ có thể chuyển tiếp bằng điện tử được như là các các vấn đề liên quan đến bảo hiểm, các hàng hoá kỹ thuật số như tin tức, ảnh số hoá hay âm nhạc, cho phép truyền một bản copy hoàn hảo tới nơi phân phát một cách gần như không tốn kém (thông qua internet) Khi đó internet đóng vai trò như một sự giảm thiểu chi phí biên của việc sản xuất các sản phẩm đó
Các sản phẩm và dịch vụ mà có giá trị tương đối thấp và chất lượng đồng nhất (sách, đĩa CD )
Đối với các dạng sản phẩm và dịch vụ này, thương mại điện tử đóng vai trò
“cung cấp một kênh hiệu quả cho việc quảng cáo, tiếp thị và thậm chí là cả phân phối trực tiếp các hàng hoá và dịch vụ thông tin”
2.3.5.3 Chức năng thị trường
Khi thương mại điện tử được nhìn nhận như thị trường: Chức năng của thị trường là mang người mua và người bán cùng với sản phẩm/dịch vụ lại với nhau trên thị trường Trước đây thị trường được hiểu là nơi thu thập các thông tin, so sánh giá cả, thu thập các lời khuyên hay mang người mua và người bán lại với nhau Nhìn nhận thương mại điện tử như một thị trường bao hàm một cách nhìn khác hẳn về thị trường, chú trọng hơn tới khái niệm một nơi để thông báo và trao đổi giữa các bên, các người mua, cố vấn và tìm kiếm các người mua trong tương lai Chức năng của
Trang 30cộng đồng ảo) Sự phát triển bùng nổ của mạng internet đã biến môi trường này trở thành một thị trường thực sự, đầy tiềm năng với khả năng tiếp cần toàn cầu và có đặc thù riêng về đối tượng sử dụng là các doanh nghiệp, người tiêu dùng trí thức và phần nào có thể nói là có thu nhập cao Tính công khai của thông tin cũng là một điểm mạnh của thị trường này vì tính cạnh tranh cao và khả năng tìm kiếm đối tác, khách hàng mới
Thị trường trong thương mại điện tử là một cái nhìn hoàn toàn khác so với thị trường thương mại truyền thống Một thị trường thương mại điện tử đơn giản chỉ được coi là nơi thu thập thông tin, những lời khuyên, nhận xét hay so sánh giá cả giữa những sản phẩm với nhau.Vô hình chung, thị trường đã tạo ra một mối liên kết giữa các bên đối tác với nhau Thị trường thương mại điện tử có một ưu điểm tuyệt đối so với thị trường truyền thống, ở đây không còn khái niệm biên giới các quốc gia với nhau, thị trường này trực tiếp tác động tới khả năng cạnh tranh toàn cầu Thị trường thương mại điện tử không chú trọng tới các thực thể trung gian, mà chỉ tập trung tới khái niệm nơi để thông báo và thời điểm giữa các bên, các người mua cố vấn và tìm kiếm khách hàng của mình trong tương lai.Vì vậy chức năng của thị trường được nâng cao trong cộng đồng điện tử hay chính là thị trường ảo
Thị trường ở đây chính là mạng lưới thông tin Dưới tác động của công nghệ thông tin internet đây đã trở thành một thị trường thực sự, đầy tiềm năng với khả năng liên kết thành công và có đặc thù riêng về đối tượng người sử dụng chính là các doanh nghiệp, cá nhân, công dân trí thức hay nói một cách khác là những cá nhân, tập đoàn có thu nhập lớn.Một đặc điểm đặc biệt của thị trường thương mại điện tử tạo nên điểm mạnh của nó đó là tính công khai của thông tin trong thị trường, cho phép khả năng tìm kiếm đối tác và khả năng cạnh tranh cao
Thị trường thương mại điện tử tạo ra kênh làm việc mới liên tục trong cả ngày, đây
là kênh làm việc trực tiếp tới khách hàng với quy mô rộng, tốc độ nhanh tạo ra khả năng kinh doanh liên tục 24/24 giờ Kênh làm việc này không cần phải nhân viên giám sát trực tiếp khách hàng như các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ bình
Trang 31tra, giới thiệu sản phẩm, hệ thống thanh toán tiền… tất cả đều do website thực hiện
để quảng bá website của mình
2.3.6.2 Thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử (electronic message) thay cho việc giao tay tiền mặt; việc trả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng v.v đã quen thuộc lâu nay thực chất đều là các dạng thanh toán điện
tử.Xét trên nhiều phương diện, thanh toán trực tuyến là nền tảng của các hệ thống thương mại điện tử.Một khi thanh toán trong thương mại điện tử an toàn, tiện lợi, nhanh chóng thì việc phát triển thương mại điện tử trên toàn cầu là một điều tất yếu